CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ PHÂN LOẠI QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ PHÂN LOẠI QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM":

NGƯỜI BỊ HẠI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

NGƯỜI BỊ HẠI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

không hợp lý, quá rộng vì nếu cho phép họ kháng cáo toàn bộ bản ánthì vô hình chung cho phép họ kháng cáo cả quyết định của bản sơthẩm không liên quan gì họ nh- quyết định bồi th-ờng thiệt hại chonhững người khác, quyết định về xử lý vật chứng, án phí Do đó, dùcó h-ớng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cũngkhông thể đáp ứng đ-ợc những khiếm khuyết của hai điều luật trên.- Đối với ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại:Ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại là ng-ời mà theo quyđịnh của pháp luật hoặc theo uỷ quyền họ tham gia tố tụng để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời bị hại hoặc của chính bản thân họ.Ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại phải là một con ng-ời cụ thểchứ không thể là cơ quan tổ chức, Họ là ng-ời đã thành niên và đủnăng lực hành vi để tham gia tố tụng và không thuộc tr-ờng hợp phápluật cấm chẳng hạn một ng-ời bị pháp luật t-ớc quyền làm cha, mẹ đốivới ng-ời con thì không thể làm ng-ời đại diện hợp pháp cho ng-ờicon này nếu ng-ời con là ng-ời bị hại. Một ng-ời bị mắc bệnh tâmthần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năngđiều khiển hành vi của mình thì không thể là ng-ời đại diện hợp phápcủa ng-ời bị hại.Thực tiễn xét xử có nhiều tr-ờng hợp Toà xác định ng-ời đại diệnhợp pháp của ng-ời bị hại không đúng nên bản án đã bị Toà án cấpphúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ để xét xử lại nh-:Tại bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đ xét xử đốivới Phạm Văn Ngà và đồng phạm về tội Cố ý gây th-ơng tích theokhoản 3 Điều 104 và tội khác. Nội dụng vụ án nh- sau: Khoảng 13hngày 10-4-2003, phạm Văn Ngà và một số ng-ời đang ngôi uống bia,Trong khi đang ngồi uống bia thì có Nguyễn Huy Hoàng đi vào quán.Ngà chửi Hoàng vì tr-ớc đó Ngà và Hoàng đã có mâu thuẫn nên xảy raxô xát và đ-ợc can ngăn. Khoảng 15 phút sau thì Ngà rủ một số ng-ời
Xem thêm

23 Đọc thêm

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được tham gia tố tụngvới tư cách là người bào chữa, nguyên tắc và trình tự thủ tục thực hiện quyền bàochữa của đối tượng này.- Thứ hai, nên bỏ quy định tại điểm c khoản 1 điều 56 BLTTHS bởi hiện nay, cùngvới việc thực thi Luật Luật sư năm 2006, Liên đoàn luật sư Việt Nam ra đời đãkhẳng định sự lớn mạnh và vị thế của đội ngũ luật sư Việt Nam, hướng tới việc xâydựng một đội ngũ luật sư chuyên nghiệp thực hiện các phạm vi hành nghề tư vấn,tranh tụng và cung cấp các dịch vụ pháp lý phủ kín các mặt của đời sống xã hội vàđời sống tư pháp. Trong khi đó đội ngũ bào chữa viên nhân dân thì yếu kém, thiếusự chuyên nghiệp và thiếu hiểu biết pháp luật và ít được công nhận khi tham gia vàoquá trình tố tụng hình sự, do vậy theo tôi nên bỏ quy định về bào chữa viên nhândân để việc tham gia tố tụng của người bào chữa trở nên chuyên nghiệp hơn..- Thứ ba, Vấn đề từ chối người bào chữa được quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 57BLTTHS năm 2003 cần hoàn thiện thêm vì quy định như vậy còn có bất cập, khônghợp lý. Việc không phân biệt quyền từ chối người bào chữa của hai nhóm đối tượngđược quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 điều luật này là một sự không chặt chẽvề mặt lý luận. Đối tượng được quy định tại điểm a hoàn toàn khác với đối tượngquy định tại điểm b. Những đối tượng được quy định tại điểm a nhận thức đượcđúng đắn và đầy đủ hành vi từ chối người bào chữa của mình và họ biết được khảnăng và hậu quả có thể xẩy ra khi họ từ chối người bào chữa. Và vì vậy để cho họcó quyền chủ quan tuyệt đối từ chối người bào chữa là hợp lý. Còn những đối tượngđược quy định tại điểm b là những đối tượng chưa đủ trình độ phát triển về thể chấtcũng như tinh thần hoặc là những người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc khiếmkhuyết về tâm thần thì liệu họ có nhận thức được đầy đủ và đúng đắn về hành vi từchối người bào chữa của mình hay không?Song song với việc hoàn thiện pháp luật, việc đào tạo nâng cao trình độ của ngườibào chữa cũng rất cần thiết, cần tăng cường đào tạo đội ngũ luật sư cả về số lượngvà chất lượng, có năng lực và đạo đức nghề nghiệp để thực hiện tốt hơn vai trò là
Xem thêm

20 Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Hình sự: Tội giết người thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Bài tập nhóm luật Hình sự: Tội giết người thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tội giết người thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Bài tập nhóm Luật Hình sự 1 MỞ BÀI – TÌNH HUỐNG Đối với mỗi con người tính mạng, sức khỏe là thứ vốn quý, là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại của mỗi người. Chính bởi vậy, hành vi giết người dưới mọi hình thức và lí do đều là hành vi dã man, tàn ác và không thể tha thứ. Nó không chỉ gây ra nỗi đau cho gia đình người bị hại mà còn gây mất trật tự xã hội, tạo tâm lí lo sợ trong quần chúng. Trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam đã quy định rất rõ ràng, cụ thể về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Để có thể hiểu rõ được về tội danh trên, ta cùng phân tích và làm rõ thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu tình huống sau đây: Huynh (33 tuổi) vay của chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Tội giết người mà Huynh đã thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự. Câu hỏi: 1. Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ Luật Hình sự. 2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích. 3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. 4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không? Tại sao? GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG I. Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự. Muốn biết tội phạm của một người đã thực hiện thuộc loại tội gì, ta phải căn cứ vào việc xác định xem người phạm tội đó thực hiện tội phạm gì, tội phạm đó được phản ánh trong khoản nào, điều nào của Bộ Luật Hình sự, và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm đó. Cùng với đó là cách phân loại tội phạm theo khoản 3 điều 8 Bộ Luật Hình Sự ta sẽ kết luận được loại tội phạm mà Huynh phạm phải. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự và phải chịu hình phạt. Trên thực tế, những hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội và có tính chất khác nhau. Tội phạm được phân ra thành các nhóm khác nhau, được quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, trong tình thế túng quẫn, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Hành vi dùng dao giết chết chị Nga của Huynh đã đủ cấu thành tội giết người theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự: Vì động cơ đê hèn”, cụ thể ở đây là để không phải trả khoản nợ mà chị Nga ráo riết đòi. Khung hình phạt cho tội phạm mà Huynh đã thực hiện ở đây là “phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Như vậy mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm mà Huynh đã thực hiện là trên mười lăm năm, tù chung thân hoặc tử hình đúng với quy định tại khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, có thể đi đến kết luận: hành vi của Huynh nói trên đã cấu thành tội giết người quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình Sự và tội phạm Huynh đã thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. II. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này 1. Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội đã được xác định trong khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm là khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Trong đó Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại. Bất kỳ một tội phạm nào đều có khách thể trực tiếp, đó có thể là quan hệ xã hội cụ thể như quan hệ sở hữu hoặc quan hệ nhân thân. Ở tình huống này, tội phạm mà Huynh đã thực hiện đã xâm hại đến quan hệ nhân thân, cụ thể ở đây là quyền sống của chị Nga, mà nó là một quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, vì vậy khách thể của tội phạm trong trường hợp này là quyền sống của chị Nga. Huynh đã vay chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để làm ăn nhưng do làm ăn thua lỗ và hạn cho vay đã hết, vì không muốn trả nợ, Huynh đã cầm dao giết chị Nga. Hành vi cầm dao giết chị Nga nhằm trốn nợ của Huynh đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân là quyền sống của chị Nga. Vậy, Huynh đã xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân về sức khỏe, là tính mạng, là quyền sống của con người quyền thiêng liêng nhất và bất khả xâm phạm của mỗi người. 2. Đối tượng tác động của tội phạm Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của tội phạm gồm một số loại: con người; các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội và hoạt động bình thường của chủ thể. Đối với tội giết người thì đối tượng tác động của tội phạm là con người. Trong số những quan hệ xã hội khác nhau thì có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người. Trong trường hợp này con người trở thành đối tượng tác động của tội phạm. Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này. Hành vi dùng dao giết chết chị Nga của Huynh đã làm biến đổi con người chị Nga về mặt sức khỏe, gây thiệt hại; cụ thể là dẫn đến cái chết của chị Nga. Tội phạm giết người là hành vi xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự được quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự. Hành vi giết người của Huynh được quy định cụ thể trong Điều 93 của chương này. Vì vậy, đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là chị Nga. Luật hình sự Việt Nam bảo vệ các quan hệ xã hội thông qua việc bảo đảm tình trạng bình thường cho các bộ phận cấu thành của các quan hệ xã hội đó. Sự bảo vệ các đối tượng tác động cụ thể luôn luôn có ý nghĩa là bảo vệ các bộ phận của quan hệ xã hội và qua đó để bảo vệ toàn bộ quan hệ xã hội. III. Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng là đúng hay sai? Tại sao. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong bộ luật Hình sự thì tội phạm được chia làm bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (có sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Ta không thể dựa vào mức án tòa tuyên phạt là 15 năm tù mà khẳng định là Huynh phạm phải tội rất nghiêm trọng. Đối với tình huống này thì tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội giết người theo điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009). Trong trường hợp nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng là sai. Vì khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) có quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết nhiều người; b) Giết phụ nữ mà biết là có thai; c) Giết trẻ em; d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm mợt tội rất nghiêm trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giết người thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm; q) Vì động cơ đê hèn”. Vậy, mức cao nhất của khung hình phạt dành cho tội này là tù chung thân hoặc tử hình nên tội mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam). Qua đó, ta thấy được khi xét xử một loại tội phạm nào đó, ta phải xem xét kỹ mọi mặt của cấu thành tội phạm một cách chi tiết, từ đó mới đưa ra quyết định đúng đắn nhất về phân loại tội pham. IV. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không ? Tại sao ? Điều 5 Bộ luật Hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) có quy định: “1. Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Như vậy, mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam trừ một số người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam nhưng trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao (khoản 2 điều 5 Bộ luật Hình Sự). Bộ luật Hình Sự không quy định cụ thể các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam mà căn cứ để xác định việc không truy cứu trách nhiệm hình sự lại là đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo quy định của pháp luật hoặc theo tục lệ quốc tế, dựa trên quan hệ bình đẳng của các nước trong quan hệ quốc tế. Thông thường những người được hưởng đặc quyền ngoại giao là những người đứng đầu Nhà nước, những đại diện ngoại giao, các thành viên của các đoàn ngoại giao như cố vấn, bí thư…; còn theo tục lệ quốc tế thì vợ hoặc chồng, con chưa thành niên của những người này cũng được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự. Người có đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hính sự Việt Nam, nhưng họ có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, thậm chí họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao, Nhà nước mà họ mang quốc tịch và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy, trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có điều kiện mà điều kiện đó chính là lý do về ngoại giao. Áp dụng trong tình huống này, ta cần xét 2 trường hợp cụ thể như sau : • Trường hợp 1: Huynh là công dân có quốc tịch Trung Quốc, có hành vi phạm tội giết người (theo khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự) trên lãnh thổ Việt Nam và không thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế. Vậy, theo nguyên tắc lãnh thổ, luật hình sự của mỗi quốc gia có hiệu lực đối với tất cả các tội phạm xảy ra trên lãnh thổ của mình, nên Huynh phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự). • Trường hợp 2 : Huynh là công dân có quốc tịch Trung Quốc, có hành vi phạm tội giết người (theo khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự) trên lãnh thổ Việt Nam nhưng Huynh thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế thì vấn đề trách nhiệm hình sự của Huynh sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao (khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự). Huynh có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, nhưng có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Trung Quốc. Tuy nhiên, Huynh vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao Nhà nước Trung Quốc và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. KẾT LUẬN Qua vụ án nêu trên, việc xác định khung hình phạt trong trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm là một vấn đề phức tạp. Việc phân biệt các tình tiết định tội, định khung hình phạt đối với các trường hợp phạm tội cụ thể, để từ đó có cơ sỏ kết luận người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì phạm tội gì và theo khung hình phạt nào của Bộ Luật Hình sự là vấn đề vô cùng quan trọng. Với một vụ án cụ thể thì việc hiểu rõ luật, áp dụng đúng quy định của luật là một điều hết sức cần thiết để từ đó, ta có thể định tội danh và đưa ra khung hình phạt phù hợp với kẻ phạm tội. Điều này cũng sẽ giúp tránh khỏi những sai sót không đáng có trong thực tiễn xét xử.
Xem thêm

Đọc thêm

Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lý do chính đáng

Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lý do chính đáng

Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lí do chính đáng Bài tập cá nhân Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Chuyên mục Bài tập cá nhân, Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lí do chính đáng Khẳng định trên là sai , Vì : Cơ sở pháp lí : Theo Điểm c Khoản 1 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 : “Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại” Giải thích: Theo Điểm c Khoản 1 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, thì người đã khiếu nại có quyền rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào nào của quá trình giải quyết khiếu nại và cũng không quy định thêm điều kiện để được rút khiếu nại. Như vậy ta có thể hiểu rằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã không đặt ra điều kiện, giới hạn nào cho việc rút khiếu nại. Nên dù nếu không có lí do chính đáng người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự vẫn có quyền được rút khiếu nại của mình. Vậy nên khẳng định trên là sai. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định như vậy là vì khiếu nại trong tố tụng hình sự là quyền quyền của Công dân, cơ quan, tổ chức (Điều 31), nên việc khiếu nại quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phải là nghĩa vụ bắt buộc. Vậy nên việc rút khiếu nại cũng phải là quyền của Người có quyền khiếu nại vì vậy không thể hạn chế việc rút khiếu nại bằng các điều kiện mà cụ thể như việc phải có lí do chính đáng. Mặt khác, các nhà làm luật đã lường trước được đến những trường hợp như: người khiếu nại không muốn tiếp tục khiếu nại do không còn hoặc không đủ căn cứ để tiếp tục khiếu nại,người bị khiếu nại đã tự mình khắc phục các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật hoặc đã có sự hòa giải thành giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại…
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp Bài tập học kỳ Luật Tố tụng Hình sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Hình sự Bắt người là một biện pháp ngăn chặn quan trọng trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam góp phần đảm bảo cho hoạt động tố tụng có thể diễn ra bình thường và đạt được hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, bắt người cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, do đó mà khi tiến hành bắt người phải tuân thủ chặt chẽ và nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm đảm bảo những quyền và lợi ích chính đáng của công dân được tôn trọng và đảm bảo. Nhằm có thêm những hiểu biết cho bản thân cũng như làm rõ những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp bắt người, em xin chọn đề tài số 15 làm đề tài nghiên cứu cho bài tập học kì: “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp”. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Bắt người trong khoa học Luật Tố tụng hình sự: 1. Khái niệm. “Bắt” theo giải thích của từ điển tiếng Việt thì được hiểu là: “nắm lấy, giữ lại, không cho hoạt động tự do, khiến phải làm gì hoặc không cho phép làm điều gì” và đồng nghĩa với các từ: “Buộc, ép”footnoteRef:1. Như vậy hiểu theo nghĩa của từ “bắt” thì bắt người là việc giữ một người lại, không cho người đó hoạt động tự do. Ép, buộc, cưỡng chế họ phải làm những việc nhất định theo ý của người khác. 1: http:tratu.soha.vndictvn_vnB%E1%BA%AFt Bộ luật TTHS không đưa ra định nghĩa về biện pháp ngăn chặn bắt người. Tuy nhiên, trong khoa học luật TTHS, biện pháp ngăn chặn bắt người được hiểu như sau: Bắt người trong TTHS là biện pháp ngăn chặn do những người có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.footnoteRef:2 2: Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam – Vũ Gia Lâm Luận văn thạc sĩ luật học – năm 2000 2. Mục đích của biện pháp ngăn chặn bắt người. Bắt người thường là biện pháp ngăn chặn đi liền trước hoặc là tiền đề cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Với tính chất của một biện pháp ngăn chặn, việc bắt người trong TTHS luôn gắn với mục đích nhất định. Thứ nhất: Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm. Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để tội phạm xảy ra hoặc hoàn thành hay không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm rất cần thiết và cấp báchfootnoteRef:3. Đây cũng là một trong những mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người như bắt người trong trường hợp khẩn cấp (điểm a khoản 1 Điều 81 Bộ luật TTHS) hay bắt người phạm tội quả tang (khoản 1 Điều 82 Bộ luật TTHS). 3: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB. Tư pháp – năm 2006 Thứ hai: Ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử. Sự có mặt của bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng là rất cần thiết. Nếu họ trốn tránh hoặc có hành vi xoá dấu vết, tiêu hủy vật chứng, chứng cứ, tẩu tán tang vật của vụ án ... sẽ làm cho việc giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn, kéo dài, thậm chí bế tắc, vụ án không giải quyết được. Vì vậy, việc bắt người sẽ đảm bảo sự thuận lợi, khách quan trong quá trình thu thập chứng cứ của vụ án, loại trừ những khó khăn mà họ có thể gây ra.footnoteRef:4 4: Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam – Vũ Gia Lâm Luận văn thạc sĩ luật học – năm 2000 Thứ ba: Ngăn chặn không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội. Để tránh áp dụng biện pháp bắt người tràn lan, không cần thiết, BLTTHS quy định không phải bất kỳ bị can, bị cáo nào cũng có thể bị bắt để tạm giam. Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội chỉ được áp dụng với những người đã bị Toà án khởi tố về hình sự hoặc đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được xác định trên phương diện nhân thân hay hành vi của bị can, bị cáo. Thứ tư: Ngăn chặn hành vi gây khó khăn, cản trở việc thi hành án. Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự. Việc tạo những điều kiện để đảm bảo cho hoạt động thi hành án đạt hiệu quả không chỉ cần thiết khi kết thúc hoạt động xét xử tại phiên toà mà còn phải được thực hiện ngay từ thời điểm vụ án chưa xét xử và có thể được thực hiện bằng biện pháp ngăn chặn bắt người. 3. Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt người. Quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong TTHS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm: Là điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền khác đạt hiệu quả, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra trong các giai đoạn tố tụng một cách chính xác, nhanh chóng. Bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ trong pháp luật, thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định. Điều này thể hiện ở chỗ việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp bắt người không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của cơ quan Nhà nước mà xuất phát từ pháp luật và sự đòi hỏi của thực tiễn.footnoteRef:5 5: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB. Tư pháp – năm 2006 Những quy định cụ thể về thẩm quyền, căn cứ, thủ tục bắt có ý nghĩa là cơ sở pháp lý để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật khi áp dụng biện pháp. II. Quy định của BLLTHS 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khần cấp: Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định các trường hợp bắt người sau: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80); Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81); Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82). Với yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc bắt người cần phải được tiến hành kiên quyết, kịp thời. Tuy nhiên, không thể vì bất cứ một lý do gì mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn tràn lan, sai tính chất, sai đối tượng, không đảm bảo các yêu cầu của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân. Do đó, những quy định về bắt người thường được ghi nhận rất rõ, đầy đủ về căn cứ, các trường hợp áp dụng, về thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Để thấy rõ được điều đó, chúng ta đi sâu phân tích cụ thể trường hợp bắt người trong tố tụng hình sự, đó là: bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự có thể hiểu: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là trường hợp bắt người chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hoặc bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm hoặc bắt người mà qua điều tra thấy có dấu vết tội phạm ở người hoặc chỗ ở của họ. Đây là trường hợp bắt có tính chất cấp bách, nếu không thực hiện sẽ không thể kịp thời ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, không chặn đứng được hành vi trốn tránh, gây khó khăn, cản trở việc điều tra.footnoteRef:6 6: Nguyễn Hồng Ly, Biện pháp ngăn chặn bắt người và thực tiễn áp dụng của cơ quan cảnh sát điều tra, viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2011 1. Đối tượng áp dụng. Đối tượng áp dụng của bắt người trong trường hợp khẩn cấp là người chưa bị khởi tố về hình sự. Nhưng bên cạnh đó không loại trừ cả người đã bị khởi tố hay đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử với tư cách là bị can, bị cáo của vụ án khác nếu hành vi của họ thuộc một trong ba trường hợp mà Khoản 1 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự quy định làm căn cứ để bắt khẩn cấp. 2. Các trường hợp bắt khẩn cấp. Khoản 1 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ ba trường hợp bắt khẩn cấp: Thứ nhất, khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện: + Có căn cứ khẳng định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm, tức là người đó có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội xảy ra hoặc có thể xảy ra được thuận lợi, dễ dàng như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm. + Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, tức là tội phạm gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Do vậy chỉ khi nào có căn cứ khẳng định hành vi chuẩn bị thực hiện một tội phạm là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì mới bắt khẩn cấp. Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp này là để ngăn ngừa không cho tội phạm rất nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng đang được chuẩn bị, có khả năng gây nguy hại cho mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Thứ hai, khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thầy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Trong trường hợp này, việc bắt người cũng cần đáp ứng hai điều kiện: + Phải có người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng người đã thực hiện tội phạm. Như vậy, theo quy định của luật hiện hành, trường hợp một người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng lại không tận mắt chứng kiến hành vi phạm tội hoặc không có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng được người khác trực tiếp chứng kiến mô tả lại, kể lại cũng không được coi là căn cứ bắt khẩn cấp. Hoặc trường hợp người đó không tận mắt chứng kiến, mà chỉ nhận biết tội phạm bằng giọng nói, ví dụ như do trời tối, không quan sát được… cũng không đủ điều kiện để bắt khẩn cấp trong trường hợp này. + Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, tức là người đã thực hiện hành vi phạm tội đang có hành động trốn hoặc chuẩn bị trốn hoặc xét thấy có những khả năng để cho rằng người đó có thể trốn, khó có thể triệu tập khi cần thiết như: không có nơi cư trú rõ ràng, đối tượng lưu manh, côn đồ, chưa xác định được nhân thân… Việc xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn tùy thuộc vào sự đánh giá của cơ quan, người có thẩm quyền vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, thông qua hành vi thực tế của người phạm tội như đang chuẩn bị trốn hoặc người thực hiện hành vi phạm tội không có nơi cư trú rõ ràng, là đối tượng có nhân thân xấu, nhiều tiền án, tiền sự, lý lịch không rõ ràng… Thứ ba, khi có dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần thiết ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Việc bắt khẩn cấp trong trường hợp này cũng cần đáp ứng đủ hai điều kiện: + Phải tìm thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm. Trong trường hợp này, cơ quan, người có thẩm quyền có những tài liệu, chứng cứ nghi một người thực hiện tội phạm và qua quá trình điều tra đã phát hiện những vật, những tài liệu có liên quan đến tội phạm hoặc những dấu vết khác do tội phạm để lại. Việc phát hiện thấy dấu vết này chính là sự khẳng định nghi ngờ của cơ quan, người có thẩm quyền là chính xác. + Xét thấy cần ngăn chặn việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ, ví dụ như cất giấu công cụ phương tiện phạm tội, xóa bỏ giấu vết tội phạm… Để nhận định đúng việc người đó có thể trốn theo quy định tại các điểm trên, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ và đánh giá một cách toàn diện về các mặt, như nhân thân người bị bắt (có tiền án, tiền sự, lang thang, không nơi cư trú rõ ràng…), tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và loại tội phạm được thực hiện mà thực tiễn cho thấy người phạm tội thường trốn, như tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội giết người, mua bán trái phép chất ma túy… (Điểm 3.1 Thông tư liên tịch số 052005TTLTVKSTCBCABQP ngày 0792005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003). 3. Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Theo khoản 2 Điều 81 BLTTHS, những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị bộ đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng; 4. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng được tiến hành như trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Nghĩa là việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh bắt. Người thi hành lệnh bắt phải đọc, giải thích lệnh và phải lập biên bản về việc bắt. Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng chứng kiến. Với tính chất và đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp là rất cấp bách nên BLTTHS đã quy định việc bắt người trong trường hợp này không cần có sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho tính chính xác và tránh lạm dụng bắt khẩn cấp, BLTTHS quy định, trong mọi trường hợp việc bắt khẩn cấp phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản và kèm theo tài liệu liên quan để xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Theo quy định tại Điểm 3.3 Thông tư liên tịch số 052005TTLTVKSTCBCABQP ngày 0792005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rõ: Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp gồm tài liệu sau: Công văn đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; lệnh bắt khẩn cấp (trong đó phải ghi rõ bắt khẩn cấp trong trường hợp nào theo quy định tại Khoản 1Điều 81); biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp; tin báo, tố giác về tội phạm; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc quyết định bắt khẩn cấp đối với từng trường hợp; tài liệu về nhân thân người bị bắt; lời khai của người bị bắt (nếu có); bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra. Trong trường hợp có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ của việc bắt khẩn cấp, hoặc còn thấy băn khoăn trong việc quyết định phê chuẩn như lý do bắt khẩn cấp không rõ ràng, người bị bắt không nhận tội, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo… thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành việc hỏi người bị bắt để làm rõ những điểm nghi ngờ và củng cố căn cứ mà Cơ quan điều tra đã dựa vào đó để ra lệnh bắt khẩn cấp, từ đó quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Khi cần gặp hỏi người bị bắt thì Kiểm sát viên phải thông báo trước để Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ hoặc để phối hợp trong quá trình gặp, hỏi người bị bắt. Biên bản ghi lời khai của người bị bắt do Kiểm sát viên lập phải được chuyển cho Cơ quan điều tra để đưa vào hồ sơ vụ án. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt. Trong mọi trường hợp, thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của Viện kiểm sát chỉ trong 12h kể từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ đề nghị phê chuẩn. Việc bắt khẩn cấp được tiến hành vào bất kỳ lúc nào, không kể ban ngày hay ban đêm. III. Thực tiễn áp dụng và phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong TTHS: Từ những phân tích trên có thể thấy pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ và chi tiết về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên bên cạnh đó, các quy định pháp luật còn bộc lộ tính thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, gây khó khăn cho quá trình áp dụng trong thực tiễn. 1. Thực tiễn áp dụng. Từ khi Bộ luật TTHS đầu tiên ra đời và hiện nay, Bộ luật TTHS 2003 đã phát huy được vai trò to lớn trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Các quy định về bắt người trong Bộ luật TTHS đã tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả đồng thời góp phần bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên trải qua gần 10 năm thi hành, một số quy định của Bộ luật TTHS 2003 về bắt người đã bộc lộ những hạn chế bất cập nhất định, cũng như thực tế áp dụng cũng phát sinh một số vấn đề cần phải sớm khắc phục, hoàn thiện. Cụ thể bao gồm một số vấn đề sau: Vẫn còn xảy ra tình trạng bắt người trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thẩm quyền, thủ tục mà Bộ luật TTHS đã quy định: Việc bắt người, tạm giam, tạm giữ oan sai chưa phải là hiện tượng phổ biến tuy nhiên nhưng đã xảy ra tại nhiều địa phương, gây nên sự bất bình trong nhân dân, có trường hợp cơ quan cấp dưới giữ người nhưng không báo cáo cơ quan có thẩm quyền, xử lý vụ việc tùy tiện, xâm hại nghiêm trọng đến quyền tự do, quyền được bảo hộ về danh dự, nhân phẩm của con người. Ví dụ, một vụ việc vừa qua vào ngày 2182011 công an Quận Hoàn Kiếm đã tiến hành bắt giữ gần 50 người biểu tình chống Trung Quốc ngày 2182011, đặc biệt đối với 6 người bị bắt giữ trong 5 ngày, công an Quận Hoàn Kiếm đã vi phạm hàng loạt điều khoản của Luật Tố tụng hình sự như: điều 79, 83, 84, 85, 86, cụ thể, các trình tự, thủ tục khi tạm giữ như: không có cơ sở để bắt giữ, không có lệnh bắt, không có biên bản giữa người bị tạm giữ với cơ quan tạm giữ, không thông báo cho người thân của người bị tạm giữ, việc bắt giữ không có người chứng kiến, không giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ.... Sau đó 2582011 Viện trưởng VKSND quận Hoàn Kiếm ký quyết định hủy bỏ việc tạm giữ đối với gần 50 người trên. Số lượng những trường hợp bị bắt oan sai ngày càng có xu hướng tăng lên: “Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong năm 2008 toàn quốc có 17.791 người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 93 trường hợp. Trong năm 2009 toàn quốc có 16.347 người; viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 44 trường hợp. Đặc biệt trong năm 2009 vẫn còn 405 trường hợp bắt khẩn cấp phải trả tự do. Những trường hợp viện kiểm sát không phê chuẩn đều đã được trả tự dofootnoteRef:7. 7: Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Thị Minh Sơn, Bảo đảm quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tạp chí luật học số 032011. Một số quy định của Luật TTHS về bắt người trong trường hợp khẩn cấp còn chưa hoàn thiện. Đối với việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, quy định tại Điều 81 BLTTHS về các trường hợp bắt cơ bản là phù hợp với thực tiễn, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn xảy ra oan hoặc sai nên vẫn còn những trường hợp VKS không phê chuẩn. Một trong những nguyên nhân xảy ra bắt oan hoặc sai là do không hiểu đúng đắn về quy định của pháp luật và vận dụng không đúng luật. Chẳng hạn, không hiểu đúng như thế nào là hành vi đang chuẩn bị thực hiện tội phạm, không đảm bảo đầy đủ các điều kiện bắt trong từng trường hợp quy định tại Điều 81 BLTTHS đã ra lệnh bắt. Cụ thể: Thứ nhất, pháp luật hiện hành không quy định “căn cứ” (điểm a khoản 1 Điều 81) để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cụ thể là những căn cứ nào? Việc xác định tội phạm mà người đó đang chuẩn bị thực hiện có phải là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay không để có căn cứ bắt khẩn cấp là một việc rất khó khăn. Trong Bộ luật hình sự có những tội luôn là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, khi có căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện tội này thì việc xác định đó có phải là tội rất nghiêm trọng hay không để quyết định áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp là một điều đơn giản (Ví dụ: Tội giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự). Nhưng đối với những tội phạm mà cấu thành cơ bản của tội đó là tội nghiêm trọng, còn cấu thành tăng nặng của tội đó lại là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và một trong các tình tiết định khung tăng nặng này là căn cứ vào hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì khi quá trình thực hiện tội phạm mới ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, chưa gây ra hậu quả và người chưa thực hiện tội phạm chưa thực hiện các hành vi được quy định ở tình tiết định khung tăng nặng thì không thể xác định được người đó đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để tiến hành bắt khẩn cấp đối với họ. Do vậy việc không thống nhất trong việc giải thích và áp dụng trong thực tế là không tránh khỏi. Thứ hai, bắt khẩn cấp trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81 sử dụng thuật ngữ “người bị hại” là chưa đúng về hình thức vì chỉ khi vụ án đã được khởi tố, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận thì họ mới trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Thứ ba, quy định về trường hợp bắt khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS và khoản 2 Điều 303 BLTTHS là không thống nhất nhau đồng thời không thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước. Cụ thể, căn cứ áp dụng bắt khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 81 chỉ đặt ra đối với người đã thành niên khi họ chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng còn trong khoản 2 Điều 303 không chỉ áp dụng cho người chưa thành niên (từ 16 đến 18 tuổi) chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà ngay cả người đó chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng do cố ý cũng đã bị bắt khẩn cấp. Trong khi đó Điều 17 BLHS quy định chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Thứ tư, khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, trong đó có người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định về nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 BLTTHS, nhưng ở trên tàu bay, tàu biển thì không thể có đủ thành phần chứng kiến như khoản 2 Điều 80 BLTTHS quy định. Khoản 4 Điều 81 BLTTHS quy định thẩm quyền xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là VKS cùng cấp, nhưng đối với lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển thì VKS cùng cấp là VKS nào cũng không được quy định rõ trong luật. 2. Phương hướng và các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên thực tiễn. Cần sớm hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS quy định về bắt người. Từ những tồn tại đã phân tích trong phần thực trạng áp dụng, em xin đề xuất một số ý kiến sau: Thứ nhất, đối với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 81, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về những “căn cứ” để xác định người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội đủ căn cứ bắt khẩn cấp. Theo quan điểm của em, có thể hướng dẫn cụ thể căn cứ do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác minh thông qua theo dõi đối tượng và các biện pháp nghiệp vụ, qua kiểm tra xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp… Thứ hai, điều luật nên sửa đổi thuật ngữ “người bị thiệt hại do tội phạm gây ra” thay từ “người bị hại” trong trường hợp bắt khẩn cấp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81. Thứ ba, về quy định bắt khẩn cấp đối với người chưa thành niên: cần sửa đổi điều luật theo hướng quy định áp dụng việc bắt khẩn cấp đối với người chưa thành niên khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng để phù hợp với quy định tại Điều 81 BLTTHS và Điều 17 BLHS. Bổ sung vào Điều 303 BLTTHS một khoản (khoản 1) với nội dung sau: “Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên chỉ được áp dụng như một biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Thứ tư, đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại Điều 81 Bộ luật TTHS phải chú ý đến một số nội dung nhằm đảm bảo tính khả thi khi áp dụng trên thực tế, cụ thể như sau: Tại điểm c khoản 2 Điều 81 quy định Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp. Quy định này là cần thiết và phù hợp với yêu cầu của bắt khẩn cấp. Tuy nhiên việc bắt người trong trường hợp này phải tuân theo thủ tục được quy định tại khoản 3 Điều 81: Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này. Khoản 2 Điều 80 quy định việc bắt người phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc bị bắt và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Như vậy đối với trường hợp bắt khẩn cấp trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng sẽ không đáp ứng được điều kiện về người chứng kiến khi bắt người. Do vậy trong trường hợp nay về thủ tục bắt người là sai quy định của pháp luật. Đồng thời việc phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của Viện kiểm sát sau khi bắt trong trường hợp này sẽ là Viện kiểm sát nơi nào? Do đó Bộ luật TTHS cần quy định rõ hơn về trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển ra lệnh bắt khẩn cấp như sau: Khoản 3 Điều 81 cần sửa thành: “Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này. Trường hợp thi hành lệnh bắt của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng thì cần 2 hành khách đi cùng hoặc nhân viên trên chuyến tàu bay, tàu biển đó chứng kiến việc bắt. Khoản 4 Điều 81 Bộ luật TTHS cần bổ sung thêm: Lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển do Viện kiểm sát nơi tàu bay, tàu biển đó hạ cánh, cập bến phê chuẩn. Cần chú trọng công tác đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ không chỉ với những người tiến hành tố tụng mà một số cán bộ công chức cấp xã cũng cần phải được đào tạo và nâng cao nghiệp vụ, đặc biệt là lực lượng công an xã. Việc đào tạo về chuyên môn ở đây không chỉ chú trọng đến những quy định của Bộ luật TTHS mà còn phải chú trọng đến những quy định của Bộ luật Hình sự. Việc đào tạo chuyên môn cho cán bộ công chức cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS nói chung và chế định bắt người nói riêng. Một người không được đào tạo về chuyên môn thì khó có thể xác định được đâu là hành vi chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng, hay đặc biệt nghiêm trọng để có thể xác định căn cứ bắt khẩn cấp. Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với những người tiến hành tố tụng cố ý làm trái các quy định của Bộ luật TTHS về bắt người. Việc bắt người là biện pháp ngăn chặn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt. Việc bắt người không đúng quy định của pháp luật sẽ gây tác hại nhiều mặt như xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của nhà nước và của các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận, làm cơ sở cho các thế lực thù địch chống phá nhà nước, nói xấu chế độ. Ví dụ như vụ bắt người biểu tình trước đại sứ quán Trung Quốc ngày 21082011 vi phạm hàng loạt các quy định của luật TTHS đã tạo cơ sở cho các trang web, các báo phản động có cơ sở phê phán và bôi nhọ nhà nước ta. Do đó việc bắt người cần phải được quyết định kĩ càng. Đồng thời, đối với những hành vi bắt người có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cần phải chấn chỉnh kịp thời, những hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì Viện kiểm sát, Thủ trưởng cơ quan điều tra cần phải nâng cao vai trò và trách nhiệm của mình để mọi hành vi vi phạm pháp luật về bắt người đều phải được xử lý. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Trên đây là những vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp và việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện những quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã khắc phục được một số khó khăn, vướng mắc do quy định trước đây của Bộ luật tố tụng hình sự 1988 nhưng trên thực tế cũng đã có những vấn đề mới nảy sinh. Vì vậy, việc liên tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật để luôn đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn là việc làm hết sức cần thiết.
Xem thêm

Đọc thêm

so sánh bộ luật tố tụng hình sự 2003 và 2015

so sánh bộ luật tố tụng hình sự 2003 và 2015

so sánh luật tố tụng hình sự 2003 và 2015, quyền con người trong các quy định mới của pháp luật Mở rộng việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi lích hợp pháp của cá nhân thay vì chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hơn nữa quy định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền THTT một cách bao quát hơn thay vì liệt kê tất cả các cơ quan, người có thẩm quyền nàyĐiều 5. Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luậtTố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luậtTTHS được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.Không giới hạn đối tựơng được hưởng quyền bình đẳng trước pháp luật như BLTTHS 2003 đã nêu mà mở rộng quyền bình đẳng của con người, bình đẳng của pháp nhânĐảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền con người , quyền bình đẳng Thay cụm từ “nam nữ” bằng ‘’giới tính ‘’ vì theo xu thế thế giới , pháp luật Việt Nam không thừa nhận cũng không phủ nhận giới tính thứ 3
Xem thêm

Đọc thêm

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAn

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAn

Phần 1. MỞ ĐẦU 1.1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ ÁN Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn cơ quan cấu thành nên bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chế định về Viện kiểm sát nhân dân là một đặc điểm riêng có của kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo sáng kiến vĩ đại của V.I Lênin. Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước, thời gian qua Ngành Kiểm sát đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ khi ra đời ngày 2671960 đến năm 2001, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố. Từ năm 2002 đến nay, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân đó là: “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Chức năng này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Từ khi ra đời đến nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã phát huy được vị trí, vai trò và thực hiện tốt chức năng của mình, góp phần vào công cuộc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, duy trì và ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hội nhập khu vực và quốc tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội theo cơ chế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, kéo theo đó là tình hình tội phạm gia tăng ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đứng trước những đòi hỏi và yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, việc nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đó có Viện kiểm sát nhân dân là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện ở nhiều Nghị quyết của Đảng trong thời gian qua, cụ thể: Chỉ thị số 53CT ngày 2132000; Nghị quyết số 08NQTW ngày 02012002, Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 và Kết luận số 92KLTW ngày 1232014 của Bộ Chính trị. Với mục tiêu không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Nghị quyết số 08NQTW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh: Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…việc phán quyết của Hội đồng xét xử phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo để banh hành những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định 4. Thực tiễn đã chứng minh, trong thời gian qua ngành Kiểm sát trong đó có Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự. Qua đó góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền tự do dân chủ của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Ngành Kiểm sát vẫn còn những hạn chế nhất định, phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Một số nguyên nhân chính có thể nêu ra đó là: Chính sách hình sự, các quy định về tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi bổ sung; Việc chuẩn bị hồ sơ tài liệu, luận tội, đề cương xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa còn chưa được chú trọng; hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng trong vụ án còn hạn chế. Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với một người để đưa ra Tòa xét xử phải đảm bảo các điều kiện theo luật định, phải đảm bảo tính có căn cứ, đảm bảo đúng quy định của pháp luật (pháp luật hình sự và tố tụng hình sự). Nếu như điều tra thiếu chứng cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng, không chính xác, không được thu thập một cách hợp pháp hoặc với con người cụ thể và hành vi cụ thể của họ không cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì không thể bị truy tố xét xử. Trong quá trình tố tụng đối với một vụ án hình sự thì mỗi giai đoạn giữ vị trí, vai trò quan trọng khác nhau. Ví dụ để xét xử đúng người, đúng tội thì trước hết việc điều tra phải đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc điều tra theo pháp luật mới chỉ là một giai đoạn đầu, việc có kết tội bị cáo hay không phải được tiến hành tại phiên tòa. Kết quả điều tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ, là cơ sở để kết tội bị cáo. Do vậy, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên là rất quan trọng, đây là khâu quyết định của hoạt động tố tụng để Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ban hành bản án, quyết định đúng pháp luật. Từ những lý do nêu trên, học viên chọn và thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm đề án tốt nghiệp là vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN Trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời nghiên cứu thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ năm 2011 đến hết năm 2015, qua đó đề ra giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn hiện nay. 1.3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề án thực hiện các nhiệm vụ sau: Phân tích, làm rõ các khái niệm, những yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. 1.4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ ÁN Đối tượng: Đề án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tố, thực hành quyền công tố, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; thực trạng, một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Phạm vi: Đề án tập trung nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Về không gian: Đề án tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian là cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Về thời gian: Đề án nghiên cứu về mặt thực tế chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; đồng thời đưa ra các giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021. Phần 2. NỘI DUNG 2.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 2.1.1. Căn cứ khoa học, lý luận của đề án Khái niệm quyền công tố
Xem thêm

Đọc thêm

Quyền và nghĩa vụ của người bị bại theo luật tố tụng hình sự và phương hướng thoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người bị bại theo luật tố tụng hình sự và phương hướng thoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người bị hại theo Luật Tố tụng Hình sự và phương hướng hoàn thiện Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Hình sự Bài tập học kỳ Luật Tố tụng Hình sự có đáp án. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và người bị hại nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong định hướng cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) ở nước ta hiện nay. Bởi lẽ người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng nề nhất, là người chịu thiệt thòi nhiều nhất trong số những người tham gia tố tụng. Vì vậy, người bị hại cần phải được bảo vệ kịp thời, thậm chí ngay khi họ bị đe dọa gây thiệt hại. Một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người bị hại đó là pháp luật TTHS. Thực tế cho thấy, vì nhiều lý do khác nhau mà quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại chưa được bảo vệ tốt và kịp thời; trong quá trình giải quyết vụ án hình sự dường như cơ quan có thẩm quyền chưa xem người bị hại như một bên của quá trình tố tụng để có sự quan tâm cần thiết. Thực tế trên đây bắt nguồn từ vấn đề nhận thức thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại, người bị hại xuất hiện từ thời điểm nào? Họ cần được bảo vệ như thế nào, quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng đối với người bị hại ra sao... vẫn chưa có sự nhận thức và hành động thống nhất, dẫn đến nhiều quy định pháp luật đặc biệt là pháp luật TTHS đang còn bỏ ngỏ hoặc có quy định nhưng chưa đủ những phương tiện cần thiết để bảo vệ cho người bị hại. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ đề cập đến các khía cạnh nêu trên của vấn đề người bị hại. 1. Về khái niệm người bị hại Pháp luật TTHS của các nước không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Việt nam dùng thuật ngữ “người bị hại”, trong khi đó luật TTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật ngữ “người tố cáo”. Ngoài ra người bị hại còn được gọi là “người bị thiệt hại”, hay gọi là “nạn nhân”, hay “dân sự nguyên cáo”. Chúng tôi cho rằng sử dụng thuật ngữ như thế nào phải thể hiện được bản chất, nội dung, các điều kiện và sự chặt chẽ của thuật ngữ, vì vậy theo chúng tôi sử dụng thuật ngữ người bị hại là phù hợp hơn cả. Vấn đề đặt ra là thế nào là người bị hại? Người bị hại là một khái niệm quen thuộc trong khoa học pháp lý về TTHS, dường như không cần phải luận bàn. Tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại...thì cho đến nay vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất, các ý kiến còn khác nhau. Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại theo chúng tôi cần tiếp cận khái niệm này dưới những góc độ khác nhau: Dưới góc độ ngôn ngữ có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất nhiên sự tác động đó là trái với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động. Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại. Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý thì người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”.1 Dưới góc độ pháp luật thực định: Điều 51 Bộ luật TTHS Việt Nam quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Pháp luật một số nước cũng có quy định tương tự. Chẳng hạn, Điều 53 Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về tinh thần, thể chất hoặc tài sản. Người tiến hành điều tra, dự thẩm viên, thẩm phán, tòa án ra quyết định công nhận là người bị hại”. Còn khoản 1 Điều 43 Bộ luật TTHS của Tiệp khắc trước đây quy định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác”. Bộ luật TTHS Rumani cũng có quy định tương tự. Điều đó cho thấy pháp luật các nước có sự thống nhất trong định nghĩa người bị hại: Người bị hại là con người cụ thể; thiệt hại gây ra đó là tinh thần, thể chất, tài sản hoặc những thiệt hại khác; những thiệt hại đó do tội phạm gây ra. Tuy nhiên những quy định trên chưa làm rõ những vấn đề quan trọng như: thiệt hại do tội phạm gây ra có bao hàm những thiệt hại gián tiếp? Thiệt hại đó có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội? Thiệt hại đó có phải do bất kỳ tội phạm nào gây ra? Và có xem là người bị hại không trong trường hợp hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại gì cho người đó? Về vấn đề này có ý kiến cho rằng: trong trường hợp phạm tội chưa đạt, tức là chưa gây thiệt hại gì thì không thể công nhận một cá nhân, tổ chức là người bị hại.2 Trong khi đó ý kiến khác lại cho rằng không chỉ khi tội phạm đã hoàn thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây ra thiệt hại gì do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của kẻ phạm tội, người có nguy cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị hại.3 Về vấn đề này chúng tôi cho rằng cần căn cứ vào các loại cấu thành tội phạm cũng như tính chất của sự thiệt hại để xác định người bị hại. Trong khoa học luật hình sự, tội phạm có hai loại cấu thành cơ bản, đó là tội phạm có cấu thành vật chất và tội phạm có cấu thành hình thức. Đối với các loại tội phạm có cấu thành vật chất bắt buộc phải có hậu quả xảy ra và hậu quả đó thường là thiệt hại về thể chất và vật chất. Trong trường hợp này sự thiệt hại gây ra cho người bị hại phải là những thiệt hại cụ thể, thiệt hại đó phải có tính hiện tại và xác định; sự thiệt hại không thể không cụ thể, chưa xác định, hoặc có tính chất mơ hồ, chưa hoặc sắp xảy ra. Sự thiệt hại đó phải là thiệt hại trực tiếp do chính tội phạm gây ra, thiệt hại đó phải có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội. Điều cơ bản khi xác định thiệt hại của người bị hại đó là sự thiệt hại do một tội phạm được Luật hình sự quy định, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người bị thiệt hại, các quyền đó được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, sự thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu không phải có nguồn gốc từ hành vi không phù hợp pháp luật của người bị thiệt hại. Điều này cũng đồng nghĩa với việc không chấp nhận quan điểm cho rằng thiệt hại do tội phạm gây ra cũng có thể là thiệt hại gián tiếp, thiệt hại đó có thể không có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội. Đối với các tội có cấu thành hình thức thì thiệt hại gây ra cho người bị hại thường là thiệt hại về tinh thần, vì vậy thiệt hại đó có thể không cụ thể, khó có thể định lượng được. Vì vậy chúng tôi đồng tình với ý kiến cho rằng không chỉ trong trường hợp tội phạm đã hoàn thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây ra thiệt hại gì do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của kẻ phạm tội, người có nguy cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị hại, người bị hại phải được coi là bất kỳ người nào khi mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ là khách thể của tội phạm cho dù tội phạm đó chưa hoàn thành do những nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của họ. Để hiểu rõ hơn khái niệm người bị hại, cần phân biệt với một số khái niệm đồng nghĩa hoặc giáp ranh như: người bị hại với nạn nhân, người bị hại với đối tượng tác động của tội phạm. Theo chúng tôi đây là những khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất với nhau. Thứ nhất: Nạn nhân có phải là người bị hại không? Trả lời câu hỏi này có quan điểm cho rằng người bị hại chính là nạn nhân của tội phạm. Theo chúng tôi điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nội dung khái niệm người bị hại có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm nạn nhân của tội phạm. Như đã biết, hành vi phạm tội luôn gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Để gây ra những thiệt hại cho những quan hệ này, hành vi phạm tội đã tác động gây thiệt hại cho một số cá nhân, tổ chức. Trong khi đó “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, gây ra những thiệt hại về thể chất, về tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác”.4 Như vậy, nạn nhân của tội phạm ngoài cá nhân còn có thể là tổ chức, pháp nhân; thiệt hại của nạn nhân không chỉ về thể chất, về tinh thần, về tài sản mà còn có thể bao hàm những thiệt hại về các quyền và các lợi ích hợp pháp khác, thiệt hại đó có thể bao gồm cả những thiệt hại gián tiếp; hơn nữa nạn nhân chỉ khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS mới được xem là người bị hại. Thứ hai: Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại. Đối tượng tác động của tội phạm không chỉ là con người mà còn bao gồm các đối tượng vật chất khác và các hoạt động bình thường của chủ thể. Trong khi đó con người – nạn nhân bị tội phạm xâm phạm về thể chất, tinh thần và các quyền tự do dân chủ, họ chính là một trong số các đối tượng tác động của tội phạm. Như vậy có thể khẳng định rằng khái niệm người bị hại, nạn nhân, đối tượng tác động của tội phạm mặc dù có những điểm tương đồng, chồng lấn... nhưng về bản chất, đặc trưng của chúng là hoàn toàn khác nhau. Vấn đề cần được đặt ra để luận bàn đó là: Trong trường hợp tổ chức hoặc pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì họ có phải là người bị hại không? Vấn đề này theo quan sát của chúng tôi đã được đưa ra tranh luận ở các diễn đàn khác nhau và đã có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập đến vấn đề này. Khái quát lại có hai loại ý kiến sau đây: Loại ý kiến thứ nhất cho rằng người bị hại chỉ có thể là thể nhân, một con người cụ thể; tổ chức hoặc pháp nhân không thể là người bị hại. Bởi lẽ khái niệm “người” ở đây là đề cập đến con người cụ thể. Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần... do hành vi phạm tội gây ra, mà thể chất và tinh thần thì chỉ có và gắn liền với con người, một thể nhân cụ thể, thiệt hại này không thể xảy ra đối với pháp nhân hay tổ chức. Đi xa hơn, ý kiến này còn cho rằng thiệt hại do tội phạm gây ra có thể gây ra những mất mát, đau đớn về tinh thần, thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản cho người thân của người bị hại nhưng cũng không thể xem người thân đó là người bị hại. Tham khảo quy định trong Bộ luật TTHS của các quốc gia như đã viện dẫn trên cho thấy các quốc gia này đều quan niệm người bị hại trong vụ án hình sự chỉ có thể là con người cụ thể chứ không phải một pháp nhân, một cơ quan nhà nước hay một tổ chức xã hội, cho dù thiệt hại gây ra là thiệt hại trực tiếp, và đây cũng là quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam thể hiện rõ trong Điều 51 Bộ luật TTHS Việt Nam. Loại ý kiến thứ hai cho rằng: ngoài cá nhân là người bị hại, trong trường hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem tổ chức hoặc pháp nhân đó là người bị hại. Cần phải quan niệm khái niệm người bị hại theo nghĩa rộng của từ này. Lập luận cho luận điểm của mình, những người theo quan điểm này cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây ra thiệt hại cho cá nhân, hành vi phạm tội trong thực tế còn nhắm đến để gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức. Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho pháp nhân, tổ chức là rất đa dạng, không thuần túy là thiệt hại về tài sản. Trong thực tế, tổ chức, pháp nhân có thể bị thiệt hại cả về vật chất lẫn thiệt hại về tinh thần, chẳng hạn một doanh nghiệp bị giả mạo về thương hiệu, bị vu khống làm mất uy tín trong kinh doanh... Về vấn đề này, tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật TTHS Ba Lan quy định: người bị hại là người hoặc pháp nhân mà lợi ích hợp pháp của họ bị hậu quả của tội phạm trực tiếp xâm hại hoặc bị đe dọa. Điều 53 Bộ luật TTHS Hungary cũng có quan điểm tương tự. Ý kiến cho rằng người bị hại chỉ có thể là cá nhân, vậy tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp xâm hại, pháp nhân, tổ chức đó sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Theo quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam thì trong trường hợp này pháp nhân, tổ chức sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy là chưa thật sự hợp lý, bởi lẽ: Thứ nhất: Đối với các tổ chức, pháp nhân mà tài sản thuộc sở hữu nhà nước khi bị tội phạm gây thiệt hại tổ chức, pháp nhân đó không có đơn yêu cầu thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Tài sản của nhà nước liệu có được đảm bảo? Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp mà tài sản thuộc sở hữu cá nhân, của một nhóm người cùng góp vốn kinh doanh (công ty TNHH, công ty hợp danh...) trong quá trình hoạt động lại bị kẻ phạm tội gây thiệt hại, vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình chủ sở hữu tài sản đó chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự, liệu có hợp lý? Liệu có đảm bảo sự bình đẳng trong khi về thực chất tài sản đó đều là của cá nhân? Thứ ba: nếu cho rằng tổ chức, pháp nhân bị kẻ phạm tội trực tiếp xâm hại về tài sản sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự thì sẽ không có sự phân biệt với thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gián tiếp gây ra. Chẳng hạn khi đánh nhau với B, A đã gây ra một số thiệt hại về tài sản của C. Thứ tư: nếu quan niệm rằng hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức là thiệt hại về tài sản như định nghĩa tại Điều 52 Bộ luật TTHS Việt Nam thì chúng ta phải giải thích như thế nào khi thiệt hại do tội phạm gây ra cho tổ chức, pháp nhân là thiệt hại về thương hiệu, về uy tín trong kinh doanh...? Thực chất vấn đề có nên thừa nhận tổ chức, pháp nhân là người bị hại trong trường hợp họ bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại đã được đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS năm 1988 vào những năm 2000. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau vấn đề này đã tạm gác lại. Chúng tôi cho rằng xã hội đã có những thay đổi lớn theo hướng tích cực, xu hướng hội nhập khu vực và thế giới đã trở thành xu thế tất yếu. Những lý do chưa đồng tình với quan điểm cho rằng nên xem tổ chức, pháp nhân là người bị hại không còn lý do để tồn tại, đã đến lúc chúng ta cần xem xét tất cả các lý lẽ để thừa nhận tổ chức và pháp nhân là người bị hại nhằm góp phần đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Từ những lập luận trên chúng tôi đề xuất khái niệm về người bị hại như sau: “Người bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Khái niệm này bao hàm các đặc điểm của người bị hại như sau: Thứ nhất, về chủ thể, người bị hại là cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức khác; Thứ hai, thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về thể chất, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại về vật chất. Tuy nhiên, cần lưu ý là hậu quả của sự thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc trong tất cả các trường hợp. Thứ ba, thiệt hại của người bị hại phải là đối tượng tác động của tội phạm, tức là phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho người bị hại. Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự hay các đương sự khác trong vụ án hình sự. Thứ tư, người bị thiệt hại chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại khi và chỉ khi được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận. 2. Thực trạng và một số kiến nghị góp phần đảm bảo quyền của người bị hại Như đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người bị hại, đó có thể là những thiệt hại vô cùng lớn mà người bị hại phải gánh chịu, vì vậy Nhà nước cần phải có biện pháp cụ thể để bảo vệ người bị hại, khôi phục lại trạng thái ban đầu hoặc kịp thời khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra đối với họ. Bên cạnh đó, người bị hại là người biết được các tình tiết của vụ án nên họ cũng phải có nghĩa vụ công dân trong việc giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Do vậy, khi tham gia tố tụng, người bị hại có một số quyền và phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định. Hiện nay, quyền và nghĩa vụ của người bị hại được quy định tại Điều 51 BLTTHS. Theo quan sát của chúng tôi, pháp luật TTHS về quyền và lợi ích của người bị hại qua quá trình tồn tại và phát triển ngày càng được bổ sung, sửa đổi đầy đủ và hoàn thiện hơn. Chẳng hạn phạm vi kháng cáo của người bị hại không chỉ giới hạn trong phạm vi tăng nặng hình phạt mà còn cho phép người bị hại kháng cáo theo hướng giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; hoặc chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật TTHS năm 1988 và chế định này ngày càng được mở rộng... Nội dung các quyền và nghĩa vụ của người bị hại về cơ bản là phù hợp và được các cơ quan có thẩm quyền nghiêm chỉnh chấp hành, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Tuy nhiên qua quá trình áp dụng cũng đã bộc lộ một số bất cập trong các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng. Cụ thể là các vấn đề sau đây: Vấn đề liên quan đến đại diện hợp pháp của người bị hại: Thứ nhất, khoản 5 Điều 51 Bộ luật TTHS quy định: “Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền được quy định tại điều này”. Như vậy trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất khi tham gia tố tụng thì đại diện hợp pháp của họ có được tham gia tố tụng và có được hưởng các quyền của người bị hại không? Theo tinh thần nội dung Điều 51 Bộ luật TTHS thì người đại diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp này được tham gia tố tụng nhưng không được thực hiện các quyền của người bị hại. Tuy nhiên, theo tinh thần của quy định tại Điều 59 Bộ luật TTHS thì người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại. Nội dung các quyền của người này không khác nhiều so với nội dung các quyền quy định cho người bị hại (Điều 51). Vì vậy, thực tế gặp trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng thường cho phép đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất sử dụng các quyền của người bị hại như tinh thần của khoản 5 Điều 51 Bộ luật TTHS. Để khắc phục bất cập này theo chúng tôi cần thiết phải bổ sung nội dung này vào Điều 51 Bộ luật TTHS. Thứ hai, Bộ luật TTHS chỉ quy định trường hợp người bị hại chết mà chưa quy định trường hợp người bị hại mất tích. Vậy trường hợp người bị hại được xác định là mất tích thì vấn đề người đại diện hợp pháp của họ được quy định và giải quyết như thế nào? Họ có được phép tham gia tố tụng và được thực hiện các quyền của người bị hại không? Thực tiễn giải quyết vụ án cho thấy cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết không thống nhất với nhau. Vì vậy, theo chúng tôi Bộ luật TTHS cần bổ sung trường hợp trên theo hướng thừa nhận người đại diện hợp pháp của người bị hại mất tích được tham gia tố tụng và được thực hiện các quyền của người bị hại. Thứ ba, trong hai trường hợp nêu trên cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được ai là người đại diện hợp pháp, hoặc người bị hại thực tế cũng không còn ai là người đại diện hợp pháp thì giải quyết như thế nào? Người thân của người bị hại có được tham gia tố tụng không và với tư cách gì? Về vấn đề này chưa có sự nhận thức và áp dụng thống nhất. Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này: Người thân của người bị hại cũng được xem là người đại diện hợp pháp5; người thân của người bị hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan6; người thân của người hại trong các trường hợp trên chính là người bị hại và với tư cách đó họ cần phải tham gia vào vụ án7; người thân của người bị hại là người đại diện của người bị hại và là người bị hại.8 Chúng tôi cho rằng đây là vấn đề cần được nghiên cứu bổ sung vào Bộ luật để đảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp dụng cũng như đảm bảo các quyền của người bị hại. Theo chúng tôi người thân của người bị hại chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, khi tham gia tố tụng họ có các quyền của người bị hại. Trường hợp người bị hại không còn ai là người thân thì cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bảo vệ quyền lợi cho họ. Thứ tư, trong trường hợp người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền và nghĩa vụ mâu thuẫn với nhau thì giải quyết như thế nào? Cho đến nay vấn đề này chưa được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể mà chỉ được thể hiện trong kết luận của Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao tại hội nghị tổng kết ngành năm 1990. Ví dụ: chồng giết vợ mà người vợ còn có bố, mẹ và các con của người vợ này đã thành niên. Theo quy định pháp luật thì những người này đều là người đại diện hợp pháp của người bị hại. Tuy nhiên bố, mẹ của người vợ yêu cầu Tòa án phải tuyên mức án nghiêm khắc đối với người con rể đã giết con ruột của mình, trong khi đó những người con lại yêu cầu Toà án áp dụng hình phạt nhẹ cho bố mình. Trong trường hợp này mặc dù vẫn có ý kiến khác nhau nhưng theo chúng tôi cần xác định họ đều là những người đại diện hợp pháp của người bị hại và họ có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng như nhau. Tuy nhiên, khi tham tố tụng Tòa án cần yêu cầu những người có cùng quyền lợi cử một người tham gia, nhưng Tòa án cần quyết định riêng đối với từng người, những người không tham gia tố tụng phải làm thủ tục ủy quyền cho người tham gia tố tụng. Vấn đề liên quan đến việc quy định và thực hiện các quyền của người bị hại: Thứ nhất, phạm vi thực hiện quyền kháng cáo của người bị hại. Tại điểm e khoản 2 Điều 51 Bộ luật TTHS quy định: người bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường cũng như về phần hình phạt đối với bị cáo. Như vậy, quy định này chỉ cho phép người bị hại kháng cáo trong phạm vi phần bồi thường và phần hình phạt, những phần khác trong bản án như: phần dân sự cũng như vấn đề liên quan đến tội danh, đến khung hình phạt... nếu không đồng tình với bản án và quyết định của Tòa án thì người bị hại không có quyền kháng cáo. Trong khi đó tại Điều 231 Bộ luật TTHS lại quy định: Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Tòa án. Như vậy theo quy định này thì người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Điều luật không thể hiện bất cứ sự giới hạn nào như tinh thần của Điều 51 Bộ luật TTHS. Như vậy phải chăng nội dung hai điều luật lại mâu thuẫn với nhau và khi gặp trường hợp trên Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Cho đến nay chưa có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng hai điều luật trên, vì vậy mỗi nơi áp theo cách hiểu riêng của mình. Để khắc phục sự mâu thuẫn, đảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp dụng, cũng như để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người bị hại theo chúng tôi cần thiết phải sửa lại nội dung Điều 51 Bộ luật TTHS theo hướng cho phép người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định của tòa án cấp sơ thẩm. Thứ hai, nghiên cứu các quy định trong Bộ luật TTHS hiện hành cho thấy pháp luật TTHS chưa khẳng định người bị hại là một bên trong tranh tụng, thực hiện chức năng buộc tội. Theo chúng tôi có lẽ đây cũng là một khiếm khuyết của các quy định pháp luật, thực chất cùng với các chủ thể khác như kiểm sát viên, nguyên đơn dân sự..., người bị hại cũng là một bên trong tranh tụng, hành vi tố tụng của người bị hại góp phần quan trọng trong tiến trình đi tìm sự thật của vụ án, công lý và sự công bằng của pháp luật, đặc biệt là trong những vụ án mà việc khởi tố phải do người bị hại yêu cầu. Do vậy, để khẳng định vị trí, vai trò và đảm bảo có hiệu quả các quyền của người bị hại chúng tôi đề nghị: + Sửa lại Điều 191 Bộ luật TTHS theo hướng khẳng định: trường hợp tại phiên tòa người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp những người này yêu cầu hoặc đồng ý để Tòa án xét xử vắng mặt họ. Sự tham gia phiên tòa của người bị hại có mục đích hoàn toàn khác với nguyên đơn và bị đơn dân sự vì vậy không thể đồng nhất sự tham gia phiên tòa của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự với người bị hại như tinh thần của Điều luật này. + Thực tiễn xử lý vụ án hình sự cho thấy không ít trường hợp người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ bị kẻ phạm tội hoặc những người thân của người này khống chế, đe dọa, mua chuộc, lừa dối hoặc có những thủ đoạn khác... làm cho người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ không thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, không thể có mặt để thực hiện việc khai báo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và vô hình chung họ lại phạm vào tội từ chối khai báo theo Điều 308 BLHS. Để khắc phục tình trạng trên, bên cạnh quy định về bảo vệ người làm chứng, cũng cần bổ sung quy định về bảo vệ người bị hại khi người bị hại yêu cầu và cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở cho rằng người bị hại bị đe dọa. + Tại khoản 4 Điều 51 Bộ luật TTHS quy định nghĩa vụ khai báo của người bị hại và nếu người bị hại không khai báo mà không có lý do chính đáng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 BLHS. Theo quan sát của chúng tôi, cho đến nay chưa có người bị hại nào bị truy cứu trách nhiệm về tội “từ chối khai báo” theo Điều 308 BLHS; chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về trường hợp từ chối khai báo có lý do chính đáng và cũng chính vì vậy có nhiều ý kiến cho rằng quy định này là không thực tế. Mặt khác, đã là người bị hại lại còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ vì họ từ chối khai báo, trong khi đó bị can, bị cáo là người bị buộc tội từ chối khai báo lại không phải chịu trách nhiệm gì9 như vậy liệu có công bằng? Chúng tôi cho rằng quyền công dân bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ công dân, việc khai báo của người bị hại sẽ góp phần tìm ra sự thật của vụ án vì vậy khó có thể loại bỏ quy định này. Tuy nhiên, làm thế nào để một tội danh được quy định có phải tính khả thi? Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự người bị hại nào về tội “từ chối khai báo” là do chúng ta chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là “không có lý do chính đáng” làm căn cứ áp dụng và trong thực tế gặp trường hợp này cơ quan có thẩm quyền chưa xử lý nghiêm khắc. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn để khắc phục những bất cập như đã nêu. Thứ ba, cơ chế thỏa thuận nhận tội và bồi thường thiệt hại giữa người bị hại và bị can, bị cáo trong một số trường hợp là vấn đề được áp dụng khá phổ biến ở các nước. Ở đó, nhà nước cho phép một người phạm tội có thể thỏa thuận nhận tội với cơ quan có thẩm quyền và được phép thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại với người bị hại. Đây cũng là vấn đề mới ở Việt Nam, vì vậy trong tiến trình cải cách tư pháp, hoàn thiện các cơ chế bảo vệ quyền của công dân trong tố tụng hình sự, nên chăng chúng ta triển khai nghiên cứu cơ chế để tìm kiếm khả năng tiếp thu và vận dụng cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta. Vấn đề liên quan đến chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại (hay còn gọi là tư tố) là một chế định không mới, được áp dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước. Ở Việt Nam chế định này lần đầu tiên được quy định trong Bộ luậy TTHS năm 1988. Đây là chế định thể hiện tính dân chủ, sự tôn trọng và cảm thông trước sự thiệt hại, mất mát, đau đớn của người bị hại. Mặc dù nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam là nguyên tắc công tố, tức là hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước, Nhà nước đã cam kết sẽ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân bằng một văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, đó là Hiến pháp, bằng cả hệ thống pháp luật và cơ chế đảm bảo thực hiện. Mọi hành vi phạm tội xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm khắc. Tuy nhiên, khi xử lý hành vi phạm tội, Nhà nước còn phải quan tâm đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người bị hại. Thực tế cho thấy mặc dù bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhưng người bị hại lại không muốn đưa ra xử lý vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, tương lai của họ, cũng có trường hợp giữa người bị hại và người gây thiệt hại có những mối quan hệ đặc biệt. Điều 51 và Điều 105 Bộ luật TTHS đã ghi nhận yêu cầu của người bị hại. Quá trình áp dụng cho thấy chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đã phát huy hiệu quả, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên so với yêu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, chế định này cũng đã bộc lộ một số bất cập. Chẳng hạn: Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật TTHS, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Đây là một nội dung đã được quy định từ những năm 1988, qua các lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật TTHS vẫn giữ nguyên quy định này. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị hại trình bày lời buộc tội bị cáo tại phiên tòa như thế nào. Trường hợp nếu người bị hại trình bày lời buộc tội thì kiểm sát viên tham gia phiên tòa có trình bày lời buộc tội nữa không? Lời buộc tội của người bị hại có giá trị như thế nào? Sự có mặt của người bị hại trong trường hợp này có bắt buộc như đối với kiểm sát viên không? Thực tiễn xét xử cho thấy mọi việc đều do kiểm sát viên thực hiện, còn người bị hại trong trường hợp này cũng không có gì đặc biệt so với người bị hại trong các vụ án khác. Hơn nữa, bản thân quy định này cũng chưa thật đầy đủ và phù hợp, chẳng hạn trong giai đoạn trước khi mở phiên tòa thì người bị hại có các quyền hạn cụ thể nào, cách thức thực hiện các quyền đó ra sao cũng chưa được quy định rõ. Chúng tôi cho rằng đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại phải khác so với vụ án thông thường, quyền của người bị hại được thể hiện trong suốt quá trình tố tụng chứ không chỉ đơn thuần là trình bày lời buộc tội tại phiên tòa như quy định hiện nay. Từ thực trạng nêu trên chúng tôi đề nghị: Thứ nhất, nghiên cứu để mở rộng hơn nữa phạm vi các tội mà cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Theo chúng tôi nên mở rộng đối với các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm và chỉ áp dụng đối với các tội ít nghiêm trọng. Thứ hai, nghiên cứu để bổ sung các quyền của người bị hại trong giai đoạn trước xét xử, theo hướng cho phép người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án nếu không thuộc bí mật nhà nước để phục vụ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Thứ ba, cần quy định cụ thể thủ tục tố tụng riêng cho trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Theo chúng tôi thủ tục này nên quy định theo hướng chỉ có người bị hại mới có quyền đưa một người ra xét xử tại phiên tòa, và tất nhiên ở đây quyền công tố không còn nữa. Sự tham gia phiên tòa của viện kiểm sát lúc này chỉ thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật chứ không thực hiện chức năng buộc tội. Tòa án đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở đề nghị của người bị hại. Tại phiên tòa kiểm sát viên không đọc bản cáo trạng mà người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời cáo buộc của mình trước khi tiến hành xét hỏi. Kiểm sát viên cũng không trình bày lời luận tội mà sẽ do người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày. Trong trường hợp này người bị hại, đại diện hợp pháp của họ bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, kiểm sát viên không bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa. Tất cả những sửa đổi trên đây nếu được chấp nhận sẽ có thể đảm bảo chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đi vào thực chất, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại mới được đảm bảo.
Xem thêm

Đọc thêm

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này Bài tập học kì Luật Tố tụng Dân sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Dân sự Nguyên tắc của luật tố tụng dân sự là tư tưởng pháp lý chỉ đạo cho nên việc tuân thủ đúng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Nội dung các nguyên tắc này thể hiện về năm vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự như tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của hoạt động tố tụng dân sự; nguyên tắc tổ chức và hoạt động xét xử các vụ việc dân sự của tòa án; bảo đảm quyền tham gia tố tụng của các đương sự; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự đối với việc giải quyết vụ việc dân sự; vai trò, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khác đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của tòa án. Một trong những nguyên tắc quan trọng, thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự đó là nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Bài viết dưới đây xin trình bày đề tài: “Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.” Trong quá trình thực hiện bài viết, với lượng kiến thức có hạn và số lượng tài liệu tham khảo hạn chế khiến bài viết không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô xem xét và chỉ bảo. Em xin cảm ơn. Nội dung 1. Căn cứ pháp lý của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng giúp tòa án làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự có trách nhiệm thực thi công lý, nếu họ không vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng thì việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ bị thiên lệch. Do vậy, bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được pháp luật quy định là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự. Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Dân sự thành một chế định riêng biệt tại Chương II. Có thể thấy, so với quy định của pháp luật tố tụng trước đó, chế định các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự rõ ràng hơn, đầy đủ hơn và phù hợp hơn. Kế thừa các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động trước đây, Bộ luật Tố tụng Dân sự xây dựng mới một số nguyên tắc thể hiện rõ hơn tính dân chủ và pháp chế trong tố tụng dân sự như nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự…, đồng thời sửa đổi, bổ sung để làm rõ hơn nội dung một số nguyên tắc cơ bản quy định trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành như nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự, nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự… Tổng cộng, Bộ luật Tố tụng Dân sự ghi nhận 22 nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam (từ Điều 3 đến Điều 24). Điều dễ nhận thấy là trong số 22 nguyên tắc cơ bản này, có những nguyên tắc không chỉ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự mà còn được thể hiện trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp như: nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động tố tụng, nguyên tắc Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, nguyên tắc Toà án xét xử tập thể, công khai, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án, nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng… Các vấn đề liên quan đến nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng mà Nhà nước ta đã ban hành như bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự ban hành kèm theo Thông tư số 96NCPL ngày 821977 của Tòa án nhân dân tối cao, Điều 17 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Điều 18 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 17 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 … Tuy nhiên, các quy định này còn chưa có tính hệ thống. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 16 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự. “Điều 16. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.” Nội dung của điều luật này đã thể hiện được một phần nội dung cơ bản của nguyên tắc như quy định được những biện pháp bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. 2. Nội dung nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tungm người tham gia tố tụng có nội dung chủ yếu được xác định là phải tiến hành những biện pháp cần thiết để bảo đảm sự vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; trường hợp có căn cứ cho thấy họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì phải thay đổi. Nghĩa là, những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ được sự vô tư khi làm nhiệm vụ của mình trong mọi trường hợp. Họ phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ thật sự công tâm, khách quan, vô tư, không được để những quan hệ, những tình cảm cá nhân chi phối vào công việc, không được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kì người tham gia tố tụng nào. Nếu có lí do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, họ sẽ không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, bản thân họ sẽ phải từ chối tiến hành tham gia hoặc tiến hành tố tụng hoặc bị đề nghị thay đổi. Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật tố tụng dân sự thì những người tiến hành và tham gia tố tụng dân sự gồm có: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá. Những biện pháp cần thiết để bảo đảm sự vụ tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng của những người này được biểu hiện cụ thể thông qua những quyền và nghĩa vụ của họ được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng dân sự. Chẳng hạn như quyền và nghĩa vụ của Chánh án tòa án được quy định cụ thể tại các Điều 40, 125, 172, 257, 285, 382, 401 và một số điều luật khắc; quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán được quy định tại Điều 41, 85, 100, 173, 184,…; quyền và nghĩa vụ của người giám định được quy định tại Điều 68, 230 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 12, 14 Pháp lệnh giám định tư pháp; …. Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng giúp tòa án làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình tố tụng. Các hoạt động của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng mục đích là để giúp tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm công bằng xã hội, vì thế trong quá trình tham gia tố tụng họ phải vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Sự vô tư của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn là điều rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, mỗi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng nên căn cứ thay đổi những người này khi thấy họ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ được pháp luật quy định có những điểm không giống nhau. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự, đã tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án dó. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ theo quy định tại mục II và III, Nghị Quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 012005NQHĐTP ngày 3132005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất những quy định chung của Bộ luật tố tụng dân sự 2004; hoặc theo các trường hợp quy định tại khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật tố tụng dân sự; ngoài ra có thể có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ trong các trường hợp như trong quan hệ thông gia, quan hệ tình cảm, quan hệ kinh tế… chứng minh được rằng quan hệ cuộc sống đó khiến người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng không còn vô tư trong việc thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý của mình thì phải thay đổi. Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là điều kienj cần thiết để thực hiện một số các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng dân sự như các nguyên tắc thể hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự; các nguyên tắc về tổ chức hoạt động xét xử của tòa án… Có thể nói nguyên tắc này là đòi hỏi pháp lí chi phọi mọi hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. 3. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Về mặt khách quan, là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự nên nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng bao hàm những ý nghĩa cơ bản rất quan trọng của các nguyên tắc cơ bẩn của luật tố tụng dân sự như: Thứ nhất, cùng với đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh quan hệ tố tụng, các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự được coi là dấu hiệu “bổ sung” thể hiện tính độc lập của ngành luật tố tụng dân sự với những ngành luật khác; Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự là cơ sở cho hoạt động sáng tạo, giải thích, hướng dẫn áp dụng quy phạm pháp luật tố tụng dân sự; Thứ ba, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, người ta có thể phân biệt, đối chiếu, so sánh thủ tục tố tụng dân sự của các hệ thống pháp luật khác nhau (chẳng hạn, nhìn vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, không khó lắm cũng có thể chỉ ra rằng, mô hình tố tụng dân sự nước ta là hệ tố tụng xét hỏi kết hợp với yếu tố tranh tụng); Thứ tư, việc vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự có thể là căn cứ để huỷ bỏ phán quyết của Toà án, của Trọng tài. Về mặt chủ quan, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người tiến hành tố tụng là chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc thuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, để sự thật của vụ việc được xác định khách quan, chính xác đòi hỏi những người này phải thật sự vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ. Đối với người tham gia tố tụng là chủ thể tham gia tố tụng nhằm góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án, pháp luật cũng đòi hỏi sự vô tư của họ khi tham gia vào tố tụng dân sự. Do đó, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng một khi được pháp luật nhà nước công nhận và thể chế nó thành một điều luật đã tạo nên khung pháp lý bắt buộc đối với hai dạng chủ thể này, bắt buộc họ phải tôn trọng và thực thi nguyên tắc một cách triệt để. Theo đó, nguyên tắc đã góp phần thúc đẩy tính khách quan, chân thực, công bằng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự của tố tụng dân sự; đồng thời xây dựng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ tư pháp, các công chức nhà nước tham gia tố tụng cũng như thay mặt cơ quan nhà nước tiến hành tố tụng liêm minh, công tâm. 4. Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Một số điều kiện thực hiện nguyên tắc: Xây dựng và ban hành những quy định pháp luật để điều chỉnh nguyên tắc này, những quy định pháp luật này phải đầy đủ, rõ ràng, thống nhất làm cơ sở cho việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật không những thể hiện được những tư tưởng pháp lý cơ bản của nguyên tắc, đồng thời còn làm cơ sở để nguyên tắc phát huy ý nghĩa quan trọng, tính tích cực của nó, từ đó thể hiện được sự công bằng, minh bạch và phát triển của pháp luật nhà nước. Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải nhận thức rõ được vai trò, trách nhiệm của mình, phải tự động, tự giác từ chối tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu thuộc những trường hợp luật định. Điều kiện này vừa tác động thúc đẩy đội ngũ cán bộ tư pháp, cán bộ nhà nước tham gia hoạt động tư pháp hoàn thiện tư cách cá nhân, đạo đức nghề nghiệp, vừa là biểu hiện cụ thể nhất, rõ ràng nhất tính đúng đắn của nguyên tắc. Kết luận Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng dân sự. Việc hiểu và nắm rõ nguyên tắc này và việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tố tụng dân sự, góp phần giảm bớt những hậu quả vi phạm không cần thiết trong thủ tục tố tụng.
Xem thêm

Đọc thêm

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Bài tập học kỳ Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được quy định tại chương 34 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, gồm bảy điều. Đây là một trình tự tố tụng đặc biệt nhằm điều tra, truy tố, xét xử nhanh những vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ và nhân thân người phạm tội rõ ràng. Thủ tục rút gọn là một phương thức quan trọng và cần thiết của tố tụng hình sự trong việc xử lý tội phạm ở các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Áp dụng thủ tục rút gọn sẽ thúc đẩy nhanh quá trình xét xử các vụ án có mức độ nguy hiểm không lớn; hạn chế việc tồn đọng án ở các địa phương, khắc phục tình trạng quá tải trong nhà tạm giữ, trại giam. Đồng thời còn tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian và lực lượng tập trung giải quyết tốt hơn những loại án nghiêm trọng. Vậy điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn là gì và trong tố tụng hình sự đã quy định những gì về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn chính là nội dung của bài làm dưới đây. B. NỘI DUNG CHÍNH 1. Cơ sở lí luận Trước khi đi vào phân tích những điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự tôi xin đi tìm hiểu qua một số khái niệm cũng như đặc điểm về thủ tục rút gọn, nhằm có một nền kiến thức làm cơ sở. Khái niệm thủ tục rút gọn: Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với những vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản , chứng cứ rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có căn cước, lai lịch rõ ràng Mục đích, ý nghĩa của thủ tục rút gọn: Mục đích: Việc áp dụng thủ tục rút gọn với những quy định đơn giản về thủ tục và rút ngắn về thời gian nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định này. Mặt khác, việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn vẫn phải đảm bảo chính xác, triệt để tuân thủ các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự . Sự thật của vụ án vẫn phải được xác định một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ… Ý nghĩa: Quy định về thủ tục rút gọn là căn cứ pháp lí cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng kịp thời nhiều vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, có tính chất quả tang, đơn giản, rõ ràng. Việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tạo điều kiện để những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhanh chóng được khắc phục, góp phần bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức. Thủ tục rút gọn đáp ứng nguyện vọng của nhân dân là xử lí kịp thời, chính xác các hành vi phạm tội và người phạm tội, qua đó phát huy tác dụng giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm. 2. Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Thủ tục rút gọn được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang. Theo quy định tại Điều 82 BLTTHS năm 2003, phạm tội quả tang là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội bị bawtsn khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Phạm tội quả tang thông thường là những trường hợp đã xác định rõ ràng về hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội. Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ ràng và đầy đủ; người làm chứng, người bị hại (nếu có) cũng thường được xác định cụ thể… Đây là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi và chính xác. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng Theo hướng dẫn tại thông tư số 10TATC năm 1974: “Tội phạm đơn giản, rõ ràng là : vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo”. Có thể hiểu sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định. Các tình tiết của hành vi phạm tội đơn giản; vụ án thường ít bị cáo hoặc có thể nhiều bị cáo nhưng không phải trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc đồng phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của từng đối tượng; lỗi; năng lực trách nhiệm hình sự; động cơ mục đích phạm tội rõ ràng. Việc giải quyết vụ án không liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn đề xã hội phức tạp khác. Chứng cứ rõ ràng là chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ ngay từ đầu, thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội, các tang vật thu được ở hiện trường… Các chứng cứ này không chỉ đầy đủ mà còn phải thống nhất và đảm bảo giá trị chứng minh. Những trường hợp phạm tội quả tang nhưng không đảm bảo điều kiện tính chất của sự việc phạm tội đơn giản, rõ ràng thì không áp dụng thủ tục rút gọn. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 8 BLHS 1999 thì: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù…”. Dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội của loại tội này là tính nguy hại không lớn cho xã hội, dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí của loại tội này là có thể phải chịu hình phạt đến mức cao nhất là 3 năm tù. Do hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội và hậu quả pháp lí mà người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng có thể phải chịu là không lớn nên việc xử lí có thể nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường hợp việc xử lí không chính xác thì hậu quả cũng không đến mức nghiêm trọng so với các trường hợp thực hiện loại tội phạm khác và dễ khắc phục. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng Lai lịch, căn cước của người phạm tội là vẫn đề cần làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án. Qua việc xác định lai lịch căn cước, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được nhiều yếu tố về nhân thân của người phạm tội; trên cơ sở đó có những quyết định đúng đắn trong việc định tội và quyết định hình phạt. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng được coi là điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn vì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không phải mất nhiều thời gian để điều tra xác minh nên có thể rút ngắn thời gian giải quyết vụ án mà vẫn đảm bảo cho việc xem xét, giải quyết những vấn đề của vụ án được chính xác. Nếu căn cước, lai lịch của người phạm tội chưa được xác minh chắc chắn thì không được áp dụng thủ tục rút gọn. 3. Những vướng mắc khi áp dụng quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiến và một số kiến nghị Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: “1. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; 2. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; 3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; 4. Người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng.” Như vậy, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi thỏa mãn bốn điều kiện nêu trên mà ở đó: Thứ nhất: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, theo quy định tại Điều 82 BLTTHS thì phạm tội quả tang là trường hợp người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Đây chính là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi và chính xác vì người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ ràng và đầy đủ. Thứ hai: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: là vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo… (Thông tư số 10TATC năm 1974). Có thể hiểu phạm tội đơn giản là những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp dễ xác định, vụ án ít bị cáo, các chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ từ đầu. Thứ ba: Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng: Đó là loại tội phạm tính nguy hiểm cho xã hội không lớn mà theo quy định tại Điều 8 BLHS thì “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù…” Thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng: Căn cước, lai lịch rõ ràng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được các yếu tố về nhân thân, gia đình, mối quan hệ xã hội… của người phạm tội một cách nhanh nhất, tạo điều kiện rút ngắn thời gian trong hoạt động tố tụng. Những quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn như đã phân tích ở trên, theo tôi là chưa đầy đủ, còn nhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng triệt để thủ tục tiến bộ này trong hoạt động tố tụng hình sự, dẫn đến nhiều địa phương bỏ quên không áp dụng thủ tục này trong hoạt động tố tụng hình sự. Những vướng mắc đó thể hiện như sau: Như trên đã phân tích, chỉ các vụ án hình sự thỏa mãn bốn điều kiện đã nêu thì mới được áp dụng thủ tục rút gọn, song điều kiện thứ nhất quy định bắt buộc người phạm tội bị bắt quả tang là chưa hợp lý, hạn chế tới việc áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn hiện nay bởi lẽ: Có rất nhiều vụ án tuy không phải thuộc trường hợp phạm tội quả tang, song sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, căn cước người phạm tội rõ ràng, song lại không được áp dụng thủ tục rút gọn vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang ví dụ: A trộm cắp của B một chiếc xe máy, hai hôm sau trên đường A đi tiêu thụ thì bị B phát hiện báo Công an bắt giữ A, A thừa nhận hành vi trộm cắp xe máy của B, tang vật được thu hồi trả lại ngay cho B. Hoặc có những trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình mà hành vi phạm tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm được thực hiện cũng là tội phạm ít nghiêm trọng, lai lịch, căn cước rõ ràng, nhưng vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng thủ tục rút gọn Ngoài ra, qua thực tiễn xét xử, có rất nhiều vụ án phạm tội nghiêm trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1, 2, 4 quy định tại Điều 319, song không thể áp dụng được thủ tục rút gọn vì không thỏa mãn với điều kiện thứ ba là “Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”. Như vậy, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 319 BLTTHS hiện hành chỉ được áp dụng trong trường hợp phạm tội quả tang, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, là không phù hợp với thực tiễn, bỏ sót rất nhiều vụ án có thể áp dụng được thủ tục rút gọn, nhưng lại không được áp dụng, làm mất nhiều thời gian, không hạn chế được lượng án tồn đọng, tốn kém về chi phí vật chất, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, đôi khi còn vi phạm cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Để khắc phục tình trạng trên cần bỏ điều kiện thứ nhất quy định tại Điều 319 BLTTHS, chỉ cần những vụ án mà sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét để quyết định có hay không việc áp dụng thủ tục rút gọn, chứ không nên quy định đóng khung như hiện nay. Có như vậy, thì những quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự mới được áp dụng rộng rãi hơn, đúng với ý nghĩa của thủ tục rút gọn là đơn giản hóa quá trình tố tụng, rút ngắn thời hạn tiến hành tố tụng nhằm giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết nhanh chóng vụ án. C. KẾT LUẬN Sau khi đi phân tích và tìm hiểu về quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, từ đó đưa ra được những đánh giá và kiến nghị quanh vấn đề này, tôi rất mong các cá nhân, cơ quan chức năng quan tâm hơn nữa nhằm điều chỉnh hợp lí hơn. Có như vậy hệ thống pháp luật mới ngày càng được hoàn thiện và kiện toàn, chỉ có như vậy thì giữa luật và thực tiễn mới không có một khoảng cách quá xa.
Xem thêm

Đọc thêm

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 512001QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Phần thứ nhất NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Chương I NHIỆM VỤ VÀ HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Điều 2. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế đó. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo tập quán quốc tế, thì vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Xem thêm

284 Đọc thêm

Bài tập nhóm Tố tụng Hình sự: Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Bài tập nhóm Tố tụng Hình sự: Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Bài tập nhóm Tố tụng hình sự Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử Trong các hoạt động xét xử các loại vụ án thì xét xử vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, vì đây là hoạt động giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người đó. Hoạt động xét xử các vụ án này có thể dẫn tới một hậu quả pháp lý bất lợi cho người bị xét xử cũng như những người khác có liên quan. Vì vậy, bản án, quyết định của Tòa án khi xét xử phải chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi hoạt động xét xử các vụ án hình sự phải tuân thủ nhiều nguyên tắc cơ bản của luật Tố tụng hình sự khi xét xử. Những nguyên tắc này là những phương châm, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tố tụng hình sự. Nguyên tắc hai cấp xét xử là một nguyên tắc mới được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nguyên tắc này thể hiện sự thận trọng của Tòa án trong việc xét xử, đảm bảo cho việc xét xử chính xác, công bằng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, và một trong những nguyên tắc đó là nguyên tắc hai cấp xét xử. Việc quy định nguyên tắc này trong xét xử các vụ án hình sự là một tất yếu khách quan của thực tiễn xét xử để hoạt động này có thể thực hiện đúng được chức năng của nó và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan trong từng vụ án cụ thể. Bài viết sau đây sẽ đi nghiên cứu về ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nguyên tắc này trong hoạt động xét xử. II. NỘI DUNG. 1. Các khái niệm cần làm rõ trong vấn đề về nguyên tắc hai cấp xét xử: 1.1. Khái niệm cấp xét xử, cấp xét xử sơ thẩm, cấp xét xử phúc thẩm: Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử và xét xử lại các vụ án, hình thức tổ chức tố tụng này được đảm bảo thực hiện bằng việc quy định các thủ tục tố tụng cụ thể và tổ chức tố tụng xét xử cụ thể và tổ chức hệ thống Tòa án có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục tố tụng xét xử khác nhau, nhằm xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…được đúng đắn, khách quan. Cấp xét xử sơ thẩm là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử lần đầu các vụ án hình sự, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm. Cấp xét xử phúc thẩm là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử lại vụ án hình sự mà bản án, quyết định của cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay. 1.2. Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử: Nguyên tắc tố tụng hình sự là những quy định pháp luật cơ bản có tính bắt buộc chung, xác định phương châm và định hướng cho toàn bộ quá trình tố tụng hay một số hoạt động tố tụng nhất định, thể hiện bản chất của chế độ Nhà nước, bản chất của tố tụng hình sự, được quy định trong Bộ luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, trong đó xác định một vụ án hình sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) có thể được xét xử lại và chỉ có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 2. Pháp luật hiện hành về nguyên tắc thực hiện hai cấp xét xử: 2.1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Điều 20 BLTTHS quy định như sau: “1. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. 2. Đối với Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”. Điều 11 Luật tổ chức TAND năm 2002 về cơ bản cũng quy định tương tự như quy định tại Điều 20 BLTTHS. 2.2. Nội dung của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Qua các quy định này thì nội dung cụ thể của nguyên tắc hai cấp xét xử theo pháp luật hiện hành được hiểu như sau: Thứ nhất, bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo đối tượng và thẩm quyền theo lãnh thổ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại một lần nữa. Thứ hai, bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Khi xét lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung. Thứ ba, đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử, không xét lại vụ án về mặt nội dung mà chỉ xem xét lại bản án hoặc tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định đó. Khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án không thực hiện chức năng xét xử mà thực hiện chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. 3. Ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Bất cứ một quy định nào của pháp luật cũng đều mang trong nó những ý nghĩa nhất định. Trong pháp luật TTHS cũng vậy, việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong BLTTHS cũng chứa đựng những ý nghĩa riêng của nó. 3.1. Ý nghĩa pháp lý. Việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử qua hai cấp là một bảo đảm pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa án được chính xác và đúng đắn. Bởi vì qua hai cấp xét xử như vậy những vấn đề thuộc nội dung vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích, đánh giá kỹ càng, đấy đủ hơn. Trên cơ sở đó, các phán quyết của Tòa án đưa ra đảm bảo độ chính xác cao hơn. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án thể hiện thái độ không đồng tình với việc xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật TTHS để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm. Thông qua đó, chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình và trong nhiều trường hợp lợi ích của Nhà nước và xã hội cũng được đảm bảo. Việc quy định về nguyên tắc hai cấp xét xử cũng như quy định về việc bản án, quyết định sở thẩm có thể bị sửa, bị hủy tại cấp phúc thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các hành vi vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của HĐXX sơ thẩm, giúp họ có thái độ thận trọng và có trách nhiệm hơn trước khi đưa ra phán quyết của mình. Thông qua hoạt động xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm kịp thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm đã mắc phải, tự mình sửa chữa sai lầm, khắc phục thiếu sót hay đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm sửa chữa những sai lầm của mình. Đây cũng chính là một hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả to lớn giữa Tòa án cấp phúc thẩm với Tòa án cấp sơ thẩm, nhờ đó mà chất lượng xét xử tại các cấp ngày càng được nâng cao. Việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra nguyên nhân dẫn đến sai lầm hay những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và tòa án nói riêng. Từ đó, giúp tìm ra các giải pháp thích hợp để sửa chữa, khắc phục về lập pháp cũng như về hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng nhất là hoàn thiện tổ chức Tòa án, đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử và yêu cầu cải cách tư pháp. 3.2. Ý nghĩa chính trị, xã hội. 3.2.1. Ý nghĩa chính trị. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội là sự thể hiện nhận thức khoa học về hoạt động xét xử của Tòa án phù hợp với nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức thế giới. Đó là nhận thức luôn có sự vận động và phát triển, không phải trong mọi trường hợp nhận thức của con người về một sự vật hiện tượng đã đắn ngay từ lần nhận thức đầu tiên. Việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử khác nhau là phù hợp với quy luật của nhận thức nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của hoạt động xét xử. Quy định nguyên tắc hai cấp xét xử thể hiện thái độ thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra các phán xét về số phận pháp lý, sinh mạng chính trị, quyền lợi của người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự và những người có liên quan là sự thể hiện rõ ràng nhất bản chất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong đó, vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng và hợp pháp của công dân là một nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền. Tòa án với nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp của nhà nước trong phạm vi hoạt động của mình phải xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. “ Hơn bất kỳ một hoạt động nào của Nhà nước, hoạt động xét xử phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà nước, sai lầm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án chính là sai lầm của Nhà nước. Vì thế, đòi hỏi xét xử phải chính xác, công minh, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân”. Đây cũng là một hình thức thực hiện pháp luật có hiệu quả chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp, một lĩnh vực mà từ xưa đến nay bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thực hiện là vô cùng quan trọng. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS cũng tạo điều kiện để các chủ thể tham gia tố tụng có thể trực tiếp bảo vệ quyền lợi của mình nhiều lần tại các phiên tòa xét xử khác nhau. Đồng thời với việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng, việc xét xử ở hai cấp cũng giúp họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong vụ án để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình. Việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS với nội dung cơ bản là một vụ án hình sự có thể được xét xử và chỉ có thể xét xử ở hai cấp là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, giúp tránh được tình trạng vụ án bị xử ở quá nhiều cấp làm cho quá trình tố tụng kéo dài ảnh hưởng tới hiệu lực của bản án, quyết định nhất là các bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật. 3.2.2. Ý nghĩa xã hội. Việc quy định và thực hiện nguyên tức hai cấp xét xử trong TTHS góp phần rất lớn vào việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Bởi lẽ, việc xét xử phải nhằm đến mục đích cao nhất là đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, tránh oan sai, đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trong TTHS. Do vậy, sẽ là không công bằng nếu như tước bỏ quyền được bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án một lần nữa tại một phiên tòa xét xử khác, nếu như chưa thể có các điều kiện thực tế để khẳng định hay bảo đảm rằng phán quyết của lần xét xử đầu tiên là hoàn toàn chính xác. Với việc quy định và thực hiện nguyên tắc xét xử công khai ở cả cấp sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm, người dân có điều kiện biết rõ về hoạt động xét xử. Mặt khác, khi biết được kết quả xét xử phúc thẩm, thấy được sự đánh giá về tính đúng đắn hay không đúng đắn của cấp xét xử sơ thẩm, người dân mới thực hiện triệt để quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa án các cấp. Trên cơ sở đó mới có thái độ chính xác nhất về tính khách quan của hoạt động này trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, lợi ích chung của xã hội, cộng đồng và lợi ích của Nhà nước. 4. Thực tiễn thi hành nguyên tắc hai cấp xét xử và nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế: 4.1. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm. Trong những năm gần đây mặc dù số lượng vụ án phải thụ lý xét xử ở cấp sơ thẩm không giảm nhưng tốc độ giải quyết tại cấp này đã nhanh chóng hơn, lượng án tồn đọng ngày càng hạn chế. Đặc biệt chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao, số lượng các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị có chiều hướng giảm so với trước. Ví dụ năm 2004 trong số 808 vụ án có kháng nghị của VKS được xét xử phúc thẩm có 203 vụ không chấp nhận kháng nghị hoặc giải quyết khác, bằng 25,12% số vụ đã xét xử, năm 2005 trong số 780 vụ án có kháng nghị của VKS được xét xử phúc thẩm có 358 vụ Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị hoặc giải quyết, bằng 45,89% số vụ đã xét xử. Tình trạng xét xử oan sai có xu hướng ngày càng giảm so với trước đây. Ví dụ như năm 2002 có 23 người bị kết tội oan, năm 2007 có 7 người, năm 2004 có 5 người, năm 2005 có 4 người. Bên cạnh những kết quả khả quan đó việc xét xử ở cấp sơ thẩm thời gian qua vẫn còn những hạn chế nhất định như: Lượng án tồn đọng tại TAND cấp huyện hàng năm nhìn chung có xu hướng ngày càng giảm nhưng vẫn còn nhiều và có chiều hướng tăng, giảm không ổn định. Ví dụ như năm 2002 thụ lý 31.127 vụ tồn đọng 1.195 vụ bằng 3,83% số vụ đã thụ lý, năm 2005 thụ lý 41.518 vụ tồn đọng 1120 vụ bằng 2,69% số vụ đã thụ lý, năm 2006 theo thống kê chung lượng án tồn đọng tại các Tòa án cấp sơ thẩm là 2,40% số vụ thụ lý. Số lượng án sơ thẩm tồn đọng tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh tuy không lớn so với số lượng án thụ lý hàng năm nhưng nhìn chung vẫn còn cao. Ví dụ như năm 2002 thụ lý 15.374 vụ tồn đọng 294 vụ bằng 1,91%; năm 2003 thụ lý 13.355 vụ tồn đọng 372 vụ bằng 2,14%; năm 2004 thụ lý 18.190 vụ tồn đọng 1125 vụ bằng 6,18%; năm 2005 thụ lý 13.471 vụ, tồn đọng 459 vụ bằng 3,4%; năm 2007 thụ lý 11.266 vụ tồn đọng 329 vụ bằng 2,92%. Như vậy, có thể thấy rằng việc xét xử tại các tòa án cấp sơ thẩm còn nhiều hạn chế. 4.2. Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc hai cấp xét xử trong xét xử phúc thẩm. Nghiên cứu tình hình xét xử phúc thẩm trong các năm từ năm 2002 đến năm 2007 có thể kết luận như sau: Số lượng vụ án đã giải quyết, xét xử phúc thẩm chiếm tỉ lệ cao trên tổng số vụ Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý. Tuy nhiên tình trạng tồn đọng án tại Tòa án cấp phúc thẩm hàng năm vẫn còn tương đối cao. Chất lượng xét xử phúc thẩm ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều vụ án đã xét xử phúc thẩm nhưng bản án bị Tòa giám đốc thẩm hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại, thậm chí thời gian trước đây có nhiều trường hợp hủy án phúc thẩm, giữ nguyên án sơ thẩm. Việc xét xử ở cấp phúc thẩm nhìn chung đảm bảo chất lượng, góp phần sửa chữa kịp thời các sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử. Điều này thể hiện ở chỗ hàng năm số lượng án được xét xử phúc thẩm rất lớn và có chiều hướng gia tăng nhưng số lượng án bị kháng nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thụ lý ở TANDTC là không nhiều. Ví dụ: năm 2002 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 12.263 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC là 273 vụ; năm 2003 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 12.673 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC là 162 vụ; năm 2004 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 13.851 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC (tính quý 42003 đến hết quý 32004) là 92 vụ; năm 2005 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 12.735 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC (tính quý 42004 và 9 tháng năm 2005) là 85 vụ; năm 2007 Tòa án các câp đã xét xử phúc thẩm là 12.238 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC là 83 vụ. 4.3. Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do sự hạn chế trong tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân các cấp chưa thật khoa học và hợp lý làm cho lượng án sơ thẩm Tòa án cấp tỉnh xét xử hàng năm tương đối lớn, do hiện nay còn nhiều Tòa án cấp huyện chưa được giao thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm đầy đủ theo khoản 1 Điều 170 BLTTHS nên có nhiều Tòa án cấp tỉnh phải xét xử lượng án sơ thẩm khá lớn. Nguyên nhân tiếp theo đó là do tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân cũng chưa được hoàn thiện, hoạt động kém hiệu quả. Vấn đề trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng còn hạn chế dẫn đến nhận thức không đúng tinh thần của điều luật như không nắm vững lý luận về cấu thành tội phạm nên định tội danh sai, định khung hình phạt và quyết định hình phạt không chính xác. Chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa chưa thật đảm bảo do Kiểm sát viên kém chuyên môn, yếu về lý luận nên lung túng, bị động khi tranh tụng với luật sư và người tham gia tố tụng khác. Hạn chế về mặt trình độ của các cơ quan điều tra cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như vi phạm các thủ tục tố tụng, không đảm bảo quyền bào chữa của bị can trong trường hợp pháp luật bắt buộc phải có người bào chữa. Bên cạnh các nguyên nhân trên còn do một số người tiến hành tố tụng do bị cám dỗ về vật chất nên có hành vi vi phạm pháp luật, dẫn đến xét xử sai sự thật, thiếu khách quan. Tiếp theo đó là do các quy định của pháp luật còn chưa thống nhất, đồng bộ và sát với yêu cầu thực tiễn nhất là trong công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật. 5. Giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử: 5.1. Đổi mới hệ thống Tòa án. Thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nguyên tắc đúng đắn của Nhà nước pháp quyền và tố tụng hiện đại mà các Nhà nước tiến bộ đều phải tuân thủ. Theo quan điểm của nhóm thì nên tổ chức Toà án theo cấp xét xử gồm Toà án tối cao, Toà án phúc thẩm và Toà án sơ thẩm. Tổ chức hệ thống tòa án như vậy sẽ có nhiều ưu điểm hơn như hệ thống tòa án hiện nay tổ chức theo mô hình hệ thống chính quyền và nó sẽ giúp hệ thống tòa án hoạt động hiệu quả. Thứ nhất, phân bố hợp lý cơ cấu các vụ án xét xử đỡ lãng phí vì có Toà án có rất ít án, có Toà án lại quá nhiều án và đảm bảo cho các Toà án độc lập thực sự trong xét xử. Thứ hai, tổ chức hai loại Toà án sơ thẩm. Việc dồn tất cả các loại án với tính chất, mức độ nghiêm trọng, phức tạp khác nhau vào thẩm quyền của một Toà án là bất hợp lý, gây rất nhiều bất cập về tổ chức, cán bộ, trang bị, phương tiện cũng như thủ tục tố tụng. Điều đó cũng khó phù hợp với xu thế xây dựng Nhà nước pháp quyền là mở rộng phạm vi tài phán các tranh chấp trong xã hội. Vì vậy, theo chúng tôi cần tổ chức hai loại Toà án sơ thẩm: Toà án xét xử các vụ án nghiêm trọng, phức tạp và Toà án xét xử các vụ án ít nghiêm trọng, đơn giản, rõ ràng.Với thẩm quyền xét xử của Toà án hiện nay thì để Toà án cấp huyện và Toà án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm tạm thời là hợp lý. Tuy nhiên, nếu mở rộng phạm vi tài phán của Toà án, thì cần tổ chức lại hệ thống Toà án sơ thẩm 2 cấp (cấp thấp nhất ở từng quận, huyện, liên quận, huyện hoặc mỗi quận, huyện có nhiều Toà án; cấp cao hơn có thể ở từng tỉnh hoặc mỗi tỉnh, thành phố có một số Toà án) với đa số các vụ án được xét xử ở Toà án cấp thấp nhất. Đồng thời cần nghiên cứu quy định thủ tục xét xử sơ chung thẩm đối với một số loại án tại Toà án cấp thấp nhất để đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả của hoạt động xét xử mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến các nguyên tắc tố tụng, nhất là nguyên tắc hai cấp xét xử. Thứ ba, thành lập các Toà án phúc thẩm độc lập ở các vùng (giống như các Toà Thượng thẩm trước đây). Không nên coi Toà án phúc thẩm là Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao. Với chức năng phá án, tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và làm án lệ, không nên có một Toà án tối cao với hàng trăm thẩm phán như hiện nay. Các thẩm phán Toà án phúc thẩm không nên là thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Toà án nhân dân tối cao chỉ gồm 15 đến 17 thẩm phán và cấu thành Hội đồng (toàn thể) thẩm phán; tất cả các thẩm phán này đều tham gia vào các hoạt động nghiệp vụ của Toà án nhân dân tối cao. 5.2. Cải cách hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định tại hiến pháp năm 1992 và luật tổ chức viện kiểm sát 2002 thì hệ thống viện kiểm sát ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc hành chính lãnh thổ giống như hệ thống tòa án và thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp. Qua những năm thực hiện thì hệ thống viện kiểm sát cũng bộc lộ những bất cập làm hạn chế hiệu quả hoạt động cơ quan này. Vậy nên cần có những thay đổi mới, những thay đổi này theo chúng tôi nó cần phù hơp với hệ thống tòa án được tổ chức như trên. 5.3. Nâng cao năng lực của thẩm phán. Thẩm phán là người được giao nhiệm vụ thực hiện quyền xét xử, bảo vệ công lý của chế độ, thẩm phán cần có những tố chất phù hợp, năng lực của thẩm phán quyết định chất lượng xét xử cũng như đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc hai cấp xét xử nói riêng. Thứ nhất, cần thay đổi cơ chế tuyển chọn để bổ nhiệm cũng như nhiệm kỳ thẩm phán. Nếu chúng ta có một cơ chế tốt thì thẩm phán sẽ không phải bận tâm đến vấn đề làm thế nào để nhiệm kỳ sau không bị đưa ra khỏi danh sách bổ nhiệm tạo tâm lý an tâm cho họ làm việc. Thứ hai, nhiệm kỳ cũng có hướng nên cho nó dài ra, để tận dụng được tối đa kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm xét xử đã được tích lũy trong thời gian công tác của họ. Thứ ba, cần có chế độ lương bổng hợp lý, nâng cao đời sống của các thẩm phán để góp phần loại bỏ việc các thẩm phán cuốn vào các cám dỗ vật chất mà vi phạm pháp luật, làm oan, làm sai dẫn đến hiệu quả xét xử không cao, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào cơ quan nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật. 5.4. Nâng cao năng lực hội thẩm. Hội thẩm nhân dân cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương thích với tình hình thực tế xã hội. Việc bầu ra Hội thẩm nhân dân phải có những quy định chặt chẽ, tiêu chuẩn cụ thể hơn nữa để đảm yêu cầu về năng lực trình độ của hội thẩm. Đó phải là những người thực sự công tâm, không ngại va chạm và biết làm đúng vai trò hội thẩm của mình. Từ đó, chất lượng của công tác xét xử sẽ được nâng cao hơn và cũng từ đó mà đảm bảo được hiệu quả thực hiện của các nguyên tắc trong quá trình tố tụng hình sự. 5.5. Nâng cao năng lực của điều tra viên, kiểm sát viên. Thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự về tiêu chuẩn bổ nhiệm, miễn nhiệm điều tra viên đảm bảo sớm có sự thống nhất các tiêu chuẩn về học vấn, nghiệp vụ đối với các chức danh tư pháp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan điều tra. Các kiểm sát viên cũng phải chú trọng nâng cao trình chuyên môn, nghiệp vụ để tại phiên tòa không bị động, lung túng khi tranh tụng với luật sư và những người tham gia tố tụng khác, nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử. 5.6. Nâng cao năng lực của luật sư. Thực tế hiện nay cho thấy, các phiên tòa ở cấp huyện thường không thấy có mặt các luật sự, trừ trường hợp pháp luật yêu cầu phải có luật sư bào chữa cho bị can mà hầu hết luật sư thường có mặt tại các phiên tòa ở cấp tỉnh là chủ yếu. Điều đó cũng làm cho chất lượng tranh tụng tại các tòa án không cao, không đồng đều. Ngoài ra, năng lực của luật sư yếu kém cũng ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng tại tòa. Tất cả những điều đó gây ảnh hưởng đến việc tôn trọng các nguyên tắc tố tụng hình sự nói chung và nguyên tắc hai cấp xét xử nói riêng. Vì thế chúng ta cần chú trọng nâng cao vai trò của các luật sự trong quá trình tố tụng hình sự và nâng cao năng lực, trình độ của luật sư. III. KẾT LUẬN: Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử đã thể hiện nhiều ưu thế và có ý nghĩa vô cùng to lớn, làm tư tưởng chủ đạo trong quá trình xét xử các vụ án hình sự nhằm trừng phạt thích đáng người có tội cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khác có liên quan và thậm chí là bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Vì vậy, chúng ta cần phát huy hơn nữa, thực hiện thật tốt nguyên tắc này để nâng cao chất lượng xét xử tại các phiên tòa, tránh được tối đa việc xét xử oan sai, không bỏ lọt tội phạm...
Xem thêm

Đọc thêm

Vướng mắc, hạn chế và những giải pháp nâng cao việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

Vướng mắc, hạn chế và những giải pháp nâng cao việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

Vướng mắc, hạn chế và những giải pháp nâng cao việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Hình sự 3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc có tính khái quát cao, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế vẫn còn có một số bất cập cần phải hoàn thiện. Nhóm chúng em xin đưa ra một số vướng mắc, đồng thời đóng góp giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này như sau: 3.1. Vướng mắc, hạn chế Thứ nhất: Về việc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5) và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6 BLTTHS). Theo quy định của hai nguyên tắc trên, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị bắt trừ trường hợp phạm tội quả tang. Trong BLTTHS Việt Nam năm 2003 đã quy định khá là chi tiết những trường hợp bắt người, những đối tượng bắt người. Tuy nhiên, những đối tượng phạm tội có những đặc điểm riêng, đặc biệt là về nhân thân như: Đại biểu quốc hội, Đại biểu hội đồng nhân dân, người nước ngoài phạm tội; đảng viên; cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; người có chức sắc trong các tôn giáo; người thủ lĩnh, người có danh tiếng, có uy tín lớn trong các dân tộc ít người; tri thức, nhân sĩ có tên tuổi, văn nghệ sĩ có tiếng tăm được trong nước và thế giới chú ý … lại chưa được BLTTHS đề cập đến. Trong khi đó việc bắt những “đối tượng đặc biệt” này được quy định trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước, văn bản của Đảng và Bộ Công an, như: Luật Tổ chức Quốc hội, luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Công văn số 318CVBNV(V11) ngày 2931992 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc xin ý kiến trước khi bắt, giam, giữ một số đối tượng đặc biệt,…Theo đó, việc bắt những đối tượng này phải tuân theo cả quy định của BLTTHS và những quy định riêng trong các văn bản pháp luật khác. Ví dụ: Điều 99 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giam giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét và quyết định.” Điều 44 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 23112003: “Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của Chủ tọa kỳ họp thì không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay với Chủ tọa kỳ họp.”Trong khi đó, BLTTHS lại không quy định những vấn đề này. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện quy định của pháp luật về bắt người, đồng thời ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của những đối tượng trên. Thứ hai: Về việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7 BLTTHS). Theo quy định tại Điều 81 BLTTHS thì việc bắt người khẩn cấp không cần có quyết định của Toà án và sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát Nhân dân. Điều này dẫn đến thực trạng chúng ta không thể chắc chắn rằng việc bắt người trong mọi lúc, mọi nơi là đúng. Đành rằng con người cũng có đôi lúc thiếu sót nhưng việc bắt người trong trường hợp này sẽ có tác động không nhỏ đến danh dự và đời sống bình thường của người bị bắt. Trong khi đó, do tính cấp bách của vấn đề nên việc bắt người khẩn cấp vẫn còn có trường hợp oan sai. Mặc dù sau 12h, người bị bắt có thể được thả ra nhưng việc bị bắt và bị giam oan sai thì ai và cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết? Mức độ giải quyết cụ thể như thế nào, việc khôi phục lại danh dự, uy tín cho người bị oan sai ra sao và có thoả đáng không còn là một vấn đề còn bỏ ngỏ. Ngoài ra, hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế của đối tượng bị áp dụng, ảnh hưởng đến quyền bảo hộ về tài sản của công dân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 146 BLTTHS, tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân của họ bảo quản nhưng không quy định rõ trong trường hợp nào thì giao cho thân nhân và trong trường hợp nào thì giao cho chủ tài sản. Ngoài ra, nếu người có tài sản bị kê biên không muốn giao tài sản cho người thân giữ mà muốn giao cho người khác vì tin cẩn hơn thì có được không? Thậm chí, Điều luật còn chưa làm rõ nếu trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền kê biên tài sản mà kê biên sai hoặc trong lúc kê biên làm hỏng, thất thoát tài sản kê biên gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của công dân, nhất là đối với các doanh nghiệp thì sẽ chịu trách nhiệm ra sao? Thứ ba: Về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8 BLTTHS). Rõ ràng, vấn đề giữ bí mật điều tra và việc công bố các thông tin điều tra vụ án trước khi có kết luận điều tra, trước khi xét xử cũng là một điều đáng bàn (Điều 124 BLTTHS). Bởi tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng Hình sự của Nhà nước ta. Do vậy, những bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, bí mật đời tư, bí mật trong kinh doanh cũng cần phải được đảm bảo trong suốt quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử và chỉ được công bố khi thật cần thiết. Sự cần thiết ở đây phải được hiểu là chỉ được công bố khi những bí mật này có liên quan đến việc định tội, hay gỡ tội cho bị can, bị cáo. Riêng đối với doanh nghiệp, những bí mật trong sản xuất, kinh doanh cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nếu những bí mật của doanh nghiệp bị tiết lộ sẽ làm mất đi ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Tuy nhiên vấn đề này lại không được Điều luật quy định. Như vậy, sẽ khiến cho doanh nghiệp không thấy được sự bảo đảm quyền lợi trong việc kinh doanh khi mà các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng có thể gây ra cho mình. 3.2. Giải pháp hoàn thiện Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này thì trước tiên chúng ta phải nhìn nhận được những vướng mắc, bất cấp của nó trong cả quy định của pháp luật và thực tiễn. Qua việc phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân bao trùm lên rất nhiều phần của BLTTHS. Do đó, nhóm chúng em xin đưa ra một số giải pháp như sau: • Hoàn thiện quy định của pháp luật: Bổ sung quy định về bắt người đối với những đối tượng “đặc biệt” tại chương VI BLTTHS thay vì quy định rải rác, không thống nhất trong quá nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Những đối tượng này có những đặc điểm riêng về nhân thân nên việc quy định cụ thể trình tự, thủ tục bắt người là rất quan trọng để đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền bất khả xâm phạm của công dân, tránh những tình trạng tiêu cực trong thực tiễn. Bổ sung quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 81 BLTTHS đối với tình huống bắt người oan sai. Cần quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cho công dân bị bắt oan để đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ. Quy định cụ thể hơn đối với tài sản của công dân bị kê biên tại Điều 146 BLTTHS, trường hợp nào tài sản kê biên được giao cho thân nhân và trong trường hợp nào thì giao cho chủ tài sản cũng như trách nhiệm của cơ quan tố tụng trong trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản kê biên. Quy định chặt chẽ hơn về việc giữ bí mật điều tra tại Điều 124 BLTTHS. Không chỉ những bí mật của cá nhân mà những bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, bí mật đời tư, bí mật trong kinh doanh cũng cần phải được đảm bảo trong suốt quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử và chỉ được công bố khi thật cần thiết. Điều này có ý nghĩa quan trọng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị điều tra. • Hoàn thiện con người: Cần có đội ngũ những người tiến hành tố tụng giỏi về chuyên môn và có đạo đức nghề nghiệp. Có thể nói đây là điều kiện có tính chất quyết định, bởi vì các quyền cơ bản của công dân có được tôn trọng và bảo vệ hay không là phụ thuộc vào việc thực thi pháp luật của những chủ thể này. Phải tăng cường ý thức pháp luật của nhân dân để họ nhận thức rõ và thực hiện tốt hơn các quyền của mình. Phải hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả.
Xem thêm

Đọc thêm

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

BỐ CỤC CỦA BỘ LUẬT BLTTHS gồm 9 phần, 36 chương và 510 điều (tăng 154 điều, bổ sung 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều); tách chương quyết định truy tố khỏi phần khởi tố, điều tra vụ án hình sự để thành một phần độc lập (Phần thứ ba: Truy tố); ghép phần xét xử sơ thẩm và phần xét xử phúc thẩm điều chỉnh trong một phần (Phần thứ tư: xét xử vụ án hình sự), cụ thể như sau: Phần thứ nhất: Những quy định chung, gồm 08 chương, 142 điều (Điều 1Điều 142) Chương I: Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS: gồm 06 điều (Điều 1Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS; phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội…; Chương II: Những nguyên tắc cơ bản: gồm 27 điều (Điều 7Điều 33) quy định những nguyên tắc áp dụng trong tố tụng hình sự như suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật…; Chương III: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: gồm 21 điều (Điều 34Điều 54) quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra… Chương IV: Người tham gia tố tụng: gồm 17 điều (Điều 55Điều 71) quy định quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng… Chương V: Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: gồm 13 điều (Điều 72Điều 84) quy định về người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa… Chương VI: Chứng minh và chứng cứ: gồm 24 điều (Điều 85Điều 108) quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự; chứng cứ; nguồn chứng cứ… Chương VII: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: gồm 02 mục, 22 điều (Điều 109Điều 130) quy định về các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế; hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản… Chương VIII: Hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng: gồm 12 điều (Điều 131Điều 142) quy định hồ sơ vụ án; văn bản tố tụng; chi phí tố tụng… Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự, gồm 09 chương, 93 điều (Điều 143Điều 235) Chương IX: Khởi tố vụ án hình sự: gồm 20 điều (Điều 143Điều 162) quy định căn cứ khởi tố vụ án hình sự; tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm… Chương X: Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự: gồm 16 điều (Điều 163Điều 178) quy định về thẩm quyền điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong một số hoạt động điều tra; thời hạn điều tra… Chương XI: Khởi tố bị can và hỏi cung bị can: gồm 06 điều (Điều 179Điều 184) quy định về khởi tố bị can; thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; triệu tập, hỏi cung bị can… Chương XII: Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng: gồm 07 điều (Điều 185Điều 191) quy định về triệu tập, lấy lời khai người làm chứng; đối chất; nhận dạng; nhận biết giọng nói… Chương XIII: Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: gồm 09 điều (Điều 192Điều 200) quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét; khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện… Chương XIV: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra: gồm 04 điều (Điều 201Điều 204) quy định về khám nghiệm hiện trường, tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra. Chương XV: Giám định và định giá tài sản: gồm 18 điều (Điều 205Điều 222) quy định về trưng cầu giám định; yêu cầu giám định; thời hạn giám định; tiến hành giám định; định giá tài sản… Chương XVI: Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: gồm 06 điều (Điều 223 Điều 228) quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; trường hợp áp dụng các biện pháp này; thẩm quyền áp dụng; thời hạn áp dụng… Chương XVII: Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra: gồm 07 điều (Điều 229Điều 235) quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ, kết thúc điều tra; truy nã bị can… Phần thứ ba: Truy tố, gồm 02 chương, 14 điều (Điều 236Điều 249) Chương XVIII: Những quy định chung: gồm 07 điều (Điều 236Điều 242) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát trong giai đoạn truy tố; thẩm quyền truy tố… Chương XIX: Quyết định việc truy tố bị can: gồm 07 điều (Điều 243Điều 249) quy định về quyết định truy tố bị can; trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án… Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự, gồm 03 chương, 113 điều (Điều 250 Điều 362) Chương XX: Những quy định chung: gồm 18 điều (Điều 250Điều 267) quy định về xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục; tạm ngừng phiên tòa; thành phần Hội đồng xét xử; nội quy, biên bản phiên tòa; bản án… Chương XXI: Xét xử sơ thẩm: gồm 06 mục, 62 điều (Điều 268Điều 329). bao gồm: Thẩm quyền của tòa án các cấp; chuẩn bị xét xử; thủ tục tố tụng tại phiên tòa... Chương XXII. Xét xử phúc thẩm: gồm 02 mục, 33 điều (Điều 330Điều 362) bao gồm: Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị; Thủ tục xét xử phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm; thủ tục phiên tòa phúc thẩm… Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án, gồm 02 chương, 07 điều (Điều 363Điều 369) Chương XXIII: Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án: gồm 04 điều (Điều 363Điều 366) quy định về bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay; thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án; giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án; và giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án. Chương XXIV: Một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích: gồm 03 điều (Điều 367Điều 369). Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, gồm 03 chương, 43 điều (Điều 370Điều 412) Chương XXV. Thủ tục giám đốc thẩm: gồm 27 điều (Điều 370Điều 396) quy định về tính chất của giám đốc thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thẩm quyền, phạm vi giám đốc thẩm; quyết định giám đốc thẩm… Chương XXVI: Thủ tục tái thẩm: gồm 07 điều (Điều 397Điều 403) quy định về tính chất của tái thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm; các thủ tục khác về tái thẩm… Chương XXVII. Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao: gồm 09 điều (Điều 404Điều 412) quy định về yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị; thủ tục mở phiên họp; thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật… Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt, gồm 07 chương, 78 điều (Điều 413Điều 490) Chương XXVIII: Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi: gồm 18 điều (Điều 413Điều 430) quy định về phạm vi áp dụng; nguyên tắc tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng; xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức; bào chữa; xét xử; xóa án tích; trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giao dục tại trường giáo dưỡng… Chương XXIX: Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân: gồm 16 điều (Điều 431Điều 446) quy định phạm vi áp dụng; quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; thẩm quyền và thủ tục xét xử, thi hành án đối với pháp nhân… Chương XXX: Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh: gồm 08 điều (Điều 447Điều 454) quy định về điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; điều tra đối với người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra; quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố; quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử; đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh… Chương XXXI: Thủ tục rút gọn: gồm 11 điều (Điều 455Điều 465) quy định về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn; điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; điều tra, phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục rút gọn… Chương XXXII: Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự: gồm 03 điều (Điều 466Điều 468) quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa; và hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt. Chương XXXIII: Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự: gồm 15 điều (Điều 469Điều 483) quy định về người có quyền khiếu nại; thời hiệu khiếu nại; quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo; thẩm quyền, thời hạn giải quyết; người có quyền tố cáo… Chương XXXIV. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác: gồm 07 điều (Điều 484Điều 490) quy định về người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ… Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế, gồm 02 chương, 18 điều (Điều 491Điều 508):
Xem thêm

Đọc thêm

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự

LỜI MỞ ĐÀU 1. Lý do chọn đề tài Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa các quyền con người luôn được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong các quyền đó thì quyền bào chữa được ghi nhận trong Hiến pháp là một điều quan trọng và cần thiết. Ở Điều 132 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Quyền bào chữa là cơ sở của các quyền khác mà pháp luật quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng hình sự. Phát triển và cụ thể hoá nguyên tắc nói trên, pháp luật tố tụng hình sự đã quy định một cách hệ thống các quyền tố tụng mà người bị tình nghi (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) có thể sử dụng để đưa ra những lý lẽ và chứng cứ để bào chữa cho mình. Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cảo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này. ” Trong một số điều luật, đặc biệt là các Điều 48 49 50 Bộ luật tố tụng hình sự, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã được quy định tương đối đầy đủ. Như chúng ta đã biết không phải bất cứ người bị tình nghi nào cũng có thể tự bào chữa cho mình, mà thông thường họ thường nhờ người có khả năng hiểu biết pháp luật để bào chữa thay cho họ. Luật gọi những người này là người bào chữa. Vì vậy, để đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tình nghi pháp luật tố tụng hình sự cho phép họ mời người bào chữa. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự cũng được luật quy định khá cụ thể ở các Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không chỉ là một nguyên tắc hiến định mà còn là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự. Vì bất kỳ sự vi phạm nào về nguyên tắc này trong qúa trình giải quyết vụ án hình sự đều có thể là một trong những nguyên nhân dẫn tới hậu quả xấu không chỉ đối với người bị tình nghi mà còn ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung và của Nhà nước nói riêng. Với tinh thần của cải cách tư pháp hiện nay chúng ta muốn quán triệt Nghị quyết 08TW ngày 02012002 của Bộ chính trị về việc giải quyết vụ án hình sự phải chủ yếu dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì sự tôn trọng nguyên tắc nói trên càng mang tính chất thiết thực hơn bao giờ hết. Và tầm quan trọng của người bao chữa cũng được xác định rõ hơn và quan trọng hơn. Xuất phát từ tầm quan trọng của người bào chữa là bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tình nghi trong quá trình tố tụng hình sự và góp phần bảo vệ quá trình tố tụng được chính xác khách quan, tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội phạm. Do đó tôi chọn đề tài “Vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình 5ự” để lảm luận văn tốt nghiệp cho mình. 2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Khi nói đến người bào chữa là chúng ta luôn nghĩ đến họ gắn liền với việc giúp cho người bị tình nghi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bảo vệ quá trình tố tụng, trợ giúp pháp lý,... Với bài viết này tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, chức năng, nhiệm vụ, bản chất pháp lý của người bào chữa, phân tích các quy định của pháp luật và việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và đề ra một số giải pháp. 3. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở tham khảo một số bài viết và nghiên cứu một số tài liệu về vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự, tác giả muốn đánh giá thực trạng về hoạt động của người bào chữa trong lĩnh vực tố tụng hình sự qua một số thành tựu, hạn chế về vai trò của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự, đồng thời đề ra phương hướng hoàn thiện về vai hò của người bào chữa trong giai đoạn hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng một số phương pháp chính như sau: • Khảo sát thực tế; • Thống kê; • Phân tích tổng họp; • Đối chiếu và so sánh. 5. Bố cục của đề tài Ngoài phàn mở đàu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận văn gồm có ba chương: Chương 1: Lý luận chung về vai ừò của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Chương 2: Vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Chương 3: Một số vấn đề về thực trạng và vướng mắc về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn hiện nay, đề xuất và những giải pháp. Lòi cảm ơn: Để hoàn thành được đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Mạc Giáng Châu đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý giá ừong quá trình nghiên cứu đề tài, đồng thời gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô trong khoa luật Đại học cần Thơ cùng các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu. Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH sự Trong tố tụng hình sự ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án thì bộ phận cũng không kém phần quan trọng trong việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự đó là người bào chữa, để làm rõ thế nào là người bào chữa chúng ta cần tìm hiểu những lý luận chung về bào chữa, quyền bào chữa, người bào chữa để thấy được vai trò quan trọng của người bào chữa trong tố tụng hình sự. l.l. Khái niệm chung Người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (gọi chung là người bị tình nghi) ừong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đe làm rõ được vai trò của người bào chữa chúng ta phải làm rõ các khái niệm liên quan đến bào chữa, chức năng và nhiệm vụ của người bào chữa trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. l.l.l. Một số khái niệm cơ bản l.l.l.l. Khái niệm bào chữa Ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến người ta đã biết dùng những lời nói biện hộ cho những hành vi sai ừái mà bản thân không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn biện hộ cho hành vi của mình là đúng để tránh bị phạt vạ hay trách móc của người khác gọi là “bào chữa”. Bào chữa là dùng lời nói hay đưa ra những chứng cứ để chứng minh một vấn đề nào đỏ mà chính bản thân mình cho là đúng hoặc là những việc làm sai để có được sự khoan hồng tha thứ từ người khác. Trong bối cảnh xã hội hiện nay người ta vẫn quen sử dụng cụm từ “bào chữa” để nói lên quyền được chống lại sự buộc tội từ người khác hoặc từ cơ quan quyền lực Nhà nước. Theo Từ điển luật học thì “bào chữa” được hiểu là “việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ bị can, bị cáo” . Từ “bào chữa” còn được sử dụng rộng rãi hơn trước, không chỉ được hiểu là dùng lời nói để biện hộ mà còn đưa ra những chứng cứ, vật chứng, nhân chứng,...để bào chữa. Không những thế mà còn được nâng lên thành những điều luật cho phép người bị buộc là phạm tội, có thể chứng minh là mình không có lỗi, không có tội hay để giảm nhẹ hành vi lỗi hoặc tội mà mình gây ra. Bào chữa là một trong những chức năng quan trọng không thể thiếu trong quá trình tiến hành giải quyết các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mà trong đó người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng chức năng này để tự mình bào chũa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Chế định về bào chữa cũng được quy định trong Hiến pháp tại Điều 132 như sau: “Quyển bào chữa của bị cáo được bảo đảm....”. Chế định bào chữa không những được quy định ừong Hiến pháp mà còn được cụ thể hoá hơn trong luật, theo Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cảo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của bộ luật này”. Tóm lại, bào chữa là việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tự mình đưa ra các lý lẽ chứng cứ chứng minh vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc có thế nhờ người khác thực hiện chức năng bào chữa cho mình (gọi là người bào chữa). 1.1.1.2. Khái niệm quyền bào chữa Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những quyền quan trọng nhất của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ừong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự. Việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp. Trong giới luật gia có quan điểm cho rằng: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép bị can, bị cảo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”. Có quan điểm khác lại cho rằng “Quyền bào chữa của bị can, bị cảo là tổng thể các quyền năng mà pháp luật quy định cho bị can, bị cảo, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cảo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần để họ sử dụng nhằm chổng lại một phần hay toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cảo ”. Một quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Quyển bào chữa là tong hợp các hành vỉ tố tụng của bị can, bị cảo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng” . Các quan điểm trên đều đã phản ánh được nội dung của quyền bào chữa, nhưng chưa đầy đủ ở chỗ là chưa làm sáng tỏ được từ “quyền” và cụm từ “bào chữa”. Để có cơ sở khoa học định nghĩa về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, cần phải làm sáng tỏ nội dung của từ “quyền” và cụm từ “bào chữa”, đồng thời phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự quy định về quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Theo Từ điển Luật học thì “quyền” được hiểu là “khải niệm pháp lý để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đổi với cả nhân, tổ chức để theo đó cả nhân, tố chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”. Theo Từ điến Tiếng Việt thì: “Bào chữa là dùng lỷ lẽ và chủng cử để bênh vực cho đưong sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước Toà án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”. Như vậy quyền bào chữa trước hết phải là những điều được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện, có nghĩa là phải được pháp luật ghi nhận vế mặt pháp lý. Những gì không được pháp luật quy định thì không được coi đó là quyền bào chữa. Cùng với việc ghi nhận, pháp luật còn xác định cơ chế đảm bảo cho chủ thể (cụ thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) thực hiện. Các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan, cá nhân khác không được hạn chế, ngăn cản. Thứ hai, quyền bào chữa gắn liền với chủ thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thể hiện thông qua quan hệ xã hội cụ thể là quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhà nước và bên kia là người bị tình nghi trong vụ án hình sự. Thứ ba, nội dung của quyền bào chữa là người bị buộc tội sử dụng mọi lý lẽ, chứng cứ, tài liệu để chống lại toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của Nhà nước (cụ thể là cơ quan công tố) nhằm chứng minh sự vô tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích hcrp pháp khác của mình. Từ sự phân tích và tổng họp tri thức về các khái niệm “quyền” và “bào chữa”, có thể xây dựng khái niệm “quyền bào chữa” như sau: Quyền bào chữa là tổng thể các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm chứng minh sự vô tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích họp pháp khác của mình. 1.1.1.3. Khái niệm người bào chữa Quyền bào chữa là quyền quan trọng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng tất cả những biện pháp, phương tiện mà pháp luật không cấm để chống lại, phủ nhận, bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của những cơ quan có thẩm quyền. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường thì có trình độ hiểu biết pháp luật thấp, khả năng thu thập chứng cứ, tranh luận và điều kiện về thời gian, về cơ sở vật chất... của họ có hạn chế, nhất là những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam, trong đó quá trình giải quyết vụ án hình sự gồm nhiều vấn đề phức tạp thì việc tự bào chữa của không ít người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gặp nhiều khó khăn, do vậy việc nhờ người bào chữa cho mình là rất cần thiết. Tại Điều 5 sắc lệnh số 13CSL ngày 1391945 về việc thiết lập các Toà án quân sự đã quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà năm 1946 cũng ghi nhận tại Điều 67: “Người bị cảo có thể tự bào chữa hoặc nhờ luật sứ”. Trong các bản Hiến Pháp 1959 và năm 1980 đều ghi nhận quyền của bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo được ghi nhận đầy đủ tại Điều 132 Hiếp pháp 1992 như sau: “Quyển bào chữa của bị cảo được bảo đảm. Bị cảo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tố chức luật sư được thành lập để giúp bị cảo và các đương sự khác bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phẩn bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Người bào chữa là người được pháp luật quy định tham gia vào quá trình tố tụng hình sự để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần lảm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay giảm nhẹ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo vệ họ khỏi sự vi phạm có thể từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác. Người bào chữa theo quy định của khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện họp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân; Khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, thì luật sư, người đại diện họp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân đều có quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định chung cho người bào chữa. a. Luật sư bào chữa Theo Điều 2 Luật Luật sư 2006 “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lỷ theo yêu cầu của cả nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) ”. Người muốn được hành nghề luật sư phải gia nhập một đoàn luật sư phải có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Luật sư, để đạt tiêu chuẩn để trở thành luật sư hội đủ điều kiện được quy định tại Điều 10 Luật luật sư: “Công dân Việt Nam trung thành với To quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua then gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. ” Và khi đạt đủ tiêu chuẩn tại Điều 10 còn phải hội đủ điều kiện hành nghề luật sư được quy định tại Điều 11 Luật luật sư: “Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư”. Những luật sư được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mời làm người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ và luật sư này không thuộc một trong những điều kiện không được bào chữa được quy định tại Khoản 2 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự: “Người đã tiến hành tổ tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tổ tụng trong vụ ản đó; Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giảm định hoặc người phiên dịch ”, thì luật sư được mời làm người bào chữa và được Cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư được mời mới trở thành luật sư bào chữa trong vụ án hình sự. Đây là hai điều kiện phải cùng tồn tại song song với nhau có một bên chủ thể không đồng ý thì luật sư không thể trở thành luật sư bào chữa trong vụ án hĩnh sự. Tóm lại, luật sư bào chữa là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật và đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mà luật sư bào chữa nhận lời bào chữa và phải được Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư mới chính thức trở thành luật sư bào chữa trong vụ án hình sự. b. Ngưòỉ đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có thế tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa trong trường người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không tự mình bào chữa được hoặc trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, người không có khả năng nhận thức hoặc nhận thức kém cần có người đại diện về mặt pháp luật để giúp cho họ có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người đại diện hợp pháp không chỉ là người đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vai trò là người bào chữa mà người đại diện hợp pháp cũng có quyền thay mặt người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời người bào chữa để giúp họ bảo về quyền và lợi ích hợp pháp. Tóm lại, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất và họ phải tuân thủ theo những quy định mà pháp luật đặt ra cho người bào chữa (nếu người đại diện hợp pháp thực hiện luôn chức năng bào chữa). c. Bào chữa viên nhân dân Người bào chữa trong tố tụng hình sự còn có thể là bào chữa viên nhân dân. Chức danh bào chữa viên ở nước ta ra đời trên cơ sở sắc lệnh số 69SL ngày 1861949 và chế định bào chữa viên nhân dân còn tồn tại đến ngày nay và được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự tại Điều 56 về người bào chữa: Những người có thể là người bào chữa trong đó có chế định bào chữa viên nhân dân. Bào chữa viên nhân dân: Là người được Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường họrp theo quy định của pháp luật, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo trong những trường hợp do pháp luật quy định. Bào chữa viên nhân dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, đều có các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho người bào chữa, về mặt pháp lý bào chữa viên nhân dân là một chủ thể tư pháp có tư cách của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Qua những phân tích trên bào chữa viên nhân dân là người được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức m ffffffff grgrgrg rggtt
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

Tiểu luận NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 ra đời đã đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, gây không ít khó khăn cho quá trình tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong BLTTHS. Ngoài ra, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến tố tụng hình sự như: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật thi hành án hình sự vv… Cùng với việc trong thời gian qua, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến tố tụng hình sự thì việc chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam. Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trước thực trạng đó, ngày 27 tháng 11 năm 2015 Quốc hội đã thông qua BLTTHS thay thế BLTTHS 2003, gồm 510 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Bộ luật này quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là sự kế thừa và phát huy của BLTTHS 2003, nhưng BLTTHS 2015 lại có bước phát triển mới để phù hợp với sự phát triển của đất nước và yêu cầu mới đặt ra cho pháp luật hình sự trong quá trình hội nhập và phát triển. Trong phạm vi của bài viết này, học viên chỉ đề cập đến những nội dung chính của chính sách pháp luật tố tụng hình sự được thể hiện trong các quy định về nguyên tắc cơ bản của BLTTHS 2015 được nêu cụ thể ở phần nội dung của Tiểu luận này.
Xem thêm

Đọc thêm

câu hỏi ôn thi luật tố tụng hình sự

câu hỏi ôn thi luật tố tụng hình sự

1.Việc giải quyết vụ án hình sự phải trải qua 7 giai đoạn tố tụng hình sự?Sai. Khi xét xử sơ thẩm mà các bên không kháng cáo, kháng nghị thì không cần phải xét xử phúc thẩm, hay giám đốc thẩm, tái thẩm.2.Trong mọi trường hợp bào chữa bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS, khi không có người bào chữa thì toà án hoãn phiên toà?Sai. Những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền từ chối người bào chữa và phiên tòa vẫn làm việc.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

I. KHÁI QUÁT MÔN HỌC 1. Thông tin chung về môn học Tên môn học : Quyền con ngườitrong tư pháp hình sự Môn học : Bắt buộc Mã môn học : CRL6024 Số tín chỉ : 02 Giờ tín chỉ đối với các hoạt động: + Nghe giảng lí thuyết: 24 + Thực hành: 06 + Tự học: 06 2. Đối tượng học và điều kiện tiên quyết Đối tượng: + Học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự + Nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự chưa có bằng Thạc sĩ Môn học tiên quyết: không có 3. Chuẩn đầu ra của môn học Sau khi học môn học này, người học sẽ: Được trang bị một cách có hệ thống lý luận về quyền con người trong tư pháp hình sự, nội dung cơ bản những qui định liên quan đến quyền con người trong tố tụng hình sự và việc áp dụng nó trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Được trang bị kỹ năng phân tích, đánh giá đúng các vấn đề pháp lý xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Có khả năng vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề đặt ra trong hoạt động thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong việc viết luận văn tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Hình sự: tình huống về tội giết người

Bài tập nhóm luật Hình sự: tình huống về tội giết người

Tình huống về tội giết người Bài tập nhóm Luật Hình sự 1 ĐỀ BÀI: Huynh (33 tuổi) vay của chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Tội giết người mà Huynh đã thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS. Câu hỏi: 1.Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS. (2 điểm) 2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích. (2 điểm) 3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. (1 điểm) 4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không? Tại sao? (2 điểm) LỜI MỞ ĐẦU Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được. Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Khi quyền sống của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của loài người sẽ trở nên vô nghĩa; động lực phát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu. Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội, nếu quyền sống của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Chính vì những lí do trên mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời đại và mọi chế độ. Cũng vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống của con người mà trong BLHS năm 1999, ngay sau các tội phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đã qui định các tội xâm phạm nhân thân. Trong số các tội xâm phạm nhân thân thì tội giết người được quy định đầu tiên và là một trong ba tội có hình phạt nghiêm khắc nhất tử hình. Thực tế xã hội hiện nay cho thấy, cùng với sự phát triển của xã hội, nhất là trong giai đoạn thời kì kinh tế nước ta hội nhập với kinh tế thế giới thì các loại tội phạm nói chung cũng như cũng như tội giết người nói riêng càng trở nên phức tạp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng của viêc phòng chống tội phạm, dưa trên kiến thức về lí luận và thực tiễn, em đã mạnh dạn chọn đề tài số2 cho bài tập nhóm số 1 môn Luật hình sự Việt Nam. Đây là tình huống liên quan đến tội giết người được quy định tại Điều 93 BLHS 1999. BÀI LÀM 1.Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS Huynh phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vìcó mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình. Điều 8 BLHS có nêu: “2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.” Theo cách phân loại tội phạm của BLHS, tội phạm tuy có chung các dấu hiệu (tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính chịu hình phạt) nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Chính vì sự khác nhau như vậy mà vấn đề phân hóa và cụ thể hóa tôi phạm đc đặt ra như là nguyên tắc của luật Hình sự Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 8 BLHS, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đc quy định trong bộ luật, tội phạm đc chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiệm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đăc biệt nghiêm trọng. Và mỗi loại tội phạm đc gắn với 1 khung hình phạt khác nhau đc quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS. Huynh phạm tội giết người vì động cơ đê hèn, điểm q, khoản 1, Điều 93 BLHS. Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.Chủ thể của tội phạm là Huynh, 33 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và mặc nhiên được thừa nhận có năng lực trách nhiệm hình sự. Khách thể của tội phạm là quyền sống của chị Nga, hành vi phạm tội là dùng dao gây án dẫn đến hậu quả là chị Nga chết. Ở hành vi phạm tội của Huynh, bị cáo đã giết chị dâu là Nga để không phải trả nợ khoản tiền 1,9 tỉ đồng đã quá hạn vay. Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau. Trong quan hệ vay mượn cũng là biểu hiện của tinh thần đó. Khi gặp khó khăn, túng thiếu Huynh đã được Nga cưu mang giúp đỡ, cho vay tiền. Lẽ ra Huynh phải biết ơn, ngược lại kẻ được cưu mang giúp đỡ lại giết người cưu mang, giúp đỡ mình nhằm trốn nợ. Từ những phân tích trên cùng với việc tổng kết kinh nghiệm xét xử nhiều năm ở nước ta thì trường hợp giết chủ nợ để trốn nợ của Huynh được kết luận là hành vi giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 BLHS. Căn cứ vào khoản 1 Điều 93 BLHS “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình…” thì tội phạm mà Huynh thực hiện có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, căn cứ tiếp vào khoản 3 Điều 8 BLHS tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gậy nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hìnhthì tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giả sử hành vi Huynh giết chị Nga chỉ do mâu thuẫn và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93 thì căn cứ theo khoản 2 Điều này, Huynh chỉ phải chịu hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, tức Huynh phạm tội rất nghiêm trọng, với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm nhẹ hơn so với tình huống của đề bài. 2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo pháp luật hình sự Viêt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được quy định tại Điều 8 của BLHS. Hành vi bị coi là tội phạm, theo luật Hình sự Việt Nam, là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một trong những quan hệ xã hội đã được xác định đó. Nhưng như vậy không có nghĩa hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội này trong mọi trường hợp đều bị coi là tội phạm mà chỉ trong những trường hợp nhất định – những trường hợp đã được cụ thể hóa qua những quy phạm pháp luật hình sự ở phần các tội phạm của BLHS. Hành vi Huỳnh giết chị Nga trong trường hợp này được quy định tại Điều 93 BLHS, thuộc các tội xâm phạm tính mạng của con người. Khách thể của nhóm tội này là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng.Huynh đã trực tiếp xâm hại quyền sống của chị Nga bằng cách tước đoạt một cách trái pháp luật mạng sống của nạn nhân. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, mà ta đã biết khách thể gồm có các bộ phận: Chủ thể của các quan hệ xã hội. Nội dung của các quan hệ xã hội: Là hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội. Đối tượng của các quan hệ xã hội: Là các sự vật khác nhau của thế giới bên ngoài cũng như các lợi ích mà qua đó các quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại. Trong tình huống đề bài nêu chủ thể của quan hệ nhân thân là chị Nga đã bị hành vi giết người của Huynh tước đoạt mạng sống, như vậy chị Nga chính là đối tượng tác động của tội phạm. Hơn thế trong số những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ có những quan hệ chỉ có thể gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người. Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này. Các tội phạm quy đinh trong Chương XII BLHS đều có đối tượng tác động là con người. Cụ thể ở trong trường hợp này là tại Điều 93 BLHS. 3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. (1 điểm) Phát biểu “Nếu tòa án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng” là sai. Điều 8 BLHS nêu rõ việc phân chia tội phạm thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi được quy định trong Bộ luật này. Việc nhận định tội phạm nào có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn cho xã hội dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó. Căn cứ vào Điều 44 BLHS thì khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm chỉ là một trong các tiêu chí để quyết định hình phạt, vì vậy hình phạt đối với hành vi phạm tội không phải là căn cứ để xác định tội phạm thuộc loại gì. Việc quyết định hình phạt đối với Huynh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nhân thân của Huynh, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Dù hành vi của Huynh là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có mức hình phạt cao nhất là tử hình, nhưng có thể Tòa án chỉ quyết định phạt Huynh mười lăm năm tù, nằm trong mức “từ mười hai đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” theo khoản 1 Điều 93. Đây là mức hình phạt cao nhất mà tội phạm rất nghiêm trọng phải nhận. Giả thiết trường hợp của Huynh có một số tình tiết giảm nhẹ: 1, Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả (điểm b, khoản 1, Điều 46). 2,Người phạm tội tự thú (điểm o, khoản 1, Điều 46) 3, Người phạm tội thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải (điểm p, khoản 1, Điều 46) Khi đó, áp dụng Điều 47 BLHS về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật thì hình phạt mà Huynh phải nhận có thể nhẹ hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là dưới mười hai năm. 4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam hay không? Tại sao? Khoản 2 Điều 5 BLHS nói về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.” Căn cứ vào khoản 2 Điều 5 BLHS thì sẽ có 2 trường hợp xảy ra với hành động phạm tội của Huynh: a, Trường hợp 1: Nếu Huynh không thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5 Huynh là người mang quốc tịch Trung Quốc, phạm tội giết người ở Hải Phòng thuộc lãnh thổ Việt Nam; mặt khác, Huynh không thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc theo điều ước quốc tế thì Huynh bị xử lí về hành vi giết người theo BLHS Việt Nam. Như vậy Huynh vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường như theo khoản 1 Điều 5 BLHS: Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể theo như đã nêu ở phần 1 thì Huynh phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có thể phải chịu mức án cao nhất là tử hình với tội danh giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q, khoản 1 Điều 93 BLHS. b, Trường hợp 2: Huynh thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5 Nếu Huynh thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, giả dụ Huynh là viên chức ngoại giao hoặc thành viên gia đình của viên chức ngoại giao… khi đó Huynh sẽ được miễn trừ xét xử hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Tuy nhiên không phải cứ thuộc đối tượng tại khoản 2 điều 5 BLDS là Huynh sẽ không phải chịu TNHS, nếu nước cử từ bỏ quyền miễn trừ đối với Huynh một cách rõ ràng, thì khi đó Huynh sẽ phải chịu TNHS một cách bình thường.
Xem thêm

Đọc thêm

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua nhiều đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng. Vì vậy, bảo đảm quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào”(Điều 7-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). “Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và đặc biệt quan trọng là bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là luật pháp phải được thượng tôn, bất kể vị thế giữa người vi phạm và người bị xâm phạm. Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân phải được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có cùng tư cách pháp lý như nhau. Tuy nhiên, mức độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu thì còn phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng; công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và các Đạo luật xác định, đó chính là điều kiện để sử dụng quyền của mình một cách tốt nhất. Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều quốc gia. Hiến pháp Việt Nam quy định rằng mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, có thời hạn cư trú từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Hiến pháp Việt Nam còn xác định quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Xây dựng và bảo vệ sự bình đẳng của đương sự là một giá trị xã hội và là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người. Bình đẳng không phải là vấn đề có tính chất cá nhân mà nó có mối liên hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Đảm bảo quyền bình đẳng của đương sự trong TTDS là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc tạo ra tính bền vững, sự ổn định và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều đó đã được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm hướng tới “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao” (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Kế thừa và phát huy những giá trị của các văn bản pháp luật về TTDS được ban hành trước đó, BLTTDS đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc cải cách tư pháp, quy định quy trình tố tụng khoa học, đảm bảo đẩy mạnh dân chủ và là công cụ pháp lý quan trọng để các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 8 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016) đã quy định về sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự như sau: “1/Trong tố tụng Dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. 2/Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”. Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 2004. Đến năm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung BLTTDS. Năm 2015, BLTTDS mới ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016, là BLTTDS hiện hành. Trải qua 03 BLTTDS, điều khoản quy định về nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đều được quy định tại Điều 8. Trong quá trình thực hiện, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và hạn chế. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa án. Một trong những vấn đề còn tồn tại đó là những quy định về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên thì có nhiều, trong đó có cả sự nhận thức và áp dụng không thống nhất về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề