HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO":

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần với mục tiêu phân tích những điểm bất cập, hạn chế, những điểm chưa phù hợp trong quy định của pháp luật hiện hành qua đó kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam. Cùng tìm hiểu để nắm bắt nội dung thông tin tài liệu.

16 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6
1.1. Nội dung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.2. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án

Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬ VỀ XỬ LÝ VI PHẠ PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự
2.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và hình thức thể hiện của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân ự
2.3. Khái niệm, ý nghĩa và các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự

Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ

3.1. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự

3.2. Thực trạng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN Ự
4.1. Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự
4.2. Giải pháp về thực hiện xây dựng, hoàn thiện pháp luật 131
4.3. Giải pháp về nhận thức tư tưởng
4.4. Giải pháp về tổ chức thực hi n 156
Xem thêm

183 Đọc thêm

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

lừa dối người tiêu dùng, quảng cáo khiếm nhã, làm cho người tiêu dùng cảm thấybị xúc phạm khi khai thác quá sâu, vượt qua các chuẩn mực về văn hóa, khôngphù hợp với thuần phong mỹ tục, giá trị văn hoá truyền thống của người Việt1Nam. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, Việt Nam đang ngày càng hội nhậpsâu vào nền kinh tế thế giới. Cùng với sự phát triển của các hoạt động kinh tế, xãhội khác, hoạt động quảng cáo ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăngvề số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức,quy mô và công nghệ. Việc đầu tư kinh phí cho hoạt động quảng cáo hàng hoá, dịchvụ được các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quan tâm. Do nhu cầu quảng cáongày càng tăng nên nhiều loại hình quảng cáo mới xuất hiện và phát triển mạnh, đặcbiệt là quảng cáo trên các phương tiện điện tử, các thiết bị viễn thông, quảng cáotrên báo điện tử và trang thông tin điện tử… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiệnquảng cáo nảy sinh hiện tượng vi phạm những quy định của pháp luật về hoạt độngquảng cáo hay lợi dụng việc quảng cáo để gièm pha bôi nhọ doanh nghiệp khác,nhưng hiện nay vấn đề xử lý chưa được quan tâm đúng mức. Hoạt động quảng cáo ởnước ta vẫn còn tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả và gây ảnh hưởng tiêu cực đếnngười tiêu dùng...Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã có nhiều sự thayđổi nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh, đápứng yêu cầu quản lý nhà nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Song thực tế, hệthống pháp luật về quảng cáo ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêucầu phát triển toàn diện của hoạt động quảng cáo trong nền kinh tế thị trường, nhiềuquy định của pháp luật về quảng cáo không phù hợp với thực tiễn cuộc sống, tronggiao lưu dân sự, thương mại. Bên cạnh đó, một số quy định về quảng cáo trong các lĩnhvực chuyên ngành được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: LuậtThương mại, Luật Báo chí, Luật Cạnh tranh, Luật Dược và nhiều văn bản pháp luật
Xem thêm

89 Đọc thêm

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, mỗi khi có dịp ghé qua những thành phố xưa kia phong kín như
Thượng Hải, Phnom Penh, Hà Nội, Sài Gòn, chúng ta có thể bắt gặp những hình ảnh
quảng cáo đầy khắp phố, trên bảng hiệu, trên tường, trên xe bus, trên bìa tạp chí… Nó
như một trong những tín hiệu tượng trưng cho sự đổi mới và phát triển kinh tế. Trong
những thập niên gần đây, quảng cáo thương mại đã có mặt ở khắp chốn, từ những quốc
gia có truyền thống tư bản đến những nền kinh tế theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa
– họ đều chọn sự cạnh tranh thương mại là động lực cho sự phát triển kinh tế. Hiểu
đơn giản, quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tuyên truyền
giới thiệu hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động của doanh nghiệp về hàng hóa dịch vụ đó,
nhằm tạo sự hứng thú của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Từ đó kích thích sức mua
của người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng chọn được sản phẩm thích hợp. Đó cũng là
cách các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm và đẩy mạnh hoạt động sản xuất, bán hàng
và dịch vụ.
Quảng cáo thương mại là một nghệ thuật nhưng cũng là một chiến t rường giữa
các thương nhân trong hoạt động kinh doanh. Tại sao gọi quảng cáo thương mại là một
nghệ thuật? Bởi quảng cáo thương mại ngày nay cần có một hàm lượng trí tuệ cao để
thâm nhập được vào tâm lý khách hàng. Khách hàng ngày nay có quá nhiều sự lựa
chọn về các loại hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, muốn hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp
được chú ý, doanh nghiệp cần biết cách làm sao quảng cáo của mình thực sự hấp dẫn,
quảng bá sản phẩm một cách ưu Việt nhất đến khách hàng. Tại sao gọi quảng cáo
thương mại là một chiến trường giữa các thương nhân? Bởi quảng cáo thương mại có
vai trò quan trọng trong việc tạo ra áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Quảng
cáo tạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến giá cả, phải đổi mới, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những sản phẩm độc đáo thoả mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng, giúp doanh nghiệp xây dựng danh tiếng, hình ảnh và định vị
nhãn hiệu trên thị trường. Chính vì vậy, các doanh nghiệp quảng cáo thương mại ở mọi lúc, mọi nơi, dưới nhiều hì nh thức khác nhau để tác động đến khách hàng của
mình.
Có thể nói, quảng cáo thương mại khuyến khích cạnh tranh, thúc đẩy sự năng
động của doanh nghiệp, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế . Trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Cùng với sự phát triển của các hoạt động kinh tế, xã hội khác, hoạt động quảng cáo
thương mại ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăng về số lượng doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quảng cáo nảy sinh hiện tượng vi phạm những
quy định của pháp luật về hoạt động quảng cáo thương mại hay lợi dụng việc quảng
cáo để gièm pha bôi nhọ doanh nghiệp khác. Hiện nay,vấn đề xử lý chưa được quan
tâm đúng mức. Hoạt động quảng cáo ở nước ta vẫn còn tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả
và gây ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng... Thông tin về các loại hàng hóa, dịch
vụ tràn ngập, lẫn lộn thật giả làm người dân bối rối, khó phân biệt, khó chọn lựa.
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về pháp luật quảng cáo thương mại nói
chung và quảng cáo thương mại trên báo điện tử, truyền hình nói riêng, nhưng học
viên nhận thấy, có rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về pháp luật quảng cáo
thương mại trên báo in ở Việt Nam hiện nay. Thực tế, quản lý hoạt động quảng cáo
thương mại hiện nay còn nhiều bất cập về thể chế và tổ chức thực thi trong đó, quảng
cáo thương mại trên báo in còn khá lộn xộn. Đây là một mảng đề tài cần có sự quan
tâm phù hợp hơn trong thời đại công nghệ thông tin, nếu chúng ta bỏ ngỏ quản lý nó,
có thể sẽ dẫn đến rất nhiều bất cập trong tương lai. Chính vì lẽ đó mà học viên mạnh
dạn lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in ở Việt Nam
hiện nay” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học.
Xem thêm

110 Đọc thêm

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THS LUẬT

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THS LUẬT

Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật Hoàn thiện khung pháp luật về xây dựng cơ bản ở việt nam luận văn ths luật
Xem thêm

118 Đọc thêm

LOẠI HÀNG HÓA DỊCH VỤ BỊ CẤM QUẢNG CÁO

LOẠI HÀNG HÓA DỊCH VỤ BỊ CẤM QUẢNG CÁO

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí8 loại hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáoTheo Điều 7 Luật Quảng cáo 2012, những hàng hóa, dịch vụ sau đây bị cấm quảng cáo.“1. Hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật.2. Thuốc lá.3. Rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên.4. Sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sungdùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo.5. Thuốc kê đơn; thuốc không kê đơn nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khuyến cáohạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của thầy thuốc.6. Các loại sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích dục.7. Súng săn và đạn súng săn, vũ khí thể thao và các loại sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích độngbạo lực.8. Các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo khác do Chính phủ quy định khi có phát sinhtrên thực tế”.Điều 6 Luật đầu tư 2014 được bổ sung bởi khoản 1 Điều 2 Luật 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sungĐiều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, quy định thêm vềdanh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh như sau:“a) Kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 của Luật này;b) Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục 2 của Luật này;c) Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Côngước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật,thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3của Luật này;d) Kinh doanh mại dâm;đ) Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người;e) Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.g) Kinh doanh pháo nổ”.Cá nhân, tổ chức thực hiện quảng cáo đối với những hàng hóa, dịch vụ bị cấm sẽ bị xử phạt hành
Xem thêm

2 Đọc thêm

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH PHỔ BIẾN TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO VÀ HỘI CHỢ TRIỂN LÃM QUỐC TẾ.

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH PHỔ BIẾN TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO VÀ HỘI CHỢ TRIỂN LÃM QUỐC TẾ.

HÀNH VI ĐƯA THÔNG TIN GIAN DỐI HOẶC GÂY NHẦM LẪN Quy định về quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn trong pháp luật Việt Nam nằm tại khoản 3 điều 45 Luật cạnh tranh 2004, theo đó cấm doanh[r]

11 Đọc thêm

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN

các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.Cụ thể: các quy định về ngược đãi lao động (khoản 2 Điều 8, điểm c khoản 1Điều 37, khoản 1 Điều 183); cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơilàm việc (khoản 10 Điều 3, khoản 3 Điều 8, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1Điều 38) hiện chưa có hướng dẫn cụ thể mặc dù đây là các căn cứ có thể dẫnđến hệ quả NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu nhưNSDLĐ có một trong các hành vi trên. Các quy định về hợp đồng lao động hiệnnay còn nhiều bất cập như: chủ thể là người đại diện cho doanh nghiệp ký kếthợp đồng lao động là người đại diện theo pháp luật hay là người được ủy quyền,bởi lẽ chủ thể ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền thuộc trườnghợp hợp đồng lao động vô hiệu (điểm b khoản 1 Điều 50); căn cứ vào quyđịnh nào thì được coi là bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khănkhông thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động (điểm d khoản 1 Điều 37).3.2.2. Về tổ chức thực hiệnMột là, cần có sự thống nhất nhận thức pháp luật trong hệ thống các Tòa ánHai là, cần sớm hoàn thiện cơ chế Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tronggiải quyết các tranh chấp lao độngBa là, cần tăng cường phổ biến và tuyên truyền pháp luật lao độngBốn là, cần xây dựng cơ chế hợp tác, chia sẻ thông tin giữa NLĐ và NSDLĐNăm là, cần củng cố tổ chức, nhân sự của các Tòa lao động, tăng cườngbồi dưỡng kiến thức về lao động - xã hội và đặc biệt là kiến thức về phápluật lao động đồng thời bổ sung Thẩm phán, kiện toàn Tòa lao động tạinhững địa phương có số lượng các khu công nghiệp, chế xuất lớn.Sáu là, cần củng cố lại đội ngũ Hòa giải viên lao động, tăng số lượngHòa giải viên lao động ở các quận huyện, đặc biệt là những vùng trọng điểmkinh tế, tập trung nhiều các doanh nghiệp; nâng cao trình độ chuyên môn củađội ngũ Hòa giải viên lao động.Bảy là, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn25
Xem thêm

13 Đọc thêm

 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KÝKẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGƯỜI MUA TẠI VIỆT NAM

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KÝKẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGƯỜI MUA TẠI VIỆT NAM

các Bên có liên quan của TDNM và HĐTDNM.- Luận văn đã đi vào tìm hiểu thực trạng huy động vốn theo phương thức TDNM hiện nay ở Việt Nam, tìmhiểu các quy định có liên quan của Việt Nam cũng như thực tiễn thi hành các quy định đó về vấn đề tiếp cậnnguồn vốn vay, đàm phán, ký kết HĐTDNM, thực hiện cấp bảo lãnh của Chính phủ, cấp YKPL của BTP liên quanđến HĐTDNM.- Luận văn đưa ra một số nội dung và giải pháp cho quá trình hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệgiữa các Bên có liên quan theo khung TDNM cũng như những yêu cầu để nâng cao hiệu quả quá trình thực hiệncông tác đàm phán, ký kết và thực hiện Hợp đồng tín dụng người mua. Luận văn nhận mạnh tới các yêu cầu và sựcần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan điều chỉnh mối quan hệ giữa Bên đi vay, Bên chovay, Bên được bảo lãnh, Bên bảo lãnh, Bên cấp YKPL tham gia vào quan hệ TDNM này.Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến HĐTDNM cần phải phù hợp với điều kiện, đặcđiểm của nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta cũng như tập quán, thực tiễn hoạt động của phương thức tíndụng xuất khẩu dành cho người mua đã tồn tại từ lâu trên thị trường tài chính tiền tệ thế giới, đặc biệt là trong bốicảnh hiện nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Theo ngườiviết, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ này cần phải xem xét và thực hiện một số giải pháp như: (i) tiếptục hoàn thiện hệ thống chính sách nói chung và pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài nói riêng; (ii) tiếp tục đổimới hoạt động quản lý nhà nước đối với việc vay và trả nợ nước ngoài theo hướng tạo điều kiện chủ động chodoanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay nước ngoài, giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà không cần thiết nhưngvẫn thiết lập được sự hỗ trợ có hiệu quả của Chính phủ đối với việc vay vốn nước ngoài của doanh nghiệp trong bốicảnh uy tín và năng lực tài chính, hệ số tín dụng của Việt Nam còn thấp; (iii) tiếp tục hoàn thiện pháp luật về vayvà trả nợ nước ngoài nói chung cũng như vay và trả nợ theo phương thức TDNM nói riêng theo hướng tạo điềukiện tối đa cho doanh nghiệp được chủ động tiếp cận nguồn vốn vay nước ngoài phù hợp với thông lệ của thịtrường tài chính tiền tệ quốc tế.Khung TDNM và HĐTDNM có nội dung và phạm vi nghiên cứu rất rộng. Để giải quyết triệt để các yêu cầumà đề tài đặt ra, đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá sâu sắc, toàn diện các quy định thuộc nhiều ngành luật khácnhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong khuôn khổ có hạn của luận văn này, người viết chỉ đề cập đến mộtsố vấn đề cơ bản nhất liên quan trực tiếp đến đề tài và chắc chắn còn một số vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo.Người viết hy vọng rằng, những vấn đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết ở các công trình khoa họctiếp theo
Xem thêm

14 Đọc thêm

Những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại

NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

BÀI TẬP LỚN HỌC KÌMÔN:LUẬT MÔI TRƯỜNGĐỀ BÀI SỐ : 14ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠIMỤC LỤCA.MỞ BÀI .B.THÂN BÀI .1.Cơ sở lý luận 1.1.Khái niện về chất thải nguy hại .1.2.Khái niện quản lý chất thải nguy hại 2.Khái quát về pháp luật quản lý chất thải nguy hại .2.1.Nội dung pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 2.2.ý nghĩa các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 3.Thực trạng về pháp luật quản lý chất thải nguy hại 4.Đánh giá ưu nhược điểm các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.4.1.Ưu điểm .4.2.Nhược điểm .4.3.Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại .C.KẾT BÀI A.MỞ BÀI.Con người muốn sống và phát triển bình thường thì điều cần thiết để đảm bảo là được sống trong một môi trường tốt.Hiện nay với sự phát triển về kinh tế cũng kéo theo những tác động xấu tới môi trường.Làm cho môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sự tồn tại của con người.Một trong những nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường đó là việc quản lý không tốt chất thải nguy hại.Điều này do rất nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân khách quan đó là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện.Chính vì vậy trong bài tập học kì em xin chọn đề tài:”Những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại”.Để từ đó hoàn thiện các quy định về vấn đề này.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Xây dựng điều lệ công ty những vấn đề lý luận và thực tiễn

XÂY DỰNG ĐIỀU LỆ CÔNG TY NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Xây dựng điều lệ công ty_Những vấn đề lý luận và thực tiễn bao gồm:
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG: Khái niệm, vai trò, quy định của pháp luật về xây dựng Điều lệ trong công ty.
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT VÀ QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG: Thực trạng quy định pháp luật về việc xây dựng và áp dụng Điều lệ Công ty, thực trạng xây dựng và áp dụng Điều lệ tại các công ty.
CHƯƠNG III. NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN: Nguyên nhân, hướng hoàn thiện.
Xem thêm

39 Đọc thêm

TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ SẢN XUẤT, CUNG ỨNG TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG TT

TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ SẢN XUẤT, CUNG ỨNG TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG TT

Trong thời gian qua, việc thi hành pháp luật về trách nhiệm của NSX,CU cung cấp thông tin CLHH cho NTD còn nhiều hạn chế. Thực tiễn chothấy, NSX, CU lúc nào cũng đưa ra thông tin CLHH là “an toàn”, “bảo đảmchất lượng”, là “uy tín”. Nhưng thực tế, tình trạng hàng hóa kém chất lượng17vẫn tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và tiêu dùng; tình trạng hànggiả, hàng nhái, hàng kém chất lượng hay tình trạng cung cấp thông tin giandối, tẩy xóa nhãn mác, xuất xứ hàng hóa; thổi phồng chức năng, công dụnghàng hóa vẫn đang xâm phạm nghiêm trọng QLNTD. Tác giả nghiên cứuvà phân tích cụ thể thực tiễn thi hành pháp luật qua các số liệu thống kê củaCục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế; qua các Báo cáo tổng kết của Cục quản lícạnh tranh, Cục Quản lí thị trường, Chi cục Quản lí Thị trường Thành phốHà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và qua một số vụ việc cụ thể để làm sángtỏ nội dung (Vụ Công ty Cổ phần Tập đoàn điện lạnh điện máy Việt Úccung cấp thông tin CLHH lừa dối NTD, Vụ “Vòng Titan - Quan Âm” thổiphồng chức năng, công dụng hàng hóa, Vụ Công ty TNHH Electroluxquảng cáo gian dối về dòng máy giặt cửa trên T-Drive...)3.3. pháp luật về trách nhiệm của NSX, CU cung cấp thông tin CLHHcho NTD ở Việt Nam3.3.1. Những ưu điểm của pháp luật và kết quả của việc thi hànhpháp luật- Những ưu điểm của pháp luật: Pháp luật hiện hành đã được sửa đổi,bổ sung và thay thế qua từng giai đoạn để phù hợp hơn với điều kiện pháttriển của đất nước; Pháp luật đã đưa ra khái niệm về hàng hóa; CLHH; chủthể có trách nhiệm cung cấp thông tin; yêu cầu, phương thức cung cấpthông tin; phạm vi trách nhiệm, nội dung trách nhiệm và hậu quả của tráchnhiệm cung cấp thông tin. Những quy định trên đã phần nào tạo ra khuônkhổ pháp lý đồng bộ nhằm nâng cao trách nhiệm của NSX, CU cũng như
Xem thêm

Đọc thêm

TÓM TẮT LUẬN VĂN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

TÓM TẮT LUẬN VĂN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

lại lợi ích cho xã hội; do đó, đòi hỏi mỗi chính quyền cơ sở phải nângcao trách nhiệm, thực hiện đúng quyền hạn mà pháp luật đất đai đãquy định; đồng thời, có biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ mộtcách có khoa học và hiệu quả nhất theo điều kiện đặc thù của địaphương mình. Tăng cường thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước vềđất đai trong quá trình phát triển KT-XH và đô thị hóa ở một địaphương là yêu cầu cần thiết và khách quan. Vì thế đề tài đã phân tíchmột số cơ sở lý luận và từ thực trạng quản lý, sử dụng đất đai của thịxã An Nhơn đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về đất đai trongthời gian đến. Để giải quyết các vấn đề trên, đề tài đã thực hiện nghiêncứu một số nội dung sau:- Tổng hợp các kinh nghiệm quản lý, sử dụng đất ở một số địaphương cho thấy: (i) quản lý nhà nước về đất đai là một nội dung phứctạp, khó kiểm soát, cần thường xuyên kiểm tra, giám sát, trong đó vaitrò của người đứng đầu là rất quan trọng; (ii) Quản lý nhà nước về đấtđai của chính quyền thị xã có tác động lớn đến việc thu hút đầu tư củacác thành phần kinh tế, phát triển đô thị bền vững, tạo động lực gópphần phát triển KT-XH và ổn định chính trị.- Từ các kết quả phân tích đánh giá thu được, Luận văn có kếtluận về QLNN về đất đai của chính quyền thị xã An Nhơn, cũng nhưlàm rõ nguyên nhân yếu kém, giảm hiệu lực quản lý và hiệu quả sửdụng đất. Từ đó, xây dựng và đề xuất hai nhóm giải pháp hoàn thiệncông tác quản lý nhà nước về đất đai: (i) Nhóm hoàn thiện công cụ và23phương pháp quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền thị xã; (ii)Nhóm hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai của thị xã AnNhơn.2. Kiến nghị
Xem thêm

26 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢNG CÁO VÀ THIẾT KẾ SÁNG TẠO MINH ĐỨC

PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢNG CÁO VÀ THIẾT KẾ SÁNG TẠO MINH ĐỨC

Công ty Cổ phần Quảng cáo và Thương mại sáng tạo Minh Đức được thành lập nhằm cung cấp các sản phẩm quảng cáo độc đáo, mới lạ và đạt hiệu quả cao cho khách hàng. Trải qua 4 năm từ khi thành lập từ năm 2008 tới nay, mặc dù tuổi đời còn non trẻ nhưng những thành công mà công ty thu được rất đáng chú ý. Doanh thu của công ty cao, tăng đều hàng năm và sản phẩm quảng cáo, chăm sóc khách hàng và bảo hành tận tình đã giúp công ty dần có vị thế trên thị trường. Để gặt hái được những thành công đó là cả sự cố gắng, nỗ lực của các cán bộ trong bộ máy quản lý và tận tâm của những nhân viên, người lao động trong toàn công ty. Song bên cạnh đó còn có các mặt hạn chế, điểm yếu mà công ty cần khắc phục nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.Qua bản khoá luận tốt nghiệp dưới đây, em xin hoàn thiện đề tài :“ Phát triển mạng lưới kinh doanh của Công ty Cổ phần Quảng cáo và Thiết kế sáng tạo Minh Đức”Bài khoá luận gồm 3 phần chính :Chương 1 : Cơ sở chung về phát triển mạng lưới kinh doanh của Công ty Cổ phần Quảng cáo và Thương mại sáng tạo Minh ĐứcChương 2 : Thực trạng mạng lưới kinh doanh Công ty Cổ phần Quảng cáo và Thương mại sáng tạo Minh Đức Chương 3 : Phương hướng và biện pháp phát triển mạng lưới kinh doanh của công ty Công ty Cổ phần Quảng cáo và Thương mại sáng tạo Minh Đức Trong quá trình thực tập với lượng kiến thức thực tế còn ít, và thời gian thực tập ngắn nên bản báo cáo của em còn có nhiều thiếu sót, em mong nhận được ý kiến đóng góp từ cô giáo và quý công ty để bản báo cáo được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

66 Đọc thêm

LUẬN VĂN_CO SO KIEN NGHI VA BAN HANH LUAT BIEU TINH O NUOC TA

LUẬN VĂN_CO SO KIEN NGHI VA BAN HANH LUAT BIEU TINH O NUOC TA

Trên cơ sở các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, cần bảo đảm quyền được biểu tình của người dân, các quy phạm pháp luật về các quyền dân s[r]

50 Đọc thêm

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thi hành pháp luật về thu chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC: THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THU CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thi hành pháp luật về thu chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội với mục tiêu nghiên cứu pháp luật về thu chi ngân sách địa phương cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về thu chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về thu chi ngân sách địa phương. Mời các bạn cùng tìm hiểu và tham khảo nội dung thông tin tài liệu.

16 Đọc thêm

XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

chúng, ít nhất là trên địa chỉ đã công bố văn bản để lấy ý kiến. Văn bản phản hồicủa cơ quan soạn thảo phải đầy đủ, kịp thời, nêu rõ việc tiếp thu hay không tiếpthu ý kiến của nhân dân và phải có căn cứ/ lý lẽ hợp lý, đảm bảo hài hoà lợi íchcủa các nhóm lợi ích trong xã hội cũng như các yêu cầu về hội nhập kinh tế quốctế và đổi mới trong công tác quản lý nhà nước.+ Tăng cơ hội và hiệu quả tham gia thông qua việc tăng cường vai trò củabáo chí và truyền thông.Thực tế cho thấy các diễn đàn trên báo chí thu hút đượcsự tham gia và quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là mộtdiễn đàn thông dụng và phổ cập mà các doanh nghiệp hay sử dụng có thể bày tỏquan điểm và băn khoăn của mình đối với các dự án luật truớc khi ban hànhhoặc trong quá trình thực hiện.4.2.6. Hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế quản lý, chế độ tàichính và cơ sở vật chất, điều kiện hỗ trợ phục vụ công tác xây dựng và banhành văn bản quy phạm pháp luậtViệc hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế quản lý, chế độ tài chínhphục vụ công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là nhằmmục tiêu hình thành cơ chế huy động nguồn kinh phí nhằm tạo điều kiện về cơ sởvật chất, phương tiện làm việc cho các cơ quan, công chức tham gia vào hoạtđộng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nâng cao hiệu quả sửdụng ngân sách dành cho công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm phápluật bằng việc thực hiện công nghệ quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra chuyển169từ phương thức quản lý ngân sách theo phương pháp chi đúng mục đích, đúng chếđộ sang đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách theo khối lượng, chất lượng sảnphẩmvăn bản quy phạm pháp luật được ban hành.Tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay, kinh phí chi cho các hoạtđộng nhằm tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng pháp luật nói chung và xây
Xem thêm

30 Đọc thêm

Tiểu luận Thực trạng và giải pháp về việc quảng cáo của công ty bảo hiểm AIA

TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC QUẢNG CÁO CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM AIA

Tiểu luận Thực trạng và giải pháp về việc quảng cáo của công ty bảo hiểm AIA
Tiểu luận Thực trạng và giải pháp về việc quảng cáo của công ty bảo hiểm AIA
LỜI MỞ ĐẦU
Quảng cáo là một trong những kỹ nghệ lớn nhất của xã hội tư bản và chúng ta phải giằng co với những mời gọi đó mỗi ngày vì nó luôn luôn đánh vào thị hiếu và lòng ham muốn của con người. Theo Anh Quốc Bách Khoa Tự Điển thì trong năm 1997 thế giới chi dùng 1,400 tỷ Mỹ cho việc quảng cáo và con số này gia tăng mỗi năm. Thế giới tư bản sống nhờ tiêu thụ và quảng cáo là con đường thúc đẩy người ta tiêu thụ. Do đó chúng ta không ngạc nhiên khi thấy số tiền khổng lồ được sử dụng cho quảng cáo. Chính chúng ta là khách hàng của quảng cáo hằng ngày trên đài phát thanh, truyền hình, sách vở, báo chí, các bảng quảng cáo ngoài đường phố, trên màn ảnh trong rạp chiếu bóng, bên hông và đằng sau xe buýt, máy bay bay trên trời . Có thể nói là quảng cáo mọi nơi, mọi chỗ, mọi lúc, mọi hình thức. Và ngày nay quảng cáo không còn là cái riêng của xã hội tư bản, nó trở thành một nghệ thuật truyền đạt thông điệp đến mọi người trên toàn thế giới.
Bài tiểu luận của em, tìm hiểu về lĩnh vực quảng cáo, được hoàn thành qua quá trình tham khảo nhiều website, bài giảng. Việc tiếp xúc và lấy mẫu ngẫu nhiên từ nhiều nguồn. Tuy nhiên cách nhìn nhận của em còn mang tín
h chủ quan, em rất mong thầy, cô góp ý để em có thể hoàn thiện hơn bài viết của mình cũng như rút kinh nghiệm cho những bài viết tiếp theo.
PHẦN I: Cơ sở lý thuyết về “ Quảng Cáo”
1. Định nghĩa:
2. Thực hiện “Quảng Cáo” như thế nào?
2.1 Xác định mục tiêu quảng cáo
2.2 Quyết định ngân sách quảng cáo
2.3 Quyết định về thông điệp:
2.4 Thực hiện thông điệp
2.5 Quyết định về phương tiện và truyền thông
2.6 Đánh giá hiệu quả quảng cáo
3. Các loại hình quảng cáo phổ biến
4. Đặc tính về quảng cáo
5. Vai trò của quảng cáo
PHẦN II: Thực trạng về việc quảng cáo của công ty bảo hiểm AIA
1. Thực trạng bảo hiểm Việt Nam hiện nay
2. Công ty bảo hiểm AIA
2.1 Điểm mạnh của AIA
2.2 Điểm yếu của AIA
3. Chiến lược quảng cáo của AIA
4. Ngân sách quảng cáo
5. Quyết định về mục tiêu quảng cáo
PHẦN III: Một số giải pháp hoàn thiện đối với công ty bảo hiểm AIA
1. Định hướng
2. Giải pháp
Xem thêm

25 Đọc thêm

TỰ DO GIAO KẾT HỢP ĐỒNG - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TỰ DO GIAO KẾT HỢP ĐỒNG - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trong những năm qua đã có một số công trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như: - Pháp luật về hợp đồng của Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh bách năm 1995; - Hoàn thiện pháp luật về hợp đồn[r]

5 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỘT VỤ VIỆC THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

PHÂN TÍCH MỘT VỤ VIỆC THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động quảng cáo. Ở đâu có kinh tế, có cạnh tranh thì ở đó có quảng cáo. Quảng cáo được coi là phương pháp cạnh tranh đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, hoạt động quảng cáo hàng hóa, dịch vụ sẽ giúp họ giới thiệu sản phẩm của mình đến với khách hàng một cách nhanh chóng và rộng rãi nhất, đồng thời, đó cũng là biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị trường. Còn đối với người tiêu dùng, quảng cáo cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình thị trường, về hàng hóa, dịch vụ nhằm nâng cao khả năng lựa chọn đối với các sản phẩm, dịch vụ tràn lan trên thị trường. Qua đó có thể thấy hoạt động quảng cáo đã có tầm ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế thị trường nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Cũng chính bởi vai trò quan trọng này, khiến cho hoạt động quảng cáo đã nảy sinh nhiều mặt trái, đôi khi nó trở thành phương tiện hữu hiệu để các doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Để chứng minh cho nhận định này, nhóm chúng em xin trình bày đề tài số 9: “Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh”.Bài làm của chúng em còn nhiều thiếu sót, rất mong thầy (cô) góp ý để bài được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơnGIỚI THIỆU VỤ VIỆC:ACECOOK KHIẾU NẠI QUẢNG CÁO MÌ TIẾN VUA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MASSAN.“Năm 2011, Acecook Việt Nam đã gửi đơn lên Cục Quản lý cạnh tranh khiếu nại mẩu quảng cáo của Công ty cổ phần hàng tiêu dùng Masan đưa thông tin gây nhầm lẫn về chất lượng mì ăn liền và yêu cầu ngừng truyền thông. Theo Acecook, mẩu quảng cáo này có dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Thông điệp quảng cáo mì Tiến Vua bò cải chua của Công ty cổ phần Masan có nội dung: khi cho nước sôi vào vắt mì, nếu nước trong tô chuyển sang màu vàng đục, chứng tỏ sản phẩm có sử dụng phẩm màu. Với cách so sánh hai hình ảnh vắt mì vàng sậm và vàng nhạt, quảng cáo đã gây ấn tượng mạnh cho người tiêu dùng “mì màu vàng sậm là có sử dụng phẩm màu”. Nhiều người tiêu dùng đã băn khoăn nhiều loại mì đang lưu hành trên thị trường lẫn mì mình từng sử dụng là không an toàn?Sau khi mẩu quảng cáo này liên tục được phát trên sóng truyền hình, Acecook Việt Nam đã khiếu nại lên Cục Quản lý Cạnh tranh, cho rằng quảng cáo của Masan gây nhầm lẫn về chất lượng mỳ ăn liền tạo sự hoang mang cho người tiêu dùng và yêu cầu Masan ngừng truyền thông về mẩu quảng cáo này.THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC TRÊN.Trong quá trình xử lý đơn khiếu nại, Cục quản lý cạnh tranh nhận định rằng vụ việc nêu trên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 45 LCT về “quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn”. Theo cách giải thích của Cục, quy định đó chỉ áp dụng khi gây nhầm lẫn về chính sản phẩm của doanh nghiệp chứ không áp dụng khi gây nhầm lẫn về sản phẩm của doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, trong văn bản trả lại hồ sơ, Cục Quản lý cạnh tranh nhận định quảng cáo nói trên của Masan có dấu hiệu của hành vi “quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của người khác” bị cấm theo Nghị định 752010NĐCP hoặc hành vi “quảng cáo có nội dung nói xấu, so sánh làm giảm uy tín, chất lượng hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác” bị cấm theo Nghị định 022011NĐCP. Và theo đó, thẩm quyền xử lý thuộc về Bộ Thông tin và Truyền thông chứ không phải Cục Quản lý cạnh tranh”.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.I. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.1. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.a. Khái niệm và đặc điểm cạnh tranh không lành mạnhTheo quy định của Luật Cạnh tranh(LCT) Việt Nam đưa ra định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh tại Khoản 4 Điều 3 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng”. Nhìn chung, cách định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh của LCT Việt Nam cũng tương tự với pháp luật các nước có nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới. Từ định nghĩa này, có thể thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, đây là hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện, nhằm mục đích lợi nhuận; Thứ hai, hành vi này có tính chất độc lập, đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo dức kinh doanh, có thể hiểu là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt độngkinh doanh trên thị trường; Thứ ba, hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. b. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnhTheo quy định tại điều 39 LCT, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:“ Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh Hành vi ép buộc trong kinh doanh Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh Hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội Hành vi bán hàng đa cấp bất chính. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định”.2. Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhQuảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một vấn đề cần được quan tâm trong xã hội nói chung và trong nền kinh tế thị trường nói riêng. Hành vi quảng cáo không chỉ mang mục đích giới thiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp đến với người tiêu dùng mà còn thể hiện sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay rộng hơn là giữa các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh.Khái niệm về quảng cáo được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2 Luật quảng cáo năm 2012 như sau: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”. Như vậy, hoạt động quảng cáo sẽ tác động tới hành vi, thói quen của người tiêu dùng thông qua việc giới thiệu sản phẩm, cung cấp các thông tin về sản phẩm bằng cách thuyết phục nhất nhằm đạt được lợi nhuận hoặc mục đích khác.Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một trong số các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được liệt kê tại Điều 39 LCT năm 2004. Mặc dù vậy nhưng pháp luật về cạnh tranh của nước ta lại chưa hề có quy định cụ thể định nghĩa thế nào là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh mà chỉ liệt kê ra những hành vi quảng cáo bị cấm để cụ thể hóa những hành vi bị coi là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Điều 45 LCT 2004 quy định: “Cấm các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây:1. So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;2. Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;3. Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng…”3. Mối tương quan giữa hoạt động quảng cáo với hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Thực tế đã cho thấy, hoạt động quảng cáo với tư cách là những luồng thông tin chủ yếu và mạnh mẽ có thể tác động rất mạnh tới cơ chế cạnh tranh của thị trường, giúp các chủ thể của thị trường, chính là người mua và người bán, thực hiện quyền quyết định của họ. Chính vì vậy khi luồng thông tin thị trường này không chính xác, gian dối hoặc sai lệch sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự vận hành của cơ chế thị trường. Có thể thấy hoạt động quảng cáo tiềm ẩn nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh rất cao, điều này xuất phát từ đặc điểm, chức năng của quảng cáo nói chung, đó là tính chất một chiều, không đầy đủ, nội dung do nhà quảng cáo, nhà tổ chức hội chợ triển lãm bỏ tiền ra và tổ chức để chi phối, mục đích dẫn dắt tiêu dùng của khách hàng hướng tới dịch vụ, sản phẩm của mình…Hơn nữa, về mặt thông tin, quảng cáo có thể sử dụng nhiều các phương tiện thông tin để tiếp cận công chúng, do đó, khó có thể điều chỉnh nó bằng các quy định về tính trung thực, chính xác của thông tin báo chí.Thông thường, doanh nghiệp khi quảng cáo sẽ không bỏ ra một chi phí lớn để thông báo tường tận cho người tiêu dùng về những hạn chế trong hàng hóa, dịch vụ của họ hay những nhà tổ chức hội chợ triển lãm cũng sẽ không giới thiệu những thiếu sót trong sản phẩm của mình. Hoạt động thương mại vì mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, thương nhân luôn thể hiện việc thu hút, kêu gọi khách hàng mua sản phẩm của mình, cũng đồng nghĩa với việc không mua sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Chính vì thế, có thể khẳng định rằng quảng cáo là một hoạt động mang bản chất cạnh tranh, luôn tiềm ẩn những yếu tố phát sinh cạnh tranh không lành mạnh và cần thiết phải sử dụng pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh, nhất là những hoạt động quảng cáo và hội chợ triển lãm mang tính quốc tế. II Quy định của pháp luật cạnh tranh về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.Không thể phủ nhận vai trò của hoạt động quảng cáo trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển tích cực của nền kinh tế thị trường. Thế nhưng, bên cạnh đó cũng có không ít các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, gây tác động xấu đến thị trường chung. Bởi lẽ đó mà vấn đề này được Nhà nước rất quan tâm và ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh. Không chỉ có luật cạnh tranh mà cả luật thương mại, luật quảng cáo hay một số văn bản pháp luật khác cũng quy định về hoạt động quảng cáo cũng như các hành vi quảng cáo bị cấm... Tuy nhiên, trong phạm vi bài tập này, nhóm chỉ xin nhắc đến những quy định của pháp cạnh tranh.Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 45 LCT năm 2004, theo đó cấm ba dạng hành vi là quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước và quảng cáo gây nhầm lẫn như sau:“1. So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;2. Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;3. Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây:a) Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công;b) Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;c) Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác”.1. Quảng cáo so sánh.Quảng cáo so sánh được hiểu là quảng cáo mà trong đó có nội dung so sánh hàng hóa, dịch vụ, khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp với đối tượng cùng loại của một hay một số doanh nghiệp cạnh tranh khác. Đây là hoạt động quảng cáo khá phổ biến nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Để đạt được mục đích của mình, bên đưa ra quảng cáo sẽ tìm cách so sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với đối thủ cạnh tranh và tìm cách hạ thấp hàng hóa, dịch vụ của đối thủ, nhằm thu hút khách hàng cũng như lợi nhuận về phía mình. Theo quy định tại khoản 1 điều 45 LCT 2014, hành vi quảng cáo so sánh bị cấm sẽ thỏa mãn ba dấu hiệu sau: So sánh trực tiếp, tức là các thông tin sử dụng trong quảng cáo đủ để người tiếp nhận thông tin quảng cáo có thể nhận thức được hàng hóa, dịch vụ bị so sánh là hàng hóa, dịch vụ nào. Với dấu hiệu này, thì việc so sánh có thể là do doanh nghiệp vi phạm chỉ đích danh tên sản phẩm và doanh nghiệp cụ thể muốn so sánh hoặc cũng có thế chỉ đưa ra thông tin làm cho người tiếp nhận thông tin có khả năng xác định loại sản phẩm, nhóm doanh nghiệp bị so sánh mà không cần chỉ đích danh tên của doanh nghiệp cụ thể. Tuy vậy, cũng chưa có điều luật nào quy định, giải thích cụ thể thế nào được coi là so sánh trực tiếp. Các hàng hóa, dịch vụ bị quảng cáo so sánh phải cùng loại, tức là có chức năng, công dụng có thể thay thế cho nhau trên cùng một thị trường nhất định. Hàng hóa, dịch vụ bị so sánh là của doanh nghiệp khác.Về bản chất, hành vi quảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể được xem xét dưới góc độ lợi dụng uy tín hoặc công kích, gièm pha đối thủ cạnh tranh. Quảng cáo này gây thiệt hại cho dối thủ cạnh tranh khi thu hút được khách hàng về phía mình thông qua hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Về nội dung quảng cáo, gồm nhiều nội dung nhưng chủ yếu sẽ so sánh về giá cả, chất lượng của sản phẩm, dịch vụ… bởi đây là những tiêu chí hàng đầu được khách hàng quan tâm khi lựa chọn để sử dụng.Về hình thức cũng như mức độ quảng cáo, mặc dù có sự phân chia tuy nhiên pháp luật cạnh tranh đã quy định cấm mọi hành vi quảng cáo so sánh, bất kể dưới hình thức và mức độ ra sao.2. Quảng cáo bắt chước.Quảng cáo bắt chước là quảng cáo được thực hiện với nội dung và cách thức giống hết hoặc tương tự như quảng cáo của doanh nghiệp, chủ thể khác. Mục đích của chủ thể khi tiến hành hoạt động quảng cáo bắt chước là để phục vụ cho mong muốn sản phẩm của mình cũng tạo được hiệu quả như sản phẩm, dịch vụ mà mình đang bắt chước, từ đó thu được nhuận đáng kể. Loại quảng cáo này sẽ bị cấm khi thỏa mãn hai dấu hiệu: Về hành vi, phải là hành vi bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác, tức là sao chép 1 phần đáng kể hoặc toàn bộ các yếu tố cầu thành sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp khác. Về mục đích, nhằm gây nhầm lẫn cho khách hàng về nguồn gốc, về liên hệ…Tính không lành mạnh của quảng cáo này nằm ở chỗ, nó lợi dụng thành quả trong hoạt động kinh doanh của người khác để gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng.3. Quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn.Quảng cáo gian dối và quảng cáo gây nhầm lẫn là hai loại hình quảng cáo mang tên gọi khác nhau song sự khác biệt giữa chúng không nhiều và có những điểm tương đồng nên các nhà làm luật đã xếp chúng vào cùng một điều luật(Khoản 3 điều 45 LCT 20014) với cách thức và chế tài xử lý như nhau. Quảng cáo gian dối có thể hiểu là quảng cáo có nội dung thông tin sai lệch, không đúng hay không có trên thực tế nhằm lừa dối người tiêu dùng để trục lợi cho mình. Quảng cáo gây nhầm lẫn là hình thức quảng cáo mặc dù không đưa ra thông tin sai sự thật như quảng cáo gian dối nhưng nội dung thông tin đưa ra lại lập lờ, không đầy đủ rõ ràng nhằm tạo sự hiểu lầm cho người tiêu dùng, lợi dụng điều đó thu lợi nhuận về cho doanh nghiệp. Đây là loại hình quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh phổ biến và thường gặp nhất trong đời sống thực tiễn.Người có hành vi vi phạm có thể thực hiện quảng cáo sai sự thật bằng việc sử dụng tiếng nói, chữ viết, hình ảnh trên các loại phương tiện quảng cáo như báo chí (báo in, báo hình, báo điện tử…), băng đĩa hoặc thông qua hội chợ, triển lãm, băng rôn… nhìn chung cũng không có sự khác biệt với quảng cáo bình thường. Thực tế cho thấy chủ thể của hành vi quảng cáo gian dối thông thường là bên quảng cáo, bởi vì họ biết rất rõ chất lượng sản phẩm nhưng lại cố tình đưa ra những thông tin sai lệch để có thể bán được nhiều hàng hóa hơn. Bên quảng cáo phải có trách nhiệm chứng minh chất lượng của sản phẩm và chịu trách nhiệm về những thông tin đưa ra. Đối với bên phát hành quảng cáo và bên kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại khó có thể là chủ thể của hành vi này vì họ là bên trung gian. Tuy nhiên trong một số trường hợp cũng không loại trừ khả năng họ là “kẻ đồng phạm” hoặc vì động cơ cá nhân mà cố tình đưa ra những thông tin sai lệch mà bản thân bên quảng cáo không biết. Trong trường hợp này, họ sẽ phải chịu trách nhiệm về việc quảng cáo gian dối.Quảng cáo chỉ là tiền đề xúc tiến cho giao dịch dân sự, các nội dung bên quảng cáo đưa ra trong quảng cáo không đồng nhất với nội dung người đó cam kết trong hợp đồng sau đó. Tuy nhiên, thông tin mà người quảng cáo đưa ra trong nội dung quảng cáo rất quan trọng vì nó là cơ sở để người xem quảng cáo quyết định có giao dịch hay không. Trong giao dịch dân sự, nguyên tắc trung thực và tự nguyện luôn được đặt lên hàng đầu đòi hỏi các bên tôn trọng, tuân thủ. Việc cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn trong quảng cáo không chỉ vi phạm nguyên tắc trung thực mà còn vi phạm cả nguyên tắc tự nguyện, vì trên thực tế người xem đã thể hiện ý chí mua hàng đối với sản phẩm mà người đó nhận biết khi xem quảng cáo chứ không phải là sản phẩm thực tế. Giao dịch khi đó sẽ không phản ánh ý chí đích thực của người mua sản phẩm và giao dịch có vi phạm về tự do ý chí của một bên tham gia sẽ bị coi là vô hiệu. Hơn nữa, khi khách hàng bị lôi kéo bởi các thông tin gian dối thì đối thủ cạnh tranh đã thực sự bị cạnh tranh không lành mạnh. Là do khi khách hàng mua sản phẩm dựa trên các thông tin sai lệnh phải chịu thiệt hại về kinh tế, cũng đồng nghĩa với việc các đối thủ cạnh tranh đã mất những khách hàng này. Do vậy, sự cấm đoán thực hiện hành vi này vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của đối thủ cạnh tranh.Điều luật đã liệt kê tương đối đầy đủ các nội dung quảng cáo có thể gian dối hoặc gây nhầm lẫn như: “ Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xử hàng hóa, nơi sản xuất. người gia công, nơi gia công, cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành, các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác. Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh và các văn bản có liên quan khác đều không làm rõ những cách thức biểu hiện của hành vi quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn. Hiện nay vẫn chưa có một văn bản dưới luật nào được ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết, cụ thể về các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Điều 45 Luật Cạnh tranh.Bên cạnh loại quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn đơn giản thông thường, trên thực tế có tồn tại nhiều dạng quảng cáo làm sai lệch nhận thức cho người xem như:+ Quảng cáo bỏ sót thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng.+ Quảng cáo có hình thức mang tính lừa dối.+ Quảng cáo có sử dụng những lời xác nhận, chứng nhận mang tính lừa dối.+ Quảng cáo nhử mồi.+ Quảng cáo truyền tải một ấn tượng gian dối.III. Nhận định việc giải quyết vụ việc trên thực tế.Khi khiếu nại đến Cục Quản lý cạnh tranh, Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam cho rằng quảng cáo mì gói “Tiến Vua bò cải chua” của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan vi phạm quy định về cạnh tranh. Cụ thể, đoạn quảng cáo đã đưa hình ảnh hai vắt mì, một vắt màu vàng nhạt là mì Tiến Vua bò cải chua của Masan, một vắt màu vàng sậm của doanh nghiệp khác. Sau đó cho cho nước vào tô mì để so sánh và đưa ra thông điệp nếu cho nước vào vắt mì mà “nước chuyển sang vàng đục chứng tỏ sợi mì có sử dụng phẩm màu”. Phần đầu đoạn quảng cáo có nhắc đến cụm từ “phẩm màu độc hại” nên càng gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng và phản ứng tiêu cực về mì màu vàng sậm.Acecook cho rằng quảng cáo mì “Tiến Vua bò cải chua” vi phạm khoản 1 Điều 45 Luật cạnh tranh cấm “so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác” và khoản 3 Điều 45 cấm “đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng”. Với vụ việc trên tuy Cục quản lý cạnh tranh nhận định quảng cáo của Masan “có dấu hiệu” của hành vi “quảng cáo nói xấu, so sánh” nhưng Cục này đã trả lại hồ sơ.Theo đó, Cục Quản lí cạnh tranh đã cho rằng so sánh trực tiếp là phải chỉ rõ tên của loại sản phẩm bị so sánh, tức là quảng cáo này không không hề nhắc tới Acecook nên không được coi là “so sánh trực tiếp”. Trên thực tế vấn đề này rất khó xác định bởi chưa có văn bản pháp luật giải thích khái niệm “so sánh trực tiếp”. Theo Điều 2 chỉ thị số 2006114EC của Hội đồng châu Âu ngày 12122006 về quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo so sánh thì tính chất trực tiếp thể hiện ở chỗ nội dung quảng cáo đề cập một loại hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh đã cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó. Sự đề cập có thể bằng lời nói, chữ viết hoặc các yếu tố khác cấu thành nội dung quảng cáo (như hình ảnh, âm thanh…), khiến người tiếp nhận quảng cáo nhận thức biết về hàng hóa, dịch vụ và đối thủ cạnh tranh. Những trường hợp ám chỉ, suy diễn sẽ không thuộc phạm vi so sánh trực tiếp.Theo nhóm, trên thực tế rất hiếm khi doanh nghiệp vi phạm việc trực tiếp đề cập tới tên một sản phẩm hoặc tên một doanh nghiệp cụ thể khác.Vì vậy, việc hiểu luật theo giải thích của Cục Cạnh tranh như trên khiến khoản 1 Điều 45 rất khó áp dụng và xử lý vi phạm trên thực tế. Trong vụ việc trên, tuy quảng cáo mì Tiến Vua chỉ so sánh với vắt mì vàng sậm mà không nói đó là vắt mì của Aecook nhưng việc mua mì được người tiêu dùng tiến hành nhiều lần trước khi có mẫu quảng cáo này. Do đó, người tiêu dùng hoàn toàn có thể so sánh về độ sậm màu của mì giữa các hãng mì khác và mì gói của Masan.Cục Quản lí cạnh tranh cũng nhận định quy định tại khoản 3 Điều 45 về “gian dối hoặc gây nhầm lẫn” chỉ áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho sản phẩm, dịch vụ của chính doanh nghiệp mình (không áp dụng cho sản phẩm của doanh nghiệp khác) và bác bỏ đơn kiện của Aecook. Tuy nhiên, nhóm lại cho rằng đây là một vụ việc vi phạm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo khoản 3 Điều 45 Luật cạnh tranh. Đó là đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng bởi những lý do sau:Thứ nhất, hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “gian dối hoặc gây nhầm lẫn” nên Cục giải thích như vậy vẫn chưa được thỏa đáng.Thứ hai, Khoản 3 Điều 45 của Luật Cạnh tranh quy định cấm đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây: giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công, cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành, các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác.Trong quảng cáo của công ty Masan, có nói về màu sắc của nước sôi khi cho mì vào liên quan đến chất lượng sản phẩm mì gói nhưng là không đưa ra căn cứ cụ thể. Với cách so sánh hai hình ảnh vắt mì vàng sậm và vàng nhạt, quảng cáo đã gây ấn tượng mạnh cho người tiêu dùng “mì màu vàng sậm là có sử dụng phẩm màu”. Mẫu quảng cáo trên nhanh chóng nhận được nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng bởi mì ăn liền là một sản phẩm gắn với cuộc sống đại đa số người dân Việt Nam. Nhiều người tiêu dùng đã băn khoăn: vậy nhiều loại mì đang lưu hành trên thị trường lẫn mì mình từng sử dụng là không an toàn? Ông Kajiwara Junichi, tổng giám đốc Công ty Acecook Việt Nam, cho rằng quảng cáo đã cung cấp thông tin gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chất lượng mì, cụ thể mẫu quảng cáo khá lập lờ khi dẫn lời của chuyên gia “nếu nước chuyển sang vàng đục chứng tỏ sợi mì có nhuộm”. Theo đó, màu sắc của vắt mì sậm hay nhạt, trắng hay không là phụ thuộc thành phần nguyên liệu, thời gian chiên, nhiệt độ chiên, công nghệ. Mà trong đó phẩm màu (nếu có) chỉ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến màu sắc của vắt mì. Vì vậy, nếu có sử dụng phẩm màu thì vắt mì có thể ra màu sậm nhưng không thể suy ngược lại “vắt mì màu sậm là có sử dụng phẩm màu” như thông điệp quảng cáo của Masan.Bên cạnh đó, việc Masan đưa thông tin về phẩm màu E 102( còn có tên gọi màu tổng hợp Tratranzine 102) cũng chưa chính xác. Bởi, một lãnh đạo Cục vệ sinh an toàn thực phẩm cho biết, nói phẩm màu E 102 là độc chất có hại cho sức khỏe là không thông tin đầy đủ. Nếu phẩm màu E 102 được sử dụng đúng hàm lượng thì vẫn đảm bảo an toàn. Hiện tại, chỉ có một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc hạn chế việc sử dụng do lo ngại vấn đề dị ứng thức ăn vốn ở một tỷ lệ cao trong cộng đồng dân cư mà khó có thể phân biệt dị ứng do E 102 hay do bản thân thực phẩm. Còn lại, hầu hết các nước EU, Mỹ và các nước khác vẫn cho phép sử dụng E 102 trong chế biến thực phẩm.Trong quy định của khoản 3 Điều 45 không hề nói về sản phẩm nào. Do đó, lý lẽ quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn chỉ áp dụng cho sản phẩm được quảng cáo, không áp dụng cho sản phẩm bị so sánh theo nhận định của Cục quản lý cạnh tranh là không phù hợp. Vì vậy, quảng cáo gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp khác cũng phải bị xử lý. Do đó, đoạn quảng cáo của Masan có thể khiến người tiêu dùng hiểu rằng các loại mì của doanh nghiệp khác có màu vàng sậm chắc chắn là chứa phẩm màu, phẩm màu độc hại. Các doanh nghiệp mì gói khác chỉ cần chứng minh trong mì của mình không có phẩm màu độc hại là chứng minh được quảng cáo trên của Masan gian dối, gây nhầm lẫn.Hơn nữa, trong thực tế, việc đưa ra những thông tin sai bất kể đối với đối tượng nào hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh của doanh nghệp, mục tiêu quản lý của Luật cạnh tranh.Cục Quản lý cạnh tranh đã có nhận định có dấu hiệu của hành vi quảng cáo nói xấu, gây nhầm lẫn trong văn bản trả lại hồ sơ thế nhưng lại viện dẫn quy định về quảng cáo chứ không vận dụng quy định về cạnh tranh. Đó là, quảng cáo nói trên của Masan có dấu hiệu của hành vi “quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của người khác bị cấm theo Nghị định số 752010NĐCP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa hoặc hành vi “quảng cáo có nội dung nói xấu, so sánh làm giảm uy tín, chất lượng hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác” bị cấm theo Nghị định số 022011NĐCP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuấ bản. Do đó, Cục Quản lý cạnh tranh chuyến vụ việc sang Bộ Thông tin và Truyền thông để xử lý. Điều này là không hợp lý và thể hiện việc thiếu trách nhiệm của Cục quản lý cạnh tranh khi muốn đùn đẩy phần việc lẽ ra của mình sang cho nơi khác. Bởi lẽ, về nguyên tắc, pháp luật cạnh tranh qui định cho Cục quản lí cạnh tranh có thẩm quyền điều tra và xử lí các hành vi có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh. Trong Luật cạnh tranh có một số quy định tương tự với quy định trong chuyên ngành về quảng cáo (quảng cáo so sánh, gian dối, gây nhầm lẫn…) hoặc về sở hữu trí tuệ (chỉ dẫn gây nhầm lẫn) hoặc về thương mại (khuyến mãi nhằm cạnh tranh không lành mạnh) nhưng khoản 1 Điều 5 Luật cạnh tranh có quy định: “Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật này.” Như vậy, Cục Quản lý cạnh tranh phải xử lý hành vi vi phạm theo Luật canh tranh 2004.IV. Một số hạn chế và các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Việt Nam.1. Một số hạn chế của luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay: Thứ nhất, chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng.Điều 39 LCT năm 2004 quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ngoài việc liệt kê 9 hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể, khoản 10 ghi nhận: “Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định”. Lẽ ra, đây là một quy định mở nhằm tạo điều kiện cho việc áp dụng luật được linh hoạt hơn khi trên thị trường xuất hiện những hành vi cạnh tranh mới mà luật chưa dự liệu. Thế nhưng, quy định này ngay lập tức bị siết chặt lại khi bắt buộc có điều kiện “do Chính phủ quy định”. Như vậy, xét trong tình huống bài tập thì việc quy định cụ thể như thế nào là hành vi quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn? Hay hành vi gian dối, gây nhầm lẫn được hiểu là gian dối, gây nhầm lẫn về chính sản phầm của doanh nghiệp mình, hay gian dối, gây nhầm lẫn đối với sản phẩm của doanh nghiệp khác phải được Chính phủ hướng dẫn cụ thể, chi tiết tại một văn bản dưới luật nào đó. Tuy nhiên hiện tại vẫn chưa có một nghị định hay thông tư hướng dẫn nào được ban hành nhằm quy định chi tiết các điều luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm 2004. Điều này dẫn đến việc áp dụng luật còn gặp rất nhiều khó khăn và gây tranh cãi. Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết vụ việc: trong tình huống nhóm đưa ra, việc áp dụng pháp luật, xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc khá khó khăn. Cục quản lý cạnh tranh đã không thụ lý vụ việc mà chuyển sang Bộ Thông tin và Truyền thông xử lý, mặc dù Cục đã có nhận định là có dấu hiệu của hành vi quảng cáo nói xấu, so sánh. Lý do dẫn đến việc này là do thiếu sự hướng dẫn cụ thể các quy định trong Luật cạnh tranh về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng. Việc Cục từ chối thụ lý vụ việc trên có thể tạo một tiền lệ xấu trong việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi có các vụ việc cần giải quyết. Thứ ba, về xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh: Đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý như sau: “(i) Chịu một trong các hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo hay phạt tiền;(ii) Có thể tiếp tục bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt bổ sung sau: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh; (iii) Có thể bị áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả (biện pháp khắc phục hậu quả) sau đây: Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua; cải chính công khai; loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi vi phạm”.Tuy nhiên, đoạn cuối của phần quy định các biện pháp khắc phục hậu quả, pháp luật quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.”. Rõ ràng là, quy định này không thuộc biện pháp khắc phục hậu quả, mà được điều chỉnh trong pháp luật về dân sự, bởi lẽ, biện pháp khắc phục hậu quả do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước áp dụng mang tính cưỡng chế nhà nước, được áp dụng nhằm khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra, bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng và hoạt động bình thường của xã hội . Do vậy, nên tách nội dung trên thành điều luật riêng, không thể đặt chung với khoản 3 Điều 117 Luật Cạnh tranh năm 2004 với lý do như đã phân tích ở trên.2. Kiến nghị biện pháp khắc phục: Tiến hành tổ chức lại tổ chức bộ máy quản lý cạnh tranh nhằm khắc phục những nhược điểm còn tồn đọng, để việc giải quyết các vụ việc liên quan đến sự chi phối của luật cạnh tranh được nhanh chóng và chính xác nhất. Cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong đó, đối với các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nên được giải thích chi tiết, đưa ra định nghĩa cụ thể cho mỗi loại hành vi. Đặc biệt, riêng hành vi quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn theo quy định tại Khoản 3 Điều 45 LCT nên được giải thích theo hướng hành vi quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn đối với cả sản phẩm của doanh nghiệp quảng cáo và sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Đối với thẩm quyền giải quyết vụ việc cạnh tranh, Cục quản lý cạnh tranh cần chủ động hơn trong việc thụ lý vụ việc, xử lý vụ việc với thẩm quyền đầy đủ của mình, tránh việc vô hiệu hóa Luật Cạnh tranh, làm cho thủ tục tố tụng cạnh tranh trở nên vô nghĩa. Xem xét lại vấn đề xử lý vi phạm được quy định trong luật một cách cụ thể, hợp lý nhất đối với từng mức vi phạm trong hoạt động cạnh tranh trên thị trường. Đảm bảo sự công bằng đối với các doanh nghiệp.KẾT LUẬNĐể đảm bảo cho sự phát triển vững chắc của nền kinh tế nước nhà nói chung và doanh nghiệp nói riêng, cũng như bảo đảm niềm tin cho người tiêu dùng đối với các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, cần thiết phải có một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Vì thế, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cần phải nhanh chóng bị loại bỏ và xử lý nghiêm minh bởi những tác động xấu mà nó tạo ra sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng, không chỉ đến doanh nghiệp bị tác động mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, và sâu xa hơn chính là trật tự nền kinh tế thị trường.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Cùng chủ đề