LUẬN ĐIỂM 3 VẺ ĐẸP HÀI HÒA GIỮA CHẤT CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LUẬN ĐIỂM 3 VẺ ĐẸP HÀI HÒA GIỮA CHẤT CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI":

giáo án bài giảng điện tử Chiều tối

GIÁO ÁN BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHIỀU TỐI

Tiết: 85 Chiều tối (Mộ) _Hồ Chí Minh_ I. Mục đích yêu cầu. 1. Kiến thức. Lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; nghị lực kiên cường vượt lên hoàn cảnh, phong thái tự tại và niềm lạc quan của Hồ Chí Minh Vẻ đẹp của thơ trữ tình Hồ Chí Minh: Sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và hiện đại, giữa chất thép và chất tình 2. Kĩ năng. Đọc hiểu tác phẩm trữ tình. Phân tích một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo đặc trưng thể loại. 3. Thái độ. Củng cố thêm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống lao động của con người Bồi đắp thêm tinh thần lạc quan yêu đời II. Chuẩn bị. 1. Giáo viên: Giáo án, SGK, SGV, sách TL tham khảo, bảng phụ 2. Học Sinh: Chuẩn bị bài: Chiều tối Hồ Chí Minh. Tìm hiểu về tập thơ “Nhật ký trong tù” III. Phương tiện – Phương pháp 1. Phương pháp: Phương pháp vấn đáp Phương pháp giảng bình Phương pháp thảo luận nhóm Phương pháp thuyết trình 2. Phương tiện Máy tính, máy chiếu IV. Tiến trình giờ học. 1. Ổn định tổ chức: 2. Kiểm tra bài cũ: 3. Bài mới Hồ Chí Minh là một tác giả quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Người đã để lại một sự nghiệp văn học vô cùng phong phú và đặc sắc. Mặc dù không chủ ý dể trở thành nhà thơ song những vần thơ của Bác trong tập thơ “Nhật ký trong tù” vẫn người sáng vẻ đẹp truyền thống và hiện đại, Hôm nay, cô và các em sẽ cùng nhau đi tìm hiểu bài thơ “Chiều tối” để thấy được vẻ đẹp cổ điển và hiện đại cũng như tinh thần lạc quan yêu đời vượt lên trên hoàn cảnh của Hồ Chí Minh.
Xem thêm

16 Đọc thêm

ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH BÀI KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?” ĐỂ LÀM SÁNG TỎ

ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH BÀI KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?” ĐỂ LÀM SÁNG TỎ

Đề: “Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú” (Ngữ văn 12 – Tập I). Anh (chị) hãy phân tích bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của H.P.N.T để làm rõ nhận định trên. DÀN BÀI I. Mở bài: - H.P.N.T là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, H.P.N.T thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa. - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của H.P.N.T. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”. II. Thân bài: 1. Khái quát: - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế. - Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được H.P.N.T cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”. 2. Phân tích: a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, H.P.N.T thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế. * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí: - Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, H.P.N.T đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương: + Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại” + Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -> Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến. + Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” . -> Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”. + Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”. + Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -> Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay. - Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà: + Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-> Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô. - Sông Hương và con người Huế: + Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”. + Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng” * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử: - Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -> Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”. - H.P.N.T đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử: + Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -> Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể. => Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử. * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa: Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất. - Sông Hương _ dòng sông âm nhạc: + Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến… + Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -> Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn. - Sông Hương _ dòng sông thi ca: + H.P.N.T đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế. + Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan… => Bằng vốn kiến văn phong phú, H.P.N.T đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa: - Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”. - Chất thơ còn lấp lánh ở cách H.P.N.T điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan. - Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” III. Kết bài: - Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của H.P.N.T tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này. - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại. (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

PHÂN TÍCH BÀI KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?” CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

I. Mở bài: - H.P.N.T là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, H.P.N.T thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa. - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của H.P.N.T. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”. II. Thân bài: 1. Khái quát: - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế. - Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được H.P.N.T cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”. 2. Phân tích: a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, H.P.N.T thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế. * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí: - Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, H.P.N.T đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương: + Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại” + Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -> Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến. + Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” . -> Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”. + Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”. + Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -> Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay. - Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà: + Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-> Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô. - Sông Hương và con người Huế: + Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”. + Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng” * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử: - Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -> Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”. - H.P.N.T đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử: + Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -> Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể. => Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử. * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa: Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất. - Sông Hương _ dòng sông âm nhạc: + Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến… + Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -> Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn. - Sông Hương _ dòng sông thi ca: + H.P.N.T đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế. + Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan… => Bằng vốn kiến văn phong phú, H.P.N.T đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa: - Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”. - Chất thơ còn lấp lánh ở cách H.P.N.T điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan. - Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” III. Kết bài: - Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của H.P.N.T tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này. - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi thử đại học môn Văn có đáp án năm 2014 (P7)

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN CÓ ĐÁP ÁN NĂM 2014 (P7)

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D NĂM 2014  PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm) Câu I (2,0 điểm) Anh/chị hãy trình bày ngắn gọn về sự đa dạng mà thống nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh. Câu II (3,0 điểm) Như một thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội. Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm) Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)   Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)  Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau: Gió theo lối gió, mây đường mây  Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay  Thuyền ai đậu bến sông trăng đó  Có chở trăng về kịp tối nay? (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11,       Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39) Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.  Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. (Tràng giang - Huy Cận, Ngữ văn 11,  Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 29) Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm) Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau: (…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…) (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao,               Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 157) (…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…) (Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 179)  ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D NĂM 2014       Câu I: Sự đa dạng mà thống nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh                1.    Sự đa dạng  Chủ yếu thể hiện ở sự đa dạng về thể loại, bút pháp và giọng văn: - Văn chính luận: lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, đanh thép; giọng điệu đa dạng; giàu tính luận chiến. - Truyện và kí: kết hợp linh hoạt cách viết hiện đại với cách kể truyền thống; lối trào phúng giàu chất trí tuệ; giọng văn khi nghiêm trang khi hài hước. - Thơ ca: thơ tuyên truyền giản dị, mộc mạc; thơ nghệ thuật thâm trầm, sâu sắc, vừa cổ điển vừa hiện đại. 2. Sự thống nhất  Chủ yếu thể hiện ở sự nhất quán về quan điểm sáng tác và tư tưởng, tình cảm; nhất quán về nghệ thuật: cách viết thường ngắn gọn, trong sáng, giản dị, thường vận dụng linh hoạt nhiều thủ pháp và bút pháp khác nhau. Câu II. Tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống 1.    Giải thích ý kiến  - Về nội dung, ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm rất cần cảnh giác của thói  vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây hậu quả to lớn đối với toàn xã hội.                                                                                           - Về thực chất, ý kiến này là sự cảnh báo về một vấn nạn đạo đức mang tính thời sự: thói vô trách nhiệm và hậu quả khôn lường của nó. 2. Luận bàn về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người  - Tinh thần trách nhiệm + Tinh thần trách nhiệm là ý thức và nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những phận sự của  mình. Nó được biểu hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan hệ cơ bản: giữa cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội và cá nhân với bản thân mình. + Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp, một thước đo giá trị con người; là cơ sở để xây dựng hạnh phúc của mỗi gia đình; đồng thời tinh thần trách nhiệm cũng góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. - Thói vô trách nhiệm  + Thói vô trách nhiệm là một biểu hiện của lối sống phi đạo đức, thể hiện ở ý thức và hành động không làm tròn phận sự của mình đối với xã hội, gia đình và bản thân, gây nên những hậu quả tiêu cực. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, lối sống ấy đang khá phổ biến, trở thành một vấn nạn trong xã hội. + Tác hại của thói vô trách nhiệm: làm băng hoại đạo đức con người; gây tổn hại hạnh phúc gia đình; gây tổn thất cho cộng đồng, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội. 3.    Bài học nhận thức và hành động - Bản thân cần nhận thức sâu sắc tinh thần trách nhiệm là thước đo phẩm giá con người; không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong mọi lĩnh vực đời sống.                 - Cần ý thức rõ tác hại và có thái độ kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của thói vô trách nhiệm trong xã hội. Câu III.a Cảm nhận đoạn thơ trong Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử và Tràng giang - Huy Cận    1.   Vài nét về tác giả và tác phẩm  - Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, cuộc đời bi thương, hồn thơ  phong phú, kì lạ, sức sáng tạo mạnh mẽ, luôn bộc lộ một tình yêu đau đớn hướng về trần  thế. Đây thôn Vĩ Dạ là thi phẩm xuất sắc thể hiện tấm lòng thiết tha đến khắc khoải của nhà thơ với thiên nhiên và cuộc sống.                                             - Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới và thơ sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ đậm chất cổ điển, giàu suy tưởng, triết lí, nổi bật về cảm hứng thiên nhiên, tạo vật. Tràng giang là một bài thơ xuất sắc thể hiện nỗi buồn sầu trước tạo vật mênh mông, hoang vắng, đồng thời bày tỏ một lòng yêu nước kín đáo. 2. Về đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ   - Nội dung  + Khung cảnh thiên nhiên trời mây - sông nước đang chuyển mình vào đêm trăng với những chia lìa, phiêu tán, chơ vơ; đượm vẻ huyền ảo và buồn hiu hắt. + Hiện lên một cái tôi đang khát khao vượt thoát nỗi cô đơn, với niềm mong mỏi đầy phấp phỏng được gặp gỡ, sẻ chia, gắn bó. - Nghệ thuật  + Hình ảnh thơ vừa thực vừa ảo, có tính tượng trưng, giàu sức gợi.                                     + Phối hợp tả cảnh ngụ tình với trực tiếp biểu cảm; kết hợp biến đổi nhịp điệu với biện pháp trùng điệp; dùng cấu trúc đối lập, phép nhân hoá, câu hỏi tu từ. 3.     Về đoạn thơ trong bài Tràng giang  - Nội dung  + Bức tranh tràng giang vào lúc hoàng hôn tráng lệ mà rợn ngợp, với mây chiều chất ngất hùng vĩ, chim chiều nhỏ bé đơn côi. + Hiện lên một cái tôi trong tâm trạng bơ vơ, lạc lõng của kẻ lữ thứ, chẳng cần cơn cớ trực tiếp mà mong ước đoàn tụ vẫn cứ dậy lên như sóng trong lòng. - Nghệ thuật  + Hình ảnh, ngôn từ, âm hưởng đậm chất cổ điển Đường thi.                                             + Kết hợp thủ pháp đối lập truyền thống với phép đảo ngữ hiện đại, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình. 4.    Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ  - Tương đồng. Cùng miêu tả bức tranh thiên nhiên trời - nước, qua đó bộc lộ nỗi buồn và  tình yêu đối với tạo vật và cuộc sống; sử dụng thể thơ thất ngôn điêu luyện, kết hợp tả cảnh ngụ tình với trực tiếp biểu cảm. - Khác biệt. Đoạn thơ trong Đây thôn Vĩ Dạ: là nỗi buồn của một người khát khao sống, thiết tha gắn bó với cõi đời nhưng tự cảm thấy mong manh, vô vọng; trội về những thi liệu trực quan từ trải nghiệm của chính mình. Đoạn thơ trong Tràng giang: bộc lộ nỗi buồn rợn ngợp trước tạo vật mênh mông, hoang vắng cùng mặc cảm lạc loài của người đứng trên quê hương mà thấy thiếu quê hương; trội về những thi liệu cổ điển hấp thu từ Đường thi. Câu III.b Cảm nhận hai đoạn văn trong Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường 1.     Vài nét về tác giả và tác phẩm  - Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, với phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật là nét tài hoa, uyên bác, đặc biệt sở trường về tuỳ bút. Người lái đò Sông Đà là một tuỳ bút đặc sắc, kết tinh nhiều mặt của phong cách Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp và tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc.                                                         - Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành tựu về thể kí. Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một tuỳ bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông Hương với bề dày lịch sử và văn hoá Huế, rất tiêu biểu cho phong cách của ông.   2. Về đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà -  Nội dung  + Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp đầy chất tạo hình của sông Đà với hình dáng thơ mộng, đường nét mềm mại, ẩn hiện; màu sắc dòng nước biến đổi tương phản theo mùa, gây ấn tượng mạnh. + Hiện diện một cái tôi Nguyễn Tuân đắm say, nồng nhiệt với cảnh sắc thiên nhiên, tinh tế và độc đáo trong cảm nhận cái đẹp. -  Nghệ thuật  + Hình ảnh, ngôn từ mới lạ; câu văn căng tràn, trùng điệp mà vẫn nhịp nhàng về âm thanh và nhịp điệu. + Cách so sánh, nhân hoá táo bạo mà kì thú; lối tạo hình giàu tính mĩ thuật, phối hợp nhiều góc nhìn theo kiểu điện ảnh. 3.     Về đoạn văn trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?  -  Nội dung  + Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp sông Hương theo thuỷ trình của nó, với những vẻ uyển   chuyển, linh hoạt của dòng chảy; vẻ biến ảo của màu sắc; vẻ uy nghi trầm mặc của cảnh quan đôi bờ. + Toát lên một tình yêu xứ sở sâu nặng, đằm thắm, một cách cảm nhận bình dị mà tinh tế của Hoàng Phủ Ngọc Tường. -  Nghệ thuật  + Hình ảnh chân thực mà gợi cảm; câu văn kéo dài mà khúc chiết, thanh điệu hài hoà, tiết tấu nhịp nhàng. + Lối so sánh gần gũi và xác thực, sử dụng nhuần nhuyễn các địa danh và cách nói của người Huế. 4.     Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn văn - Tương đồng. Cùng miêu tả vẻ đẹp phong phú và biến ảo của sông nước, cùng bộc lộ tình yêu mãnh liệt dành cho thiên nhiên xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào; cùng bao quát sông nước trên nền cảnh khoáng đạt của không gian và thời gian, cùng được viết bằng một thứ văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu. - Khác biệt. Đoạn văn của Nguyễn Tuân: trội về cảm xúc nồng nàn, cảm giác sắc cạnh, liên tưởng phóng túng, so sánh táo bạo; cảnh sắc được bao quát từ nhiều góc nhìn khác nhau, theo nhiều mùa trong năm. Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường: trội về cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với suy tư; cảnh sắc được bao quát từ cùng một góc nhìn mà nương theo thuỷ trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước qua từng chặng, từng buổi trong ngày.  Các em chú ý theo dõi các đề thi thử đại học môn Văn khối C,D năm 2014 tiếp theo trên Tuyensinh247.com nhé!
Xem thêm

5 Đọc thêm

VẺ ĐẸP VỪA CỔ ĐIỂN VỪA HIỆN ĐẠI.CỦA TRÀNG GIANG- HUY CẬN

VẺ ĐẸP VỪA CỔ ĐIỂN VỪA HIỆN ĐẠI.CỦA TRÀNG GIANG- HUY CẬN

Đề: Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng Giang để làm sáng tỏ nhận xét trên.    Bài làm:   Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"… Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng tám. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc.    Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài  Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp  ….  Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.    Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "anh" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại. Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.    Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,  Con thuyền xuôi mái nước song song.  Thuyền về nước lại sầu trăm ngả  Củi một cành khô lạc mấy dòng.    Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào. Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng. Thuyền về nước lại sầu trăm ngả  Củi một cành khô lạc mấy dòng.    Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn. Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi. Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng. Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu  Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.    Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:    "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,  Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."    "Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu". Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sống, con người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa. Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:    Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,  Mênh mông không một chuyến đò ngang.  Không cần gợi chút niềm thân mật,  Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.  Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:    Mênh mông không một chuyến đò ngang  Không cầu gợi chút niềm thân mật.    Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "…không…không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào. Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,  Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.    Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:    Mặt đất mây đùn cửa ải xa.    Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển. Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:   Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.   "Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láynày hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "lòng quê". Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay.Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim… Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường. Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được. Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.   Xem thêm: Phân tích bài thơ Tràng Giang
Xem thêm

3 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRUY CẬP INTERNET TRÊN ĐTDĐ CỦA VIETTEL VÀ VINAPHONE

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRUY CẬP INTERNET TRÊN ĐTDĐ CỦA VIETTEL VÀ VINAPHONE

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG. 1.1 Khái quát về cạnh tranh 1.1.1 Khái niệm và bản chất của cạnh tranh 1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Điểm lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử, có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại. Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên; tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển. Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: i) Theo một định nghĩa được A. Lobe đưa ra từ gần một thế kỷ nay có thể hiểu cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi và khả năng nhất định để cùng đạt được một mục đích. ii) Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế. iii) Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K. Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhận siêu ngạch” . iv) Kinh tế học của P. Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Lặng lẽ Sa Pa có dáng dấp như một bài thơ

LẶNG LẼ SA PA CÓ DÁNG DẤP NHƯ MỘT BÀI THƠ

Nêu nhận xét về ý kiến đánh giá bài thơ: Lời nhận định trên là hoàn toàn đúng về đặc điểm của truyện “ Lặng lẽ Sa Pa”. Quả thật “ truyện có dáng dấp như một bài thơ”. Điều đó có nghĩa là truyện rất ngắn gọn, súc tích, lời ít ý nhiều. Tác phẩm còn đậm chất trữ tình qua vẻ đẹp của nội dung và hình thức của tác phẩm. Phân tích: a. Luận điểm 1: Truyện giống như một bài thơ: LLSP là tác phẩm có dung lượng ngắn, số trang ít, số nhân vật ít chỉ xoay quanh cuộc gặp gỡ trong vòng ba mươi phút giữa ba nhân vật thuộc hai thế hệ. b. Luận điểm 2: Chất thơ bàng bạc trong toàn truyện:
Xem thêm

6 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY XYZ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY XYZ

sản xuất và đưa hàng hoá đó đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm bảo đảm chocông ty thu được lợi nhuận như dự kiến.”Theo G.I.Dragon (Nguyên chủ tịch liên đoàn Marketing quốc tế):“Marketing là một Rada theo dõi, chỉ đạo hoạt động của các xí nghiệp và như mộtmáy chỉnh lưu để kịp thời ứng phó với mọi biến động sinh ra trong quá trình tiêuthụ sản phẩm trên thị trường.”Theo AMA (American Marketing Association, 1985): “Marketing là tiếntrình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và phân phối những ýtưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những mục tiêu củacá nhân và tổ chức.”.Theo I. Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu Marketing của Liên Hiệp Quốc,một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho là khá đầy đủ, thể hiện tưduy Marketing hiện đại và đang được chấp nhận rộng rãi: “Marketing là khoa họcđiều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nócăn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làmđịnh hướng.”Nói chung, Marketing là toàn bộ những hoạt động của một doanh nghiệpnhằm xác định những nhu cầu chưa được thoả mãn của người tiêu thụ để tìm kiếmcác sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp có thể sản xuất được, tìm cách phân phốichúng đến những địa điểm thuận lợi với giá cả và thời điểm thích hợp nhất cho-người tiêu thụ.1.3 Mục tiêu, vai trò, chức năng của Marketing1.3.1 Mục tiêu của MarketingMarketing hướng đến 3 mục tiêu chủ yếu sau đây:Thoả mãn khách hàng: là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. các nổ lực Marketingđều nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho họ hài lòng, trung thành vớidoanh nghiệp, qua đó thu phục thêm khách hàng mới.
Xem thêm

25 Đọc thêm

TRÌNH BÀY NGẮN GỌN VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA TÁC GIẢ HỒ CHÍ MINH

TRÌNH BÀY NGẮN GỌN VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA TÁC GIẢ HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại , anh hùng dân tộc , danh nhân văn hoá thế giới mà còn là nhà văn nhà thơ lớn của nước nhà .Sự nghiệp văn thơ Người có ảnh hưởng lớn đến văn học Việt Nam hiện đại .Người để lại một di sản văn học lớn lao về tầm vóc , phong phú về thể loại , đa dạng về phong cách , sâu sắc về nội dung tư tưởng , sáng tạo độc đáo về phương diện nghệ thuật. Văn thơ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có phong cách độc đáo ,đa dạng mà thống nhất, kết hợp sâu sắc nhuần nhị giữa chính trị và văn chương , giữa tư tưởng và nghệ thuật , giữa truyền thống và hiện đại.Mỗi thể loại văn học, Người lại có phong cách độc đáo riêng biệt. Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống gia đình , môi trường văn hoá , hoàn cảnh sống , hoạt động cách mạng , cá tính và quan điểm sáng tác của Người. Văn chính luận: bộc lộ tư duy sắc sảo ,giàu tri thức văn hoá,gắn lí luận với thực tiễn,giàu tính luận chiến, đa dạng về bút pháp , giọng văn hùng hồn dõng dạc . Truyện và kí:giàu chất trí tuệ , tính hiện đại, tính chiến đấu , ngòi bút chủ động,sáng tạo,khi là lối kể chân thực,gần gũi,khi châm biếm sắc sảo,thâm thuý,tinh tế. Thơ ca: phong cách đa dạng vừa cổ điển vừa hiện đại,nhiều bài cổ thi hàm súc,uyên thâm,nhiều bài vận dụng nhiều thể thơ phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng. Văn thơ của Người có tác dụng to lớn với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam , có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tinh thần của dân tộc .Người đã để lại một di sản văn chương vô cùng quý giá với nhiều bài học và giá trị tinh thần cao quý mà nổi bật nhất là tấm lòng sâu sắc yêu thương,tâm hồn cao cả,tinh thần đấu tranh đòi quyền sống , quyền độc lập , tự do cho cả dân tộc.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TIỀN TỆ NGÂN HÀNG CHƯƠNG 8

BÀI GIẢNG TIỀN TỆ NGÂN HÀNG CHƯƠNG 8

Nội dung 1. Học thuyết cổ điển. 2. Học thuyết tân cổ điển. 3. Học thuyết tiền tệ hiện đại. 1. Học thuyết trọng thương Thuyết trọng thương thiên về trọng kim: Chủ trương tích trữ vàng bạc càng nhiều càng tốt cho ngân khố quốc gia. Khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu để vàng đi vào quốc gia là nhiều hơn so với đi ra.

7 Đọc thêm

tiểu luận Lý luận tiền công của mác

TIỂU LUẬN LÝ LUẬN TIỀN CÔNG CỦA MÁC

1. Lý do tính cấp thiết của đề tài. Lý luận tiền lương đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu bắt đầu là Wiliam Petty, chính W là người đầu tiên trong lịch sử đặt ra quy luật sắt về tiền lương tạo nền móng cho sự ra đời của lý thuyết về tiền lương. Lý thuyết mức lương tối thiểu phản ánh trình độ phát triển ban dầu của chủ nghĩa tư bản. Lúc này sản xuất chưa phát triển, để buộc công nhân làm việc giai cấp tư sản phải dựa vào nhà nước để duy trì mức lương thấp. Tuy nhiên từ lý luận này ta thấy được là công nhân chỉ nhận được từ sản phẩm lao động của mình những sinh hoạt tối thiểu do họ tạo ra, phần còn lại đã bị nhà tư bản chiếm đoạt. Đó là mầm mống phân tách sự bóc lột. Lý luận về tiền lương của Mác là sự tiếp tục phát triển lý luận về tiền lương của các nhà kinh tế cổ điển trước đó. Lý luận tiền lương của Mác đã vạch rõ bản chất của tiền lương dưới thời đại của chủ nghĩa tư bản đã bị che đậy. Tiền lương là giá cả của lao động. Cái quan điểm mà các nhà kinh tế tư sản cổ điển ở thế kỷ XIX vẫn cứ rêu rao để bênh vực cho chế độ mình mà điển hình nhất là các đại diện đến từ trường phái ấy như Adámmith và Ricacdo. Về luận điểm mang đậm bản chất tư bản ấy đã bị Mác vạch trần trong lý luận của mình về tiền lương nhằm bác bỏ những quan niệm sai lầm mà các đại diện cho giai cấp tư sản vô tình hay hữu ý đưa ra. Những luận điểm mà Mác đưa ra nhằm vạch rõ bản chất bóc lột của giai cấp tư sản, chỉ ra sự sai lầm “ chết người” mà các nhà kinh tế tư sản cổ điển trước đó đã rêu rao. Những luận điểm đó hết sức thuyết phục có những bằng chứng rõ ràng, cụ thể, lập luận chặt chẽ, cách trình bày logic. Chính vì thế mà nó làm cho lý luận về tiền lương của Mác vẫn còn có giá trị đến ngày nay.
Xem thêm

41 Đọc thêm

Thời trang nói gì?

THỜI TRANG NÓI GÌ?

Bản chất của con người là luôn luôn vươn tới cái đẹp trong cuộc sống. Và thời trang là một trong những phương tiện hữu hiệu để góp phần tôn cao vẻ đẹp của con người. Bản chất của con người là luôn luôn vươn tới cái đẹp trong cuộc sống. Và thời trang là một trong những phương tiện hữu hiệu để góp phần tôn cao vẻ đẹp của con người. Nhưng thời trang chỉ là phương tiện, cái quyết định vẫn là con người sử dụng thời trang đó như thế nào cho hài hòa, hợp lí, tự nhiên để đem đến vẻ đẹp không chỉ cho mình mà còn cho cả cộng đồng. Đây chính là vấn đề văn hóa mặc có liên quan đến nhân cách của từng con người và lối sống của toàn xã hội. Ai mà chẳng muốn mặc đẹp. Mặc đẹp là sự tôn trọng mình và tôn trọng người. Nhưng như thế nào là mặc đẹp? Có người cho rằng mặc đẹp thì áo quần phải lòe loẹt, sặc sỡ, trang phục phải chạy theo mốt này, mốt nọ, thậm chí ăn mặc có hở hang một chút cũng không sao - thời “hiện đại” mà! Anh con trai vốn xuất thân từ nông thôn, đưa người yêu về “ra mắt’ bố mẹ mình lần đầu tiên, mà cô gái lại mặc váy quá ngắn, áo quá mỏng và cổ áo lại trễ xuống quá rộng thì coi sao tiện. Có gái đưa chàng rể tương lai về giới thiệu với gia đình mà tóc lại nhuộm xanh đỏ, dài ngang lưng, lại đeo cả hoa tai và dây chuyền vàng thì không hiểu đó là “nam thanh” hay “nữ tú”? Có bao giờ thầy giáo lại mặc áo phông không cổ để lên lớp giảng bài cũng như một nữ cán bộ lại mặc “bộ đồ" ở nhà đến công sở làm việc? Không hiếm những ca sĩ lên sân khấu biểu diễn đã khiến khán giả phải khó chịu về cách ăn mặc “không bình thường” cũng như ta vẫn thấy đâu đó những thanh niên mặc quần đùi, áo may ô ba lỗ (thậm chí có khi cởi trần) phóng xe máy như điên giữa những phố sang trọng và đông người... Những điều đó đều có liên quan đến văn hóa mặc của con người: mặc thế nào cho đẹp, cho sang trọng, đứng đắn, đúng lúc, đúng chỗ, và điều quan trọng nhất là mặc thế nào để hòa đồng vào lối sống của cộng đồng, làm đẹp cho dân tộc và phù hợp với xu thế của thời đại. Ở đây có vấn đề truyền thống dân tộc và xu thế thời đại, cần phải quan niệm và ứng xử thế nào cho hợp lí và hài hòa trong trang phục? Có người cho rằng ta là người Việt Nam, người phương Đông thì ăn mặc phải nền nã, kín đáo, đứng đắn, tạo cho người đàn ông vẻ đẹp tao nhã, thanh cao, người phụ nữ vẻ đẹp tha thướt, dịu dàng. Điều đó, dĩ nhiên là đúng, nhưng chưa đủ vì như thế chỉ mới giữ được bản sắc dân tộc mà chưa hội nhập được với thời đại. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, quan niệm về cái đẹp của trang phục đã có sự thay đổi. Cái đẹp phải gắn với cái tiện ích phù hợp với cuộc sống năng động và tiến lên như vũ bão của con người. Trang phục phải tạo ra vẻ đẹp khỏe mạnh tự nhiên thoái mái của con người lao động sáng tạo - con người hành động. Nếu chú ý sẽ thấy, cái áo dài truyền thống của người phụ nữa Việt Nam, tuy vẫn giữ được nét duyên dáng tha thướt của nó, nhưng đã có sự cách tân đáng kể phù hợp với thời đại mới. Và để phù hợp với cuộc sống hiện đại. chúng ta đã có nhiều loại trang phục khác nhau, trong đó cái đẹp và cái tiện ích đã được kết hợp hài hòa để làm nên vẻ đẹp riêng của từng loại trang phục: trang phục công sở, trong nhà máy, trong hầm mỏ, trong nhà trường, trong bệnh viện; trang phục trong dạ hội, đi du lịch, đi tắm biển... Trang phục làm đẹp cho con người nhưng con người phải biết sử dụng trang phục. Không nên chạy theo mốt này, mốt nọ, nay thời trang này, mai thời trang khác, dẫn đến mình là nô lệ cho thời trang chứ không phải làm chủ thời trang. Cần chú ý điều cốt lõi sau đây: thời trang trước hết phải hợp với mình (thì nó mới tôn vẻ đẹp của bản thân), sau nữa phải phù hợp với những người xung quanh để góp phần làm đẹp cho cộng đồng (ở gia đình, ở công sở, nhà máy, trường học, khu phố...). Cũng cái áo ấy thôi, vậy mà có người mặc vào (đúng lúc, đúng chỗ) thì sang trọng, đẹp, được mọi người tán thưởng; nhưng cũng có người mặc vào thì lại kệch cỡm, lố lăng, gây phản cảm, không được chấp nhận. Bản thân cái áo không có tội tình gì, điều quan trọng là người sử dụng nó có phù hợp hay không? Người ta nói: “Nét chữ thể hiện tính người”; cách ăn mặc cũng biểu hiện rất rõ nhân cách con người. Nhìn vào một con người ăn mặc như thế nào có thể thấy được nhân cách người đó ra sao. Nguyễn Du quả đã hết sức tinh tế khi giới thiệu nhân cách Mã Giám Sinh trước hết qua cách ăn mặc của y: Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. (Truyện Kiều) Nhân dân ta có câu: “Người quen xem dạ, người lạ xem áo” cũng là như vậy. Bởi thời trang chính là văn hóa mặc. Mà văn hóa mặc, trước hết là tự trọng, sau nữa là tôn trọng người. Có tự trọng thì mới tôn trọng người. Đó là văn hóa ứng xứ trong thời đại hội nhập khi con người chung sống với nhau trong cộng đồng nhân loại. Trang phục đâu chỉ là chuyện ăn mặc của riêng từng người mà chính là văn hóa mặc để làm đẹp cho lối sống của toàn xã hội, trong đó có vẻ đẹp của nhân cách mỗi con người góp phần. “Người đẹp vì lụa”. Nhưng không phải cứ đắp lụa vào người là đẹp. Phải biết sử dụng “lụa” đó sao cho tốt nhất, phù hợp nhất với trang phục của mình. Trang phục của mỗi con người chỉ đẹp khi nó hài hòa với lối sông của dân tộc, của cộng đồng và nhân loại. Trích: Loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN 9

TÀI LIỆU ÔN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN 9

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH Lê Anh Trà I.Đọc và tìm hiểu chú thích 1. Xuất xứ Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ, có nhiều bài viết về Người. “Phong cách Hồ Chí Minh” là một phần trong bài viết Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị của tác giả Lê Anh Trà. 2. Bố cục của văn bản Văn bản có thể chia làm 2 phần: Từ đầu đến “rất hiện đại”: Hồ Chí Minh với sự tiếp thu văn hóa dân tộc nhân loại. Phần còn lại: Những nét đẹp trong lối sống Hồ Chí Minh. II. Đọc – hiểu văn bản 1.Hồ Chí Minh với sự tiếp thu tinh hoa văn hóa Hoàn cảnh: Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy truân chuyên. + Gian khổ, khó khăn. + Tiếp xúc văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới. Động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh tìm hiểu sâu sắc về các dân tộc và văn hóa thế giới xuất phát từ khát vọng cứu nước. Đi nhiều nước, tiếp xúc với văn hóa nhiều vùng trên thế giới. Biết nhiều ngoại ngữ, làm nhiều nghề. Học tập miệt mài, sâu sắc đến mức uyên thâm. 2. Vẻ đẹp trong lối sống giản dị mà thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh có một phóng cách sống vô cùng giản dị: Nơi ở, nơi làm việc đơn sơ: chiếc nhà sàn nhỏ vừa là nơi tiếp khách, vừa là nơi làm việc, đồng thời cũng là nơi ngủ. Trang phục giản dị: bộ quần áo bà ba, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp… Ăn uống đạm bạc: cá kho, rau luộc, cà muối, cháo hoa… Biểu hiện của đời sống thanh cao: Đây không phải là lối sống khắc khổ của những con người tự vui trong nghèo khó. Đây cũng không phải là cách tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời, hơn đời. Đây là cách sống có văn hóa, thể hiện 1 quan niệm thẩm mỹ: cái đẹp gắn liền với sự giản dị, tự nhiên. Viết về cách sống của Bác, tác giả liên tưởng đến các vị hiền triết ngày xưa: Nguyễn Trãi: Bậc thầy khai quốc công thần, ở ẩn. Nguyễn Bỉnh Khiêm: làm quan, ở ẩn. 3. Những biện pháp nghệ thuật trong văn bản làm nổi bật vẻ đẹp trong cách sống của Hồ Chí Minh Kết hợp giữa kể và bình luận. Đan xen những lời kể là những lời bình luận rất tự nhiên: “Có thể nói ít vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như chủ tịch Hồ Chí Minh”… Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu. Đan xen thơ của các vị hiền triết, cách sử dụng từ Hán Việt gợi cho người đọc thấy sự gần gũi giữa chủ tịch Hồ Chí Minh với các vị hiền triết của dân tộc. Sử dụng nghệ thuật đối lập: vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi, am hiểu mọi nền văn hóa nhân loại, hiệu đại mà hết sức dân tộc, hết sức Việt Nam,… III. Tổng kết Về nghệ thuật: Kết hợp hài hòa giữa thuyết minh với lập luận. Chọn lọc chi tiết giữa thuyết minh với lập luận.
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG (HUY CẬN) ĐẠT ĐIỂM 10 MÔN VĂN

PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG (HUY CẬN) ĐẠT ĐIỂM 10 MÔN VĂN

Qua bài thơ mới mang vẻ đẹp cổ điển của Huy Cận đã bộc lộ nỗi sẩu cô đơn của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn; trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha.. có sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại. Thủ pháp tương phản được sử dụng triệt để.

3 Đọc thêm

lịch sử toán. giai đoạn toán học cổ điển

LỊCH SỬ TOÁN. GIAI ĐOẠN TOÁN HỌC CỔ ĐIỂN

1. Lý do chọn đề tài Toán học là bộ môn khoa học tự nhiên có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Lịch sử toán học (hay lịch sử toán) là một ngành của toán học. Đối tượng của toán học thuần túy là những quan hệ số lượng và hình dạng không gian của thế giới quan. Toán học là khoa học thuộc vào loại cổ nhất. Do ảnh hưởng của những hoạt động sản xuất sơ khai, con người đã có kiến thức toán học từ rất sớm. Phạm vi của quan hệ số lượng và hình dạng không gian mà toán học nghiên cứu không ngừng được mở rộng, trong mối quan hệ chặt chẽ với những nhu cầu của kỹ thuật và khoa học tự nhiên làm cho nội dung định nghĩa tổng quát về toán ngày càng phong phú. Bắt nguồn từ hiện thực, các quan hệ số lượng và hình dạng không gian được trí óc con người trừu tượng hóa và nghiên cứu trong mối liên hệ nhiều hình, nhiều vẻ giữa chúng với nhau bằng con đường thuần túy logic tính trừu tượng của toán học càng cao thì phạm vi ứng dụng toán học càng mở rộng. Lịch sử cho hay nhiều phát minh toán học đi trước khoa học và kỹ thuật khá lâu có khi đến hàng thế kỷ. Vì vậy, quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu toán học trong từng giai đoạn toán học này cần có nhận thức rộng rãi. Thực tế đã chứng minh, toán học có phát triển đến đâu thì những thành tựu của các nhà toán học trong giai đoạn toán học cao cấp cổ điển là sự hình thành các môn cơ sở của nền toán học cao cấp cổ điển. Với hình học giải tích và giải tích các đại lượng vô cùng bé, toán học đã thay đổi về chất, trở thành toán học của những đại lượng biến thiên. Với mong muốn tổng hợp lại những kiến thức cũng như đi sâu tìm hiểu về giai đoạn toán học cao cấp cổ điển nên tôi chọn đề tài “Giai đoạn toán học cao cấp cổ điển” làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu về quá trình hình thành và những thành tựu của các nhà toán học giai đoạn toán học cao cấp cổ điển. - Nâng cao sự hiểu biết của bản thân. 3. Phạm vi nghiên cứu - Quá trình hình thành và phát triển của giai đoạn toán học cao cấp cổ điển. - Những thành tựu toán học của giai đoạn toán học cao cấp cổ điển. 4. Đóng góp của đề tài - Giúp sinh viên hiểu được quá trình hình thành, trào lưu toán học cũng như các thành tựu toán học của giai đoạn toán học cao cấp cổ điển. - Sinh viên tích cực, hoạt động tham gia các hoạt động của môn học, có năng lực tự học cao, có phương pháp học tập tích cực, sáng tạo. 5. Cấu trúc của đề tài Đề tài được trình bày theo bố cục sau: Chương 1: Khái quát chung về giai đoạn toán học cao cấp cổ điển. Chương 2: Trào lưu toán học của giai đoạn toán học cao cấp cổ điển. Chương 3: Thành tựu toán học của giai đoạn toán học cao cấp cổ điển.
Xem thêm

23 Đọc thêm

VĂN HÓA TRÀ NHẬT BẢN

VĂN HÓA TRÀ NHẬT BẢN

Thói quen thưởng trà vốn được xem là nét đẹp điển hình trong văn hóa ẩm thực Nhật xưa và nay. Ảnh:myopera.com Tạo nên được một vẻ đẹp đặc trưng không giống với bất cứ thói quen thưởng trà của các quốc gia khác trên thế giới, có lẽ bởi người Nhật có một quan niệm về ý nghĩa, tác dụng việc uống trà, cách thức pha trà cũng như thưởng trà… rất khác biệt và tuân thủ những quy tắc chặt chẽ. Việc thưởng trà của người dân đất nước mặt trời mọc thể hiện hài hòa nét thẩm mỹ và tính triết học qua 4 yếu tố: wa - sự hài hòa (giữa con người và thiên nhiên), kei - sự tôn kính (đối với người khác), sei - sự tinh khiết (của tâm hồn) và jaku - sự yên tĩnh. Pass: tuthienbao.com(Không copy link để tải) Download: Đối với link từ google.com các bạn không biết tải thì xem cái này: Click Here http://www.mediafire.com/?dat7equbb2yohcrts
Xem thêm

1 Đọc thêm

MẪU ĐỒ ÁN CUNG CẤP ĐIỆN

MẪU ĐỒ ÁN CUNG CẤP ĐIỆN

Có một dạng năng lượng mà nó đã làm thay đổi cả thế giới. nó dẫn dắt con người qua thời kỳ cổ điển lạc hậu để bước vào một thời kỳ mới. Thời kỳ của khoa học công nghệ hiện đại,hoàn mỹ hơn tốt đẹp hơn. Diện năng là một dạng năng lượng phổ biến và vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi nước. Khi nhìn về phương diện sản xuất và tiêu thụ điện năng thì công nghiệp là ngành sử dụng nhiều nhất. Vì vậy sử dụng điện năng một cách hợp lý trong lĩnh vực này sẽ có tác động trực tiếp đến việc khai thác một cách có hiệu quả công suất của các nhà máy điện và sử dụng hiệu quả năng lượng điện được sản suất ra. Chính vì vậy một phương án cung cấp điện hiệu quả là phải đảm bảo hài hòa về mặt kinh tế,độ tin cậy cung cấp điện, độ an toàn về mặt kỹ thuật đồng thời phải đảm bảo tính liên tục trong cung cấp điện,tiện lợi cho vận hành, sửa chữa khi hỏng hóc và mở rộng trong tương lai. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó và những kiến thức được học từ môn thiết kế cung cấp điện. Chúng em đã được nhận đề tài : thiết kế cấp điện cho một trường học.
Xem thêm

31 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH

TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Yêu cầu của việc tóm tắt văn bản thuyết minh Để nắm chắc nội dung cơ bản của các văn bản thuyết minh và để dễ nhớ hoặc để tiện sử dụng, người ta thường tiến hành tóm tắt chúng với một nội dung thích hợp. Tóm tắt nghĩa là viết một văn bản ngắn gọn, trình bày chính xác những ý chính của văn bản được tóm tắt. Tóm tắt phải trung thành với nguyên bản. 2. Cách tóm tắt một văn bản thuyết minh - Đọc kĩ văn bản cần tóm tắt, xác định ý chính - Ghi lại những câu mang ý chính - Trình bày lại bằng lời của mình về nội dung văn bản dựa theo các ý chính đã xác định II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm và ghi lại những câu mang ý chính của bài văn sau: TRI THỨC VỀ VĂN HOÁ “Sự hiểu biết về vũ trụ mênh mông, huyền bí luôn luôn là khát vọng cháy bỏng của con người. Ta là ai? Ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu? Đâu là điểm tựa cho đức tin duy trì sự trường tồn của nhân loại? Những câu hỏi huyết mạch muôn thủa ấy đã thôi thúc con người tìm hiểu nguồn gốc của vũ trụ, của vật chất, của không gian và thời gian. Và chính những quan niệm (hay là sự hiểu biết) ấy là nguồn gốc của mọi nền văn minh và văn hoá. Trong suốt hơn năm chục vạn năm lịch sử của mình, loài người mới chỉ có hai lần may mắn được chứng kiến những thay đổi có tính cách mạng trong những quan niệm đó. Lần thứ nhất do nhà thiên văn học Ba Lan kiệt xuất, Cô-péc-ních (1473 – 1543), mở đầu bằng một kết luận khoa học bác bỏ quan điểm “Trái đất là trung tâm vũ trụ”. Kết luận ấy đã xé tan bức màn đen của đêm dài Trung cổ, đưa loài người sang thời kì Phục hưng. Đó chính là cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất với sự hình thành và phát triển vật lí – thiên văn cổ điển do công lao sáng tạo của nhiều thế hệ các nhà khoa học, mà tiêu biểu là Kép-lơ (Ba Lan), Ga-li-lê (Ý) và Niu-tơn (Anh). Anh-xtanh là người đột phá trong cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai, đúng vào lúc khoa học cổ điển tưởng chừng như sắp có thể hoàn chỉnh sự mô tả toàn bộ vũ trụ bằng giả thuyết chất ête (ether) tràn ngập không gian. Với trí tưởng tượng siêu đẳng và trực giác bẩm sinh, Anh-xtanh đã làm đổ vỡ nền móng của khoa học cổ điển bằng lập luân khoa học xác đáng, phủ nhận sự tồn tại của chất ête, và do đó phủ nhận luôn cả hai cái tuyệt đối của khoa học cổ điển (không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối) bằng Thuyết tương đối bất hủ của mình. Lúc đó, cả thế giới triết học lẫn khoa học đã chao đảo như có ai đó (hẳn là Anh-xtanh rồi !) rút mạnh tấm thảm dưới chân mình. Cùng với Thuyết lượng tử mà Anh-xtanh cũng đóng góp một phần không nhỏ, Thuyết tượng đối của riêng Anh-xtanh là phiến đá tảng của nền khoa học và công nghệ hiện đại – một trong vài ba nét đặc trưng quan trọng nhất của thế kỉ XX. Vì thế, Anh-xtanh đã được cộng đồng các nhà khoa học thế giới chọn làm biểu tượng của thế kỉ vừa qua – thế kỉ của khoa học và công nghệ…”. (Theo Chu Hảo, tạp chí Tia sáng, 4 – 2000) Gợi ý: Bài văn gồm 3 đoạn, dưới đây là tóm lược những câu mang ý chính của các đoạn: - Đâu là điểm tựa cho đức tin duy trì sự trường tồn của nhân loại? - Cô-péc-ních bác bỏ quan điểm “Trái đất là trung tâm vũ trụ”, xé tan bức màn đen của đêm dài Trung cổ, đưa loài người sang thời kì Phục hưng.  - Anh-xtanh đã làm đổ vỡ nền móng của khoa học cổ điển bằng lập luân khoa học phủ nhận sự tồn tại của chất ête, và do đó phủ nhận luôn cả hai cái tuyệt đối của khoa học cổ điển (không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối) bằng Thuyết tương đối bất hủ. 2. Diễn đạt các ý chính của văn bản Tri thức về văn hoá thành văn bản tóm tắt. Gợi ý: - Dựa vào các câu then chốt đã tìm được ở trên để xác định ý chính của văn bản; - Tham khảo văn bản tóm tắt sau: Đâu là điểm tựa cho đức tin duy trì sự trường tồn của nhân loại? Đó là tri thức về thế giới. Chính tri thức về thế giới là cơ sở của mọi nền văn minh và văn hoá.  Cô-péc-ních bác bỏ quan điểm “Trái đất là trung tâm vũ trụ”, xé tan bức màn đen của đêm dài Trung cổ, đưa loài người sang thời kì Phục hưng. Anh-xtanh đã làm đổ vỡ nền móng của khoa học cổ điển bằng lập luân khoa học phủ nhận sự tồn tại của chất ête, và do đó phủ nhận luôn cả hai cái tuyệt đối của khoa học cổ điển (không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối) bằng Thuyết tương đối bất hủ, đặt ra nền tảng cho khoa học và công nghệ hiện đại. 3. Tóm tắt phần Tiểu dẫn của bài Phú sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu làm quan dưới bốn đời vua Trần, là người nổi tiếng về tài đức. Bài Phú sông Bạch Đằng, một trong những bài phú viết bằng chữ Hán hay vào bậc nhất nước ta thời trung đại, vừa chứa chan lòng tự hào dân tộc, vừa đọng một nỗi đau hoài cổ và có tư tưởng triết lí. Bài phú được viết theo lối cổ phú. Nguồn : wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích bài thơ "Giải đi sớm" của Hồ Chí Minh

PHÂN TÍCH BÀI THƠ "GIẢI ĐI SỚM" CỦA HỒ CHÍ MINH

Nội dung I.Xuất xứ – Hoàn cảnh sáng tác : - Bài thứ 41 và 42 trong Nhật ký trong tù - Bác viết vào khoảng cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1942 trên đường chuyển lao từ nhà lao Long An (nhà lao thứ 6) sang nhà lao Đồng Chính (nhà lao thứ 7) sau khi đã đi bộ hơn 200 km và bị bắt hơn 60 ngày. II. Phân tích : 1/ Bài 1 : Người tù bị giải đi trong đêm khuya a) Khung cảnh thiên nhiên -“Đêm chửa tan”, “đường thẳm”,“trận gió hàn” -> đêm tối, lạnh lẽo, vắng lặng, đầy những thử thách khắc nghiệt. - “Gà gáy”,“chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn” ® Cảnh thi vị, gợi chút ấm áp, vui tươi : có âm thanh, ánh sáng và sự chuyển vận của trăng sao. ® Người tù bị giải đi trong đêm khuya, nhưng qua tâm hồn người thiên nhiên trở nên sinh động, vui tươi (Người không đi một mình, dường như có cảnh thiên nhiên cùng người lên đường). b) Hình ảnh người đi : - “Chinh nhân” (khác tù nhân) ® gây cảm giác người ra đi một cách chủ động, người đi mang sứ mệnh lịch sử. – “Nghênh diện - trận trận hàn” ® hình ảnh con người đối mặt với thử thách, vượt qua gian khổ với tư thế hiên ngang. - Điệp từ “Chinh”, “trận” ® âm điệu rắn rỏi, hào hùng, tô đậm sự xông pha của người chiến sĩ -> 4 câu thơ là cảnh chuyển lao gian khổ của người tù khi trời chưa sáng nhưng nổi bật lên là hình ảnh người chiến sĩ lên đường một cách chủ động – con người tự nâng mình vượt lên hoàn cảnh, coi thường gian khổ. 2/ Bài 2 : Cảnh bình minh trên đường người tù bị giải đi a) Khung cảnh thiên nhiên : - Hừng đông bừng sáng - Bóng đêm bị quét sạch - Hơi ấm bao la, tràn ngập cả vũ trụ ® Cảnh biến chuyển rất nhanh, thiên nhiên đang vận động đi lên (từ tối đến sáng). Cảnh bình minh tươi đẹp, ấm áp. b) Hình ảnh người đi: Câu 4 -“Hành nhân” ® người đi với tâm trạng tự do, thoải mái (khác chinh nhân) -“Thi hứng hốt gia nồng” ® sự rung động mãnh liệt trong tâm hồn người đi trước cảnh bình minh tươi đẹp, ấm lòng. ® Tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên, tràn đầy lạc quan, tin tưởng, sảng khoái, hào hùng của nhà thơ. Bác đã đứng trên đau khổ mà đến với thiên nhiên, vui với cảnh thiên nhiên cũng như hòa vào thiên nhiên tâm hồn cao đẹp của mình và sưởi ấm thiên nhiên bằng nhiệt tình cách mạng rực lửa của mình. III.Chủ đề : Bài thơ thể hiện : - Tình yêu thiên nhiên. - Phong thái ung dung, khí phách hiên ngang, tâm hồn lạc quan, trí tuệ lỗi lạc của người chiến sĩ cách mạng. IV. Tổng kết : 1. Nội dung : Tâm hồn cao đẹp của Bác : sự hài hòa tuyệt đẹp giữa tâm hồn chiến sĩ và thi sĩ. 2. Nghệ thuật : - Bút pháp cổ điển và hiện đại - Yếu tố hiện thực hài hòa với yếu tố tượng trưng. Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket D. Củng cố - Dặn dò : - Yếu tố hiện thực hài hòa với yếu tố tượng trưng (Đặng Thai Mai) - Cảm hứng về ánh hồng :ở bài thơ Chiều tối. “Trong ngục giờ đây còn tối mịt Ánh hồng trước mặt đã bừng soi” (Buổi sớm) ® Cái nhìn, cách cảm nhận tích cực của người Cách mạng lạc quan, vững vàng. - Chuẩn bị : “Mới ra tù tập leo núi” - Phân tích yếu tố cổ điển và tinh thần thời đại của bài thơ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

KIỂU SÁNG TÁC VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬN VĂN HỌC 12

KIỂU SÁNG TÁC VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬN VĂN HỌC 12

Kiểu sáng tác 1. Kiểu sáng tác văn học là những kiểu văn học xuất hiện trong từng thời đại và từng trào lưu văn học. Mỗi kiểu sáng tác văn học thể hiện một phương thức cảm nhận đời sống, một kiểu nhà văn, kiểu thể loại, một phương thức biểu hiện gắn với kiểu tự ý thức của con người. 2. Có 3 kiểu sáng tác văn học: kiểu sáng tác thần thoại, kiểu sáng tác truyền thống và kiểu sáng tác hiện đại. a. Kiểu sáng tác thần thoại là sáng tác chưa tự giác, là sản phẩm tinh thần của thời đại nguyên thủy, khi con người chưa phân biệt với thiên nhiên, tác giả là tập thể. Nó gắn liền với lễ hội, của cộng đồng. Nàng Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, Bà Nữ Oa đội đá vá trời, Hêraklét lập 12 chiến công… b. Kiểu sáng tác truyền thống bao gồm những sáng tác cổ đại và sáng tác văn học trung đại. Đó là những sáng tác dựa trên các quy tắc chung, phương tiện chung, được kế thừa và phát triển từ đời này sang đời khác. Kiểu sáng tác cổ đại chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu tư duy quyền uy thần thoại. Đam Săn gọi Trời bằng cậu, lấy Hnhí và Hbhí theo tục nối dây, chặt cây Thần, đi bắt nữ thần Mặt Trời. Sử thi Đam Săn, Ihát và Ôđixê, Ramayana,… tiêu biểu cho kiểu sáng tác cổ đại. Kiểu sáng tác trung đại hình thành và phát triển trong xã hội phong kiến. Các quan hệ vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, các phạm trù đạo lý quy phạm như trung thần với nghịch tử, quân tử với tiểu nhân, anh hùng, tài tử, mĩ nhân, v.v… được thể hiện dưới những hình thức nghệ thuật mang tính ước lệ định hình, trở thành chuẩn mực. Cáo, hịch, phú, thơ Đường, v.v… là những sáng tác trung đại, “Sử ký” của Tư Mã Thiên, thơ Lý Bạch, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du,… là những tác phẩm thuộc kiểu sáng tác truyền thống. c. Kiểu sáng tác hiện đại: trong văn học phương Tây khởi đầu từ thời Phục hưng, phát triểu trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội loại người đương đại. Kiểu sáng tác hiện đại bao gồm nhiều trào lưu văn học nối tiếp hoặc đồng thời xuất hiện. Trào lưu văn học là khuynh hướng sáng tác của các nhà văn cùng có chung một cương lĩnh, mục đích, niềm tin và nguyên tắc sáng tác. Văn học phục hưng, Văn học cổ điển chủ nghĩa, Văn học lãng mạn chủ nghĩa, Văn học hiện thực chủ nghĩa… là những trào lưu văn học tiêu biểu nhất - Văn học phục hưng: lên án thần quyền, bạo lực trung cổ, ca ngợi tự do, nhân đạo, tình yêu, khẳng định vẻ đẹp của bản tính tự nhiên, vật chất của con người. Kịch của Secxpia, Đônkihôtê của Xecvantex, bộ truyện Gacgăngchuya và Păngtagruyen của Rabơle là tiếng cười hả hê, sảng khoái của đời sống thân xác… là những kiệt tác của Văn học phục hưng. - Văn học cổ điển chủ nghĩa: xuất hiện ở Pháp và Tây Âu trong thế kỷ 17. Văn học cổ điển chủ nghĩa coi những con người đặt lý trí lên trên tình cảm riêng tư, chiến thắng dục vọng thấp hèn, coi nhẹ lợi ích và danh dự của dòng dõi và quốc gia là đẹp nhất, lý tưởng nhất, Kịch của Coocnây, kịch của Môlie… tiêu biểu nhất cho văn học cổ điển chủ nghĩa. - Văn học lãng mạn chủ nghĩa cảm nhận sâu sắc sự đối lập gay gắt giữa thực tại và lý tưởng, chỉ rõ sự bất mãn với thực tại bế tắc là không có lối thoát, ca ngợi niềm khao khát vươn tới trong mộng ảo hoặc thiên nhiên, Văn học lãng mạn chủ nghĩa phát triển ở Tây Âu trong 2 thế kỷ 18, 19. Thi sĩ Lamactin, văn hào Huygô (Pháp), nhà thơ Bairơn (Anh), thi hào Puskin (Nga)… là những tên tuổi tiêu biểu cho trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa. Ở Việt Nam ta, tự lực văn đoàn với các nhà thơ nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu,… là những văn sĩ của trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945. - Văn học hiện thực chủ nghĩa xuất hiện ở Tây Âu trong thế kỷ 19. Nó cảm nhận thế giới khách quan qua các chi tiết cụ thể, xác thực; khẳng định quy luật của môi trường xã hội đối với bản chất con người, miêu tả đời sống nội tâm như một quá trình có nảy sinh phát triển và biến đổi. Tính hiện thực chân thực là thước đo giá trị tác phẩm văn chương. Banzắc (Pháp), Đickenx (Anh), Sêkhốp (Nga), v.v… là những nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa. Ở Việt Nam ta, các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng,… là những nhà văn hiện thực 1930 – 1945. Phong cách nghệ thuật 1. Phong cách nghệ thuật là một cái nhìn mới mẻ, khám phá và độc đáo có tính phát hiện đối với đời sống. Cái nhìn mới mẻ ấy được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật đặc sắc mang dấu ấn riêng, vẻ đẹp riêng của mỗi nhà văn. Nhà văn có thực tài mới có phong cách. Phong cách chỉ có thể được định hình qua hàng loạt tác phẩm xuất sắc. Phong cách của nhà văn vừa thống nhất vừa đa dạng, phát triển tạo nên cây bút đa phong cách. 2. Từ “Vang bóng một thời” đến “Sông Đà”, “Tờ hoa”, “Trong hoa”,… - phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là uyên bác, tài hoa, độc đáo. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị thống nhất trong cảm hứng lý tưởng, Tổ quốc, nhân dân, về niềm vui lớn cách mạng, và ân tình thủy chung. Sâu sắc về lý trí, dào dạt về tình cảm, ngọt ngào, sâu lắng, thiết tha. Có lúc như dân ca. Có lúc như thơ Kiều, có lúc nghe như Thơ mới. Hồ Chí Minh là một nhà văn đa phong cách. Viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Việt, thống nhất trong tính giản dị, hồn nhiên, thâm thuý. Truyện ký thì sắc sảo, hóm hỉnh. Thơ chữ Hán giàu chất Đường thi. Thơ chúc tết thì dân dã, dễ hiểu. Văn chính luận rất khúc chiết. đanh thép, hùng hồn. Cảm hứng yêu nước thương dân là cảm hứng chủ đạo trong văn thơ của Người. Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội là đề tài nhất quán trong tác phẩm Hồ Chí Minh.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề