PHÂN TÍCH CHI TIẾT KÌ ẢO TRONG TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHÂN TÍCH CHI TIẾT KÌ ẢO TRONG TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG":

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: DẠY HỌC TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: DẠY HỌC TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: DẠY HỌC TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP LIÊN MÔNCHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY” Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN91.1.Những tiền đề lý luận về dạy học tích hợp liên môn.91.1.1.Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp liên môn.91.1.2.Đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp liên môn.111.1.3.Nguyên tắc tổ chức dạy học tích hợp111.1.4.Cách thức tổ chức dạy học tích hợp liên môn.121.2.Bài học “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” và thực trạng dạy học “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” ở trung học phổ thông.161.2.1.Bài học “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông161.2.2.Thực trạng dạy học “Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo hướng tích hợp liên môn19Tiểu kết chương 128 CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY” THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN292.1. Định hướng thiết kế về nội dung và hình thức dạy học “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”292.1.1. Các nguyên tắc thiết kế292.1.2. Lựa chọn cách thức dạy học dự án312.2. Dự án dạy học tích hợp liên môn văn bản “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”352.2.1. Tên dự án và thời gian dự kiến.352.2.2. Mục tiêu và yêu cầu362.2.3. Bài tập dành cho học sinh.382.2.4. Chi tiết dự án.392.2.5. Nguồn công nghệ và tài liệu.402.5.2. Nguồn công nghệ thông tin cho lớp học.402.5.3. Tài liệu dành cho giáo viên hướng dẫn.402.5.4. Các trang Web được gợi ý.402.2.6. Tiến trình thực hiện dự án422.3. Một số khuyến nghị đối với việc dạy học “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” bằng dạy học theo dự án.57Tiểu kết chương 258CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM603.1. Mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc thực nghiệm603.1.1. Mục đích thực nghiệm603.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm613.1.3. Nguyên tắc thực hiện613.2. Tổ chức thực nghiệm.613.2.1. Thời gian thực nghiệm.613.2.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm.61 3.3. Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm623.3.1. Nội dung thực nghiệm623.3.2. Cách thức tiến hành thực nghiệm633.4. Kết quả thực nghiệm673.4.1. Phản hồi chung từ phiếu hỏi673.4.2. Cách thức đo nghiệm743.4.2. Kết quả đo nghiệm773.4.3. Những nhận xét và đánh giá bước đầu81Tiểu kết chương 382PHẦN KẾT LUẬN83TÀI LIỆU THAM KHẢO85PHỤ LỤC87
Xem thêm

86 Đọc thêm

 PHÂN TÍCH TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU TRỌNG THUỶ

PHÂN TÍCH TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU TRỌNG THUỶ

Phân tích truyện An Dương Vương và Mị ChâuTrọng ThuỷĐề bài: Phân tích truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ. Bài phân tích của Nguyễn ThịPhương Thảo lớp 10c2 khối chuyên văn trường THPT chuyên Hùng Vương.Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ là một truyền thuyết đặc sắc vể chủ đề giữnước của dân tộc ta. Nội dung kể về cha con An Dương Vương vì chủ quan, nhẹ dạ cả tin nên đã bịcha con Triệu Đà, Trọng Thuỷ lấy cắp lẫy thần, dẫn đến cảnh nhà tan, nước mất.Thông qua thất bại đau đớn của An Dương Vương, sự tan vỡ của tình cha con và kết cục bi thảmcủa đôi lứa Mị Châu – Trọng Thuỷ, nhân dân ta đã biểu lộ tư tưởng phản kháng chiến tranh xậmlược và rút ra bài học giữ nước sâu sắc: không nên chủ quan, tự mãn, ỷ lại vào vũ khí, phải luônsáng suốt phân biệt rõ bạn thù, mài sắc cảnh giác trước mọi âm mưu thâm độc của kẻ địch.Truyện có thể chia làm hai phần. Phần một (từ đầu đến… không dám đốc chiến bèn xin hoà): AnDương vương xây thành, chế nỏ giữ nước. Phần còn lại: Bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thuỷgắn liền với thất bại của nước Âu Lạc. Cả hai phần của truyện đều thể hiện rõ nhận thức và thái độcủa nhân dân đối với vai trò và trách nhiệm của cha con An Dương Vương trước lịch sử.An Dương Vương kế tục sự nghiệp dựng nước của mười tám đời Hùng Vương. Thời ấy, Văn Langđã cố bờ cõi và nền văn hiến riêng. Vì vậy, việc chống giặc giữ nước là vấn để sống còn của dântộc. An Dương vương đã tiến hành dời đô từ vùng núi Nghĩa Lĩnh, Phong Châu (Phú Thọ) vể vùngđổng bằng Phong Khê (Đông Anh, Hà Nội ngày nay) để phát triển sản xuất và mò rộng lưu thông rồibắt tay ngay vào việc xây thành. Đó là quyết sách đúng đắn chứng tỏ trí tuệ sáng suốt và bản lĩnhvững vàng của An Dương Vương.Việc xây thành bằng đất gặp nhiều khó khăn. Chuyện kể rằng thành cứ đắp ban ngày thì ban đêmlại đổ, xây mãi không xong. Người xưa giải thích hiện tượng ấy là do sự phá hoại của ma quỷ. Lượcbỏ yếu tố hoang đường, ta có thể thấy những khó khăn trong thực tế mà An Dương vương gặp phảikhi tiến hành công việc xây thành. Đó là do ông chưa nắm được đặc điểm của đất đồng bằng, do kĩthuật còn hạn chế và chưa biết dựa vào sức dân.Sau này, dược sứ Thanh Giang tức Rùa Vàng giúp đỡ, An Dương Vương xây thành chi trong vòng
Xem thêm

5 Đọc thêm

DỰA VÀO TƯ LIỆU LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THUYẾT, EM HÃY TRÌNH BÀY NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA AN DƯƠNG VƯƠNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC TRIỆU ĐÀ.

DỰA VÀO TƯ LIỆU LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THUYẾT, EM HÃY TRÌNH BÀY NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA AN DƯƠNG VƯƠNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC TRIỆU ĐÀ.

Nguyên nhân thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà. Nguyên nhân thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà :Dựa vào những sự kiện lịch sử nêu trong bài học và truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy nêu rõ : Quân dân Âu Lạc đã đánh bại cuộc xâm lược của Triệu Đà, khiến y phải xin hòa. Sau đó, do chủ quan, quá tự tin vào lực lượng của mình nên An Dương Vương đã mắc mưu kẻ thù, nội bộ không còn thống nhất (tướng giỏi là Cao Lỗ và Nổi Hầu bất mãn bỏ về quê) để cùng nhau chống giặc...
Xem thêm

1 Đọc thêm

TÌM HIỂU TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU

TÌM HIỂU TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU

Mục đích : - Nắm được đặc trưng thể truyền thuyết : lịch sử gắn với tưởng tượng , thể hiện quan điểm của nhân dân . - Nắm được bài học lịch sử từ bi kịch mất nước , bi kịch tình yêu . I.Tìm hiểu chung - Thể truyền thuyết : là loại truyện dân gian , kể về các sự kiện , nhân vật lịch sử , thể hiện nhận thức , quan điểm của nhân dân về lịch sử . đặc điểm nổi bật của thể truyền thuyết : có sự hoà quyện giữa tưởng tượng và lịch sử , không chú trọng đến tính chân thực , xây dựng những hình tượng độc đáo . - Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thuỷ : + Xuất xứ : Trích trong truyện “ Rùa vàng” , in trong quyển “ Lĩnh Nam chích quái” ( thế kỉ 15 ) + Bố cục : 2 phần : An Dương Vương là vua Âu Lạc xây thành , chế nỏ , giữ nước thành công và Bi kịch tình yêu của Mị Châu gắn liền bi kịch mất nước của An Dương Vương . - Tóm tắt : An Dương Vương xây thành Cổ Loa , xây mãi vẫn đổ , nhờ có Rùa Vàng giúp mới xây xong . Rùa cho nhà vua lẫy nỏ , nhờ đó mà đánh bại quân xâm lược Triệu Đà . Triệu Đà cầu hoà , cho con trai Trọng Thuỷ sang kết thân với Mị Châu , con gái An Dương Vương và ở rể trong thành Cổ Loa . Trọng Thuỷ ăn cắp lẫy nỏ , Triệu Đà liền cử quân sang tái xâm lược Âu Lạc . An Dương Vương thua trận , đem theo Mị Châu chạy trốn . Đến bờ biển , Rùa Vàng hiện lên kết tội Mị Châu , vua chém đầu con gái rồi đi xuống biển . Trọng Thuỷ tiếc Mị Châu , tự vẫn ở giếng trong thành . Mị Châu chết , máu thành ngọc trai , xác thành ngọc thạch , ngọc đem rửa nước giếng trong thành thì sáng hơn . - Chủ đề : Truyện đưa ra bài học giữ nước và bài học mất nước của An Dương Vương đồng thời bộc lộ thái độ với các nhân vật liên quan . II. Tìm hiểu chi tiết . 1. Nhân vật An Dương Vương a. Trong quá trình giữ nước . - An Dương Vương trong những năm đầu đã làm được những việc trọng đại , thu được những thành công to lớn : chuyển đô từ miền núi về đồng bằng , xây được thành cao hào sâu , chế được nỏ tốt , chiến thắng Triệu Đà , bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước . - Nguyên nhân thành công : + do An Dương Vương kiên trì , quyết tâm , không nản chí trước khó khăn , thất bại tạm thời . + do An Dương Vương thành tâm cầu tài : lập đàn cầu . + do ADV được sự trợ giúp của cả người và thần linh ( cụ già và Rùa vàng )  sự ủng hộ của nhân dân . + vua có tinh thần cảnh giác cao , có sự lo tính , chuẩn bị sẵn sàng đối phó với nguy cơ xâm lược của kẻ thù ( xây thành , chế nỏ ) . => Nhận xét : ADV là vị vua anh hùng , thủ lĩnh sáng suốt của người Âu Lạc , có trách nhiệm , tinh thần cảnh giác cao độ . - Thái độ của nhân dân : tôn vinh, ngưỡng mộ ADV . Hình ảnh Rùa Vàng và nỏ thần mà nhân dân sáng tạo ra chính là sự kỳ ảo hoá , thần thánh hoá , bất tử hoá sự nghiệp dựng , giữ nước chính nghĩa , hợp lòng dân của ADV . Nỏ thần là sự kỳ ảo hoá vũ khí tinh xảo của người Việt xưa . b. Trong quá trình mất nước . - Nguyên nhân mất nước : + do ADV lơ là cảnh giác , không nhận ra dã tâm nham hiểm của Triệu Đà . + Vua liên tiếp mắc sai lầm : nhận lời cầu thân của Triệu Đà , cho phép Trọng Thuỷ ở rể trong thành mà không chút đề phòng , dạy dỗ con gái không nghiêm , lơ là trong việc phòng thủ bảo vệ nước , chủ quan khinh địch , sớm có mong muốn hưởng nhàn . => Nhận xét : ADV đã tự đánh mất mình , tự mãn , thiếu sáng suốt , cảnh giác , không hiểu bản chất nham hiểm của kẻ thù nên chuốc thất bại thảm hại . Ông thua là thua ở mưu kế hiểm độc , do bị phá ngầm bên trong chứ không phải thua do kém binh kém tướng . - Kết cục của ADV : Nhà vua rơi vào bi kịch nước mất nhà tan . Ông chỉ tỉnh ngộ khi thành đã mất , lâm vào bước đường cùng , phía sau lưng là giặc , phía trước mặt là biển khơi mênh mông , không lối thoát ; tự tay ông phải chém đầu con gái yêu và kết thúc cuộc đời mình . Đó là hành động trừng phạt nghiêm khắc , đích đáng , đau đớn , đầy bi kịch . - Thái độ của nhân dân với ADV : + một mặt nêu ra bài học đắt giá cho người thủ lĩnh mất cảnh giác , để mất nước một cách bi thảm . Đó là sự trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử . + mặt khác nhân dân vẫn kính trọng những việc ông đã làm cho đất nước nên đã giảm nhẹ tội cho ông bằng cách sáng tạo ra lỗi lầm của Mị Châu và để ông cầm sừng tê đi xuống lòng biển về với Lạc Long Quân bất tử . + cách hoá thân của An Dương Vương có ý nghĩa răn dạy vô cùng sâu sắc nếu so sánh với cách hoá thân của Thánh Gióng . Thánh Gióng có công cứu nước , khi hoá thì bay lên trời khiến người đời sau nhớ đến thì ngước nhìn lên ngưỡng vọng . ADV mang tội đánh mất nước , có cách hoá đi xuống lòng biển khiến người đời sau khi nhớ đến ông phải cúi nhìn sâu vào mà luôn cảnh giác với chính bản thân mình . 2. Mối tình Mị Châu-Trọng Thuỷ . a. Mị Châu . - Có vị trí cao trong đất nước lẽ ra phải ý thức sâu sắc được trách nhiệm cá nhân của mình với đất nước nhưng lại chỉ biết đắm chìm trong hạnh phúc lứa đôi cá nhân . - Nàng ngây thơ cả tin đến mức sử dụng bí mật quốc gia cho tình riêng , để bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà không hay biết . - Khi nước đã mất vào tay Triệu Đà , trên đường chạy trốn , vẫn ngây thơ đánh dấu đường cho chồng , để nên nỗi hai cha con bị dồn vào đường cùng không lói thoát . - Hậu quả của sự ngây thơ , thiếu ý thức trách nhiệm : Mị Châu bị kết tội là giặc , tình yêu , niềm tin tan vỡ , bị vua cha chặt đầu  đây là sự trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử . Mị Châu phải trả giá đắt cho tội lỗi của mình . - Thái độ của nhân dân với Mị Châu : + một mặt đưa ra bản án nghiêm khắc , đích đáng trừng trị tội lỗi của nàng . Từ bi kịch của Mị Châu , nhân dân muốn nhắc nhở con cháu , đặc biệt là thế hệ trẻ cần có thái độ đúng đắn trong việc giả quyết mối quan hệ giữa nước và nhà , chung và riêng . + một mặt thương cho nàng , bao dung cho nàng vì nàng có tâm hồn trong sáng , phạm tội do vô tình chứ khong phải cố ý . Vì vậy , nhân dân đã sáng tạo ra lời khấn linh nghiệm của Mị Châu : máu biến thành ngọc trai , xác biến thành ngọc thạch . b. Nhân vật Trọng Thuỷ . - Là nhân vật truyền thuyết khá phức tạp , có nhiều mâu thuẫn . + trong thời kỳ đầu , Trọng Thuỷ đóng vai trò gián điệp , theo lệnh vua cha sang dò la bí mật quốc gia của Âu Lạc , đánh cắp lãy nỏ . + trong quá trình sống chung với Mị Châu , có thể Trọng Thuỷ đã yêu nàng thực sự . Câu nói trước lúc chia tay MC về nước phàn nào thể hiện chân tình , sự lo lắng của Trọng Thuỷ về sự tan vỡ của hạnh phúc . Khi Mị Châu chết , Trọng Thuỷ ôm xác vợ khóc lóc , sau đó thì tự tử . - cái chết của Trọng Thuỷ : cho thấy sự bế tắc , sự ân hận muộn màng của y . Trọng Thuỷ vừa là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc vừa là nạn nhân trong tham vọng bá quyền của Triệu Đà . Trọng Thuỷ bị kẹt giữa 2 tham vọng quyền lực và hạnh phúc lứa đôi . Hai tham vọng đó không dung hoà được với nhau , tạo nên mâu thuẫn không thể giải quyết trong chính con người Trọng Thuỷ , do đó ,y chỉ còn mỗi cách kết liễu cuộc đời vì bế tắc . - Thái độ nhân dân với Trọng Thuỷ : + một mặt nhân dân ta vẫn kết tội cướp nước của Trọng Thuỷ , cái chết vì mâu thuẫn giằng xé là cái giá hắn phải trả . + mặt khác , nhân dân ta vẫn bao dung vì dù sao Trọng Thuỷ đã hối lỗi và phải trả giá , nên đã sáng tạo ra chi tiết ngọc trai biển Đông nơi Mị Châu chết sẽ sáng hơn nếu đem vào rửa nước giếng nơi Trọng Thuỷ tự vẫn thể hiện , đó coi như sự tha thứ của Mị Châu cho hắn . III. Tổng kết . - Truyện nêu ra bài học sâu sắc , thấm thía về ý thức cảnh giác trong dựng , giữ nước , bài học về cách xử lý mối quan hệ giữa nước và nhà . - Truyện có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố thần kỳ và cốt lõi lịch sử , sáng tạo nhân vật giàu tính tư tưởng , sử dụng nhiều hình ảnh ấn tượng .
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Trọng Thủy

TÓM TẮT TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY THEO NHÂN VẬT TRỌNG THỦY

Đề bài: Tóm tắt lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Trọng Thủy Bài làm  Trọng Thủy là con trai Triệu Đà. Triệu Đà mấy lần cất quân sang đánh Âu Lạc đều bị thua, bèn lấy cớ hòa hiếu, đưa con trai mình sang cầu hôn Mị Châu, con gái An Dương Vương, để dò thám bí mật của kẻ thù. Khi lấy được lòng tin yêu của Mị Châu. Trọng Thủy lừa nàng để đánh tráo nỏ thần đem về nước cho vua cha. Lúc từ biệt, Trọng Thủy còn hỏi vợ, nếu có binh biến giữa hai nước thì phải làm sao. Mị Châu bảo sẽ rắc lông ngỗng để tìm nhau. Triệu Đà nhờ có nỏ thần, đã đánh bại quân An Dương Vương. Khi Mị Châu cùng cha chạy trốn ra Biển Đông, Trọng Thủy đã tìm dấu lông ngỗng để đuổi theo. Thấy xác Mị Châu trước biển, Trọng Thủy ôm về an tang. Lúc tắm, Trọng Thủy nhìn thấy bóng Mị Châu dưới giếng nước, bèn lao đầu xuống giếng rồi chết. Tương truyền, khi người đời sau lấy ngọc do máu của Mị Châu hóa thành, đem rửa vào nước giếng đó thì ngọc trở nên sáng đẹp vô cùng.     Tham khảo thêm:  Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Mị Châu  Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật An Dương Vương
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

SOẠN BÀI TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU TRỌNG THỦY

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN, 1. Tóm tắt: Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược. Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ, vua vô tình đồng ý. Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc. Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai. Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm. 2. Truyền thuyết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng hoang đường. Nó phản ánh quan điểm đánh giá, thái độ và tình cảm của nhân dân về các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử. 3. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là câu chuyện về bi kịch mất nước của cha con An Dương Vương và bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy. Từ câu chuyện ấy, nhân dân ta muốn rút ra và truyền lại cho con cháu các thế hệ sau bài học lịch sử về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu xâm lược của kẻ thù. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Các chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương: + An Dương Vương xây thành nhưng thất bại. + An Dương Vương được Rùa Vàng giúp xây thành và chế nỏ thần. + Vua đánh thắng Triệu Đà lần thứ nhất. + Vua chủ quan khi Triệu Đà đem quân đánh. + Vua thất bại và chém chết Mị Châu. a) An Dương Vương được thần linh giúp đỡ bởi nhà vua đã có ý thức đề cao cảnh giác, sớm lo việc xây thành đắp lũy và chuẩn bị vũ khí để chống ngoại xâm. Tưởng tượng ra sự giúp đỡ thần kì này, nhân dân ta đã tỏ lòng ca ngợi công lao của nhà vua và tự hào về việc xây thành, chế nỏ cũng như những chiến công trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. b) Sự thất bại của An Dương Vương bắt đầu từ chỗ nhà vua chấp nhận lời cầu hòa và thêm nữa còn cho Trọng Thủy về ở rể. Trong sự việc này, An Dương Vương đã tỏ ra mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù, tỏ ra mất cảnh giác. Hơn nữa việc mất nước còn do nhà vua chủ quan ỷ vào có vũ khí lợi hại nên đã không đề phòng khi quân giặc tiến công. c) Chi tiết Rùa Vàng, Mị Châu và việc vua chém đầu con gái theo lời kết án của Rùa Vàng được sáng tạo ra để nhân dân ta gửi gắm lòng kính trọng đối với vị vua anh hùng dũng cảm – con người sẵn sàng hi sinh những tình cảm riêng tư để giữ tròn khí tiết và danh dự trước đất nước non sông. Nó cũng phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu, đồng thời cũng là lời giải thích “nhẹ nhàng” nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước. 2. Những chi tiết liên quan đến vai trò của Mị Châu trong bi kịch mất nước của người Âu Lạc: - Mị Châu ngây ngô cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần. - Trên đường rút chạy, nàng còn rắc lông ngỗng cho Trọng Thủy và quân lính đuổi theo. Sự mất cảnh giác của Mị Châu là ở chỗ đã cả tin đem trao vào tay giặc bí quyết chống giặc giữ nước của quốc gia. Hơn thế nữa khi hai cha con đã bị thất bại, nàng lại vì bị tình cảm lu mờ mà chỉ đường cho giặc khiến cho hai cha con bị rơi vào con đường cùng tận. Thực ra ý kiến cho rằng “Mị Châu làm vậy là chỉ tuân theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ đối với Tổ quốc” và “việc Mị Châu tuyệt đối nghe và làm theo ý chồng là đương nhiên” là không thuyết phục dù chúng ta biết Mị Châu là một người vợ thời phong kiến. Khi dựng truyện, tác giả dân gian cũng chỉ muốn nhấn mạnh sự cả tin và ngây thơ của Mị Châu, vì thế mới có bài học giữ nước cay đắng, xót xa nhưng thấm thía truyền đến tận hôm nay. Phần kết truyện liên quan đến cái chết của Mị Châu thể hiện hai cái nhìn tưởng như trái ngược nhưng lại rất thống nhất của tác giả dân gian. Mị Châu bị trừng trị là một dứt khoát, rõ ràng của lịch sử. Nó xuất phát từ truyền thống yêu nước và lòng thiết tha với độc lập tự do của người Việt ta. Nhưng Mị Châu lại được “hồi sinh” (hóa thân vào ngọc và đá) bởi dân tộc ta bao giờ cũng bao dung. Kết thúc ấy thể hiện niềm cảm thông với sự trong trắng ngây thơ của nàng công chúa. Câu chuyện của Mị Châu quả đúng là lời nhắn nhủ của tác giả dân gian đối với thế hệ trẻ muôn đời trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tình nhà với nghĩa nước, giữa cái riêng với cái chung. 3. Có thể nói Trọng Thủy là thủ phạm trực tiếp gây ra bi kịch của nước Âu Lạc và cái chết của hai cha con Mị Châu. Vừa là con, vừa là bề tôi, Trọng Thủy đã tuân thủ tuyệt đối theo mệnh lệnh của Triệu Đà. Nhìn ở khía cạnh này, Trọng Thủy đúng là một kẻ thù của dân tộc. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là một hình ảnh đẹp lại vừa giàu ý nghĩa. Nó là một sự kết thúc hoàn mỹ cho một mối tình. Chi tiết “ngọc trai” đã chứng thực được tấm lòng trong sáng của Mị Châu. Chi tiết “giếng nước” có hồn Trọng Thủy lại là chi tiết được dựng lên để hóa giải nỗi hối hận vô cùng và tội lỗi của nhân vật này. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” với việc ngọc trai kia đem rửa trong nước giếng này lại càng sáng đẹp hơn còn nói lên rằng Trọng Thủy đã tìm được lời hóa giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia. Nhìn ở khía cạnh này Trọng Thuỷ lại là một kẻ si tình thật đáng thương. 4. “Cốt lõi lịch sử” của truyện là việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa và sự thực về sự thất bại của Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà. Cái cốt lõi ấy đã được dân gian làm cho sinh động bằng việc thêm vào nhiều sự việc chi tiết thần kì như chuyện xây thành, chế nỏ; chuyện về cái chết của An Dương Vương và của Mị Châu; chi tiết về “ Ngọc trai – giếng nước”…. Chính việc thêm vào truyện các chi tiết thần kì này đã giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn và sinh động. Nó cũng thể hiện một cái nhìn bao dung của nhân dân ta với các nhân vật lịch sử và với tất cả những gì đã xảy ra. 5. Thực ra cách đánh giá trong “Trọng Thuỷ chỉ là kẻ gián điệp. Ngay cả việc yêu Mị Châu cũng chỉ là giả dối” hay “ “Giữa Mị Châu và Trọng Thuỷ có tình yêu chung thuỷ và hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” đã ca ngợi mối tình đó” đều phiến diện và hời hợt. Đó là những cách đánh giá theo hướng quá tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề. Có thể nêu ý kiến: việc Trọng Thủy lấy cắp lẫy nỏ thần và là người trực tiếp gây ra bi kịch mất nước của Âu Lạc và cái chết của hai cha con An Dương Vương là một điều đáng trách. Tuy nhiên, tình yêu mà Trọng Thủy dành cho Mị Châu cũng là chân thật và sâu nặng. Chính vì vậy đối với nhân vật này, chúng ta thấy vừa đáng thương lại vừa đáng giận. 2. An Dương Vương đã tự tay chém đầu người con gái duy nhất của mình. Cách xử lí này hoàn toàn phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc ta. Nó thể hiện lòng bao dung của dân tộc đối với những đứa con lầm lỗi nhưng đã biết cúi đầu hối hận và chịu tội. Trước đất nước, nhân dân, cách hành xử của nhà vua là đầy trách nhiệm. Thế nhưng về tình nhà, An Dương Vương chắc chắn cũng vô cùng đau đớn. Việc để cho hai cha con đoàn tụ bên nhau (khi chết) là cái kết hợp tình hợp lí và nhân hậu của nhân dân ta. 3. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, cho đến tận ngày nay vẫn chiếm được cảm tình của người đọc. Người ta đọc truyện để hiểu về lịch sử, để rút ra những bài học bổ ích cho mình và cho con cháu đời sau. Nhưng không chỉ thế, đọc truyền thuyết này, người ta còn muốn hiểu sâu sắc hơn bi kịch của một mối tình rất đẹp trong lịch sử. Sức sống của truyền thống An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy còn khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca. Các tác giả như Tố Hữu, Trần Đăng Khoa… đều đã có những sáng tác lấy cảm hứng từ tác phẩm này. Ví dụ trong bài thơ “Tâm sự” rút trong tập thơ “Ra trận” của nhà thơ Tố Hữu, có đoạn viết: … Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu, Trái tim lầm lỡ để trên đầu. Nỏ thần vô ý trao tay giặc, Nên nỗi cơ đồ đắm biểu sâu… loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT AN DƯƠNG VƯƠNG

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT AN DƯƠNG VƯƠNG

Việc mất nước Âu Lạc, người chịu trách nhiệm chính là An Dương Vương. Ông vua tuy có công xây dựng, bảo vệ đất nước nhưng đã chủ quan, mất cảnh giác xem thường kẻ địch dẫn đến bi kịch quốc gia, gia đình, cá nhân a. An Dương Vương xây thành cổ Loa nhiều lần nhưng đắp tới đâu thì lại lở tới đấy. Nhà vua được thần linh giúp đỡ đã xây xong thành.      Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, dân gian muốn khẳng định An Dương Vương là vị vua có tinh thần yêu nước, bảo vệ đất nước. b. Sự mất cảnh giác của nhà vua biểu hiện bản chất như thế nào?      Sự mất cảnh giác vì nhà vua không phát hiện bản chất của Triệu Đà. Triệu Đà không chỉ muốn thôn tính Âu Lạc mà còn cho Trọng Thủy cầu hôn Mị Châu để biến người Âu Lạc thành người phương Bắc. Trọng Thủy đã lừa Mị Châu, xem trộm nỏ thần và đã tìm cách đánh tráo lẫy nỏ, Mị Châu đã tiết lộ bí mật quốc gia để Trọng Thủy biết được vũ khí lợi hại của đất nước. Khi Triệu Đà sang xâm lược, An Dương Vương cậy có nỏ thần, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nói rằng: Đà không sợ nỏ thần sao?. Chứng tỏ nhà vua chủ quan không biết rằng việc bảo vệ đất nước phải luôn luôn cảnh giác với kẻ thù mọi nơi, mọi lúc. Vì vậy đất nước phút chốc rơi vào bi kịch nước mất, nhà tan. Đây là bài học thời sự trong việc bảo vệ đất nước. c.  Sáng tạo những chi tiết về Rùa Vàng, Mị Châu, nhà vua tự tay chém đầu con gái, nhân dân ta muốn biểu lộ thái độ công bằng trước lịch sử. Rùa Vàng - biểu tượng dân tộc - giúp nhà vua xây thành, chế nỏ là trí tuệ, sức sáng tạo, công sức bền bỉ của cha ông ta trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước. Rùa Vàng gọi Mị Châu là giặc vì chính nàng là người có Trái tim nhầm chỗ để trên đầu nên phải chịu nhận cái chết do chính cha mình với tư cách người đứng đầu quốc gia trừng phạt. Cũng chứng tỏ thái độ không khoan nhượng của nhân dân đối với bất kì hành động nào làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Việc mất nước Âu Lạc, người chịu trách nhiệm chính là An Dương Vương. Ông vua tuy có công xây dựng, bảo vệ đất nước nhưng đã chủ quan, mất cảnh giác xem thường kẻ địch dẫn đến bi kịch quốc gia, gia đình, cá nhân. Thảm họa xảy ra, An Dương Vương đã đặt việc nước lên trên việc nhà, quan hệ vua -     tôi trên quan hệ cha con (chém chết Mị Châu). Rùa Vàng dẫn lối cho nhà vua xuống biển, không để ông chết, không cho quân thù lấy được xác vua. Chi tiết này thể hiện lòng tự tôn dân tộc. Thể hiện sự cảm thông, kính trọng của nhân dân đối với An Dương Vương, dẫu ông có tội lớn - để mất nước. Đó cũng là sự phán xét công bằng của cha ông ta. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích tình cảm và suy nghĩ của người xưa đối với mỗi nhân vật trong truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy - văn mẫu

PHÂN TÍCH TÌNH CẢM VÀ SUY NGHĨ CỦA NGƯỜI XƯA ĐỐI VỚI MỖI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU, TRỌNG THỦY - VĂN MẪU

  Đề bài:  Qua truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy, anh (chị) thấy tình cảm và suy nghĩ của người xưa đ

4 Đọc thêm

Truyện An Dương Vương và Mị Châu

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU

"Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim nhầm chỗ để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc. Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu" (Tố Hữu - Tâm sự) An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy là truyền thuyết đẹp của người xưa với chủ đề dựng nước và giữ nước, để lại cho đời sau bài học cảnh giác chính trị sâu sắc và thấm thía. Nhưng có phải câu chuyện chỉ chứa dựng một tấn bi kịch là mất nước hay không? Theo tôi câu chuyện là sự đan xen giữa cả hai bi kịch mất nước và tình yêu. Chính khi bi kịch mất nước đã tạo nên bi kịch tình yêu và bi kịch tình yêu đã mở đường cho bi kịch mất nước. Cả hai tấn bi kịch bắt đầu khi An Dương Vương để tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân. Vua cho Trọng Thủy về ở rể mà chẳng mảy may nghi ngờ không chút cảnh giác chính vì thế vua đã để Trọng Thủy có cơ hội mang mầm tai họa vào bén rễ trong Loa Thành. Sự mất cảnh giác đã cuốn vua vào bi kịch mất nước do chính tay mình tạo nên; nhưng hậu quả đâu chỉ dừng lại ở đó, chính An Dương Vương đã đẩy con gái là công chúa Mị Châu vào con đường bi kịch tình yêu. Truyền thuyết ghi lại bởi người đời sau ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch khá rõ ràng: mối quan hệ thông gia giữa hai nhà vốn dĩ đối địch đã tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương Vương lại " vô tình" gả con gái yêu cho con trai kẻ thù. Theo mạch kể của truyền thuyết không có lí giải nguyên nhân sâu xa khiến Mị Châu tiếp tay cho Trọng Thủy cướp mất nỏ thần Kim Quy. Mị Châu rõ ràng đã quá yêu và tin Trọng Thủy đến với mình bằng tình yêu chân thành vì vậy nàng đã nghe theo mọi lời nói của y. Nếu xét dưới góc độ của một thần tử, nàng mang tội đáng chết vì một thần tử mà dám đem bí mật quân sự quốc gia ra nói với người khác, nhất là khi đó lại là con trai của kẻ thù. Đáng trách hơn, Mị Châu bị tình yêu làm mờ lí trí đến nỗi chẳng còn đủ tỉnh táo để nhận ra những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không còn đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm ẩn hiếm họa binh đao: "Ta nay về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa bắc nam chia cắt, ta tìm lại nàng biết lấy gì làm dấu?" Mị Châu mê muội đến mức không biết hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Rồi ngay cả khi giặc của Triệu Đà đuổi đến nơi nàng vẫn chẳng chịu trở về với thực tại, mãi đắm mình trong cơn mộng mị, vẫn còn rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả là vô cùng đáng trách, đáng phê phán. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ của một người con gái bình thường đang yêu một cách cuồng nhiệt thì quả thật Mị Châu đã làm tròn trách nhiệm với con tim của mình. Dù cho có mù quáng đi chăng nữa thì tình yêu của Mị Châu thật đẹp đẽ và trong sáng. Nàng yêu hết mình và hiến dâng tất cả cho người mình yêu. Chính vì lẽ đó mà Mị Châu trở thành thủ phạm góp phần làm nên tấn bi kịch mất nước đồng thời nàng cũng là nạn nhân "bất đắc dĩ" của tấn bi kịch tình yêu. Mị Châu chẳng làm tròn chữ trung chữ hiếu, nàng chỉ để lại duy nhất cho đời riêng một chữ tình mà thôi. Đằng sau câu chuyện tình yêu của Mị Châu - Trọng Thủy là cả một âm mưu về chính trị thâm hiểm của Triệu Đà và không ai khác kẻ trực tiếp thực hiện âm mưu đó lại chính là Trọng Thủy. Ngay từ khi bước chân vào Loa Thành y đã lộ nguyên hình là tên nội gián thâm độc, y luôn đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, y lợi dụng luôn cả người vợ ngây thơ để thực hiện gian kế. Xét về bản chất Trọng Thủy là một kẻ tham lam và gian trá. Chính điều đó giúp y hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, y đã làm tròn cả chữ trung lẫn chữ hiếu. Nhưng đáng tiếc thay Trọng Thủy lại lỡ đánh rơi mất chữ tình. Trái với Mị Châu, Trọng Thủy để cái đầu lạnh làm nguội trái tim mình. Những hành động đầy toan tính của y giúp y tạo nên cái bẫy đưa cha con Mị Châu vào bi kịch mất nước nhưng từ thủ phạm hắn biến thành nạn nhân của chính mình trong tấn bi kịch tình yêu. An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân vua mong mỏi sự hòa bình giữa hai quốc gia, chấm dứt cảnh chiến tranh loạn lạc từ tình yêu con trẻ. Nhưng trớ trêu thay điều đó lại tạo nên khe hở cho những toan tính của cha con Triệu Đà len lỏi vào. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi phải tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình. Nhà vua đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy rất được nhân dân coi trọng qua cách xử lí của dân gian: Rùa vàng rẽ nước cho vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá cho sự nông nổi của mình nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch đau đớn. Một người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng đã nhận ra kẻ thù dù đã quá muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mị Châu khi đã để nàng hóa thành ngọc thạch, máu hóa thành ngọc trai ở biển đông. Mị Châu thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không chỉ kể lại trang sử mất nước mà còn chứa đựng cả cái nhìn thương cảm cho lứa đôi - khi tình yêu phải đối mặt với âm mưu. Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châu. Nhưng điều đáng nói ở đây là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: "Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông lấy nước giếng mà rửa thì thấy trong sáng thêm". Sự lừa dối của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh người đời: Chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, tình yêu không bao giờ đồng hành với những âm mưu toan tính thấp hèn, với tham vọng cướp nước. Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác đến lời nhắc nhở về cách giải quyết cái chung và cái riêng, việc nước và việc nhà. Truyền thuyết ấy như ta vẫn biết chứa đựng bài học mất nước sâu sắc, bài học mất nước là chính và không ai có thể phủ nhận, nhưng chỉ nhắc đến bi kịch mất nước thôi là chưa đủ mà còn ẩn sâu bi kịch tình yêu còn nhiều tranh cãi... (Nguồn : Sở GD Huế )
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÓM TẮT TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY THEO NHÂN VẬT MỊ CHÂU

TÓM TẮT TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY THEO NHÂN VẬT MỊ CHÂU

Đề bài: Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Mị Châu. Bài làm Mị Châu là con gái An Dương Vương. Sau khi cha nàng xây được thành, lại có nỏ thần mấy lần đánh bại quân Triệu Đà, Đà đã sang cầu hôn này cho con trai hắn, lấy cớ là tạo mối quan hệ giao hảo hai nước. Thế là Mị Châu trở thành vợ Trọng Thủy. Tin yêu chồng và mất cảnh giá, Mị Châu bị Trọng Thủy lừa, đánh tráo nỏ thần đem về nước. Có nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang đánh An Dương Vương. Khi cùng cha chạy trốn ra biển Đông, Mị Châu còn rắc lông ngỗng để làm dấu cho chồng, mong vợ chồng được đoàn tụ.  Rùa Vàng hiện lên bảo với An Dương Vương, Mị Châu là giặc. Vua liền quay lại chém chết Mị Châu. Trước khi chết, Mị Châu khấn: nếu mình có lòng phản nghịch, khi chết sẻ biến thành châu ngọc. Mị Châu chết, xác hóa thành ngọc thạch, còn máu chảy xuống biển, trai ăn phải đều biến thành hạt châu.     Tham khảo thêm: Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Trọng Thủy Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật An Dương Vương  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật An Dương Vương

TÓM TẮT TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY THEO NHÂN VẬT AN DƯƠNG VƯƠNG

Đề bài: Tóm tắt lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật An Dương Vương. Bài làm  An Dương Vương xây thành, hễ đắp tới đâu là lở tới đó. Vua phải nhờ tới sự giúp đỡ của Rùa Vàng mới xây xong. Trước khi từ biệt ra về, Rùa Vàng còn tặng cho nhà vua cái móng vuốt để làm lẫy nỏ, có thể bắn trăm phát trăm trúng. Nhờ có lẫy nỏ mà mấy lần Triệu Đà cử đại binh sang xâm lược, An Dương Vương đều chiến thắng vẻ vang. Một thời gian sau, Đà cầu hôn Mị Châu là con gái của An Dương Vương cho con trai mình là Trọng Thủy. An Dương Vươn bằng lòng mà không nghi ngờ gì. Trọng Thủy bảo Mị Châu lấy cho mình xem nỏ thần rồi đánh tráo, đem về nước cho cha. Triệu Đà lại cất quân sang xâm lược. Mất nỏ thần, An Dương Vương thua trận, bèn cùng Mị Châu chạy về biển Đông. Nhà vua cầu cứu Rùa Vàng, Rùa Vàng bảo: “Giặc sau lưng nhà vua đó”. An Dương Vương hiểu ra, tuốt kiếm chém đầu Mị Châu rồi cùng Rùa Vàng rẽ nước xuống biển Đông.   Tham khảo thêm:  Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Mị Châu  Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật Trọng Thủy
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY (Truyền thuyết) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tóm tắt : Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược. Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ, vua vô tình đồng ý. Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc. Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai. Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm. 2. Truyền thuyết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng hoang đường. Nó phản ánh quan điểm đánh giá, thái độ và tình cảm của nhân dân về các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử. 3. Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy là câu chuyện về bi kịch mất nước của cha con An Dương Vương và bi kịch tình yêu của Mị Châu - Trọng Thủy. Từ câu chuyện ấy, nhân dân ta muốn rút ra và truyền lại cho con cháu các thế hệ sau bài học lịch sử về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu xâm lược của kẻ thù. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Các chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương: + An Dương Vương xây thành nhưng thất bại. + An Dương Vương được Rùa Vàng giúp xây thành và chế nỏ thần. + Vua đánh thắng Triệu Đà lần thứ nhất. + Vua chủ quan khi Triệu Đà đem quân đánh. + Vua thất bại và chém chết Mị Châu. a) An Dương Vương được thần linh giúp đỡ bởi nhà vua đã có ý thức đề cao cảnh giác, sớm lo việc xây thành đắp lũy và chuẩn bị vũ khí để chống ngoại xâm. Tưởng tượng ra sự giúp đỡ thần kì này, nhân dân ta đã tỏ lòng ca ngợi công lao của nhà vua và tự hào về việc xây thành, chế nỏ cũng như những chiến công trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. b) Sự thất bại của An Dương Vương bắt đầu từ chỗ nhà vua chấp nhận lời cầu hòa và thêm nữa còn cho Trọng Thủy về ở rể. Trong sự việc này, An Dương Vương đã tỏ ra mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù, tỏ ra mất cảnh giác. Hơn nữa việc mất nước còn do nhà vua chủ quan ỷ vào có vũ khí lợi hại nên đã không đề phòng khi quân giặc tiến công. c) Chi tiết Rùa Vàng, Mị Châu và việc vua chém đầu con gái theo lời kết án của Rùa Vàng được sáng tạo ra để nhân dân ta gửi gắm lòng kính trọng đối với vị vua anh hùng dũng cảm – con người sẵn sàng hi sinh những tình cảm riêng tư để giữ tròn khí tiết và danh dự trước đất nước non sông. Nó cũng phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu, đồng thời cũng là lời giải thích "nhẹ nhàng" nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước. 2. Những chi tiết liên quan đến vai trò của Mị Châu trong bi kịch mất nước của người Âu Lạc: - Mị Châu ngây ngô cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần. - Trên đường rút chạy, nàng còn rắc lông ngỗng cho Trọng Thủy và quân lính đuổi theo. Sự mất cảnh giác của Mị Châu là ở chỗ đã cả tin đem trao vào tay giặc bí quyết chống giặc giữ nước của quốc gia. Hơn thế nữa khi hai cha con đã bị thất bại, nàng lại vì bị tình cảm lu mờ mà chỉ đường cho giặc khiến cho hai cha con bị rơi vào con đường cùng tận. Thực ra ý kiến cho rằng "Mị Châu làm vậy là chỉ tuân theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ đối với Tổ quốc” và “việc Mị Châu tuyệt đối nghe và làm theo ý chồng là đương nhiên" là không thuyết phục dù chúng ta biết Mị Châu là một người vợ thời phong kiến. Khi dựng truyện, tác giả dân gian cũng chỉ muốn nhấn mạnh sự cả tin và ngây thơ của Mị Châu, vì thế mới có bài học giữ nước cay đắng, xót xa nhưng thấm thía truyền đến tận hôm nay. Phần kết truyện liên quan đến cái chết của Mị Châu thể hiện hai cái nhìn tưởng như trái ngược nhưng lại rất thống nhất của tác giả dân gian. Mị Châu bị trừng trị là một dứt khoát, rõ ràng của lịch sử. Nó xuất phát từ truyền thống yêu nước và lòng thiết tha với độc lập tự do của người Việt ta. Nhưng Mị Châu lại được "hồi sinh" (hóa thân vào ngọc và đá) bởi dân tộc ta bao giờ cũng bao dung. Kết thúc ấy thể hiện niềm cảm thông với sự trong trắng ngây thơ của nàng công chúa. Câu chuyện của Mị Châu quả đúng là lời nhắn nhủ của tác giả dân gian đối với thế hệ trẻ muôn đời trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tình nhà với nghĩa nước, giữa cái riêng với cái chung. 3. Có thể nói Trọng Thủy là thủ phạm trực tiếp gây ra bi kịch của nước Âu Lạc và cái chết của hai cha con Mị Châu. Vừa là con, vừa là bề tôi, Trọng Thủy đã tuân thủ tuyệt đối theo mệnh lệnh của Triệu Đà. Nhìn ở khía cạnh này, Trọng Thủy đúng là một kẻ thù của dân tộc. Hình ảnh "ngọc trai - giếng nước" là một hình ảnh đẹp lại vừa giàu ý nghĩa. Nó là một sự kết thúc hoàn mỹ cho một mối tình. Chi tiết "ngọc trai" đã chứng thực được tấm lòng trong sáng của Mị Châu. Chi tiết "giếng nước" có hồn Trọng Thủy lại là chi tiết được dựng lên để hóa giải nỗi hối hận vô cùng và tội lỗi của nhân vật này. Hình ảnh "ngọc trai - giếng nước" với việc ngọc trai kia đem rửa trong nước giếng này lại càng sáng đẹp hơn còn nói lên rằng Trọng Thủy đã tìm được lời hóa giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia. Nhìn ở khía cạnh này Trọng Thuỷ lại là một kẻ si tình thật đáng thương. 4. "Cốt lõi lịch sử" của truyện là việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa và sự thực về sự thất bại của Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà. Cái cốt lõi ấy đã được dân gian làm cho sinh động bằng việc thêm vào nhiều sự việc chi tiết thần kì như chuyện xây thành, chế nỏ; chuyện về cái chết của An Dương Vương và của Mị Châu; chi tiết về “ Ngọc trai - giếng nước”…. Chính việc thêm vào truyện các chi tiết thần kì này đã giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn và sinh động. Nó cũng thể hiện một cái nhìn bao dung của nhân dân ta với các nhân vật lịch sử và với tất cả những gì đã xảy ra. 5. Thực ra cách đánh giá trong “Trọng Thuỷ chỉ là kẻ gián điệp. Ngay cả việc yêu Mị Châu cũng chỉ là giả dối” hay “ “Giữa Mị Châu và Trọng Thuỷ có tình yêu chung thuỷ và hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” đã ca ngợi mối tình đó” đều phiến diện và hời hợt. Đó là những cách đánh giá theo hướng quá tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề. Có thể nêu ý kiến: việc Trọng Thủy lấy cắp lẫy nỏ thần và là người trực tiếp gây ra bi kịch mất nước của Âu Lạc và cái chết của hai cha con An Dương Vương là một điều đáng trách. Tuy nhiên, tình yêu mà Trọng Thủy dành cho Mị Châu cũng là chân thật và sâu nặng. Chính vì vậy đối với nhân vật này, chúng ta thấy vừa đáng thương lại vừa đáng giận. 2. An Dương Vương đã tự tay chém đầu người con gái duy nhất của mình. Cách xử lí này hoàn toàn phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc ta. Nó thể hiện lòng bao dung của dân tộc đối với những đứa con lầm lỗi nhưng đã biết cúi đầu hối hận và chịu tội. Trước đất nước, nhân dân, cách hành xử của nhà vua là đầy trách nhiệm. Thế nhưng về tình nhà, An Dương Vương chắc chắn cũng vô cùng đau đớn. Việc để cho hai cha con đoàn tụ bên nhau (khi chết) là cái kết hợp tình hợp lí và nhân hậu của nhân dân ta. 3. Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, cho đến tận ngày nay vẫn chiếm được cảm tình của người đọc. Người ta đọc truyện để hiểu về lịch sử, để rút ra những bài học bổ ích cho mình và cho con cháu đời sau. Nhưng không chỉ thế, đọc truyền thuyết này, người ta còn muốn hiểu sâu sắc hơn bi kịch của một mối tình rất đẹp trong lịch sử. Sức sống của truyền thống An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy còn khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca. Các tác giả như Tố Hữu, Trần Đăng Khoa... đều đã có những sáng tác lấy cảm hứng từ tác phẩm này. Ví dụ trong bài thơ "Tâm sự" rút trong tập thơ "Ra trận" của nhà thơ Tố Hữu, có đoạn viết:                                    ... Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu,                                        Trái tim lầm lỡ để trên đầu.                                        Nỏ thần vô ý trao tay giặc,                                             Nên nỗi cơ đồ đắm biểu sâu...
Xem thêm

6 Đọc thêm

QUA TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU, TRỌNG THỦY, ANH (CHỊ) THẤY TÌNH CẢM VÀ SUY NGHĨ CỦA NGƯỜI XƯA ĐỐI VỚI MỖI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NHƯ THẾ NÀO? ĐỂ THỂ HIỆN ĐIỀU ĐÓ, TÁC GIẢ DÂN GIAN ĐÃ

QUA TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU, TRỌNG THỦY, ANH (CHỊ) THẤY TÌNH CẢM VÀ SUY NGHĨ CỦA NGƯỜI XƯA ĐỐI VỚI MỖI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NHƯ THẾ NÀO? ĐỂ THỂ HIỆN ĐIỀU ĐÓ, TÁC GIẢ DÂN GIAN ĐÃ

Qua truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy, anh (chị) thấy tình cảm và suy nghĩ của người xưa đối với mỗi nhân vật trong truyện như thế nào? Để thể hiện điều đó, tác giả dân gian đã chọn các sự việc, chi tiết nào? Truyện An Dương vương và Mị Châu, Trọng Thủy là một truyền thuyết nổi tiếng, gắn liền với những biến cố lịch sử to lớn của đất nước ta thời kì Âu Lạc. Xung quanh các nhân vật có rất nhiều ý kiến đánh giả khác nhau, thậm chí trái ngược. Chúng ta thử phân tích xem tình cảm và suy nghĩ của người xưa đối với mỗi nhân vật trong truyện như thế nào? Trước hết là An Dương Vương. Sau khi kế tục sự nghiệp dựng nước của 18 đời Hùng Vương, An Dương vương Thục Phán đã đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc và dời đô từ Phong Châu về đất Phong Khê (tức vùng Đông Anh, ngoại thành Hà Nội ngày nay). An Dương vương là.một nhân vật anh hùng nhưng cuộc đời của ông lại kết thúc bằng một bi kịch, ở cương vị lãnh đạo tối cao của đất nước, ông đã ngày đêm suy nghĩ để tìm cách xây dựng thành cổ Loa. Việc xây thành đắp lũy gặp vô vàn khó khăn, gian khổ. Truyện kể rằng, thành cử ngày xây đêm lại đổ, nguyên nhân là do lũ yêu quái quấy phá. An Dương Vương phải lập đàn trai giới, cẩu đảo bách thần. Được sứ Thanh Giang giúp đỡ, thành mới xây xong. Tác giả dân gian đã hình tượng hóa những khó khăn trở ngại mà An Dương Vương gặp phải trong quá trình xây thành để truyền thuyết đậm chất hoang đường, kì ảo. Hình ảnh cụ già từ phương Đông đi tới trước cổng thành nói với An Dương Vương là sẽ có sứ Thanh Giang tới giúp; hình ảnh Rùa Vàng nói sõi tiếng người, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quy thần và giúp An Dương Vương xây thành chỉ trong nửa tháng đã xong cũng chính là sản phẩm tưởng tượng tuyệt đẹp của người xưa để thần thánh hóa trí tuệ, tài năng của những bề tôi xuất sắc đã hỗ trợ nhà vua khắc phục bao trở ngại tưởng chừng khó vượt qua. Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, hay còn gọi là Quỷ Long Thành. Điều đó cho thấy công lao to lớn của An Dương vương đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, vốn có tầm nhìn xa trông rộng nên xây xong thành, An Dương Vương nghĩ ngay đến việc giữ nước. Nhà vua hỏi Rùa Vàng :"… Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống ?”. Rùa Vàng đáp: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh Trời, con người có thể tu đức mà kéo dài thời vận…”. Rùa Vàng tháo vuốt đưa cho nhà vua mà nói: “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa”. Nghe lời Rùa Vàng, An Dương vương sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt Rùa Vàng làm lẫy, gọi là “Linh quang Kim Quy thần cơ”, bắn một phát chết hàng vạn giặc. Vì thế mà Triệu Đà ở phương Bắc kéo quân sang xâm lược đã thua lớn, phải cầu hòa. Cậy có nỏ thần, An Dương Vương sinh ra kiêu ngạo, chủ quan, khinh địch. Trong khỉ đó, mưu trí và tỉnh táo là những điều kiện quan trọng không thể thiếu đối với người lãnh đạo tối cao của một đất nước. Từ kiêu ngạo, chủ quan dẫn đến mất cảnh giác chẳng bao xa. Quả nhiên, An Dương Vương đã mắc mưu sâu của Triệu Đà mà không biết. Nhà vua dễ dàng chấp thuận lời cầu hòa, rồi cầu hôn cho con trai của Triệu Đà, kẻ thù không đội trời chung mà ông đã phải đương đầu cách đây chưa lâu. Đó là sai lầm ghê gớm nhất. Mất tỉnh táo, An Dương Vương liên tục mắc sai lầm và ngày càng nghiêm trọng, ông không chỉ gả con gái yêu cho con trai kẻ thù mà còn để Trọng Thủy vào ở rể trong thành. Hành động này của ông có khác chỉ nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà. ông không biết rằng tên do thám nguy hiểm đang đội lốt một hoàng tử hào hoa, một chàng rể dễ mến. Sai lầm của ông là tiền đề dẫn đến những sai lầm tai hại của Mị Châu sau này. Có lẽ tác giả dân gian đã rất thâm thúy và tinh tế khỉ chọn những chi tiết đặc tả An Dương Vương lúc nghe tin Triệu Đà cất quân sang xâm lược lần thứ hai: Vua cậy có nỏ thần, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nỏi rằng: “Đà không sợ nỏ thân sao ?”. An Dương Vương không thể ngờ Trọng Thủy dám đánh tráo lẫy thần nên vẫn ung dung chờ giặc. Đáng giận và cũng đáng thương thay! Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, thấy lẫy thần đà mất bèn bỏ chạy, Vua đặt Mị Châu ngồi đàng sau ngựa rói cùng nhau chạy về phương Nam. Rõ ràng, đang từ vị trí vinh quang của người chiến thắng, An Dương Vương đã rơi vào tình thế thảm hại của kè chiến bại. Đến bờ biển, cùng đường tắc lối, An Dương Vương ngửa mặt than: Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu ! Chỉ tiết này phản ảnh rất rõ sự bế tắc trong nhận thức của An Dương Vương, ông đã say sưa với chiến thắng, ỷ lại vào thần linh mà quên đi lời dặn của Rùa Vàng lúc chia tay: Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh Trời, con người có thể tụ đức mà kéo dài thời vận. An Dương vương đã không tu đức – cái đức của người gánh trên vai trách nhiệm nặng nề đối với sự tổn vong của sơn hà, xã tắc, cho nên ông đã bị tước mất cái thế trời che, đất chở. Cái kết cục bi thảm nhà tan, nước mất đương nhiên lỗi lớn là ở An Dương Vương. Lúc lâm vào thể cùng đường, ông kêu lớn: Trời hại ta!nhưng thực chất là chính ông và thêm nữa là cô con gái yêu quý đã vô tình làm hại ông. Ông cầu cứu đến Rùa Vàng. Rùa Vàng hiện ra và thét lớn : Kẻ ngồi sau lưng ngựa chính là giặc đó! Tiếng thét của Rùa Vàng thức tỉnh An Dương Vương, ông hiểu ra ngay nguyên cớ của thảm họa mất nước nên đành phải chém chết Mị Châu. Tác giả dân gian đã thể hiện qua tiếng thét ấy sự bất bình, phẫn nộ của nhân dân đối với sai lầm không thể tha thứ của cha con An Dương Vương. Cuối cùng, Rùa Vàng cũng cứu ông. Cầm sừng tê bảy tấc, An Dương Vương được Rùa Vàng rẽ nước dẫn xuống Thủy cung. Như vậy là thái độ của nhân dân rất phân minh, rạch ròi trước công và tội của người đứng đầu đất nước Âu Lạc thời bấy giờ. Thất bại của An Dương vương là bài học lớn có tác dụng giáo dục sâu sắc tinh thần cảnh giác trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Còn Mị Châu, tội của nàng là vô tình tiếp tay cho giặc. Người con gái ngây thơ, xinh đẹp ấy một lòng một dạ yêu chổng, tin chổng, chỉ thuận theo tình cảm vợ chổng mà quên đi nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước. Nàng dễ dàng đáp ửng yêu cầu của Trọng Thủy là đòi xem tận mắt nỏ thần mà không hề nghĩ rằng đó là báu vật, là bí mật quốc gia, liên quan đến sự mất còn của đất nước. Nàng lại càng không thể phát hiện ra Trọng Thủy là một tên do thám nguy hiểm, cho nên đã đặt vào chổng trọn vẹn tình cảm yêu thương, tin tưởng. Lấy được lẫy thần, Trọng Thủy vịn cớ xin về nước thăm cha và khi chia tay đã nói một câu đầy ẩn ý: … nếu như đến lúc hai nước thất hoà, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu ? thì Mị Châu vẫn hồn nhiên đáp: Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đởn khôn xiết Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lồng mà rắc ở ngả ba đường để làm dấu, như vậy cô thể sẽ cửu được nhau. Bỉ kịch mất nước đã xảỵ ra ngay sau đó. Hai chạ con An Dương vương phải lên ngựa chạy trốn mả Mị Châu vẫn không nhận thức được tình thế hiểm nguy cho tính mạng của vua cha và bản thân, vẫn giữ đúng lới hứa với Trọng Thủy là rắc lông ngỗng làm dấu. Hành động ấy của nàng vô tình chỉ đường dẫn lối cho kẻ thù truy sát An Dương Vương. Thần Kim Quy tức Rùa Vàng kết tội Mị Châu là giặc quả không sai chút nào, dẫu nàng hoàn toàn không biết rằng những hành động của mình là trọng tội. Có lẽ vì thông cảm và thương xót Mị Châu phần nào nên tác giả dân gian đã để cho Mị Châu trước khi bị cha chém đầu đã tỉnh ngộ, nhận ra là mình bị lừa dối, bị phản bội: Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Chỉ tiết máu Mị Châu chảy xuống biển, một loài trai ăn phải sinh ra ngọc quý và hình ảnh xác nàng biến thành ngọc thạch phản ánh thái độ vừa nghiêm khắc, vừa bao dung của người xưa đối với cô công chúa tội nghiệp, đáng thương, đồng thời cũng là lời nhắc nhở các thế hệ trẻ muôn đời sau hãy đừng vì tình riêng mà quên đi nghĩa vụ công dân đối với đất nước và dân tộc. Nhân vật thứ ba là nhân vật Trọng Thủy – kẻ vừa đáng lên án vì giữ vai trò tích cực giúp cho Triệu Đà thực hiện âm mưu xâm lược nhưng cũng vừa là nạn nhân của chính cuộc chiến tranh phi nghĩa đó. Xét cho cùng, Trọng Thủy đã bị vua cha biến thành một công cụ, một phương tiện hữu hiệu, một lực lượng phá hoại từ bên trong để làm tê liệt đối phương. Lúc đầu, Trọng Thủy nhận nhiệm vụ của một tên do thám đội lốt chàng rể hào hoa, phong nhã, rất biết làm vui lòng cha vợ. Sau này, có thể Trọng Thủy dần dần yêu mến và say đắm Mị Châu, nhưng chưa lúc nào quên nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà Triệu Đà giao phó. Thời gian ở rể trong thành Cổ Loa, Trọng Thủy kín đáo thăm :dò tình hình, lực lượng và bí mật vú khí kì diệu là nỏ thần của An Dương Vương để giúp Triệu Đà thực hiện âm mưu thôn tính nước Âu Lạc. Mục đích ban đầu đặt ra là lấy cắp lẫy thần Kim Quy đã được Trọng Thủy tìm mọi cách thực hiện đến cùng. Lấy được lẫy thần, Trọng Thủy vội vàng kiếm cớ về nước, cùng Triệu Đà dẫn quân sang đánh Âu Lạc. Đúng như dự kiến của Triệu Đà, An Dương Vương phải bỏ thành mà chạy. Trọng Thủy đã hình dung ra trước mọi chuyện nên mới có câu nói đầy ẩn ý lúc chia tay với Mị Châu. Rổi cứ theo dấụ lông ngỗng mà truy đuổi đến bờ biển, Trọng Thủy không thấy bóng dáng An Dương Vương, chỉ thấy xác người vợ trẻ chết gục bên vũng máu. Có lẽ cái chết thê thảm của Mị Châu là lời cánh cáo dữ dội nhất, đanh thép nhất đối với Trọng Thủy. Nếu thật sự Trọng Thủy yêu nàng thì giờ đây, oan hồn nàng cũng không chấp nhận tình yêu ấy, vì .trước khi chết, nàng đã gọi chổng mình là kẻ lừa dối Trọng Thủy không thể biện bạch, thanh minh về những hành động ám muội đáng lên án của mình, cho nên các tác giả dân gian đã dành cho Trọng Thủy cái chết không kém phần bi thảm: lao đầu xuống giếng nước ở Loa Thành tự từ sau khi đã chôn cất người vợ trẻ phải chết oan vì tội lỗi của chính mình gây ra. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cụốỉ truyện chỉ làm giảm nhẹ phần nào bi kịch của đôi lứa trại tài, gái sắc – nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa mà thôi. Quan điểm yêu ghét của người xưa được thể hiện thật minh bạch, rõ ràng. Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy có sức sống lâu bển chính là nhờ những bài học nhân sinh sâu sắc, quý giá có giá trị muôn đời mà các tác giả dân gian đã gửi gắm vào đó.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ (Ngữ văn nâng cao lớp 10)

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU TRỌNG THUỶ (NGỮ VĂN NÂNG CAO LỚP 10)

Bài giảng giáo án điện tử Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ (Ngữ văn nâng cao lớp 10) . Bài giảng rất đầy đủ và chi tiết, bạn có thể tải về và tham khảo để soạn văn, dạy học, tự học,... Ngoài ra còn có hình ảnh minh hoạ cho bạn dễ hiểu và nắm vững được bài, hình ảnh phong phú, đa dạng, hoàn chỉnh,...

32 Đọc thêm

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU- TRỌNG THUỶ

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU- TRỌNG THUỶ

NHÂN VẬT TRỌNG THUỶ => Cái chết của TT: + thể hiện sự bế tắc giữa hai tham vọng: có được nước Âu Lạc và có tình yêu của MC.. + sự trả giá tất yếu cho sự giả dối và phản bội.[r]

34 Đọc thêm

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU TRỌNG THỦY

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU TRỌNG THỦY

ư Dựng n ớc luôn đi liền với giữ n ớc mà dựng n ớc ư ư ư đã khó, giữ đ ợc n ớc lại càng khó khăn hơn.ư ư - Tác giả dân gian h cấu chi tiết Rùa Vàng trao An ư D ơng V ơng vuốt thần là gửi[r]

22 Đọc thêm

Phân tích giá trị nghệ thuật của những cho tiết hoang đường kì ảo trong chuyện người con gái nam xương

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA NHỮNG CHO TIẾT HOANG ĐƯỜNG KÌ ẢO TRONG CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Cách thức đưa ra các yếu tố kì ảo vào câu chuyện
Trong truyện, các yếu tố kì ảo được đưa vào xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh ( bến đò Hoàng Giang, ải Chi Lăng); sự kiện lịch sử (quân Minh xâm lược nước ta, nhiều người chạy trốn ra bể, rồi bị đắm thuyền); những chi tiết về trang phục của mĩ nữ (quần áo thướt tha, mái tóc búi xễ, VN mặt chỉ hơi điểm qua một chút son phấn); về tình cảnh nhà VN khi nàng mất (cây cối thành rừng, cỏ gai rợp mắt)…
Cách thức này đã làm cho thế giới kì ảo lung linh, mơ hồ nên gần với cuộc đời, làm tăng thêm tính xác thực, khiến người đọc tin vào câu chuyện được kể.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Dân chủ và nhân đạo trong văn học Việt Nam qua tác phẩm dân gian

DÂN CHỦ VÀ NHÂN ĐẠO TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM QUA TÁC PHẨM DÂN GIAN

Dân chủ và nhân đạo là nội dung bao trùm, xuyên suốt văn học Việt Nam nói chung và văn học dân gian nói riêng. Qua một số tác phẩm văn học dân gian Việt nam như Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ ; truyện Tấm Cám ; truyện thơ Tiễn dặn người yêu,… chúng ta sẽ thấy rõ điều đó. Nhân đạo là những nguyên tắc đạo lí đối xử giữa con người với con người, là lòng nhân ái, là ngợi ca những vẻ đẹp của con người. Nhân đạo là cảm thông với những nỗi khổ đau, bất hạnh và lên tiếng bênh vực, đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc con người. Nhân đạo còn là tiếng nói trân trọng, đề cao những ước mơ, khát vọng của con người. Với tất cả những điều đó thì nội dung dân chủ cũng chính là một biểu hiện của nội dung nhân đạo. Văn học dân gian ra đời trong bối cảnh mà người dân chưa có được tự do, dân chủ. Cuộc sống bất công nghiệt ngã, cái đói, cái nghèo dai dẳng. Văn học dân gian vừa phản ánh hiện thực vừa biến những điều "không thể" thành "có thể" để nâng đỡ con người Bài học mất nước đầu tiên thật đau xót. An Dương Vương mơ hồ với bản chất thâm độc, dã tâm xâm lược của kẻ thù. Mị Châu nhẹ dạ cả tin dẫn đến cảnh "nước mất nhà tan". Rùa vàng kết tội Mị Châu là giặc, vua cha tuốt gươm chém nàng, tác giả dân gian đã tuyên đọc và thi hành bản án của lịch sử. Tượng nàng Mị Châu cụt đầu đặt ở khu di tích Cổ Loa có ý nhắc nhở hậu thế hãy ghi nhớ lấy bài học lịch sử đau lòng. Nhưng trong khi phê phán Mị Châu bằng "bản án tử hình" nghiêm khắc, nhân dân cũng thấu hiểu nàng mắc tội không do chủ ý mà chỉ do vô tình nhẹ dạ nên để ước nguyện của nàng được hoá thành ngọc trai, khi đem ngọc trai về rửa ở nước giếng Cổ Loa Thành, nơi Trọng Thuỷ tự vẫn, thì ngọc càng thêm sáng. điều này nói lên truyền thống cư xử "thấu lí đạt tình" của nhân dân ta. Giá trị nhân đạo của truyện dân gian đặc biệt được thể hiện ở những kết thúc có hậu của truyện cổ tích. Trương Chi chết vì tương tư nàng Mị Nương. Bằng nỗi cảm thông lạ lùng, tác giả dân gian đã sử dụng hình thức hoá thân kì diệu. Ba năm sau, hồn Trương Chi nhập trong chén ngọc để mỗi khi Mị Nương rót nước vào thì bóng dáng chàng Trương hiện lên, có bản còn kể Mị Nương nghe thấy cả tiếng sáo Trương Chi. Tình yêu không thành nhưng bằng cách đó, nhân dân ta đã bất tử hoá tình yêu. Cũng xuất phát từ lòng nhân đạo sâu sắc ấy mà nhân dân đã để cho cô Tấm thảo hiền, xinh đẹp qua nhiều biến hoá thăng trầm, cuối cùng trở về làm hoàng hậu, sống cuộc đời hạnh phúc bên nhà vua (truyện Tấm Cám) ; anh Khoai thật thà chăm chỉ cuối cùng đã trừng phạt được những kẻ tham lam và lấy được vợ (truyện Cây tre trăm đốt) ; Sọ Dừa lột xác, đi thi đỗ trạng nguyên, cứu được vợ, cảnh cáo hai cô chị ích kỉ, hẹp hòi (truyện Sọ Dừa) ;… Những kết thúc có hậu của truyện cổ tích thể hiện triết lí nhân dân : "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo". Những giấc mơ đẹp trong các câu chuyện cổ sẽ không bao giờ được chắp cánh nếu không có những nhân vật thần kì, những chi tiết thần kì. Bước vào thế giới cổ tích là bước vào thế giới của những ông Bụt, bà Tiên, thần linh, hư ảo,… Thế giới thần kì ấy xuất hiện để nâng đỡ người hiền. Khi cô Tấm chưa đủ sức tự đấu tranh, ông Bụt luôn xuất hiện. Bụt cho Tấm niềm hi vọng khi nhìn vào đáy giỏ, cho Tấm niềm an ủi mỗi lúc cất tiếng gọi "bống… bống… bang… bang…". Bụt giúp Tấm có được cả niềm vui ngày hội và cả ngôi vị cao nhất là trở thành hoàng hậu (Tấm Cám). Con chim thần ăn khế trả vàng đâu phải là cuộc bán mua sòng phẳng. Chim thử lòng người để thưởng cho những con người nghèo khổ mà trung hậu thật thà. Những chi tiết thần kì đã khiến cho những câu chuyện cổ trở nên lung linh kì ảo và giúp cho khát vọng nhân đạo của nhân dân được thực hiện. Yếu tố kì ảo là những chi tiết nghệ thuật thấm đẫm tính nhân văn. Nhưng chuyện cổ còn hấp dẫn người đọc bởi tinh thần dân chủ đặc biệt là dân chủ trong hôn nhân. Nàng công chúa cao sang cành vàng lá ngọc dám lấy một chàng trai đánh cá nghèo đến không có một chiếc khố che thân (Chử Đồng Tử). Chuyện một ông vua ghé vào quán nghèo của bà lão bán nước ; chuyện một bà hoàng hậu chăn tằm dệt vải, giặt giũ, cơm nước (Tấm Cám),… Chuyện đời và những giấc mơ đã hoà quyện vào nhau tạo nên một thế giới mà ở đó tính dân chủ được đề cao. Người Việt Nam trọng tình, trọng nghĩa. Văn học dân gian là tiếng hát chan chứa nghĩa tình. Nhân dân muốn bằng tình, bằng nghĩa để xoá nhoà ranh giới giàu- nghèo, sang- hèn thực hiện công bằng dân chủ. Dân tộc ta tin tình nghĩa con người sẽ hoá giải được tất cả những nỗi đắng cay, cơ cực ở cuộc đời này. Những bài học đạo lí, nhân nghĩa, những ước mơ khát vọng,… của người xưa sẽ giúp ta trân trọng những gì ta đang có hôm nay để gìn giữ cho muôn đời sau.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ANH CHỊ HÃY NÊU CẢM NGHĨ CỦA MÌNH VỀ TRUYỀN THUYẾT “AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY

ANH CHỊ HÃY NÊU CẢM NGHĨ CỦA MÌNH VỀ TRUYỀN THUYẾT “AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu - Trái tim lầm chỗ để trên đầu - Nỏ thần vô ý trao tay giặc - Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (Tố Hữu) Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy bói xem voi” thì truyền thuyết có “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Đây có thể xem là câu chuyện bi kịch đầu tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi không ít nước mắt cũng như sự căm phẫn của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà ta đã rút ra được bài học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch mà chuốc lấy thất bại. Truyện xưa kể rằng, vua Hùng có một người con gái đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Năm đó, Thục vương sai sứ đi cầu hôn Mị Nương. Vua Hùng tính đồng ý nhưng tướng Lạc Hầu cản lại, bảo rằng Thục chỉ có mưu đồ chiếm nước ta mà thôi. Không cầu hôn được vợ, Thục vương tức lắm. Di chúc để lại cho đời sau buộc phải cướp được nước Văn Lang của vua Hùng. Con cháu vua Thục mấy lần kéo binh sang đánh mà không được. Vua Hùng thấy thế đâm ra tự mãn, chỉ lo vui chơi, không lo việc binh biến, cuối cùng phải nhảy sông tự vẫn. Nước Văn Lang bị mất. Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán đã đứng lên dẹp loạn, tự xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc. Ông đã một lòng vì nước, rất thương dân. Triệu Đà đánh thua bèn rút về nước, cầu hòa và xin An Dương Vương gả con gái Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy. Mặc dù tướng Cao Lỗ đã hết sức can ngăn nhưng An Dương Vương vẫn mặc, lại còn bãi chức tướng Cao Lỗ. Và bi kịch cũng xuất phát từ đó. Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”, trích truyện “Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam chích quái”, đã nói lên chiến công của An Dương Vương trong việc xây thành Cổ Loa và diễn tả nỗi bi thảm của mối tình giữa Mị Châu và Trọng Thủy. Trong buổi đầu dựng nước, An Dương Vương đã rất có công với dân tộc. Ông cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được ấm no hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn không thành công, ông bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ông dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ông, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có lẽ ông đã vui mừng khôn xiết khi thấy điều đó. Ông còn lo cho vận mệnh đất nước khi tâm sự mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho An Dương Vương một cái vuốt. Ông đã làm thành nỏ, cái nỏ ấy có thể bắn ra hàng ngàn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái bình thịnh trị. Ta thấy rằng An Dương Vương quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của thiên hạ. Nhưng cũng chính vì thế cũng đã hình thành tính tự mãn nơi ông. Khi Đà sang cầu hôn, ông đã đồng ý gả con gái mình cho con trai Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có hiềm khích là sự dự báo cho những mối hiểm họa về sau. “Một đôi kẻ Việt người TàuNửa phần ân ái nửa phần oán thương” “Một đôi kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng An Dương Vương không hề màng tới điều đó. Có lẽ ông chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ không phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ông không biết được, kẻ thù dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ông nghĩ cho dân, nghĩ đến cái lợi trước mắt nhưng lại không nghĩ đến những điều nguy hiểm sắp đến. Vì thế, ông đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”. Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, An Dương Vương dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang đánh chiếm thì ông “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: ‘Đà không sợ nỏ thần sao?’” Ông đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ông mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ông chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ không còn cách đối kháng nào khác. Khi ra đến biển Đông, ông còn không nhận ra được đâu là giặc, ông chỉ ngửa mặt kêu “trời” mà không biết phải làm gì. Đến khi thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ông đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, không do dự ấy đã chứng minh ông là một vị minh quân. Ông đặt việc nước lên trên việc nhà, không để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khiếm khuyết cho ông. Khi ông không xây được thành, thần hiện lên giúp đỡ, khi ông lo cho vận mệnh đất nước, thần cũng hết sức chỉ bào ông và lúc này, khi nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ông. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Chi tiết “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Biển cả đã mở rộng tấm lòng đón ông về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp? Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một chiến thắng vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của An Dương Vương mang tính hiện thực sâu sắc. Và bi kịch nước mất nhà tan ấy xuất phát từ mối tình duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất ngây thơ, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế mà nàng lại “vô tư” đến mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu muội đến mức lầm lẫn giữa “tình nhi nữ” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời ấy. Nhưng không chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Khi đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước khi đi, chàng nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy thế mà Mị Châu không nhận ra. Nàng yêu Trọng Thủy đến mức còn không thèm đặt ra câu hỏi tại sao hai nước phải thất hòa, tại sao Bắc Nam phải cách biệt trong khi ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong đến ngày sum họp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người vợ yêu chồng tha thiết. Nhưng nàng không biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà chiến thắng vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết cha mình. “Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạnNhững chiếc lông không tự biết giấu mình” Khi bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là trang phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã không còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước khi bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã nhận ra được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng bấy lâu nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân không trọn vẹn, xác biến thành ngọc thạch, máu biến thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự cảm thông của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một ngàn năm nô lệ. Ba nhân vật, ba số phận, ba vai diễn đều do Triệu Đà đứng phía sau làm đạo diễn. Nhưng có lẽ, vai diễn của Trọng Thủy là khó khăn nhất. Chàng phải hóa thân thành nhiều vai, mỗi vai một tính cách khác nhau, đòi hỏi ở con người ta phải có tài năng diễn xuất kiệt xuất. Trước mặt An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy đeo chiếc mặt nạ là một người con rể, một người chồng hết sức yêu thương vợ. Nhưng chiếc mặt nạ còn lại Trọng Thủy giấu vào trong bóng tối. Chàng diễn hay đến mức không ai có thể nhận ra. Lời chàng nói với Mị Châu khi từ biệt, những hành động âu yếm của chàng đối với Mị Châu cho ta thấy chàng là một người đàn ông mẫu mực. Thế nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ khi ta nhận ra được âm mưu của chàng. Cuối truyện, Trọng Thủy cũng không thể nào sống yên cùng với những vinh hoa phú quý mà mình chiếm được. Tâm trạng chàng rất dằn vặt. Có lẽ trước khi thực hiện mưu đồ ấy, chàng cũng đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Nhưng suy cho cùng chàng cũng là thân phận người Tàu, là con trai Triệu Đà và là nạn nhân của cuộc chiến tranh phi nghĩa. Chàng đã hết lòng trung thành với cha. Nhưng chi tiết chàng nhảy xuống giếng vì tưởng nhớ Mị Châu đã cho ta một cách nhìn khác về nhân vật này. Chàng đã gài một cái bẫy giúp cha mình, một cú lừa ngoạn mục để rồi chàng cũng chính là nạn nhân của cái bẫy ấy. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì thấy ngọc sáng thêm. Phải chăng Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy? Nhưng tin chắc rằng nàng sẽ không ngu muội nữa, vì lời nguyền của nàng là sẽ “rửa sạch mối nhục thù” chứ không cầu mong gì thêm. Ngọc sáng đã minh chứng cho tình yêu, lòng chung thủy và sự trong sáng, vô tội của nàng. Không như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như An Dương Vương “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải luôn luôn sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm sự” đã nói: “Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầuBởi đầu cụt nên tượng càng rất sốngCái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóngHai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn tràoAnh cũng như em muốn nhắc Mị ChâuĐời còn giặc xin đừng quên cảnh giácNhưng nhắc sao được hai ngàn năm trướcNên em ơi ta đành tự nhắc mình”  loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

Dưới thời phong kiến, có một số nhà Nho cho rằng Mị Châu là một người vợ hiền, việc nàng một lòng làm theo lời chồng là không có tội. Đó có phải là lời giải oan đúng đắn cho Mị Châu không

DƯỚI THỜI PHONG KIẾN, CÓ MỘT SỐ NHÀ NHO CHO RẰNG MỊ CHÂU LÀ MỘT NGƯỜI VỢ HIỀN, VIỆC NÀNG MỘT LÒNG LÀM THEO LỜI CHỒNG LÀ KHÔNG CÓ TỘI. ĐÓ CÓ PHẢI LÀ LỜI GIẢI OAN ĐÚNG ĐẮN CHO MỊ CHÂU KHÔNG

Dưới thời phong kiến, có một số nhà Nho cho rằng Mị Châu là một người vợ hiền, việc nàng một lòng làm theo lời chồng là không có tội. Đó có phải là lời giải oan đúng đắn cho Mị Châu không? Hãy vận dụng những kiến thức đã học để bình luận ý kiến trên -------------- Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy thuộc chủ đề giữ nước, một trong những chủ đề nổi bật của truyền thuyết Việt Nam. Nội dung truyện kể về quá trình xây thành, chế nỏ giữ nước của An Dương vương và bi kịch tình yêu giữa Mị Châu – Trọng Thủy, gắn liền với sự thất bại của nước Âu Lạc. Thái độ mất cảnh giác, chủ quan khinh địch, sự nhẹ dạ cả tin của cha con An Dương Vượng đã dẫn đến thảm cảnh nhà tan, nước mất. Xung quanh nhân vật Mị Châu từ xưa đến nay có rất nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược. Dưới thời phong kiến, có một số nhà Nho cho rằng Mị Châu là một người vợ hiền, việc nàng một lòng làm theo lời chồng là không có tội. Vậy ý kiến trên có phải là lời giải oan đúng đắn cho Mị Châu hay không ? Nếu chúng ta lấy đạo lí của Nho giáo phong kiến làm cơ sở để bình luận cái đúng, cái sai của nhận xét nêu trên thì quả là Mị Châu vô tội. Đối với người phụ nữ, luật lệ xưa quy định rồi: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Tam tòng), có nghĩa lá lúc còn ở nhà thì theo cha, lúc lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con. Như vậy, rõ ràng người phụ nữ bị ràng buộc trong mọi hoàn cảnh, không có được một chút tự do nào. Việc Mị Châu trở thành vợ Trọng Thủy là do sự cố tình sắp đặt của Triệu Đà trong âm mưu thâm hiểm hòng cướp bằng được nước Âu Lạc. Trọng Thủy – con trai hắn cũng bị hắn biến thành quân cờ trên bàn cờ chiến lược, thành công cụ, phương tiện đắc lực để giúp hắn thực hiện âm mưu thôn tính. Vừa có thành cao, hào sâu, vừa có nỏ thần bắn một phát giết hàng vạn giặc, An Dương Vương cho rằng như vậy là đủ để yên tâm vui hưởng thái bình. Có lẽ niềm tin ấy quá lớn khiến An Dương Vương đâm ra mất cảnh giác, chủ quan khinh địch. An Dương Vương cho rằng Triệu Đà đã một lần nếm mùi thất bại, hay phải xuống giọng xin được cầu thân, hẳn là đã thực lòng hòa hiếu. Với uy thế của người chiến thắng, cộng với vũ khí hiệu nghiệm là chiếc nỏ thần trong tay, An Dương vương vui vẻ chấp thuận lời đề nghị kết tình thông gia hữu hảo của kẻ cựu thù. Đó chính là điểm sơ hở chết người của ông vua đứng đầu đất nước Âu Lạc. Đã thế, An Dương Vương còn cho phép Trọng Thủy được ở rể trong Loa Thành. Hành động ấy có khác chỉ “nuôi ong tay áo, nuôi cáo dòm nhà”?! Còn Mị Châu lúc đó chỉ là cô gái đang tuổi trăng tròn, ngây thơ, trong trắng. Vua cha gả chổng thì thuận theo ý cha, lúc làm vợ thì hết lòng thương yêu chồng. Như thế là phải đạo. Việc Mị Châu nghe theo Trọng Thủy, cho chồng vào tận nơi vua cha cất giấu nỏ thần và chỉ rõ bí mật của nỏ thần, theo suy nghĩ của nàng đơn thuần chỉ là để làm vui lòng chồng. Bi kịch nảy sinh từ chỗ người thì vô tình, kẻ thì cố ý. Trong những ngày sống trên đất Âu Lạc, bên cạnh người vợ hiền trẻ trung, xinh đẹp, Trọng Thủy đã nảy sinh tình yêu thực sự với Mị Châu. Tuy vậy, chàng vẫn không quên nhiệm vụ do thám mà cha là Triệu Đà giao phó: chiếm bằng được lẫy thần. Để lộ bí mật qụốc gia, vô tình chỉ đường cho giặc đuổi theo vua cha, Mị Châu đã tiếp tay cho kẻ thù mà không biết làm như thế là dẫn đến họa mất nước. Xét về trách nhiệm công dân, Mị Châu đã mang trọng tội. Câu nói của Rùa Vàng ở cuối truyện, lúc cha con An Dương Vương bỏ thành tháo chạy về phía biển Đông: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” đã chỉ ra sự thực phũ phàng: Mị Châu đã có hành động phản quốc – dẫu nàng không hề biết đến điều đó. Lưỡi gươm mà người cha bất hạnh giáng xuống đầu con gái mình vừa mang ý nghĩa là lưỡi gươm công lí của nhân dân, vừa là một bài học cảnh giác phải trả bằng giá quá đắt cho người đứng đầu đất nước. Lời khấn của Mị Châu: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để tẩy sạch mối nhục thù” và sự ứng nghiệm sau đó đã cho thấy sự trong trắng của nàng. Vì thế dân gian mới sáng tạo ra chi tiết máu nàng chảy xuống biển, một loài trai ăn phải, lập tức biến thành hạt châu. Hạt châu ấy đem rửa bằng nước giếng trong Loa Thành, nơi Trọng Thủy đâm đầu xuống tự tử thì sẽ trở nên sáng ngời. Những hình ảnh đẹp đẽ ấy phần nào thanh minh cho sự vô tình mà gây nên trọng tội của Mị Châu và thể hiện thái độ thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng. Như vậy, nếu đem quan niệm phong kiến Tam tòng để bênh vực cho Mị Châu như một số nhà Nho đã làm là chưa đúng, vì trước khi chết, Mị Châu đã nhận ra là mình bị lừa dối và mối nhục của cha con nàng là mối nhục thù. Sự thức tỉnh muộn màng của lí trí Mị Châu là điểm để người đời xót xa cho thân phận nàng công chúa nết na, xinh đẹp. Mối tình của Mị Châu – Trọng Thủy tan vỡ vì tham vọng cướp nước của Triệu Đà, vì thế mà nó chứa đựng ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa rất sâu sắc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề