SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM":

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

toán viên khu vực. Các kiểm toán viên được tuyển chọn chủ yếu tốtnghiệp đại học và thời gian 5 năm trở lên làm công tác kế toán - tàichính các doanh nghiệp Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhànước, một số trường hợp mới tốt nghiệp đại học hoặc có thời giancông tác dưới 5 năm thông qua thi tuyển. Tổng số 460 cán bộ, số cánbộ có trình độ đại học chiếm 88%, đặc biệt là đội ngũ kiểm toán viêncó trình độ đại học trở lên chiếm 100% trong đó đội ngũ kiểm toánviên trẻ chiếm 25%. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho độingũ kiểm toán viên luôn được ngành đặc biệt quan tâm. Hàng nămKTNN đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, mở nhiều khoá tập huấn trongnước và cử nhiều cán bộ kiểm toán viên đi học tập, nghiên cứu kinhnghiệm kiểm toán những nước như Cộng hoà liên bang Đức, ẤnĐộ, Nhật Bản, Thái Lan... Hiện nay có 90% kiểm toán viên đã qualớp quản lý hành chính Nhà nước và các lớp đào tạo, bồi dưỡng nângcao trình độ nghiệp vụ.Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, KTNN Nam cũng thu đượcnhiều kết quả tốt đẹp. Tháng 04/1996 gia nhập tổ chức quốc tế cáccơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) và tháng 11/1997 trở thànhthành viên của tổ chức cac cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á(ASOSAI). Bên cạnh đó Kiểm toán Việt Nam còn mở rộng quan hệhợp tác với cơ quan kiểm toán tối cao của nhiều nước trên thế giớinhằm trao đổi kinh nghiệm và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước vàcác tổ chức quốc tế, trong đó đặc biệt là dự án "Hỗ trợ xây dựngKTNN Việt Nam " do cộng hoà liên bang Đức và dự án ADB dongân hàng phát triển Châu Á tài trợ.Những kết quả trong 6 năm đầu thành lập tuỳ còn rất nhiềukhiêm tốn nhưng đã thể hiện sự nỗ lực phấn đấu và những đóng gópthiết thực của ngành KTNN còn non trẻ trong sự nghiệp đổi mới củađất nước.2. Những hạn chế tồn tại.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM

PHẦN GIỚI THIỆU
Lý do chọn đề tài.
Kiểm toán hoạt động bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực công ở một số quốc gia
thuộc OECD từ cuối những năm 1960 và phát triển nhanh đầu những năm 90 cùng
với những cải cách sâu, rộng trong quản trị công tại các quốc gia này. Trong số đó,
một số quốc gia được cho là thành công trong việc thực hiện kiểm toán hoạt động
chẳng hạn Mỹ, Anh, Canada, Úc, Hà Lan nhưng tiến trình và mô hình phát triển có
nhiều điểm khác biệt (Pollitt & cộng sự 1999). Điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên
cứu khảo sát thực tiễn hình thành và phát triển loại hình kiểm toán này nhằm tìm
hiểu bản chất và xây dựng lý thuyết về kiểm toán hoạt động. Theo Lonsdale & cộng
sự (2011), đến nay, chúng ta đã gần hiểu biết đầy đủ về kiểm toán hoạt động và hầu
hết các SAI trên thế giới đều thừa nhận rằng phát triển kiểm toán hoạt động trong
lĩnh vực công
1
là một nhu cầu tất yếu nhằm đáp ứng kỳ vọng của công chúng. Ngoài
ra, kiểm toán hoạt động có thể đóng góp giá trị tăng thêm qua việc thực hiện hai mục
tiêu kiểm toán hoạt động cơ bản là nâng cao trách nhiệm giải trình và giúp đơn vị
được kiểm toán cải tiến hiệu quả hoạt động. Nhiều SAI khác cũng đã áp dụng lý
thuyết kiểm toán hoạt động vào trong chức năng của mình, nhưng không phải quốc
gia nào cũng có thể triển khai và phát triển thành công loại hình kiểm toán này.
Thống kê các nghiên cứu học thuật về kiểm toán hoạt động được công bố tính đến
tháng 7 năm 2009, có gần 400 bài báo, nghiên cứu liên quan đến kiểm toán hoạt
động
2
, nhưng chỉ có một số ít khám phá và giải thích sự hình thành và phát triển
kiểm toán hoạt động. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy bối cảnh kinh tế, chính trị và
xã hội; cải cách quản trị công; những yếu kém trong quản lý và sử dụng nguồn lực
công và khả năng của SAI, những thay đổi trên phương diện kỹ thuật kiểm toán có
ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động. Nhìn chung, những
nghiên cứu trước chủ yếu tập trung khảo sát sự hình thành và phát triển kiểm toán
hoạt động tại các nước OECD – là những quốc gia có nhiều khác biệt về thể chế chính trị, kinh tế và xã hội với Việt Nam - quốc gia đang phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra mô
hình các nhân tố tác động tới việc phát triển kiểm toán hoạt động. Phần lớn các
nghiên cứu chỉ dừng lại tìm hiểu và giải thích vai trò ảnh hưởng của các nhân tố tới
sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công qua nghiên cứu
định tính.
Tại Việt Nam, về mặt pháp lý, kiểm toán hoạt động đã thừa nhận chính thức
trong Luật KTNN năm 2005. Năm 2007, nhận sự hỗ trợ chuyên môn từ dự án GTZ,
SAV đã tổ chức triển khai độc lập một cuộc kiểm toán hoạt động trong dự án bao
gồm 15 chủ đề kiểm toán được xây dựng. Sau đó, nội dung kiểm toán hoạt động
thuộc dự án này đã phải tạm dừng, đến năm 2007, SAV lần đầu tiên bổ sung thêm
mục tiêu kiểm toán đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hữu hiệu
trong các
cuộc kiểm toán hàng năm
4
. Theo Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2013-2017 sẽ tiếp
tục triển khai loại hình kiểm toán này. Tuy nhiên, về mặt lý luận, chưa có nghiên
cứu nào liên quan đến chủ đề này được công bố, trong khi đó, SAV đang triển khai
thực hiện loại hình kiểm toán này trên thực tế một cách độc lập.
Vậy, động cơ nào thúc đẩy các SAI quyết định mở rộng chức năng từ kiểm
toán truyền thống (kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính) sang kiểm toán
hoạt động, chúng phụ thuộc nhân tố nào, đâu là xu hướng phát triển chung của loại
hình kiểm toán này, liệu lý thuyết kiểm toán hoạt động đến từ các quốc gia phát triển
có thể áp dụng phù hợp cho các quốc gia đang phát triển có nhiều khác biệt về kinh
tế, chính trị - xã hội như Việt Nam không?.
Xuất phát từ khoảng trống trong lý thuyết và nhu cầu thực tiễn, việc khảo sát
lịch sử hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt Nam
sẽ đóng góp thêm hiểu biết tại sao SAV mở rộng chức năng sang kiểm toán hoạt
động, nhưng quá trình triển khai tổ chức thực hiện bị gián đoạn và chậm phát triển?.
Nhân tố nào thúc đẩy việc SAV tìm kiếm thêm chức năng mới này,và nhân tố nào
cản trở sự phát triển của loại hình kiểm toán này trên thực tế. Liệu các phát hiện
trong các nghiên cứu trước có phù hợp với bối cảnh phát triển kiểm toán hoạt động ở
Việt Nam hay không?.
Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu chung: Khám phá các nhân tố và đánh giá mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố đến việc hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực
công ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
 Tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển kiểm toán hoạt động của một số quốc
gia trên thế giới và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này;
 Xác định trình độ phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở
Việt Nam;
 Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chính đến việc
hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong SAV.
Xem thêm

183 Đọc thêm

Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam và kiểm toán có thực sự độc lập không ?

HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM VÀ KIỂM TOÁN CÓ THỰC SỰ ĐỘC LẬP KHÔNG ?

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận bao gồm 03 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về kiểm toán độc lập
Chương II: Thực trạng hoạt động của kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay
Chương III: Những giải pháp đổi mới hoạt động kiểm toán độc lập và kiểm toán viên

32 Đọc thêm

Đề tài: Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam.

ĐỀ TÀI: RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM.

Đề tài nghiên cứu khoa học: Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá
rủi ro kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
MỤC LỤC
1. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................ 2
1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 2
1.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài............................................. 3
1.2.1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến Đề tài. ....... 3
1.2.2. Công trình nghiên cứu về quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán ở trong
nước ............................................................................................................ 4
2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.................................................................................. 5
2.1. Mục tiêu.................................................................................................... 5
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 5
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 6
2.3.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá rủi ro kiểm toán trong
kiểm toán báo cáo tài chính ............................................................................ 6
2.3.2. Thực tiễn đánh giá rủi ro kiểm toán tại công ty TNHH Deloite Việt
Nam............................................................................................................... 24
2.3.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong
kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam.... 40
3. KẾT LUẬN................................................................................................... 44
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 45
PHỤ LỤC............................................................................................................ 47
Đề tài nghiên cứu khoa học: Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá
rủi ro kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đối tượng nghiên cứu
Kiểm toán đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Kiểm toán độc lập Việt Nam được chính thức thành lập vào năm 1991 với sự ra
đời của hai công ty kiểm toán thuộc Bộ Tài chính là Công ty Kiểm toán Việt
Nam (nay là DeloitteViệt Nam) và Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán
và Kiểm toán (AASC). Sau gần 25 năm hoạt động, cùng với tiến trình hội nhập
và phát triển kinh tế của đất nước, các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam
đã không ngừng gia tăng về số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp.
Hiện nay, Dịch vụ Kiểm toán BCTC vẫn là dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng doanh thu của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam. Kiểm toán BCTC
đưa ra sự đảm bảo hợp lý của KTV về tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của
BCTC, từ đó đảm bảo BCTC không còn chứa các sai phạm trọng yếu ảnh hưởng
đến quyết định của người sử dụng thông tin trên BCTC. Cùng với xu thế hội
nhập về dịch vụ kế toán, kiểm toán với khu vực và quốc tế, những đòi hỏi từ
thực tiễn quản lý đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp
của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam. Một yếu tố quan trọng góp phần
nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán là đánh giá khoa học và chuẩn xác rủi ro
kiểm toán.Tuy nhiên, trên thực tế công việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm
toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam hiện vẫn còn nhiều
điểm chưa hoàn thiện.
Đánh giá rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng để giúp các công
ty kiểm toán xây dựng kế hoạch và thực hiên kiểm toán một cách hợp lý và hiệu
quả, đảm bảo chất lượng kiểm toán. Đánh giá rủi ro kiểm toán là công việc
xuyên suốt trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính , nó thể hiện
tầm nhìn của kiểm toán viên và góp phần nâng cao chất lượng của cuộc kiểm
toán. Tuy nhiên thực tế hiện nay việc đánh giá rủi ro ở các công ty kiểm toán
độc lập tại Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện do đây
Xem thêm

48 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM (VACO)

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM (VACO)

Từ trước năm 1990, khái niệm về kiểm toán hoàn toàn xa lạ với nhiều người Việt Nam. Nhưng kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã đem theo những kiến thức về kiểm toán độc lập. Kiểm toán độc lập được xem như một điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư vào nước ta, đồng thời các nhà quản lý, các cán bộ khoa học của ta cũng có điều kiện vươn ra nước ngoài, tiếp xúc với nền kinh tế thị trường thế giới và nhận thức được tác dụng thiết thực của hoạt động kiểm toán độc lập.
Xuất phát từ hoàn cảnh đó, hoạt động kiểm toán ở Việt Nam đã ra đời. Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) là Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên ở Việt Nam được thành lập và nhanh chóng trở thành công ty kiểm toán hàng đầu của Việt Nam. Tuy mới ra đời được 10 năm, một khoảng thời gian chưa phải là dài nhưng VACO đã khẳng định được vị trí của mình và góp phần vào sự phát triển của ngành kiểm toán non trẻ của Việt Nam.
Qua một thời gian ngắn được thực tập tại Công ty, qua nghiên cứu tài liệu giới thiệu về Công ty cùng với những thông tin thu thập được, em xin đưa ra những tổng kết đánh giá về quá trình 10 năm hoạt động của Công ty và định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới trong báo cáo thực tập tổng hợp của mình. Kết cấu của báo cáo ngoài lời nói đầu và kết luận gồm 2 phần:
Phần I: Qúa trình hoạt động và phát triển của VACO
Phần II: Định hướng phát triển của VACO giai đoạn 2001 2005.
Do hạn chế về thời gian cũng như chưa có điều kiện tìm hiểu sâu hơn về Công ty nên báo cáo chỉ mang tính tổng hợp, khái quát. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo và các anh chị kiểm toán viên VACO để báo cáo của em đưọc hoàn chỉnh hơn.
Xem thêm

19 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

Trong hoạt động của mình các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thờng nhận phục vụ khách hàng 4 loại dịch vụ chính: - Dịch vụ xác nhận bao gồm : Kiểm toán báo cáo tài chính, đây là dich vụ [r]

17 Đọc thêm

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

TRANG 6 +Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần thông tin trung thực không chỉ trên các bản khai tài chính mà còn thông tin cụ thể về tài chính, về hiệu quả và hiệu nă[r]

18 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

Trong hoạt động của mình các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thờng nhận phục vụ khách hàng 4 loại dịch vụ chính: - Dịch vụ xác nhận bao gồm : Kiểm toán báo cáo tài chính, đây là dich vụ [r]

16 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM

Trong hoạt động của mình các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thờng nhận phục vụ khách hàng 4 loại dịch vụ chính: - Dịch vụ xác nhận bao gồm : Kiểm toán báo cáo tài chính, đây là dich vụ [r]

17 Đọc thêm

Nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Công ty hợp danh Kiểm toán Việt Nam

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY HỢP DANH KIỂM TOÁN VIỆT NAM

Tính cấp thiết của đề tài:Đứng trước xu thế tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được và có chủ trương hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, các ngành dịch vụ trong nước cũng phải được nâng cao để phù hợp với điều kiện này và đáp ứng được yêu cầu quản lý. Tăng cường hoạt động và nâng cao chất lượng công tác kế toán kiểm toán, từ lâu luôn được các nước phát triển trên thế giới coi trọng vì tầm quan trọng và sự cần thiết của kế toán và kiểm toán. Bước vào thế kỷ 21, khi mà toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu thì vai trò của kế toán và kiểm toán lại càng trở nên quan trọng hơn. Kiểm toán nói chung vừa là một nghề cung cấp dịch vụ (xét trên khía cạnh kinh doanh đó là các Công ty kiểm toán “sau đây gọi là Kiểm toán”) vừa là một công cụ quản lý kinh tế trong hệ công cụ quản lý của Nhà nước (xét trên khía cạnh quản lý đó là hoạt động của Kiểm toán Nhà nước). Hoạt động của các Công ty Kiểm toán đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, đối chiếu và xác nhận độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, và các số liệu trình bày trên Báo cáo tài chính của các đơn vị, góp phần đáng kể vào việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thu hút các hoạt động đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước.Kiểm toán luôn có vai quan trọng trong mối quan hệ cung cấp thông tin tài chính giữa các doanh nghiệp và người sử dụng thông tin. Hướng dẫn kiểm toán là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tính trung thực và khách quan của các thông tin tài chính làm cơ sở cho việc ra các quyết định đầu tư và quản lý kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam vai trò của hoạt động kiểm toán có nhiều thay đổi và chất lượng của các dịch vụ kiểm toán đang là một vấn đề mà các doanh nghiệp và nhà đầu tư quan tâm.Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng phức tạp, thông tin kinh tế càng có nguy cơ chứa đựng rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy. Đối tượng quan tâm đến thông tin tài chính của doanh nghiệp không phải chỉ có Nhà Nước mà còn có các cấp quản lý, đối tác liên kết liên doanh và cả người lao động. Tuy từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng quan tâm đều có nguyện vọng chung là sử dụng thông tin có độ tin cậy cao, độ chính xác và trung thực. Nếu tất cả những người quan tâm đều phải tự tổ chức kiểm tra các thông tin tài chính của doanh nghiệp thì chi phí quá lớn. Vì vậy cần thiết phải có tổ chức độc lập, khách quan tiến hành kiểm tra các thông tin này để đáp ứng yêu cầu của nhiều đối tượng sử dụng thông tin, đó chính là tổ chức kiểm toán. Luật kiểm toán độc lập số 672011QH12 đã được Quốc hội thông qua ngày 29032011. Đây là văn bản pháp luật cao nhất về kiểm toán độc lập lần đầu tiên được công bố tại Việt Nam, đã nâng cao vị thế của kiểm toán độc lập lên tầm cao mới, đặt cơ sở pháp lý bền vững cho sự phát triển cho nghề nghiệp kiểm toán trong tương lai. Cùng với Nghị định số 1052004NĐCP ngày 30032004 của Chính phủ về Kiểm toán độc lập, Nghị định số 1332005NĐCP ngày 31102005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1052004NĐCP ngày 30 tháng 3 năm 2004 về Kiểm toán độc lập, và hệ thống các chuẩn mực kiểm toán, Việt Nam đang dần hoàn thiện hoạt động kiểm toán nói chung và lĩnh vực kiểm toán độc lập nói riêng, góp phần hoàn thiện bức tranh tài chính của các doanh nghiệp theo hướng trung thực và minh bạch hơn. Tại thời điểm hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 230 Công ty, chi nhánh của các tổ chức kiểm toán độc lập bao gồm cả các tổ chức kiểm toán nước ngoài có uy tín trên thế giới, trong khi nền kinh tế nước ta chưa đạt đến mức độ nền kinh tế thị trường đầy đủ, nên hoạt động kiểm toán không phải lúc nào cũng được coi là một yêu cầu bức thiết. Với số lượng các tổ chức kiểm toán như hiện nay, việc cung cấp dịch vụ còn chịu tác động của quy luật cung cầu, cạnh tranh. Do vậy chất lượng dịch vụ kiểm toán là vấn đề các đơn vị cung cấp cần phải đặt lên hàng đầu.Xuất phát từ những đặc điểm trên, để duy trì hoạt động của công ty cũng như đáp ứng yêu cầu của đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán, tác giả chọn và nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Công ty hợp danh Kiểm toán Việt Nam” để làm đề tài luận văn thạc sỹ cho mình với mong muốn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam.
Xem thêm

92 Đọc thêm

Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố định trong kiểm toán Báo cáo tài chính do chi nhánh công ty TNHH kiểm toán và tư vấn AC tại Hà Nội thực hiện

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN AC TẠI HÀ NỘI THỰC HIỆN

Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ ngày nay, nền kinh tế thế giới đang chuyển mình từng bước đi lên mạnh mẽ. Sự biến chuyển của nền kinh tế gắn liền với sự thay đổi mạnh mẽ của từng quốc gia trong từng khu vực trên thế giới. Song cùng với sự thay đổi đó, bước vào những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã phát triển mạnh. Nền kinh tế Việt Nam có sự biến chuyển mạnh mẽ, bước chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế mở đặt ra nhiều yêu cầu mới. Trước sự đòi hỏi của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán đã được công nhận ở Việt Nam với sự ra đời của các tổ chức độc lập về kế toán kiểm toán nhằm giúp cá nhân, tổ chức nắm rõ kiến thức, tăng cường hiểu biết về tài chính, kế toán trong bối cảnh mới. Sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập quốc tế và nội địa ở Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho những người quan tâm đến các số liệu tài chính ở Việt Nam. Kiểm toán đã trở thành một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành.
Báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung trên mọi khía cạnh của quá trình kinh doanh. Một tập hợp các thông tin có được từ việc xử lý các giao dịch cuối cùng sẽ được phản ánh thành các bộ phận, các khoản mục trên báo cáo tài chính. Vì vậy, để đạt được mục đích kiểm toán toàn diện báo cáo tài chính kiểm toán viên cần phải xem xét kiểm tra riêng biệt các bộ phận của chúng.
Tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Vì vậy việc hạch toán TSCĐ cũng như việc trích lập chi phí khấu hao cần phải được ghi chép đúng đắn và tính toán chính xác. Hơn nữa khoản mục TSCĐ trên bảng cân đối kế toán thường chiếm một tỷ trọng lớn nên sai sót đối với khoản mục này thường gây ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Do đó kiểm toán TSCĐ và khấu hao TSCĐ đóng một vai trò quan trọng trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Nhận thức được điều này nên trong quá trình thực tập tại chi nhánh AC Hà Nội em đã lựa chọn đề tài:“Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố định trong kiểm toán Báo cáo tài chính do chi nhánh công ty TNHH kiểm toán và tư vấn AC tại Hà Nội thực hiện” làm đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

95 Đọc thêm

Luận văn Hoàn thiện kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán tài chính do Công ty Kiểm toán tư vấn xây dựng Việt Nam thực hiện

LUẬN VĂN HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG TỒN KHO TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH DO CÔNG TY KIỂM TOÁN TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT NAM THỰC HIỆN

Luận văn Hoàn thiện kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán tài chính do Công ty Kiểm toán tư vấn xây dựng Việt Nam thực hiệnTrong điều kiện bước đầu hội nhập nền kinh tế thế giới, môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã và đang tiến dần đến thế ổn định. Nhiều cơ hội mới mở ra cho các doanh nghiệp, đi kèm với đó là những thách thức, những rủi ro không thể né tránh. Ngành kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Từ trước đến nay, Báo cáo tài chính luôn là đối tượng chủ yếu của kiểm toán độc lập. Báo cáo tài chính là tấm gương phản ánh kết quả hoạt động cũng như mọi khía cạnh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Báo cáo tổng hợp tại Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn APEC

BÁO CÁO TỔNG HỢP TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN APEC

Kiểm toán là lĩnh vực được ưu tiên hang đầu trong nền kinh tế hiện nay , làm cho người dung tin tưởng vào tính minh bạch của tài chính cũng như chất lượng sản phẩm . Hệ thống kiểm toán bảo đảm cho tính trung thực , khách quan , đầy đủ hợp lý của các thông tin tài chính, kinh tế nhất là các thông tin trên báo cáo tài chính của các thành phần kinh tế . Đồng thời kiểm toán cũng giúp cho doanh ngiệp có được sự thay đổi hợp lý trong cách quản lý cũng như đưa ra các chính sách tích cục cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Phát triển cùng với nền kinh tế thị trường , lĩnh vục kiểm toán hình thành và phát triển lớn mạnh trên toàn thế giới và trên đất nước Việt Nam trong hơn mười lăm năm qua , nó trở thành lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu và là nhu cầu tất yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh ngiệp . Kiểm toán đã và đang cho thấy vai trò của mình trong nền kinh tế phát triển này , nó đi sâu vào từng doanh ngiệp từ lớn đến nhỏ . Có thể nói kiểm toán là một phần vô cùng quan trọng và tất yêu làm cho đất nước tốt hơn và nền kinh tế được cải thiện rõ rệt Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra đánh gia độ tin cậy của các thông tin tài chính , góp phần vào sự đổi mới của nền sản xuất cũng như văn minh của nền kinh tế hiện nay . Kiểm toán độc lập cũng góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài , tạo điều kiện phát triển kinh tế cho đất nước Việt Nam . Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH kiểm toán và tư vấn APEC , nhờ được sự giúp đỡ tận tình của các anh chị trong công ty .Em đã được tiếp xúc trực tiếp và hiểu biết hơn về lịch sử phát triển ,về đặc điểm hoạt động , tổ chức quản lý và tổ chức kiểm toán của công ty . Từ đó em đã có những hiểu biết để chuẩn bị tốt hơn trong việc tìm hiều và định hướng cho giai đoạn thực tập kiểm toán . PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN APECPHẦN II : ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN APECPHẦN III: NHẬN XÉT VÀ CÁC ĐỀ XUẤT CỦA TỔ CHỨC KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN APEC Em xin chân thành cảm ơn đến giáo viên hướng dẫn PGS.Nguyễn Thị Phương Hoa giảng viên Viện Kế toán – Kiểm toán trường Đại học Kinh tế quốc dân;Ban giám đốc cùng các anh chị nhân viên của Công ty TNHH Dịch vụ kiểm toán kế toán và tư vấn thế APEC đã tận tình chỉ bảo giúp em có những định hướng đúng đắn, thu thập thông tin đầy đủ, phù hợp để hoàn thành tốt báo cáo này.
Xem thêm

34 Đọc thêm

 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VẬN DỤNG KHÁI NIỆM TRỌNG YẾU TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN CỦA KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VẬN DỤNG KHÁI NIỆM TRỌNG YẾU TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN CỦA KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

Kiểm toán và đặc biệt là kiểm toán tài chính xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý của các doanh nghiệp. Ở Việt nam, hoạt động kiểm toán xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Trước xu thế hội nhập hiện nay, các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng và cạnh tranh với các công ty kiểm toán nước ngoài.
Trong đó, quy trình đánh giá tính trọng yếu góp một phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán,đặc biệt là kiểm toán tài chính. Một quy trình đánh giá trọng yếu hiệu quả sẽ giúp kiểm toán viên xây dựng được một kế hoạch kiểm toán tốt nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện kiểm toán được hiệu quả, có khả năng phát hiện được những sai phạm trọng yếu, trên cơ sở đó kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến thích hợp nhất đối với báo cáo tài chính.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của quy trình này đối với toàn bộ cuộc kiểm toán, qua quá trình nghiên cứu lý luận kết hợp với việc tìm hiểu các tài liệu tham khảo, em đã hoàn thành đề tài “ Vận dụng khái niệm trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán của kiểm toán Báo cáo tài chính” .
Xem thêm

37 Đọc thêm

thực trạng hoạt động của kiểm toán viên và các doanh nghiệp kiểm toán tại việt nam năm 2014

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM NĂM 2014

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: KIỂM TOÁN VIÊN VÀ YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN 2
1.1. KIỂM TOÁN VIÊN 2
1. 2. YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN 2
1.2.1. Độc lập, khách quan và chính trực 2
1.1.2. Khả năng và trình độ 3
1.1.3.Thận trọng và bảo mật 3
CHƯƠNG 2 5
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM 5
2.1. HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN 5
2.2. HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN 5
2.2.1. Hoạt động lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế chương trình kiểm toán 5
2.2.1.1. Hoạt động lập kế hoạch kiểm toán 5
2.2.1.2. Hoạt động thiết kế chương trình kiểm toán 6
2.2.2. Hoạt động phát hiện ra các sai phạm trọng yếu trong báo cáo tài chính 6
2.2.3. Hoạt động của kiểm toán viên trong việc thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán . 8
2.2.4. Hoạt độngvề tính bảo mật thông tin của khách hàng 10
2.2.5. Hoạt động đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán 11
2.2.6. Hoạt độngcủa kiểm toán viên đối với những người quan tâm tới báo cáo kiểm toán: 12
2.3. HOẠT ĐỘNGCỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI CÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN: 17
2.3.1.Khái niệm chung 17
2.3.2. Hoạt động của kiểm toán viên: 18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VIÊN VÀ CÁC DOANH NGHIỆP 20
3.1. HOẠT ĐỘNG TUÂN THỦ PHÁP LUẬT 20
3..2. TUÂN THỦ CÁC CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM 20
KẾT LUẬN 24

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán độc lập, đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý của các doanh nghiệp. Kiểm toán chính là sự xác nhận tính khách quan, tính chuẩn xác của thông tin; và quan trọng hơn là qua đó để hoàn thiện quá trình quản lý, hoàn thiện quá trình tổ chức thông tin, phôc vô có hiệu quả cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán.
Từ những năm đầu của thập kỷ 90, sự ra đời của các công ty kiểm toán của Việt Nam, cùng với sự tham gia trong một số lĩnh vùc của các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới, hoạt động kiểm toán ở Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển. Kiểm toán đã trở thành một nghề nghiệp, một lĩnh vùc hoạt động nghiệp vô.
Cùng với sự phát triển của kiểm toán thì Hoạt động của kiểm toán viên cầng ngày càng được quan tâm hơn. Chính vì vậy mà nhóm chúng em quyết định chọn đề tài cho đề án môn học kiểm toán tài chính của mình là: “Thực trạng hoạt động của kiểm toán viên và các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt nam Hiện Nay ”.
Bài viết của chúng em gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Chương 1: Kiểm toán viên và yêu cầu chung đối với kiểm toán viên.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của kiểm toán viên và các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp cho hoạt động kiểm toán viên và các doanh nghiệp
Hoạt động đối với khách hàng trực tiếp_ đơn vị được kiểm toán.
Hoạt động đối với những đối tượng quan tâm tới kết quả kiểm toán.
Hoạt động đối với đồng nghiệp.
Hoạt động đối với những vi phạm pháp luật của đơn vị được kiểm toán.
Hoạt động tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực kiểm toán.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Hoàn thiện việc vận dụng quy trình kiểm toán vào kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC thực hiện

HOÀN THIỆN VIỆC VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀO KIỂM TOÁN CHU TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY TNHH HÃNG KIỂM TOÁN AASC THỰC HIỆN

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu về dịch vụ kiểm toán, trong đó có dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính, cũng ngày một tăng lên. Các đơn vị được kiểm toán không chỉ dừng lại ở các công ty, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán theo quy định (tại điều 15 nghị định số 17/2012/NĐ-CP hướng dẫn một số điều trong Luật kiểm toán độc lập) mà được mở rộng ra tại những đơn vị muốn được hoàn thiện hơn hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của mình. Theo đó, kiểm toán bên cạnh chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC thì vai trò tư vấn cũng ngày càng được thể hiện rõ ràng hơn. Quan trọng hơn nữa, các công ty kiểm toán hiện nay không chỉ là một tổ chức hoạt động độc lập mà đã có sự kết hợp để hoàn thành mục tiêu chung. Cụ thể là việc xây dựng và ban hành Chương trình kiểm toán mẫu bởi VACPA (năm 2010) hay CMKT Việt Nam đều có sự phối hợp từ nhiều cá nhân và đơn vị kiểm toán hoạt động trên cả nước. Điều này cho thấy, thị trường kiểm toán tại Việt Nam sẽ còn phát triển xa hơn nữa trong thời gian tới.
Một cuộc kiểm toán BCTC thì được kết hợp bởi nhiều quy trình kiểm toán, trong đó quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên thường nhận được nhiều sự quan tâm từ các kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán. Bởi lẽ, tiền lương không chỉ là một yếu tố chi phí lớn tại mỗi đơn vị được kiểm toán, liên quan đến nhiều khoản mục khác được trình bày trên BCTC mà còn ảnh hưởng đến việc đánh giá hàng tồn kho đối với các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất, chế biến, xây dựng. Một sự phân loại sai chi phí lương vào tài khoản chi phí liên quan có thể dẫn đến những ảnh hưởng trọng yếu tới khoản mục hàng tồn kho, qua đó ảnh hưởng tới tình hình lợi nhuận của đơn vị. Ý thức được vấn đề này, trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC, em đã tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu thực tế công việc thực hiện kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên tại công ty, qua đó thực hiện chuyên đề tốt nghiệp: “Hoàn thiện việc vận dụng quy trình kiểm toán vào kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC thực hiện”.
Xem thêm

106 Đọc thêm

Hoàn thiện qui trình kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Kiểm toán và định giá Việt Nam

HOÀN THIỆN QUI TRÌNH KIỂM TOÁN CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIỂM TOÁN VÀ ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM

Kiểm toán Việt Nam với trên 10 năm hình thành và phát triển đã và đang có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã có rất nhiều các công ty Kiểm toán độc lập với nhiều hình thức doanh nghiệp ra đời làm cho lĩnh vực Kiểm toán độc lập tại Việt Nam trở thành một trong những lĩnh vực được nhiều người quan tâm.
Nghị định 1052004NĐCP về việc khuyến khích kiểm toán và kiểm toán bắt buộc đối với một số doanh nghiệp và tổ chức đã tạo điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán mở rộng thị phần hoạt động của mình.
Trong hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán việc kiểm toán chi phí hoạt động có vai trò hết sức quan trọng, bởi bản thân chi phí hoạt động ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả kiểm toán chi phí hoạt động tác động trực tiếp tới việc đưa ra ý kiến trong một cuộc kiểm toán. Nhận thức được tầm quan trọng trên và sau một thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần Kiểm toán và định giá Việt Nam(VAE) , em đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện qui trình kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Kiểm toán và định giá Việt Nam cho Báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình.
Bài viết của em kết hợp những kiến thức đã được học trong nhà trường và thực tế tại đơn vị thực tập với bố cục gồm ba phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính
Phần 2: Thực trạng công tác kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Kiểm toán và Định giá Việt Nam
Phần 3: Một số biện pháp và phương hướng hoàn thiện công tác kiểm toán chi phí hoạt động tại Công ty Kiểm toán và Định giá Việt Nam
Nghiên cứu về vấn đề này em mong muốn sẽ hiểu biết sâu hơn về kiểm toán báo cáo tài chính nói chung và kiểm toán chi phí hoạt động nói riêng; điều này sẽ tạo cơ thuận lợi cho em trong công việc sau này.
Trong quá trình thực tập và nghiên cứu đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám đốc, các anh chị tại Công ty và đặc biệt là sự chỉ bảo của cô giáo Bùi Thị Minh Hải. Qua đây em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ công nhân viên, Ban giám đốc Công ty và cô giáo Bùi Thị Minh Hải.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Vạn An Chi nhánh Hà Nội thực hiện

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ ĐỊNH GIÁ VẠN AN CHI NHÁNH HÀ NỘI THỰC HIỆN

Trong những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã được hình thành và nhanh chóng phát triển ở Việt Nam. Kiểm toán đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp. Hoạt động kiểm toán thông qua kiểm toán BCTC đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, góp phần đáng kể vào hoạt động đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, nhu cầu kiểm toán về BCTC hiện nay là rất lớn, đòi hỏi chất lượng kiểm toán ngày càng nâng cao.Ngày nay, hoạt động kiểm toán độc lập càng cho thấy vai trò quan trọng giống như một công cụ quan trọng trong công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế đất nước. Hoạt động kiểm toán độc lập phục vụ lợi ích thiết thực cho các chủ sở hữu, nhà đầu tư, góp phần ngăn chặn sai phạm kinh tế tài chính, giúp cho Chính phủ kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính, ổn định thị trường chứng khoán. Để có thể hội nhập và phát triển thị trường chứng khoán, một trong những biện pháp là tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập. Tiền luôn luôn là khoản mục giữ vai trò rất quan trọng, vì nó có liên quan đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Thông qua các quan hệ thu chi, tiền liên quan đến hầu hết tất cả các chu trình kế toán như mua hàng và thanh toán, bán hàng và thu tiền, tiền lương nhân viên, tiếp nhận và hoàn trả vốn… Mặt khác, do đặc điểm của tiền là gọn nhẹ, dễ vận chuyển, biển thủ, gian lận nên khoản mục này có rủi ro tiềm tàng rất cao. Vì thế trong mọi cuộc kiểm toán BCTC, tiền luôn được coi là khoản mục trọng yếu. Nhận thức được vai trò quan trọng của khoản mục vốn bằng tiền trong Báo cáo tài chính của doanh nghiệp và với thực tế được thực tập tại công tyTNHH Kiểm toán và Định giá Vạn An Chi nhánh Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Vạn An Chi nhánh Hà Nội thực hiện” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp này em xin trình bày khái quát và có tính liên hệ về mặt lý luận của quy trình thực hiện kiểm toán khoản mục tiền trong kiểm toán BCTC và thực trạng thực hiện quy trình kiểm toán khoản mục tiền của Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Vạn An Chi nhánh Hà Nội. Cùng với đó em xin đưa ra một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tiền được thực hiện tại Công ty.
Xem thêm

76 Đọc thêm

HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN CHU TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY TNHH HÃNG KIỂM TOÁN AASC THỰC HIỆN

HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN CHU TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY TNHH HÃNG KIỂM TOÁN AASC THỰC HIỆN

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu về dịch vụ kiểm toán, trong đó có dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính, cũng ngày một tăng lên. Các đơn vị được kiểm toán không chỉ dừng lại ở các công ty, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán theo quy định (tại điều 15 Nghị định số 17/2012/NĐ-CP hướng dẫn một số điều trong Luật kiểm toán độc lập) mà được mở rộng ra tại những đơn vị muốn được hoàn thiện hơn hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của mình. Theo đó, kiểm toán bên cạnh chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC thì vai trò tư vấn cũng ngày càng được thể hiện rõ ràng hơn. Quan trọng hơn nữa, các công ty kiểm toán hiện nay không chỉ là một tổ chức hoạt động độc lập mà đã có sự kết hợp để hoàn thành mục tiêu chung. Cụ thể là việc xây dựng và ban hành Chương trình kiểm toán mẫu bởi VACPA (năm 2010) hay CMKT Việt Nam đều có sự phối hợp từ nhiều cá nhân và đơn vị kiểm toán hoạt động trên cả nước. Điều này cho thấy, thị trường kiểm toán tại Việt Nam sẽ còn phát triển xa hơn nữa trong thời gian tới.
Một cuộc kiểm toán BCTC thì được kết hợp bởi nhiều quy trình kiểm toán, trong đó quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên thường nhận được nhiều sự quan tâm từ các KTV thực hiện cuộc kiểm toán. Bởi lẽ, tiền lương không chỉ là một yếu tố chi phí lớn tại mỗi đơn vị được kiểm toán, liên quan đến nhiều khoản mục khác được trình bày trên BCTC mà còn ảnh hưởng đến việc đánh giá hàng tồn kho đối với các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất, chế biến, xây dựng. Một sự phân loại sai chi phí lương vào tài khoản chi phí liên quan có thể dẫn đến những ảnh hưởng trọng yếu tới khoản mục hàng tồn kho, qua đó ảnh hưởng tới tình hình lợi nhuận của đơn vị. Ý thức được vấn đề này, trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC, em đã tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu thực tế công việc thực hiện kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên tại công ty, qua đó thực hiện chuyên đề: “Hoàn thiện kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC thực hiện”.
Xem thêm

103 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY DELOTTE VIỆT NAM

ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY DELOTTE VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU
Sau gần 20 năm hoạt động (từ năm 1991 đến nay), kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng, quy mô, các công ty kiểm toán độc lập và số lượng KTV từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ cung cấp. Đến nay cả nước đã có 140 doanh nghiệp dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 4.600 người làm việc, có gần 1500 người được cấp chứng chỉ KTV. Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng được tín nhiệm, được xã hội thừa nhận. Có thể nói hoạt động kiểm toán độc lập đã xác định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, góp phần ngăn ngừa và phát hiện lãng phí, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện công khai minh bạch BCTC, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành kinh tế-tài chính, của doanh nghiệp và Nhà nước.
Trong các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay, Công ty TNHH Deloitte Việt Nam là một trong những ngọn cờ đầu đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của ngành kiểm toán độc lập nói riêng cũng như của đất nước nói chung.
Trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam, em đã có cơ hội được tìm hiểu và tiếp cận với thực tế hoạt động kiểm toán tại công ty để hoàn thành bài báo cáo tổng hợp cuối khóa. Bài báo cáo của em gồm 3 phần sau:
Chương 1: Tổng quan về công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Chương 2: Đặc điểm tổ chức công tác kiểm toán tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Chương 3: Một số nhận xét, kiến nghị về hoạt động của công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Mặc dù đã cố gắng hết sức và nhận được sự hướng dẫn tận tình của ThS. Tạ Thu Trang nhưng bài báo cáo của em không tránh khỏi những sai sót. Em mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô để có thể hoàn thiện hơn nữa bài báo cáo này.



CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH
DELOITTE VIỆT NAM
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
1.1.1. Giới thiệu chung về Công ty
Tân công ty: Công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Tên tiếng anh: Deloitte Vietnam Limited Company
Trụ sở chính: Số 8 Phạm Ngọc Thạch – Đống Đa – Hà Nội.
Số điện thoại: +84-4 3852 4123
Fax: +84-4 3852 4143
Website: www.deloitte.com/v


Log
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH Deloitte Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển tương đối lâu dài. Có thể khái quát thành 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: (Từ năm 1991 – 1997)
Ngày 13/5/1991, theo Quyết định số 165/TC/QĐ/TCCB của Bộ Tài chính, Công ty kiểm toán Việt Nam – tiền thân của Công ty TNHH Deloitte Việt Nam được thành lập với tên giao dịch quốc tế là Vietnam Auditing Company (VACO). VACO cùng với AASC là một trong hai công ty kiểm toán độc lập đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, chuyên cung cấp các dịch vụ chuyên ngành cho nhiều khách hàng lớn thuộc mọi thành phần kinh tế như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước và các dự án quốc tế.
Ngày 07/12/1991, VACO thành lập văn phòng đại diện của tại TP Hồ Chí Minh theo Quyết định số 525 TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Ngày 01/04/1993, VACO thành lập chi nhánh của tại Đà Nẵng theo Quyết định số 194 TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Ngày 15/02/1995, VACO giải thể văn phòng đại diện của tại TP Hồ Chí Minh để thành lập công ty kiểm toán và tư vấn A&C theo Quyết định số 122 TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ tài chính; giải thể chi nhánh tại Đà Nẵng để thành lập công ty kế toán và kiểm toán AAC theo Quyết định số 123 TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Với mục tiêu phát triển rộng khắp, phục vụ khách hàng đa quốc gia, cũng như các hãng sản xuất và phân phối, từ lâu, các hãng kiểm toán lớn trên thế giới đã nhận ra rằng ưu tiên phát triển mạng lưới rộng khắp là con đường ngắn nhất để gia tăng lợi nhuận, thứ hạng và danh tiếng trên trường quốc tế. Ngược lại, các hãng thành viên trong cùng mạng lưới cũng nhận được nhiều lợi ích như được sử dụng logo, hình ảnh của hãng trong các hoạt động marketing của mình cũng như nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ hãng quốc tế mà mình là một thành viên trong mạng lưới. Nhận thức được xu thế đó, ngay từ những năm đầu hoạt động, VACO đã có những quan hệ hợp tác với các hãng kiểm toán hàng đầu thế giới như: Deloitte Touche Tohmatsu (DTT), Arthur Andersen (AA), Price Waterhouse Cooper (PwC), KPMG và Ernst and Young (E&Y) nhằm học hỏi phương pháp tổ chức quản lý cũng như các kỹ thuật, phương pháp kiểm toán tiên tiến nhất của các công ty này. Trên cơ sở hợp tác kinh doanh đó, ngày 4/4/1995, Uỷ ban nhà nước về Hợp tác Đầu tư (nay là Bộ kế hoạch và đầu tư) ban hành quyết định 1187/GP cho phép 2/3 số nhân viên VACO tách ra thành lập liên doanh VACO – Deloitte Touche Tomatsu (VACO – DTT) còn gọi là phòng dịch vụ quốc tế ISD – International Services Division. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của VACO cũng như của ngành kiểm toán Việt Nam. VACO trở thành công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam liên doanh với nước ngoài.
Ban đầu, khi mới thành lập, VACO chỉ có văn phòng tại Hà Nội với 9 cán bộ công nhân viên. Trong quá trình hoạt động, VACO quyết định thành lập thêm chi nhánh ở Hải Phòng (ngày 27/5/1996) với 15 nhân viên, phụ trách mảng kiểm toán BCTC theo Quyết định số 488/TC/QĐ/TCCB của BTC và chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh (ngày 02/08/1997) gồm 150 nhân viên với đủ các mảng hoạt động của công ty theo Quyết định số 439/TC/QĐ/TCCB của BTC để có thể đáp ứng đầy đủ và tốt hơn nữa nhu cầu của thị trường.

Giai đoạn 2: (Từ năm 1997 – 2003):
Ngày 1/10/1997, căn cứ vào quyết định số 697/TC/QĐ/TCCB của Bộ Tài chính, VACO được phép mua lại phần vốn góp của Deloitte Touche Tohmatsu trong liên doanh VACO – DTT. Đồng thời, theo Quyết định số 263/BKH-QLDA ngày 29/10/1997, Bộ kế hoạch và Đầu tư đã chấp thuận nhượng quyền lợi của DTT trong liên doanh VACO – DTT cho phía Việt Nam mà đại diện là VACO. Theo đó VACO được công nhận là thành viên của DTT cùng với KPMG, E&Y và PwC hợp thành bốn hãng kiểm toán lớn nhất thế giới.
Giai đoạn 3: (Từ năm 2003 – 2007):
Trên tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp Nhà nước đã lần lượt chuyển đổi sang các hình thức khác cho phù hợp. Để đáp ứng yêu cầu đó, ngày 20/6/2003, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định 1927/TC/QĐ/TCCB chính thức chuyển đổi VACO thành công ty TNHH một thành viên với 100% vốn chủ sở hữu của Bộ Tài chính và lấy tên là Công ty TNHH kiểm toán Việt Nam. Công ty chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp chứ không phải Luật Doanh nghiệp Nhà nước với Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0104000112 ngày 19/01/2004 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Vốn điều lệ tại thời điểm thành lập công ty là 9.077.000.000 VNĐ (Chín tỷ không trăm bảy mươi bảy triệu đồng chẵn). Đồng thời, để tiếp tục mở rộng mạng lưới hoạt động, ngày 15/07/2004 VACO thành lập chi nhánh VACO miền Trung có trụ sở tại Đà Nẵng.
Giai đoạn 4: (từ năm 2007 – nay):
Việc Phòng dịch vụ quốc tế - ISD của VACO trở thành thành viên chính thức của Deloitte Touche Tohmatsu vào tháng 10/1997 đã tạo cơ sở để VACO từng bước chuyển đổi trở thành thành viên của Deloitte Touche Tohmatsu vào tháng 2/2007. Việc chuyển đổi này được hoàn tất vào tháng 5/2007, VACO chính thức trở thành thành viên của Deloitte Touche Tohmatsu và mang tên mới là Deloitte Việt Nam. Deloitte Touche Tohmatsu – một trong những tổ chức dịch vụ chuyên nghiệp hàng đầu trên thế giới có mặt tại 140 nước với 165,000 chủ phần hùn và nhân viên, chuyên cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp và có kỷ luật cao. Với tư cách là một hãng thành viên, Deloitte Việt Nam chịu sự giám sát, quản lý chặt chẽ của Deloitte toàn cầu về quy trình, chất lượng kiểm toán đồng thời phải trích lập một phần lợi nhuận cho Deloitte với tư cách là phí thành viên. Tuy nhiên, đổi lại Deloitte Việt Nam được khai thác tối đa sự trợ giúp của DTT về chuyển giao kỹ thuật kiểm toán và quản lý quốc tế, về chuyên môn, tài liệu. Cụ thể, Deloitte toàn cầu hỗ trợ Deloitte Việt Nam trong công tác đào tạo đội ngũ nhân viên và đưa vào ứng dụng hệ thống phương pháp kỹ thuật kiểm toán dựa trên AS/2 của Deloitte toàn cầu.
Tháng 7/2007, Deloitte Việt Nam tiến hành cơ cấu lại tổ chức, chi nhánh Đà Nẵng không còn tồn tại. Hiện nay Deloitte Việt Nam gồm: Trụ sở chính tại Hà Nội, chi nhánh TP Hồ Chí Minh và chi nhánh Hải Phòng.
Trên cơ sở hợp tác với DTT toàn cầu, Deloitte Việt Nam đã gia nhập thành viên của Deloitte Châu Á, Deloitte Thái Bình Dương và Deloitte Đông Nam Á (ngày 7/5/2007) để có cơ hội giao lưu, học hỏi nhiều hơn nữa kinh nghiệm và kiến thức tiên tiến của các công ty lớn trên thế giới, từ đó nâng cao được trình độ của nhân viên cũng như sức cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế. Riêng tại khu vực Đông Nam Á, Deloitte có trên 250 chủ phần hùn, khoảng 5,000 chuyên gia với 22 văn phòng đặt ở 8 nước thành viên là Guam, Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Phấn đấu để trở thành một hãng dịch vụ xuất sắc tiêu chuẩn bằng cách luôn luôn tiến về phía trước, Deloitte Việt Nam luôn cống hiến hết mình để cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng với thái độ làm việc chuyên nghiệp và tận tụy để xứng đáng với niềm tin của khách hàng. Nhờ đó, trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, Deloitte Việt Nam đã và đang ngày càng lớn mạnh, đạt được nhiều thành tích cao và thể hiện được vai trò là một trong những công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Có thể kể đến một số thành tích nổi bật của Deloitte Việt Nam như: bằng khen của Chính phủ từ năm 1994 đến năm 1998, bằng khen của Bộ công an năm 1999, Huân chươn
Xem thêm

47 Đọc thêm

Cùng chủ đề