CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP":

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VỚI KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VỚI KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ

 Hiện nay, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được sửa đổi giúp kích thích đầu tư phát triển kinh tế, áp dụng cho các nghành sản suất kinh doanh có hiệu quả thấp do sự lạc hậu[r]

15 Đọc thêm

Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Chương Mỹ Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp

QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN CHƯƠNG MỸ THỰC TRẠNG, KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP

Tính cấp thiết của đề tài:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN), là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích sản xuất phát triển. Do vậy, tất cả các quốc gia đều quan tâm và đưa ra nhiều biện pháp quản lý và thu thuế nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước. Ở nước ta, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Do đó, việc nuôi dưỡng nguồn thu trong công tác quản lý thu thuế là nhiệm vụ quan trọng với ngành thuế hiện nay. Thực tế việc xác định thu nhập chịu thuế là căn cứ quan trọng để xác định thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người nộp thuế, tuy nhiên, không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng xác định đầy đủ, chính xác thu nhập chịu thuế, đúng theo các qui định của pháp luật. Điều này không phải là vấn đề cá biệt với các doanh nghiệp ở nước ta trong điệu kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay.
Trong công cuộc đổi mới kinh tế gắn với phát triển kinh tế thị trường, với các sắc thuế đang áp dụng ở Việt Nam hiện nay, thì thuế thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ là loại thuế đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước nó còn là một công cụ để Nhà nước thực hiện điều tiết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế khó quản lý và dễ bị thất thu lớn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp vừa đảm bảo thu ngân sách, thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh doanh, vừa kích thích phát triển sản xuất kinh doanh đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước.
Sau 15 năm thực hiện Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đến nay, Chi cục thuế huyện Chương Mỹ đã triển khai thực hiện tốt Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Quản lý thuế. Tuy vậy, công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp hiện còn nhiều bất cập trong cơ chế chính sách, trong các quy trình quản lý thuế còn nhiều vướng mắc, trình độ năng lực cán bộ chưa đáp ứng, ý thức chấp hành Pháp luật thuế của người nộp thuế còn thấp. Một số hiện tượng tiêu cực còn phổ biến như: Doanh nghiệp bỏ ngoài sổ sách nhiều khoản thu nhập (thu nhập chính từ sản xuất kinh doanh, thu nhập khác); hạch toán tăng tài sản không đúng quy định; đưa thêm nhiều khoản chi phí khác để hạch toán vào giá trị tài sản; nhằm làm giảm thu nhập tính thuế, do đó đã gây thất thu lớn.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp, cải tiến qui trình, thủ tục, cũng như đề xuất hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, chính sách thuế để làm tăng thêm hiệu lực, hiệu quả của công cụ quản lý thuế trở nên rất cấp thiết đối với Chi cục thuế huyện Chương Mỹ. Đề tài: "Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Chương Mỹ: Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp" được lựa chọn nghiên cứu của luận văn thạc sỹ nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó của thực tiễn hiện nay.
Xem thêm

117 Đọc thêm

PHÂN TÍCH VÀ LÀM SÁNG TỎ VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

PHÂN TÍCH VÀ LÀM SÁNG TỎ VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Phân tích làm sáng tỏ về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và nêu những hạn chế, hướng khắc phục khi xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008

MỞ ĐẦU

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó có thể nói thuế thu nhập doanh nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong cơ cấu nguồn thu từ các loại thuế. Để tìm hiểu rõ hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp, bài tập nhóm tháng 2 của chúng em xin đi vào tìm hiểu đề tài: “ Phân tích làm sáng tỏ về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và nêu những hạn chế, hướng khắc phục khi xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008.”

NỘI DUNG

1. Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

Thuế TNND áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế, điều chỉnh cả các công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

1.2. Bản chất và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp.

Sự tồn tại thuế thu nhập doanh nghiệp là khách quan bởi các vai trò dưới đây:

Thứ nhất, Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nước.

Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng dồi dào. huế TNDN là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước. Nguồn thu từ thuế TNDN chiếm trung bình từ 30%33% tổng thu từ thuế, hơn 20% tổng thu ngân sách nhà nước. Mặc dù có nhiều trường hợp được miễn giảm, ưu đãi nhưng không vì thế mà số thu giảm sút.

Thứ hai, Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng tái cơ cấu thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và hoàn thiện chế độ hóa đơn chứng từ:

Để từng bước thực hiện chính sách công bằng về thuế, chúng ta thay thế thuế lợi tức với 3 mức thuế suất áp dụng phân biệt đối với từng ngành hàng bằng thuế TNDN với một mức thuế suất đòi hỏi các doanh nghiệp phấn đấu xắp xếp lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lý để thực hiện các mức thuế mới. Việc kê khai và tính đúng thuế TNDN trên nguyên tắc phải có hóa đơn chứng từ đầy đủ để xác định chi phí được khấu trừ. Từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế chú trọng tốt hơn công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hóa đơn chứng từ. Trong năm 1999 số lượng doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tăng gấp đôi so với năm 1998. Năm 2002 số lượng này tăng gấp rưỡi năm 1999. Con số này ngày càng tăng khi số đơn vị đăng ký sử dụng hóa đơn chứng từ ngày càng cao. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, các tổ chức đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật. Các doanh nghiệp với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý.

Thứ ba, Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước.

Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định.

Thứ tư, Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chứng năng điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu qủa vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài

Mặt khác, việc đánh thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm từng bước thu hẹp sự phân biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, đảm bảo trong sản sản xuất kinh doanh phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.

Vì vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp có ý nghĩa như một công cụ giúp doanh nghiệp tăng cường công tác quản lý nội bộ cũng như xác định chiến lược kinh doanh trong từng thời kỳ.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:

2.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại:

• Khái niệm

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu dánh vào phần thu nhập của tổ chức hoạt động sản xuất , kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ các chi phí liên quan dến thu nhập đó, nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng , hợp lý giữa các doanh nghiệp , tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ có thu nhập nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại điều 2 luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 theo đó chủ thế có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập (trừ đối tượng là các hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản).

• Đặc điểm

• Đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập có nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Như vậy, dưới góc độ lý luận, để thu nhập được coi là thu nhập chịu thuế phải thỏa mãn 2 điều kiện:

Thứ nhất, Có hành vi kinh doanh phát sinh trên thực tế không phân biệt tư cách chủ thể là doanh nghiệp hay là các tổ chức khác, có đăng ký kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh (đăng ký dưới các hình thức khác theo luật Các tổ chứ tín dụng, luật Luật sư, luật Đầu tư…).

Thứ hai, Có thu nhập thực tế hợp pháp phát sinh trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên và các khoản thu nhập khác.

Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là mọi tổ chức và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Mức độ điều tiết của thuế thu nhập doanh nghiệp là rất lớn.

Mục đích cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp là động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước, đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa phát sinh thu nhập.

• So sánh với đối tượng nộp thuế của thuế thu nhập cá nhân

• Giống nhau :

Đều là những người có nghĩa vụ nộp thuế hay nói cách khác là người trực tiếp phải gánh chịu thuế.

• Cơ sở để xác định đối tượng nộp thuế đều căn cứ vào thực trạng đời sống kinh tế xã hội.

• Mục đích của việc xác định đối tượng nộp thuế là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết kinh tế, điều hòa thu nhập xã hội.

• Khác nhau :

• Chủ thể nộp :

Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp có chủ thể nộp thuế là mọi tổ chức và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có phát sinh thu nhập từ hợt động sản xuất kinh doanh (trừ các đối tượng quy định tại điều 4 luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008)

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân có chủ thể là cá nhân có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật nhằm mục đích điều tiết 1 phần thu nhập của họ để thực hiện công bằng xã hội…

• Cơ sở xác định đối tượng chịu thuế :

Đối với đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định dựa trên các cơ sở : Thứ nhất ,xác định trên cơ sở quan hệ về quốc tịch và quan hệ lãnh thổ.Thứ hai , Có thu nhập phát sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.Thứ ba, Thu nhập phát sinh có liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài hay không.

Đối với đối tượng nộp thuế thu nhập Cá nhân được xác định dựa trên các cơ sở : Thứ nhất, phải xác định được cá nhân cư trú hay không cư trú . Nếu là cá nhân cư trú phải hiện diện ( Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong 1 năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam) và phải có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam; Nếu là cá nhân không cư trú thì không cần đáp ứng các điều kiện này. Thứ hai có thu nhập phát sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.

• Cơ sở pháp lý quy định đối tượng nộp của hai loại thuế này :

Đối tượng nộp Thuế thu nhập doanh nghiệp : Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, Nghị định 1242008 NĐCP và văn bản hướng dẫn thi hành.

Đối tượng nộp thuế thu nhập các nhân : Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, Nghị định 1002008 N Đ CP và một số văn bản hướng dẫn thi hành.

2.2. Đối tượng nộp thuế là tổ chức kinh tế Việt Nam.

Cơ sở pháp lý quy định về đối tượng nộp thuế

Theo khoản 1 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 quy định người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập (gọi là doanh nghiệp) bao gồm:

“a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;
c) Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập”.

Đồng thời, tại Điều 2 Nghị định 1242008NĐCP của CHính phủ ngày 11 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

“1. Người nộp thuế thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật Dầu khí, Luật Thương mại và quy định tại các văn bản pháp luật dưới các hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, công ty Nhà nước, các bên tỏng hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, công ty điều hành chung.
b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;
c) Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Nghị định này;
d) Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã;
đ) Tổ chức khác ngoài tổ chức quy định tại các điểm a, b, c, d khoản này có hoạt động sản xuất, kinh doanh và có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Nghị định này.
2. Tổ chức được thành lập và hoạt động (hoặc đăng kí hoạt đông) theo quy định của pháp luật Việt Nam, cá nhân kinh doanh là người nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại nguồn trong trường hợp mua dịch vụ (kể cả mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của doanh nghiệp quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp”.

Theo quy định tại Mục I phần A Thông tư số 1342007TTBTC ngày 23112007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 24200NĐCP ngày 14 tháng 2 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, các đối tượng dưới đây khi có thu nhập chịu thuế phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:

“1. Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:
a) Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; Luật doanh nghiệp Nhà nước; Luật đầu tư; Luật hợp tác xã.
b) Liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là hợp tác xã); tổ hợp tác (trừ trường hợp nêu tại điểm 1 mục II Phần A Thông tư này).
c) Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; cơ quan hành chính, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác.
2. Cá nhân trong nước sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bao gồm:
a) Cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh.
b) Hộ kinh doanh cá thể.
c) Cá nhân hành nghề độc lập có hoặc không có văn phòng, địa điểm hành nghề cố định (trừ người làm công ăn lương) như: bác sỹ, kế toán, kiểm toán, hoạ sỹ, kiến trúc sư, nhạc sỹ và những người hành nghề độc lập khác.
d) Cá nhân cho thuê tài sản như: nhà, đất, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và các loại tài sản khác.
3. Công ty ở nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Cơ sở thường trú là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty ở nước ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập. Cơ sở thường trú của công ty ở nước ngoài gồm một trong các hình thức sau:
a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận hàng hoá, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay các thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên;
b) Địa điểm xây dựng; công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; các hoạt động giám sát xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
c) Cơ sở cung cấp các dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công cho mình hay một đối tượng khác;
d) Đại lý cho công ty ở nước ngoài;
e) Đại diện ở Việt Nam trong các trường hợp:
Có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty ở nước ngoài;
Không có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
Trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó.
4. Công ty nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính”.

Trong Thông tư 1342007TTBTC còn quy định các đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Mục II Phần A như sau:

“1. Hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản.
2. Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trừ hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hoá lớn, có thu nhập cao từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản.

Tạm thời chưa thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hoá lớn, có thu nhập cao từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản cho đến khi có quy định của Chính phu.

b. Đối tượng nộp thuế

Doanh nghiệp Việt Nam.

Là các Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam như : Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty nhà nước, nhóm công ty.

Các doanh nghiệp này nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam.

Hợp tác xã : Là các tổ chức thành lập theo luật hợp tác xã gồm hợp tác xã, liên minh hợp tác xã, tổ hợp tác.

• Đối với tổ chức là doanh nghiệp, hợp tác xã thì đương nhiên là đối người nộp thuế nếu có thu nhập hợp pháp không phân biệt nguồn gốc thu nhập của doanh nghiệp, hợp tác xã.

2.3. Đối tượng nộp thuế là tổ chức kinh tế nước ngoài:

Bao gồm :

Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.

Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:

+ Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam.

+ Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp.
+ Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác.
+ Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài.
+ Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.

Các đối tượng này là đối người nộp thuế nếu có thu nhập hợp pháp không phân biệt nguồn gốc thu nhập.

2.4. Đối tượng nộp thuế là đơn vị sự nghiệp

Gồm các Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam như : Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.

Các đơn vị sự nghiệp chỉ trở thành người nộp thuế nếu tổ chức có thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có thu nhập.

2.5. Đối tượng khác.

Gồm các đối tượng Quy định tại điểm đ khoản1 điều 2 luât thuế thu nhâp doanh nghiệp, điểm đ khoản 1 điều 2 nghị định 1242008NĐCP. Các đối tượng này chỉ trở thành người nộp thuế nếu có thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có thu nhập.

3. Những điểm hạn chế và phương hướng hoàn thiện

1, Hạn chế

Thứ nhất, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay xác định đối tượng nộp thuế theo phương pháp liệt kê làm cho chính sách thuế không bao quát hết các đối tượng nộp thuế. Bởi trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam chưa ổn định và còn đang trong giai đoạn phát triển nên quy định trên làm mất đi sự linh hoạt của chính sách thuế, khó thay đổi theo hướng mở rộng hay thu hẹp đối tượng nộp thuế để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.

Thứ hai, theo nguyên tắc thì bất cứ tổ chức nào có hoạt động kinh doanh và có thu nhập phát sinh thì đều là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên để khuyến khích hoạt động trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản… hay lĩnh vực kinh doanh gặp nhiều khó khăn và thường tạo ra thu nhập không cao, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định thu nhập từ những lĩnh vực đó được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn quy định một số thu nhập được miễn thuế tại điều 4. Nhưng để xác định đúng đối tượng được miễn thuế cũng không dễ dàng bởi tiêu chí để nhận diện chưa được quy định rõ ràng, gây khó khăn cho cơ quan thuế và các doanh nghiệp này trong việc áp dụng nó vào thực tế.

Thứ ba, điểm c khoản 2 điều 2 luật thuế thu nhập doanh nghiệp đề cập tới đối tượng là doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam, nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú. Quy định này không rõ ràng bởi lẽ khoản thu nhập phát sinh nhưng lại không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú được hiểu là những hoạt động như thế nào? Và ai sẽ là người có trách nhiệm nộp thuế đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 2? Mặt khác, ngay cả trường hợp doanh nghiệp nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam nhưng không có cơ sở thường trú, vẫn phải nộp thuế theo pháp luật Việt Nam theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 2 thì không có lí do gì đối tượng có cơ sở thường trú tại Việt Nam mà lại không phải nộp thuế.

Thứ tư, vấn đề ưu đãi thuế vẫn còn dàn trải đối với các đối tượng nộp thuế, chưa phát huy hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực trong đầu tư để đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Thứ năm, việc quy định các đối tượng nộp thuế còn bất hợp lý. Như đã trình bày ở phần trên, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện các tổ chức như Hội khuyến học, Hội người cao tuổi, Hội bảo trợ người tàn tật….Đây là các tổ chức có chức năng chính là xã hội chứ không phải là tìm kiếm lợi nhuận, có lợi nhuận hay chăng nữa cũng chỉ mục đích duy trì hoạt động và phục vụ chức năng xã hội của mình. Tuy nhiên luật thuế còn đánh đồng các tổ chức này như những doanh nghiệp kinh doanh khác liệu đã hợp lý và công bằng. Các quy định như thế này phần nào còn làm giảm sự hoạt động hiệu quả của các tổ chức trên.

Thứ sáu, việc quy định đối tượng nộp thuế là cá tổ chức, DN hoạt động sản xuất kinh doanh hành hoá, dịch vụ có thu nhập, thế nhưng khi có vi phạm pháp luật thuế xảy ra thì trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân kinh doanh dường như bị bỏ qua trong khi cá nhân lại bị pháp luật trừng trị. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng giữa việc xử lý các vi phạm pháp luật thuế do đối tượng là tổ chức và cá nhân.

2. Phương hướng hoàn thiện

Thứ nhất: Để hướng đến sự công bằng trong quan hệ pháp luật thuế thì việc áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc hơn nữa ví dụ như truy cứu TNHS,… tránh tình trạng trốn thuế, gian lân thuế.

Thứ hai: Cần có những quy định về cải cách ưu đãi thuế nhằm tạo ra sự chuyển biến trong phân bổ nguồn nhân lực. Theo luật thuế TNDN hiện hành thì mức ưu đãi thuế suất cao nhất( thuế suất 10%, miễn 4 năm và giảm tối đa 9 năm tiếp theo) được áp dụng đối với DN được thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; DN được thành lập mới từ dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm; doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường. Tuy nhiên, các dự án đầu tư nhà ở để bán, cho thuê trong đó có các đối tượng công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, người có thu nhập thấp có khó khăn về nhà ở, các đối tượng là sinh viên trong các cơ sở đào tạo thì chưa được hưởng ưu đãi nếu đầu tư tại các địa bàn khác không thuộc danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư. Như vậy không khuyến khích được các đối tượng đầu tư vào lĩnh vực này. Trong khi đó vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp luôn là bài toán nan giải, là mối quan tâm của Nhà nước trong nhiều năm qua. Do đó, cần có những quy định ưu đãi về thuế suất cho các đối tượng đầu tư trong những lĩnh vực này.

Hơn nữa các DN lớn họ là đối tượng đang nộp thuế nhiều, liên tục thì Chính phủ chưa có chính sách hỗ trợ, động viên nào. Nhìn nhận một cách toàn diện thì việc giảm thuế cho các DN lớn, DN mũi nhọn của nền kinh tế sẽ thực sự kích thích sản xuất, tăng trưởng, giảm thuế như một động lực để các doanh nghiệp lớn phát triển hơn nữa. Vì vậy, Nhà nước nên có những ưu đãi dành cho các doanh nghiệp này.

Thứ ba: Nên có những quy định rõ ràng hơn nữa thế nào là hoạt động sản xuất kinh doanh để làm tiêu chí xác đinh đối tượng nộp thuế thay cho việc xác đinh đối tượng nộp thuế theo cách liệt kê như hiện nay.

KẾT LUẬN

Xác định được đối tượng của thuế thu nhập doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng và cần thiết để nhà nước có thể quản lý trọn vẹn nguồn thu từ loại thuế này. Hạn chế được hiện tượng trốn thuế vấn đề nóng bỏng vẫn đang diễn ra và khó kiểm soát trong thực tế hiện nay. Trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều biến động, cùng với sự ra đời của nhiều hình thức kinh doanh mới đã thách thức cho hệ thống pháp luật nước ta mà pháp luật thuế là một trong những khu vực mang nhiều tính đặc thù nhất. Những hạn chế trong việc xác định đối tượng thu nhập thuế doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Việc tìm ra những hạn chế và có phương hướng khắc phục, điều chỉnh là hướng đi đúng đắn để nhà nước có thể kiểm soát nguồn thu này một cách triệt để nhất, góp phần vào nguồn thu ngân sách dồi dào, vững mạnh.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Mê Linh.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH.

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH. 6
1.1 TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP NQD 6
1.1.1 Khái niệm đặc điểm doanh nghiệp NQD 6
1.1.2 Vai trò Doanh Nghiệp NQD 9
1.2 QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VỚI NHỮNG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH. 11
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp. 11
1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp NQD 19
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH. 27
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN MÊ LINH. 27
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Mê Linh 27
2.1.2 Đặc điểm các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Mê Linh. 29
2.1.3 Cơ cấu tổ chức chi cục thuế huyện Mê Linh. 30
2.2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN DỰ TOÁN THU NGÂN SÁCH CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN MÊ LINH. 34
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NQD TRONG THỜI GIAN QUA. 37
2.3.1 Công tác quản lý đối tượng người nộp thuế. 37
2.3.2 Quản lý căn cứ tính thuế. 40
2.3.3 Công tác quản lý thu nộp và cưỡng chế thuế. 48
2.3.4 Quản lý ưu đãi, miễn giảm 51
2.4 Đánh giá công tác quản lý thuế TNDN đối với các DN NQD. 52
2.4.1 Kết quả đạt được. 52
CHƯƠNG 3:MỘT SỐ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH 56
3.1 Mục tiêu và yêu cầu tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Mê Linh. 56
3.2 Các giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế TNDN đối với các DN NQD trên địa bàn huyện Mê Linh. 57
3.2.1 Tăng cường quản lý đối tượng nộpthuế. 57
3.2.2 Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra trong việc quản lý căn cứ tính thuế và hóa đơn, chứng từ. 58
3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế và cung cấp các dịch vụ cho người nộp thuế. 65
KẾT LUẬN..............................................................................................................66
Xem thêm

65 Đọc thêm

luận văn cao học kinh tế “Phân tích các yếu tố tác động đến khả năng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của các danh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang”

LUẬN VĂN CAO HỌC KINH TẾ “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG NỘP THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG”

Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thuế luôn là một công cụ thể hiện quyền lực và là nguồn tài chính chủ yếu để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế góp phần tạo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, ổn định tài chính tiền tệ, tạo ra sự đảm bảo an toàn về tài chính cho các hoạt động kinh tế xã hội.Hệ thống thuế Việt Nam từ năm 1999 đến nay đã có nhiều bước chuyển đổi theo hướng tích cực là thực hiện cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm về số liệu đã kê khai; cơ quan thuế chỉ kiểm tra, giám sát lại việc kê khai và nộp thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên như đã nói ở trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên người nộp thuế không phải lúc nào cũng xác định đúng số tiền thuế phải nộp và nộp đầy đủ, kịp thời vào NSNN. Vì vậy, cơ quan thuế cần xem xét và tìm hiểu mức độ chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế để tìm giải pháp khắc phục.Thuế mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, được thể hiện bằng các sắc Luật thuế do Nhà nước qui định và một trong những sắc luật thuế đó là Luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế và doanh nghiệp là người nộp thay. Khác với thuế giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp lên thu nhập của doanh nghiệp nên tác động trực tiếp đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, đây cũng là nguyên nhân làm cho doanh nghiệp chấp hành không tốt việc kê khai tính thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp tìm mọi cách để giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp còn cơ quan thuế phải quản lý, kiểm tra để doanh nghiệp kê khai thuế đúng, đủ theo quy định.Tuy nhiên trên thực tế, trong nhận thức của một số người vẫn không xem việc chấp hành chính sách thuế là nghĩa vụ mà họ nghĩ rằng đã bị mất đi một lợi ích kinh tế và họ chỉ thực hiện nghĩa vụ khi không thể tránh né được. Còn ngược lại nếu có cơ hội để không phải nộp thuế hoặc số tiền nộp giảm xuống so với nghĩa vụ thực tế mà không bị xử lý gì thì họ sẽ tìm mọi cách để tránh thuế, né thuế và thậm chí là trốn thuế.Theo thống kê của Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo (2014), toàn tỉnh hiện nay có hơn 3.600 doanh nghiệp và hơn 15.000 hộ kinh doanh, trong đó trên địa bàn huyện Chợ Gạo có hơn 300 doanh nghiệp và hơn 3.800 hộ kinh doanh, chủ yếu là hoạt động với quy mô vừa và nhỏ với nhiều ngành nghề khác nhau nên công tác quản lý thuế luôn gặp nhiều thách thức. Bên cạnh đó thực trạng hiện nay đặt ra là có nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp rất ít hoặc không có phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp, theo thống kê của Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo các doanh nghiệp không phát sinh số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2013 là: 93 doanh nghiệp, chiếm 31% doanh nghiệp đang hoạt động, năm 2014 là: 112 doanh nghiệp, chiếm 37% doanh nghiệp đang hoạt động.Thực trạng đó đặt ra là làm thế nào để công tác quản lý thuế đạt hiệu quả, tăng thu ngân sách nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu“Phân tích các yếu tố tác động đến khả năng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của các danh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang”. Kết quả nghiên cứu đề tài này là một trong những kênh thông tin cung cấp cho ban lãnh đạo thuộc các cơ quan quản lý thuế có cái nhìn mang tính khoa học, có cơ sở và có tính định lượng rõ ràng hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, giúp cho việc điều hành, chỉ đạo tại Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả trong việc thực thi chính sách thuế trên địa bàn, góp phần tăng thu NSNN chi địa phương.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Khóa luận tốt nghiệp: 2014 Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay nhằm vận dụng những lý luận về thuế TNDN và chính sách thuế TNDN để phân tích thực trạng chính sách thuế TNDN hiện nay, đánh giá những kết quả cũng như hạn chế của chính sách thuế TNDN trong thời gian và qua. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNDN trong thời gian tới, góp phần vào quá trình phát triển KTXH của nước ta.

78 Đọc thêm

Hoàn thiện cơ chế thanh tra về thuế thu nhập doanh nghiệp (qua thực tế tại thành phố Cần Thơ)

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THANH TRA VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP (QUA THỰC TẾ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ)

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí,...Trong đó, Thuế đóng vai trò rất quan trọng trong nguồn thu ngân sách Nhà nước. Mỗi một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bật bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng và hiệu quả trong việc bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Chính phủ. Thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong khuyến khích đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ thông qua các quy định về ưu đãi thuế, các yếu tố kỹ thuật trong tính thuế, quản lý thuế.
Thuế thu nhập doanh nghiệp thu trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi những chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế, số thuế cao hay thấp tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặt khác việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm từng bước thu hẹp sự phân biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, đảm bảo trong sản sản xuất kinh doanh phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Thực tế, trong những năm qua, thu ngân sách Nhà nước luôn hoàn thành vượt mức dự toán giao, đóng góp tích cực vào việc thực hiện các chính sách cân đối vĩ mô, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Tuy nhiên, ý thức chấp hành pháp luật về thuế của một bộ phận người nộp thuế cũng còn hạn chế; hiện tượng thất thu thuế, nợ đọng thuế, chiếm dụng tiền thuế tại một số lĩnh vực, ngành, địa phương vẫn còn xảy ra; sự phối hợp của các ngành, các cấp với cơ quan Thuế trong công tác quản lý thuế, tuyên truyền pháp luật thuế, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế..., có lúc, có nơi chưa thường xuyên, chặt chẽ, làm giảm hiệu quả của công tác quản lý thuế; một số địa phương chưa quan tâm quản lý, khai thác nguồn thu từ tài nguyên môi trường, đất đai, khoáng sản,...; tình trạng chuyển giá làm giảm các nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước; tình trạng đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, lậu thuế vẫn còn xẩy ra dưới nhiều hình thức tinh vi và ngày càng phức tạp. Để khắc phục tình trạng thất thu thuế làm ảnh hướng đến nguồn thu ngân sách, cần phải hoàn thiện cơ chế thanh tra về thuế.
Để quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ quản lý, và thanh tra tài chính là một công cụ quan trọng để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt trong quản lý thu ngân sách Nhà nước. Hoạt động thanh tra tài chính thông qua việc phát hiện và xử lý các sai phạm về tài chính; phát hiện và đề xuất để hoàn thiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách quản lý tài chính;... góp phần tích cực vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước, chống thất thoát, lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn Nhà nước, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính.
Để đáp ứng những yêu cầu mới, đặc biệt là yêu cầu từ việc cải cách nền hành chính nhà nước, yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cơ chế của ngành Thanh tra tài chính cần phải tiếp tục được hoàn thiện. Thời gian gần đây, ngành Thanh tra tài chính đã có những thay đổi về cơ chế và đã thu được những kết quả quan trọng. Công tác Thanh tra tài chính đã thể hiện sự chủ động, gắn liền với công tác quản lý tài chính, ngân sách Nhà nước. Ngành Thanh tra tài chính hàng năm đã triển khai thanh tra trên diện rộng, tổ chức ngành Thanh tra tài chính được hình thành vững chắc từ Trung ương đến Địa phương và trên các lĩnh vực quản lý tài chính chuyên sâu. Đội ngũ cán bộ thanh tra ngày càng chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên, hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra tài chính nói chung và thanh tra về thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng vẫn còn những tồn tại, hạn chế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển kính tế - xã hội trong tình hình mới và đặc biệt là yêu cầu từ công tác tăng cường quản lý nguồn thu trên địa bàn các tỉnh, thành phố.
Với ý nghĩa trên, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện cơ chế thanh tra về thuế thu nhập doanh nghiệp (qua thực tế tại thành phố Cần Thơ)" là hết sức cần thiết.
Xem thêm

131 Đọc thêm

GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 142008QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 0362008. Qua hơn 4 năm thực hiện, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã cơ bản đạt được mục tiêu đề ra khi ban hành Luật. Bên cạnh những kết quả đạt được, trước thực tiễn nền kinh tế và xu hướng phát triển, một số quy định trong Luật đã bộc lộ những tồn tại như: chưa bao quát hết các khoản thu nhập mới phát sinh, một số quy định về các khoản chi phí được trừ và không được trừ chưa thật sự phù hợp với thực tiễn, chưa có quy định ưu đãi đối với đầu tư mở rộng
Xem thêm

30 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế hoàn thiện kế toán thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp tại công ty cổ phần thương mại thiệu yên huyện yên định

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THIỆU YÊN HUYỆN YÊN ĐỊNH

Luận văn thạc sỹ kinh tếtế hoàn thiện kế toán thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp tại công ty cổ phần thương mại thiệu yên huyện yên địnhLuận văn thạc sỹ kinh tếtế hoàn thiện kế toán thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp tại công ty cổ phần thương mại thiệu yên huyện yên địnhLỜI CAM ĐOANMỞ ĐẦU11. Lý do chọn đề tài12. Mục đích nghiên cứu đề tài23. Ý nghĩa khoa học của đề tài24. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài35. Phương pháp nghiên cứu36. Kết cấu của đề tài: Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ, KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP41.1. Những vấn đề cơ bản về Thuế41.1.1. Khái niệm41.1.2. Đặc điểm của thuế41.1.3.Vai trò của thuế đối với nền kinh tế quốc dân51.2. Thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp51.2.1. Thuế Giá trị gia tăng51.2.2. Thuế Thu nhập doanh nghiệp121.3. Kế toán thuế GTGT và thuế TNDN161.3.1. Kế toán thuế GTGT161.3.2. Kế toán thuế TNDN29KẾT LUẬN CHƯƠNG 136CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỂ TOÁN THUẾ GTGT VÀ THUẾ TNDN TẠI CÔNG TY CPTM THIỆU YÊN THANH HÓA372.1 Giới thiệu về công ty CPTM Thiệu Yên Thanh Hóa.372.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty.372.1.2. Tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh412.1.3. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của công ty422.1.4. Tổ chức bộ máy kế toán trong Công ty462.1.5. Chính sách kế toán áp dụng tại Công ty472.2. Thực trạng kế toán tại công ty CPTM Thiệu Yên Thanh Hóa.492.2.1 Thực trạng kế toán thuế GTGT492.2.2 Thực trạng kế toán thuế TNDN602.3. Đánh giá về kế toán thuế GTGT và thuế TNDN tại công ty CPTM Thiệu Yên Thanh Hóa652.3.1. Kết quả đạt được.652.3.2. Tồn tại, hạn chế66KẾT LUẬN CHƯƠNG 269CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THIỆU YÊN THANH HÓA703.1 Sự cần thiết và yêu cầu cần phải hoàn thiện kế toán thuế GTGT và thuế TNDN.703.1.1 Sự cần thiết703.1.2 Yêu cầu hoàn thiện713.2. Giải pháp hoàn thiện713.2.1. Hoàn thiện chính sách thuế, chế độ kế toán713.2.2 Hoàn thiện kế toán thuế GTGT723.2.3. Hoàn thiện kế toán thuế TNDN743.2.4. Một số giải pháp khác753.3 Điều kiện thực hiện giải pháp763.3.1 Đối với Nhà nước763.3.2. Đối với Công ty cổ phần thương mại Thiệu Yên Thanh Hóa79KẾT LUẬN CHƯƠNG 383
Xem thêm

126 Đọc thêm

CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỐI TƯỢNG NỐP THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP THWO LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỐI TƯỢNG NỐP THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP THWO LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

thực tiễn năm 2012 cũng cho thấy, việc chuyển đối tượng nộp thuế thu nhập doanhnghiệp là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nộp thuế thu nhập cánhân là hoàn toàn phù hợp với thực tế và cơ quan thuế có thể làm tốt hơn trong vấnđề thu thuế và quản lí các vấn đề liên quan đến thuế đối với đối tượng này cũng nhưcác đối tượng phải nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008.Thứ hai, về đối tượng được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế thu nhậpdoanh nghiệp 2008 đã có sự thống nhất trong cơ chế ưu đãi thuế, đáp ứng yêu cầukhông phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giữa nhà đầu tư trong nước vànước ngoài. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 cũng đã khắc phục những hạnchế trong các quy định ưu đãi dàn tải của luật cũ. Thực tế trong những năm trướcđó đặc biệt trong năm 2012 khi thực thi luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 chothấy, những thay đổi trong đối tượng được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đãgóp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta, phù hợp với xu thếcủa các nước trong khu vực và trên thế giới, nâng cao tính cạnh tranh của cộngđồng doanh nghiệp và nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có nhữngbước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.Bên cạnh đó, việc quy định các đối tượng được hưởng ưu đãi về thuế một cách rõràng, cụ thể đã giúp các doanh nghiệp dễ dàng xác định mình có thuộc đối tượngđược ưu đãi về thuế hay không.• Về nhược điểmBên cạnh nhứng ưu điểm đã nêu ở trên, có thể thấy, qua thực tiễn thực hiện luậtthuế thu nhập doanh nghiệp 2012, có thể thấy, trong các quy định về đối tượng nộpthuế thu nhập doanh nghiệp của luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 còn bôc lộnhững hạn chế đòi hỏi cần khắc phục:Thứ nhất, tại điểm c khoản 2 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 có đềcập đến doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế với thunhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà các khoản thu nhập này không liên quanđến hoạt động của cơ sở thường trú còn không rõ ràng. Về mặt lí thuyết, luật pháp
Xem thêm

16 Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC - THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC - THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Đây là tài liệu ôn thi công chức thuế thuế thu nhập doanh nghiệp trong bộ đề cương ôn tập thi công chức thuế của mình. Đảm bảo nếu các bạn giành thời gian đọc và học kĩ những tài liệu của mình sẽ thi công chức thuế với điểm số cao. Vì đây là những tài liệu quý mà mình nhờ người quen làm ở trưởng chi cục thuế tìm cho. Hi vọng sẽ giúp ích được cho mọi người.
Tài liệu này gồm 55 trang phân tích rõ các quy định về thuế TNDN có trong đề thi công chức thuế:
PHẦN I: MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp, Vai trò của thuế TNDN, Một số nội dung cơ bản của thuế TNDN: Đối tượng nộp thuế, Cơ sở tính thuế hay căn cứ tính thuế, Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, Ưu đãi miễn, giảm thuế, Tránh đánh thuế trùng
PHẦN II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: Đối tượng chịu thuế TNDN, Đối tượng nộp thuế TNDN, Đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN, Căn cứ tính thuế TNDN, Một số cách xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất khác, Phương pháp tính thuế TNDN, Miễn, giảm thuế TNDN, ...
Xem thêm

56 Đọc thêm

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, phạm vi địa bàn ưu đãi đãthu hẹp hơn, các KCN đã không còn được xếp vào địa bàn có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn.- Thứ ba: Pháp luật thuế TNDN của Việt Nam hiện nay đang rấtchú trọng đến một số ngành, lĩnh vực đặc biệt như: lĩnh vực bảo vệmôi trường, lĩnh vực khoa học công nghệ…- Thứ tư, pháp luật ưu đãi thuế TNDN hiện nay đã có những điềuchỉnh kịp thời, phù hợp với những biến động của kinh tế, xã hội đấtnước.- Thứ năm: Pháp luật ưu đãi thuế TNDN hiện nay đã tăng thêmquyền tự chủ cho các doanh nghiệp và phần nào giảm bớt gánh nặngcông việc cho các cán bộ ngành thuế. Luật thuế TNDN áp dụng cơchế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luậtvề tính trung thực của số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuếtính thuế, thông báo thuế, quyết toán thuế.- Thứ sáu: Các quy định ưu đãi thuế TNDN hiện nay đã phù hợp với"sân chơi" Quốc tế.2.4.2 Những hạn chế của pháp luật ƣu đãi thuế TNDN hiện nay- Thứ nhất: Quy định ưu đãi thuế còn dàn trải, thiếu tập trung,thống nhất. Nội dung ưu đãi thuế TNDN hiện nay được quy địnhtrong quá nhiều văn bản luật, nghị định, thông tư hướng dẫn, tạonên một “ma trận” văn bản khi các doanh nghiệp có nhu cầu tìmhiểu.- Thứ hai: Thuế suất thuế TNDN cơ bản hiện nay còn cao so vớithực tiễn kinh tế - xã hội quốc gia và so với các nước trong khu vực,cũng như trên thế giới. Hiện nay, thuế thu nhập doanh nghiệp ViệtNam áp mức phổ thông 25%. So với bối cảnh thực tế khi mọi chi phíđầu vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đều tăng cao vàviệc huy động vốn của các doanh nghiệp là hết sức khó khăn. Mặtkhác, so với các nước trong khu vực, thuế TNDN Việt Nam hiện nay
Xem thêm

26 Đọc thêm

 PHỤ LỤC THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC ƯU ĐÃI

PHỤ LỤC THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC ƯU ĐÃI

TRANG 1 PHỤ LỤC THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SỬ DỤNG LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HOẶC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, XÂY DỰNG, VẬN TẢI SỬ DỤNG NHI[r]

2 Đọc thêm

PHỤ LỤC THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC ƯU ĐÃI

PHỤ LỤC THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC ƯU ĐÃI

ĐIỀU KIỆN ƯU ĐÃI: - NGÀNH NGHỀ, ĐỊA BÀN ĐẦU TƯ: _ Đ_ _ẦU TƯ LẮP ĐẶT DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT MỚI KHÔNG THUỘC NGÀNH NGHỀ, LĨNH VỰC, ĐỊA BÀN KHUYẾN _ _KHÍCH ĐẦU TƯ._  _ ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH NGHỀ,[r]

3 Đọc thêm

chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp

CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

bộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viênbộ câu hỏi thuế thu nhập doanh nhiệp phục vụ thi công chức thuế ngạch chuyên viên
Xem thêm

25 Đọc thêm

 ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 _Chính sách về thu nhập doanh nghiệp_ Cỏc doanh nghiệp sản xuất ụ tụ du lịch được hưởng ưu đói thuế thu nhập doanh nghiệp theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với mức [r]

38 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
Thu nhập từ đầu tư trái phiếu (trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế) phải chịu các loại thuế sau:
1. Thuế thu nhập doanh nghiệp (đối với nhà đầu tư là tổ chức)
2. Thuế thu nhập cá nhân (đối với nhà đầu tư là cá nhân)

9 Đọc thêm

 ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 _Chính sách về thu nhập doanh nghiệp_ Cỏc doanh nghiệp sản xuất ụ tụ du lịch được hưởng ưu đói thuế thu nhập doanh nghiệp theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với mức [r]

38 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 _Chính sách về thu nhập doanh nghiệp_ Cỏc doanh nghiệp sản xuất ụ tụ du lịch được hưởng ưu đói thuế thu nhập doanh nghiệp theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với mức [r]

38 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH CỔ TỨC Ở CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

CHÍNH SÁCH CỔ TỨC Ở CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

CHÍNH SÁCH CỔ TỨC Ở CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
(Dividend Policy Inside the Multinational Firm)
Mihir A. Desai C. Fritz Foley James R. Hines Jr.

I. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Bài nghiên cứu này xem xét các yếu tố quyết định chính sách chuyển lợi nhuận về công ty mẹ ở các công ty đa quốc gia Mỹ. Bài viết xác định ba yếu tố thiết lập đến chính sách cổ tức trong phạm vi công ty đa quốc gia là: thuế thu nhập cổ tức, nhu cầu đầu tư và tài trợ trong nước, và vấn đề về đại diện.
II. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:
Nhiều nghiên cứu trước phân tích tác động của chính sách thuế lên việc chuyển cổ tức về. Việc chuyển cổ tức từ các Công ty con nước ngoài về Công ty mẹ ở Mỹ phân phối tùy theo kết quả thuế về độ lớn và thời gian. Việc chuyển cổ tức từ công ty con nước ngoài về công ty mẹ ở Mỹ đã tạo ra sự khác biệt của nghĩa vụ thuế ở Mỹ giữa các mức thuế suất thuế nước ngoài và thuế suất doanh nghiệp Mỹ.
Nói chung, các doanh nghiệp nợ thuế của Mỹ dựa trên sự khác biệt giữa các mức thuế suất sử dụng ở nước ngoài và thuế suất của Mỹ. Một ngoại lệ đáng chú ý để giải quyết việc này là các dòng cổ tức từ các chi nhánh phụ thuộc nước ngoài (unincorporated foreign branch affiliates) và các công ty con độc lập (incorporated foreign affiliates) mà được sở hữu gián tiếp thông qua một số quốc gia khác không chịu tác động của thuế Mỹ.
Mong muốn tránh nghĩa vụ thuế Mỹ có thể sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển thẳng cổ tức về theo. Cho rằng là việc chuyển cổ tức về chịu sự chi phối của nghĩa vụ thuế Mỹ, các nghĩa vụ thuế có thể được hoãn lại do tái đầu tư lợi nhuận ra nước ngoài hơn là nộp cổ tức cho công ty mẹ.
Hartman (1985) cho rằng thuế chuyển về không ảnh hưởng đến chính sách cổ tức công ty đa quốc gia nếu các điều kiện thuế chuyển về hiện hành không thay đổi. Trong thực tế, có nhiều bằng chứng (xem Altshuler, Newlon và Randolph (1995)) mà các điều kiện thay đổi theo thời gian, do đó nó hấp dẫn đến cổ tức chuyển về. Kể từ khi khoản nợ thuế nước ngoài vượt quá không thể được chuyển và ngược lại, ngay cả các công ty trong các tình huống đối mặt với các ưu đãi thuế không thay đổi kết hợp cổ tức chuyển về từ các nước có thuế cao và thấp thuế. Chiến lược như vậy là tốn kém và không phải luôn luôn có sẵn, như là kết quả trong đó thuế chuyển về ngăn cản cổ tức chuyển về từ các cty con, đặc biệt là ở các nước đang thấp thuế. Desai và Hines (2004) thấy rằng các công ty Mỹ phát sinh nghĩa vụ thuế rất lớn đối với thu nhập nước ngoài của họ vào năm 1999, con số đó tăng lên đáng kể khi đưa các chi phí gián tiếp.
Hartman, D.G., 1985, “Tax Policy and Foreign Direct Investment”
Sự thu hồi các khoản thu nhập về cho nhà đầu tư trong nước mà không phải là thu nhập của chính họ là nguồn gốc của việc nợ thuế, các khoản thuế thu nhập có nguồn gốc nước ngoài tác động đến đầu tư nước ngoài một cách khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu chuyển nhượng các quỹ bên trong công ty.
Việc nhìn nhận thuế theo xu hướng này là để tối đa hóa lợi nhuận sau thuế, một công ty nên đầu tư ra nước ngoài từ các khoản thu nhập ở từ nước ngoài ở mức độ lớn nhất có thể. Nó cho thấy rằng thuế suất của quốc gia đầu tư trên các khoản thu nhập có nguồn nước ngoài và tín dụng thuế nước ngoài không liên quan đến quyết định chia cổ tức hoặc đầu tư của một tổ chức nước ngoài. Kết luận này xung đột mạnh mẽ với sự hiểu biết thông thường, với luật thuế của quốc gia đầu tư như một chi phí không thể tránh khỏi, Trái lại, quyết định đầu tư của các công ty mới chịu ảnh hưởng của thuế ở quốc gia đầu tư.
Thay thế các tín dụng thuế nước ngoài bằng một mức khấu trừ sẽ không ngăn cản các công ty đó tái đầu tư ra nước ngoài. Quyết định của các công ty con ở nước ngoài đối với các khoản thu nhập bị thu hồi bởi công ty mẹ nên độc lập với việc đối xử thuế của nước nhà lên khoản thu nhập có nguồn gốc nước ngoài.
Desai, M.A. and J.R. Hines, Jr., 2004, Old Rules and New Realities: Corporate Tax Policy in a Global Setting
Bài nghiên cứu này đánh giá lại gánh nặng của chính sách thuế quốc tế hiện hành của Mỹ và xem xét các tiêu chuẩn về phúc lợi phổ biến được sử dụng để hướng dẫn chính sách cải cách thuế quốc tế.
Việc điều tra lại chính sách thuế trong tập đoàn yêu cầu sự cần nhắc quốc tế được đặt ra trước và trong cuộc tranh luận về thuế thu nhập trong tập đoàn. Một khung lý thuyết đơn giản cho viec đánh giá các luật hiền hành yêu cầu một chính sách thuế Mỹ đặt nặng lên thu nhập nước ngoài , vào khoảng 50 tỷ USD năm ở các quốc gia lân cận. Quy mô của nguồn thuế đầu tư nước ngoài thì mâu thuẩn với việc thúc đẩy hiệu quả của việc sở hữu tài sản vốn trong viễn cảnh quốc gia và quốc tế. Vì vậy, một nguồn phúc lợi lớn sẽ được tạo ra từ việc giảm nguồn thuế thu nhập nước ngoài của Mỹ, một hướng dẫn của cải cách thuế yêu cầu bỏ qua sự thỏa mãn khi đi sai hướng, sự hợp lý của việc sử dụng những hệ thống thuế tương tự đến thuế thu nhập trong nước và nước ngoài.
Nghiên cứu trước đây đối với việc chuyển cổ tức về nhấn mạnh các yếu tố thuế. Ví dụ, Hines và Hubbard (1990) phân tích chéo các công ty đa quốc gia ở Mỹ đã sử dụng dữ liệu IRS từ năm 1984, thấy rằng xem xét thuế ảnh hưởng đến thời gian của việc chuyển cổ tức về.
Xem thêm

17 Đọc thêm