ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỤ NỮ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỤ NỮ":

Nghiên cứu kết quả điều trị U lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

Nghiên cứu kết quả điều trị U lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

ĐẶT VẤN ĐỀ Lạc nội mạc tử cung là một trong những bệnh lý lành tính thường gặp trong phụ khoa, trong đó có sự hiện diện lạc chỗ của mô tuyến và mô đệm nội mạc tử cung nằm ngoài buồng tử cung và có liên quan đến đau vùng chậu và vô sinh. Mặc dù được miêu tả lần đầu cách đây hơn 300 năm nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều bàn cãi về cơ chế sinh bệnh, nguyên nhân và thái độ xử trí [22]. Khoảng 1/3 phụ nữ lạc nội mạc tử cung không có triệu chứng nên tần suất chính xác của lạc nội mạc tử cung vẫn là một con số bí ẩn. Nhưng phần lớn các tác giả đều ghi nhận khoảng 10% phụ nữ độ tuổi sinh đẻ bị LNMTC [74]. Ở các phụ nữ đau vùng chậu tỷ lệ LNMTC thay đổi từ 5- 21%. Đối với các phụ nữ có triệu chứng đau vùng chậu, vô sinh hoặc cả hai, tần suất LNMTC là 35-50% [65]. Triệu chứng của lạc nội mạc tử cung rất đa dạng, thường gặp nhất là thống kinh, giao hợp đau và đau vùng chậu mãn tính không theo chu kỳ. Ngoài triệu chứng đau, lạc nội mạc tử cung cũng có những tác động liên quan đến khả năng sinh sản, nguy cơ bị vô sinh ở các bệnh nhân lạc nội mạc tử cung cao gấp 20 lần so với các bệnh nhân không bị lạc nội mạc tử cung [35], [37]. Việc điều trị triệt để bệnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Theo Thomas M.D Hoogle “Lạc nội mạc tử cung có khuynh hướng tái phát trừ khi được phẫu thuật tận gốc”. Điều trị nội khoa và ngoại khoa bảo tồn chỉ tạo ra một sự thuyên giảm tạm thời nhưng không thể loại trừ tất cả các tổn thương vi thể, tổn thương sau phúc mạc. Khoảng 21,5% bệnh nhân tái phát sau 2 năm và từ 40 - 45% bệnh nhân có tái phát bệnh sau 5 năm [40]. Phương pháp điều trị hiện nay có ba mục tiêu chính: giảm đau, tăng tỷ lệ mang thai cho phụ nữ mong muốn có con và trì hoãn tái phát càng lâu càng tốt. Lạc nội mạc tử cung tái phát từ lâu đã được công nhận là một vấn đề nghiêm trọng. Việc loại bỏ hay giảm tái phát hiện nay chưa thực sự có hiệu quả. Tái phát sau phẫu thuật xảy ra do tổn thương còn sót lại của lạc nội mạc tử cung. Tốc độ tăng trưởng vi thể của lạc nội mạc tử cung không thể phát hiện qua phẫu thuật. Hiện nay chúng ta biết rất ít về cơ chế của nó và làm thế nào để kiểm soát nó. Có rất ít báo cáo về hiệu quả của phẫu thuật lần hai đối với lạc nội mạc tử cung tái phát. Nếu có những thông tin về các yếu tố liên quan đến sự tái phát lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng như thời điểm phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật, sử dụng nội tiết trước và sau phẫu thuật … thì các nhà lâm sàng sẽ có kế hoạch điều trị cụ thể trên những bệnh nhân có nguy cơ cao. Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về sự tái phát của lạc nội mạc tử cung cũng như các yếu tố tác động đến sự tái phát của bệnh. Hầu hết các nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của từng yếu tố như: hiệu quả điều trị nội khoa trước phẫu thuật, hoặc điều trị nội khoa sau phẫu thuật, so sánh các phương pháp phẫu thuật trong lạc nội mạc tử cung, đánh giá kết quả nội soi điều trị bệnh nhân vô sinh có lạc nội mạc tử cung… Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: ”Nghiên cứu kết quả điều trị U lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế” nhằm hai mục tiêu: -Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u lạc nội mạc tử cung tái phát. -Đánh giá kết quả điều trị u lạc nội mạc tử cung tái phát.
Xem thêm

Đọc thêm

Bệnh trầm cảm đang lan rộng

BỆNH TRẦM CẢM ĐANG LAN RỘNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cuộc sống hiện đại đem lại cho con người nhiều sự tự do về vật chất, tinh thần nhưng cũng đẩy không ít người đến những nỗi buồn khó giải thích, để rồi đối mặt với các nguy cơ vô cùng nguy hiểm. Nhiều người mắc bệnh nhưng không thừa nhận Cách đây chưa lâu, tại miền Tây đã xảy ra vụ một hiệu trưởng trường tiểu học tự tử do trầm cảm. Thầy giáo này là người hiền lành, ít nói, có mối quan hệ xã hội tốt, thu nhập ổn định. Vì thế, cách ông tự giải thoát khiến dư luận bất ngờ. Trầm cảm - một loại bệnh tâm lý làm suy giảm khả năng nhận biết, vận động của con người - đang phổ biến trong xã hội. Theo các chuyên gia, bệnh do hai nguyên nhân chính: nội sinh (từ bên trong, do di truyền) và ngoại sinh (do sốc tâm lý như thất tình, ly thân, ly dị, thi rớt, mất việc, người thân chết, làm ăn thua lỗ...). Người trầm cảm có biểu hiện tuyệt vọng, suy sụp, không tham gia những hoạt động thường ngày nữa. Họ xa lánh người thân, bạn bè; thậm chí có người còn nghĩ đến cái chết hay tự sát. Trong đời sống hiện nay, tình trạng căng thẳng, mâu thuẫn khó giải quyết, bế tắc trong cuộc sống dễ dẫn đến trầm cảm. Nếu không được điều trị tích cực, bệnh sẽ không thuyên giảm, có thể dẫn đến nguy cơ tử vong do tự tử ở những trường hợp nặng.   Cứ 5 phụ nữ sau khi sinh con thì có 1 người bị trầm cảm. Trong ảnh: Sản phụ tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ (TP HCM) Theo WHO, có khoảng 10%-15% dân số bị bệnh trầm cảm. Toàn cầu hiện có trên 350 triệu người bị trầm cảm và ước chừng 1 triệu người tự tử mỗi năm do mắc chứng này. Tại Việt Nam, tỉ lệ trầm cảm trong cộng đồng là 24,3% ở độ tuổi 25-55 và tăng lên 47% ở người trên 55 tuổi.  Phụ nữ bị trầm cảm cao gấp 2 lần so với nam giới. Nguyên nhân là do có sự thay đổi về sinh hóa ở trong não, suy giảm hoạt động và số lượng các chất dopamin, serotonin. Ở nam giới, số người bệnh chưa được thống kê đầy đủ vì cánh mày râu thường ít chia sẻ những khó khăn của mình, biết kìm nén cảm xúc, âm thầm chịu đựng các áp lực trong cuộc sống. WHO cũng cảnh báo rằng điều đáng lo ngại là rất nhiều người đang mắc bệnh nhưng lại không thừa nhận mình có bệnh. Tỉ lệ tuân thủ điều trị thấp Công bố khoa học về thực trạng rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân ung thư do các chuyên gia Trung tâm Ung bướu Thái Nguyên thực hiện mới đây đã chỉ ra rằng tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân ung thư là khá cao, với tỉ lệ 67,3%. Tại Bệnh viện Ung bướu TP HCM, nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Phụng trên tất cả nữ bệnh nhân điều trị nội trú ung thư vú từ tháng 1 đến 4-2014 cũng cho thấy có 26,8% bị trầm cảm. Trong đó, tỉ lệ mắc trầm cảm cao nhất là ở người độc thân (58,1%) và thấp nhất thuộc nhóm có gia đình  (16,9% ). Theo các bác sĩ, tình trạng trầm cảm sẽ khiến bệnh cảnh bệnh nhân ung thư phức tạp hơn, tăng nguy cơ tử vong. TS Bùi Quang Huy, Chủ nhiệm Khoa Tâm thần Bệnh viện 103 (Hà Nội), cho biết có nhiều yếu tố làm tăng tỉ lệ tử vong ở các bệnh nhân ung thư, trong đó trầm cảm là yếu tố hàng đầu. Những biểu hiện trầm cảm chiếm khoảng 85% số bệnh nhân ung thư. Như đã đề cập, bệnh trầm cảm nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc tuân thủ điều trị trong thực tế là còn thấp. Khảo sát của tác giả Phạm Thị Vân Phương (Khoa Y tế Công cộng Trường ĐH Y Dược TP HCM) mới đây trên gần 400 bệnh nhân điều trị trầm cảm đã phát hiện rằng chỉ có 58% tuân thủ điều trị. WHO cũng cho biết đã đưa ra phác đồ điều trị trầm cảm nhưng chưa đến 50% bệnh nhân chấp nhận chữa bệnh. Các chuyên gia lưu ý rằng trong việc điều trị bệnh trầm cảm, giải pháp hữu hiệu nhất là sự hỗ trợ của người thân. Ngoài việc nhắc nhở bệnh nhân dùng thuốc hằng ngày, cần thấu hiểu nỗi đau của họ và có những việc làm thiết thực để nâng đỡ họ. Hãy giúp họ sống lạc quan, cổ vũ các hoạt động lành mạnh, thường để mắt đến những thay đổi trong hành vi, thái độ và lối sống (ăn, ngủ, vận động) và nhờ chuyên gia y khoa, tâm lý can thiệp ngay khi phát hiện điều gì bất thường. Trong một số trường hợp, bệnh nhân được điều trị bằng hình thức đối thoại. Qua đó, họ sẽ nhận ra nguyên nhân bệnh trầm cảm của mình và sẽ hợp tác tốt hơn khi có yêu cầu điều trị.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Vitamin D có thể là liệu pháp trị ung thư vú

VITAMIN D CÓ THỂ LÀ LIỆU PHÁP TRỊ UNG THƯ VÚ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bà Susana Gonzalo, phó giáo sư hóa sinh và sinh học tại Đại học Saint Louis và các cộng sự đã xác định được một đường mòn được kích hoạt ở những bệnh nhân ung thư vú có tiên lượng bệnh tồi tệ nhất, chẳng hạn như những người bị xếp loại triple-negative, một dạng ung thư hiếm gặp và cực kỳ nguy hiểm. Những bệnh ung thư này thường tấn công các phụ nữ trẻ tuổi hơn và khó chữa trị hơn bất kỳ dạng ung thư vú nào khác.   Các nhà nghiên cứu Mỹ và Tây Ban Nha nói rằng Vitamin có thể tham gia vào một liệu pháp trị bệnh ung thư vú mới khả dĩ trong tương lai (Ảnh minh họa) Những phụ nữ chào đời với các biến thể gien BRCA1 có nguy cơ mắc các bệnh ung thư vú và buồng trứng tăng cao, và những khối u hình thành thường thuộc loại triple-negative. Ung thư vú dạng triple-negative là loại ung thư có tính xâm lấn đặc biệt cao và không phụ thuộc vào các hormone như estrogen để tăng trưởng và lây lan. Dù hóa trị được xem là liệu pháp hiệu quả nhất để điều trị bệnh này, nó lại có những tác dụng phụ nghiêm trọng, bà Gonzalo nói. Các cuộc thử nghiệm được thực hiện trong phòng lab của bà Gonzalo, phối hợp với những phòng lab của các cộng sự Xavier Matias-Guiu và Adriana Duso ở Tây Ban Nha, cho thấy việc kích hoạt đường mòn mới nói trên không chỉ cho phép các tế bào khối u tăng trưởng mà không bị cản trở, mà còn giải thích cho tình trạng những loại khối u này giảm nhạy cảm đối với các chiến lược trị bệnh hiện tại. Điều quan trọng là vitamin D có vai trò trong việc “khóa” đường mòn, qua đó cung cấp một chiến lược điều trị những loại khối u nói trên ít tốn kém và an toàn hơn, bà Gonzalo nhấn mạnh. Phát hiện của bà và các cộng sự đã được công bố trên chuyên san The Journal of Cell Biology.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Chửa trứng và biến chứng ung thư nhau thai

CHỬA TRỨNG VÀ BIẾN CHỨNG UNG THƯ NHAU THAI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chửa trứng không còn là chuyện lạ đối với phụ nữ Việt Nam. Nhưng những tác hại của chửa trứng đối với sức khỏe sinh sản, hay biến chứng thành ung thư nhau thai của chửa trứng thì không phải chị em nào cũng biết. Chửa trứng là gì? Bình thường nhau thai có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai trong thời kỳ thai nghén. Khi nhau thai sản sinh quá mức, phát triển thành khối không được kiểm soát được gọi là chửa trứng. Đa số trường hợp chửa trứng không có bào thai, gọi là “chửa trứng hoàn toàn”. Một số trường hợp có bào thai, nhưng không sống được gọi là “chửa trứng bán phần”. Gọi là chửa trứng vì trong dạ con có nhiều nang trông như các quả trứng, hoặc chùm nho. Đó là do các lông nhau thai sinh sôi và căng phồng. Cho đến nay, y học vẫn chưa tìm ra được chính xác nguyên nhân gây chửa trứng. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học cho thấy có thể do sai sót của yếu tố di truyền trong quá trình thụ tinh đã dẫn đến những bất thường ở bộ nhiễm sắc thể. Khoảng 90% trường hợp thai trứng bắt nguồn từ người cha và 10% từ người mẹ. Nếu phụ nữ mang thai trên 35 tuổi, quá trình thụ tinh dễ gặp bất thường. Ngoài ra, những nguyên nhân như sai sót ở trứng, bất thường ở dạ con, thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, acid folic... dễ có nguy cơ bị thai trứng toàn phần. Bình thường, chửa trứng không nguy hiểm, vì khoảng 80% chửa trứng là lành tính, bệnh khỏi sau khi nạo lấy hết nhau thai hoặc cắt dạ con ở người không có nhu cầu sinh đẻ nữa. Khoảng 10 - 15% chửa trứng trở thành loại xâm nhập, bệnh ăn sâu vào thành dạ con, gây chảy máu và các tác hại nguy hiểm khác. Khoảng 2 - 3% chửa trứng trở thành ung thư nhau thai. Khi đã thành ung thư nhau thai, bệnh phát triển nhanh, lan rộng, di chuyển tới các nơi khác như phổi, não...   Hình ảnh chửa trứng Phân biệt chửa trứng và biến chứng ung thư nhau thai   Chửa trứng và ung thư nhau thai có những biểu hiện giống nhau và khá điển hình, đó là: chảy máu âm đạo; ra dịch, các vật bất thường; đau bụng dưới; nôn hoặc buồn nôn; chảy dịch đầu vú bất thường; bụng dưới to như có thai; bụng không nhỏ lại sau khi sinh. Nếu không điều trị sớm, bệnh nhân sẽ dễ bị khó thở, liệt, co giật. Vì thế, khi có các biểu hiện kể trên, chị em nên đi khám chuyên khoa sản để xác định bệnh, từ đó có hướng điều trị phù hợp và kịp thời. Sau khi làm các xét nghiệm cần thiết, nếu đã xác định chắc chắn là chửa trứng, bệnh nhân sẽ được tư vấn cách điều trị. Bệnh nhân sẽ được điều trị bệnh kết hợp như tiền sản giật, sản giật, thiếu máu, rối loạn điện giải. Sau đó bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật lấy khối thai bằng cách hút nạo. Phương pháp này giúp tiết kiệm thời gian thực hiện và không gây biến chứng tử cung. Nếu bệnh nhân chưa có con hoặc chưa sinh đủ con, bác sĩ sẽ nạo sạch trứng trong buồng tử cung. Với những phụ nữ đã sinh đủ con, tốt nhất là cắt buồng tử cung. Tiếp theo, bệnh nhân chửa trứng lành tính phải làm xét nghiệm máu, nước tiểu 2 tuần/lần cho đến khi lượng hCG trở về bình thường. Khi hCG đã về mức cho phép, bệnh nhân vẫn phải tiếp tục thử nước tiểu 4 tuần/lần trong thời gian 6 tháng, cùng với việc làm các xét nghiệm khác và siêu âm nếu bác sĩ yêu cầu. Như trên đã nói, có khoảng 2 - 3% trường hợp chửa trứng ác tính, tức là ung thư nhau thai. Ung thư nhau thai chiếm tỷ lệ khá cao ở Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác, khoảng 30/1.000 ca sinh và 2,6/1.000 ca có thai. Ung thư có nguồn gốc từ sự đột biến gen của những tế bào nuôi, một thành phần trong số những tế bào chịu trách nhiệm hình thành các tổ chức có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai (bánh nhau, cuống rốn...). Tuy nhiên, những nguyên nhân của sự đột biến vẫn chưa được rõ. Người ta ghi nhận ung thư nhau có thể xảy ra trong một lần mang thai và ở những phụ nữ có tiền căn sản khoa bất thường trước đó, như: thai trứng (chiếm đến 50% các trường hợp ung thư nhau), sẩy thai tự nhiên (khoảng 20%), thai ngoài tử cung (chỉ 2%)... Đa số các trường hợp ung thư nhau thai thường không có dấu hiệu báo trước đến khi bệnh bộc phát. Khi đã mắc bệnh, các triệu chứng thường gặp là: Thai phụ có thể nôn nhiều và kéo dài. Bụng to hơn tuổi thai. Phần lớn các trường hợp đều có dấu hiệu xuất huyết âm đạo (có thể rỉ rả hoặc ồ ạt). Đau bụng từng cơn hoặc liên tục. Đau ngực, khó thở, ho ra máu..., nếu đã có di căn phổi. Có triệu chứng thần kinh nếu có di căn não. Khi bệnh nhân có nghi ngờ bị ung thư nhau thai, cần làm một số khảo sát và xét nghiệm cận lâm sàng để hỗ trợ thêm cho việc chẩn đoán như: sự tăng cao bất thường của nồng độ Beta hCG trong máu và trong nước tiểu. Siêu âm bụng sẽ giúp xác nhận tình trạng không có thai trong tử cung và cho phép các bác sĩ tiến hành nạo lòng tử cung để sinh thiết. Ngoài ra, qua siêu âm, các bác sĩ có thể phát hiện các di căn ở gan. Chụp Xquang phổi cũng cần để giúp phát hiện các di căn phổi nếu có. Lời khuyên của thầy thuốc Tuy nguy hiểm, nhưng ung thư nhau lại là một trong những loại ung thư nhạy với hóa trị. Nếu chưa bị di căn, bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn. Hiện nay, phương pháp điều trị chủ yếu là hóa trị và phẫu thuật, trong đó, hóa trị đóng vai trò tiên quyết trong việc điều trị ung thư nhau. Sau khi đã hóa trị và đạt được kết quả tốt, tùy từng trường hợp cụ thể, các bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật cắt bỏ buồng tử cung và hai buồng trứng, hay cân nhắc khả năng phẫu thuật bảo tồn, tức là chỉ lấy bỏ bướu tử cung hoặc âm đạo cho bệnh nhân. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần đi khám lại, thử máu, nước tiểu định kỳ theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Với những người có nguyện vọng sinh con, ngoài tuân thủ chung, bệnh nhân cần có biện pháp tránh thai ngay sau chữa bệnh và chỉ có thai sau 1 năm từ ngày chữa bệnh. Bệnh nhân điều trị ung thư nhau thai thành công, khi mang thai lại cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện, điều trị kịp thời các biến chứng ác tính sau đó.      
Xem thêm

2 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện y học cổ truyền trung ương
Xem thêm

45 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ CAO ĐẶC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC THEO HƯỚNG ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ CAO ĐẶC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC THEO HƯỚNG ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN

Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan Nghiên cứu điều chế cao đặc và một số tác dụng của bài thuốc theo hướng điều trị bệnh gan
Xem thêm

82 Đọc thêm

Đau đớn vùng chậu, có thể tử vong

ĐAU ĐỚN VÙNG CHẬU, CÓ THỂ TỬ VONG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một ngày, cảm thấy đau nhói quanh khung xương chậu, hãy cẩn trọng vì đó có thể là dấu hiệu của các bệnh lạc nội mạc tử cung, viêm bàng quang kẽ, đau âm hộ mãn tính, sung huyết vùng chậu... Nếu không chữa trị kịp thời, chị em có thể bị cắt bỏ tử cung, thậm chí tử vong. Dưới đây là một số triệu chứng phổ biến của những bệnh có liên quan đến đau vùng chậu phụ nữ nên tham khảo. Lạc nội mạc tử cung Lạc nội mạc tử cung gây đau bụng dữ dội thường trùng với chu kỳ kinh nguyệt, đau tỏa ra lưng, xương chậu, chân Lạc nội mạc tử cungLạc nội mạc tử cung là bệnh thường gặp trong các bệnh phụ khoa. Theo thống kê, khoảng 5 triệu phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung. Triệu chứng: Đau bụng dữ dội thường trùng với chu kỳ kinh nguyệt, đau tỏa ra lưng, xương chậu, chân.  Phương pháp chẩn đoán: Phẫu thuật nội soi (thủ tục phẫu thuật xâm lấn tối thiểu) và làm sinh thiết (lấy các mẫu mô để kiểm tra dưới kính hiển vi). Điều trị: Điều trị bằng thuốc để thu nhỏ mô nội mạc tử cung như thuốc kháng viêm không steroid: Ibuprofen, naproxen sodium, thuốc tránh thai hoặc hormone. Bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật xâm lấn tối thiểu để loại bỏ hoặc phá hủy tăng trưởng nội mạc tử cung. Trong trường hợp nặng, nếu cần, bác sĩ sẽ cắt bỏ tử cung.   Căng cơ vùng chậu gây áp lực hoặc đau nhức trong xương chậu, nóng đốt, ngứa và đau ở âm đạo hay niệu đạo. (Ảnh minh họa) Viêm bàng quang kẽ Viêm bàng quang kẽ là bệnh mãn tính thường gặp ở phụ nữ. Bệnh có thể bắt nguồn từ sự cố của mucin - các tế bào trên bề mặt của bàng quang có tác dụng bảo vệ bàng quang khỏi axit. Triệu chứng: Người bị bệnh viêm bàng quang kẽ thường có các biểu hiện như liên tục muốn đi tiểu, mỗi lần đi rất ít nước tiểu, thường bệnh nhân phải đi tiểu đến 60 lần trong ngày, đau vùng xương chậu. Phương pháp chẩn đoán: Sau khi loại trừ những bệnh có triệu chứng tương tự, bác sĩ sẽ kiểm tra nước tiểu của bạn để xác định có phải nhiễm trùng đường tiết niệu hay không. Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra bàng quang, trong trường hợp cần thiết sẽ phải làm cả sinh thiết để chẩn đoán khả năng ung thư. Điều trị: Tùy mức độ viêm mà bác sĩ có thể cho bệnh nhân uống thuốc hay phẫu thuật. Thông thường, Elmiron là loại thuốc uống đầu tiên được sử dụng và mất khoảng 6-9 tháng, bệnh nhân mới khỏi hoàn toàn. Ngoài ra, các bác sĩ cũng thành công với những loại thuốc kháng histamin, chống trầm cảm, chống động kinh và những loại thuốc khác truyền trực tiếp vào bàng quang. Căng cơ vùng xương chậu Nhiều vấn đề, cả về thể chất (chẳng hạn như sinh con khó khăn) và tình cảm, có thể dẫn đến căng cơ mãn tính trong các cơ xương chậu. Triệu chứng: Khi bị căng cơ vùng xương chậu, người bệnh có thể cảm thấy như có áp lực hoặc đau nhức trong xương chậu, cảm giác nóng đốt, ngứa và đau ở âm đạo hay niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang). Phương pháp chẩn đoán: Bác sĩ sẽ làm các kiểm tra vật lý quanh vùng chậu. Điều trị: Các phương pháp điều trị hiệu quả nhất liên quan đến sàn chậu là vật lý trị liệu. Hãy nghĩ về nó như bài tập thể dục cho âm đạo, giúp ngăn chặn sự co thắt ở các cơ vùng này. Ngoài ra, bệnh nhân có thể tiêm botox ngăn ngừa co thắt cơ vùng chậu.Sung huyết vùng chậu.   Sung huyết vùng chậu thường xảy ra các cơn đau khi bạn ngồi hoặc đứng. (Ảnh minh họa) Sung huyết vùng chậu Sung huyết vùng chậu hay còn gọi là chứng suy tĩnh mạch gây đau xương chậu. Giống như giãn tĩnh mạch ở chân, các van trong tĩnh mạch trở nên yếu và không đóng đúng cách nên bể máu, gây áp lực và đau đớn. Sung huyết vùng chậu thường xảy ra các cơn đau khi bạn ngồi hoặc đứng. Triệu chứng: Nhói đau ở xương chậu, gây cảm giác nặng nề, đau nhẹ vào buổi sáng và càng tồi tệ hơn trong suốt cả ngày. Cơn đau sẽ giảm khi bạn nằm xuống hoặc áp dụng nhiệt. Phương pháp chẩn đoán: Bác sĩ sẽ đo kích thước của tĩnh mạch bất thường và tốc độ của dòng máu chảy để chẩn đoán bệnh.  Điều trị: Giải pháp cắt bỏ tử cung, trong đó có buồng trứng và các tĩnh mạch bị ảnh hưởng đã được chứng minh là liệu pháp hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trước khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ thử phương pháp thu nhỏ tĩnh mạch cho bệnh nhân. Trong trường hợp phương pháp này không có hiệu quả thì mới phẫu thuật.  Đau âm hộ mãn tính Nguyên nhân của đau âm hộ mãn tính chưa được biết đến nhưng theo chuyên gia, có thể do nhiễm nấm hoặc tổn thương thần kinh do các hoạt động như cưỡi ngựa, sinh con. Triệu chứng: Nóng rát, đau nhức, ngứa, đau khi giao hợp. Phương pháp chẩn đoán: Bác sĩ sử dụng một tăm bông thấm nhẹ và có phương pháp kiểm tra cụ thể các khu vực đau ở vùng âm hộ. Điều trị: Thường dùng thuốc chống trầm cảm, thuốc gây tê cục bộ, phẫu thuật là giải pháp cuối cùng. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần tại trung tâm y tế quận hoàn kiếm, hà nội
Xem thêm

56 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2009

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2009

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh parkinson tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2009
Xem thêm

69 Đọc thêm

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI NGƯỜI LỚN TẠI VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI NĂM 2001 2002

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI NGƯỜI LỚN TẠI VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI NĂM 2001 2002

Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị viêm phổi người lớn tại viện lao và bệnh phổi năm 2001 2002
Xem thêm

48 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HOÁ HỌC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC THEO HƯỚNG ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN CỦA VỊ THUỐC CHỈ THIÊN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HOÁ HỌC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC THEO HƯỚNG ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN CỦA VỊ THUỐC CHỈ THIÊN

Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học theo hướng điều trị bệnh gan của vị thuốc chỉ thiên
Xem thêm

41 Đọc thêm

Thủy đậu, zona và thai kỳ – tổng hợp những thông tin cần biết

Thủy đậu, zona và thai kỳ – tổng hợp những thông tin cần biết

Phần lớn những người trưởng thành đều đã từng tiếp xúc với thủy đậu từ nhỏ, tỉ lệ cao phát hiện thấy kháng thể kháng virus thủy đậu (VZV IgG) trong cơ thể, đặc biệt như có đến 90% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có kháng thể này trong cơ thể. Chính vì vậy, rất ít khi xảy ra bệnh cảnh nhiễm virus nguyên phát ở phụ nữ mang thai, tỉ lệ ước tính khoảng 231000 thai kỳ. Nếu như bạn mắc phải bệnh lý này trong thai kỳ, dường như bạn sẽ hồi phục hoàn toàn được, tuy nhiên, một số biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra trong một số nhỏ trường hợp. Nếu như bạn mang thai và chưa từng bị thủy đậu trước đó (hoặc không chắc đã bị hay chưa) mà tiếp xúc với một ai đó bị thủy đậu hoặc zona, hãy đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt khi có thể. Nếu như bạn không có miễn dịch chống lại bệnh thì việc can thiệp điều trị có thể làm giảm nguy cơ cho cả bạn và em bé của bạn. Và một khi phát hiện bệnh trong thời gian mang thai, hãy gặp bác sĩ ngay để được tư vấn điều trị và theo dõi thích hợp.
Xem thêm

Đọc thêm

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIÊN ĐA KHOA HUYỆN LƯƠNG TÀI BẮC NINH

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại bệnh viên đa khoa huyện lương tài bắc ninh
Xem thêm

73 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai
Xem thêm

55 Đọc thêm

10 BÍ QUYẾT NGĂN NGỪA UNG THƯ VÚ

10 BÍ QUYẾT NGĂN NGỪA UNG THƯ VÚ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo Viện Ung Thư Quốc Gia Mỹ, năm 2014 có 232.6790 ca ung thư vú ở phụ nữ, 2.360 ca ở đàn ông. Con số tử vong do ung thư vú ở phụ nữ là 40.000 người và ở đàn ông là 430 người. Để giảm nguy cơ bị ung thư vú, hoặc ít nhất là chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm nhất, ta cần có lối sống lành mạnh, kiểm tra sức khỏe định kì. Dưới đây là 10 bí quyết để ngăn ngừa căn bệnh này:   Ăn rau xanh: Các nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều rau, trái cây, cá...như của người Địa Trung Hải sẽ làm giảm nguy cơ bị ung thư vú. Tập thể dục đều đặn: Phụ nữ năng động có ít nguy cơ phát triển ung thư vú. Một nghiên cứu năm 2014 cho thấy những phụ nữ ăn trái cây, rau xanh và hoạt động thể chất thường xuyên đã giảm được nguy cơ ung thư vú. Ngủ đủ giấc: Ngủ đủ giấc là khoảng 8 tiếng mỗi đêm. Nghiên cứu cho thấy giấc ngủ ngắn, làm việc đêm, tiếp xúc với ánh sáng suốt đêm sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Duy trì cân nặng cân đối: Béo phì và tiểu đường liên quan đến nguy cơ mắc ung thư vú. Cách để loại bỏ chất béo không mong muốn đó là tránh uống nước ngọt, nước có đường, chỉ ăn khi đói, tập thể dục hàng ngày và ngủ đủ giấc. Không hút thuốc, không uống rượu: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư ở nhiều cơ quan trong cơ thể. Bên cạnh đó, uống rượu khiến nguy cơ mắc ung thư vú tăng cao. Cho con bú sữa mẹ: Cho con bú sữa mẹ đem lại nhiều lợi ích, bao gồm làm giảm ung thư vú ở bà mẹ, vì sinh con sau 30 tuổi là 1 yếu tố gây ra loại ung thư này. Tránh tiếp xúc với tia bức xạ: Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh dịch Mỹ khuyên phụ nữ nên giảm việc chụp CT, PET, X-Quang. Tuy nhiên, trị liệu bằng tia phóng xạ đôi khi cũng hữu ích, ví dụ như điều trị ung thư hạch Hodgkin. Trong trường hợp đó, người phụ nữ nên được khám sớm và thường xuyên để ngừa ung thư vú.   Cẩn trọng với hormone: Nếu giai đoạn mãn kinh gây ra các triệu chứng khó chịu, bạn có thể nói chuyện với bác sĩ. Điều trị thay thế hormone là 1 lựa chọn nhưng sử dụng lâu dài có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Nếu người trong gia đình có tiền sử mắc bệnh, bạn hãy cân nhắc các phép trị liệu không dùng hooc-môn. Chụp chẩn đoán ung thư vú: Công cụ chụp được sử dụng phổ biến nhất là chụp X-quang vú, một phương pháp gây tranh cãi vì kết quả chẩn đoán chưa đáng tin cậy. Theo đó, sau mỗi lần chụp, 10% các phụ nữ được gọi lại để kiểm tra thêm, gây ra sự lo lắng. Tuy vậy, chụp tia X vú vẫn là công cụ tốt nhất giúp chẩn đoán sớm. Theo Viện Ung Thư Quốc Gia Mỹ, có nhiều bằng chứng về lợi ích của việc chụp X-quang vú hàng năm đối với phụ nữ 40-74 tuổi. Mặt khác, Cơ quan Đặc nhiệm về Phòng bệnh Mỹ khuyên chỉ nên chụp 2 năm 1 lần đối với phụ nữ 50-74 tuổi. Kiểm tra gen: Bác sĩ sản phụ khoa Donald Aptekar từ Trung tâm Y tế Rose của Mỹ cho biết: Nếu gia đình có lịch sử mắc bệnh ung thư vú, ung thư buồng trứng hoặc tổ tiên là người Do Thái, bạn có thể mang biến đổi gen (như BRCA 1 hoặc 2), làm tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng. Nhiều yếu tố khác cũng gây ung thư di truyền. Bác sĩ Aptekar khuyên bạn nên nói chuyện với người tư vấn sức khỏe về việc kiểm tra gen.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cách phát hiện thai dị tật mẹ không thể bỏ qua

CÁCH PHÁT HIỆN THAI DỊ TẬT MẸ KHÔNG THỂ BỎ QUA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản ngày càng được nâng cao, các biện pháp chẩn đoán trước sinh phát triển. Vì vậy, các dị tật của thai nhi (kể cả những dị tật không nhìn thấy được bằng mắt thường) được phát hiện sớm (bệnh Down, song thai dính nhau, thai có khối u ở mặt cổ...). Ngoài ra, một số thông tin cũng chỉ ra rằng việc sử dụng một số hoá chất tổng hợp, chế độ dinh dưỡng không hợp lý cũng có thể gây nên các bất thường về cấu trúc và sự phát triển của thai. Vì vậy, để sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh, các bà mẹ cần phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn về chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt và được quản lý thai có hệ thống. Những dị tật có thể được phát hiện sớm Bất thường về nhiễm sắc thể: Đây là những bất thường về di truyền (bệnh Down, hội chứng Turner...), những bất thường này thường để lại những hậu quả nặng nề cho cuộc sống sau này của đứa trẻ. Hiện nay, để phát hiện những bất thường này cần phải làm rất nhiều xét nghiệm sàng lọc như siêu âm sớm (đo độ dày da gáy thai lúc 12-14 tuần), xét nghiệm về máu (double tests, triple tests...), chọc dò nước ối... Bất thường về hệ thần kinh thai: Nhiều dị tật liên quan đến hệ thần kinh, có những dị tật có thể phát hiện được sớm trong 3 tháng đầu (thai vô sọ, não úng thủy, não lộn ngoài...), có những dị tật phát hiện muộn hơn như não nhỏ, bất thường về cấu trúc não... Các dị tật này có thể phát hiện được trong 3 tháng giữa của thai kỳ bằng siêu âm, xét nghiệm máu, chụp cộng hưởng từ. Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho rằng việc dùng axít folic (vitamin B9) trước thời kỳ có thai khoảng 1-2 tháng sẽ làm giảm một số bất thường về ống thần kinh.   Chọc dò ối thường được thực hiện vào tuần thứ 16-18 của thai kỳ. (ảnh minh họa) Bất thường về hệ tim mạch: chiếm tỉ lệ 0,4-0,8% trẻ đẻ ra, thường được phát hiện vào 3 tháng giữa thời kỳ mang thai. Các dị tật về tim thường có tính chất gia đình, vì vậy, cần phải có thăm khám kỹ đối với những người có tiền sử gia đình và bản thân mắc bệnh. Những bệnh thường gặp là thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch, đảo gốc động mạch... Bất thường về xương: thường hay gặp chiếm khoảng 1% trẻ đẻ ra, nếu không phối hợp với các bất thường khác thì có thể điều trị được sau khi sinh. Ngoài ra, còn có thể phát hiện được rất nhiều các dị tật ở các cơ quan khác thông qua thăm khám và các sàng lọc trước sinh. Phòng tránh những dị tật này bằng cách nào? Theo thống kê, tỉ lệ thai mắc các dị tật chiếm khoảng 2 - 3% các trường hợp trẻ đẻ ra, tuy nhiên, phần lớn là các dị tật có thể điều trị được (sứt môi, hở hàm ếch, một số dị tật về tim, hệ tiêu hoá, xương khớp...). Với sự phát triển của khoa học ngày nay, chúng ta có thể phát hiện được nhiều dị tật rất sớm từ khi tuổi thai còn nhỏ và có thể điều trị được một số dị tật mà trước đây không can thiệp được. Điều này có thể giúp cho các thầy thuốc quyết định sớm cách xử trí đúng đắn để giảm thiểu các tai biến cho mẹ và con. Những phụ nữ trước khi chuẩn bị mang thai cần đi khám sức khỏe toàn diện, điều trị dứt điểm những bệnh đang mắc, cần được theo dõi chặt chẽ những bệnh mạn tính như tim mạch, hen, dị ứng... trong suốt quá trình mang thai và sau sinh. Nên tiêm phòng những loại bệnh dễ gây dị tật thai nhi như cúm, thủy đậu, Rubella 3 tháng trước khi có thai. Trong thời gian có thai, cần kiểm tra sức khỏe thai nghén định kỳ, nếu phát hiện những bất thường sẽ được tư vấn, nếu dị tật có thể điều trị được thì sau khi sinh cần được đưa trẻ đến các trung tâm phẫu thuật nhi để được điều trị sớm. Một yếu tố quan trọng nữa là những phụ nữ mang thai cần được ăn uống đầy đủ dưỡng chất, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh lao động quá sức, tránh stress.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình

KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM XOANG TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIÊN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH

Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viên đa khoa tỉnh thái bình
Xem thêm

48 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai
Xem thêm

67 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA BỆNH BASEDOW TẠI KHOA NỘI TIẾT VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BỆNH VIỆN BẠCH MAI

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA BỆNH BASEDOW TẠI KHOA NỘI TIẾT VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị nội khoa bệnh basedow tại khoa nội tiết và đái tháo đường bệnh viện bạch mai
Xem thêm

72 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG HÔ HẤP DƯỚI TẠI KHOA B2 BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG HÔ HẤP DƯỚI TẠI KHOA B2 BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tại khoa b2 bệnh viện hữu nghị
Xem thêm

78 Đọc thêm

Cùng chủ đề