PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN":

PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên đề tốt nghiệp.. luan van chuyen nganh luat tong hop. Pháp luật về tự vệ thương mại và thực tiễn áp dụng tại việt nam .Chuyên đề tốt nghiệp.. luan van chuyen nganh luat tong hop. Pháp luật về tự vệ thương mại và thực tiễn áp dụng tại việt nam .

46 Đọc thêm

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THS LUẬT

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THS LUẬT

Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật Thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận thương mại, qua thực tiễn thành phố hải phòng luận văn ths luật
Xem thêm

100 Đọc thêm

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC: PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH BA ĐÌNH

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC: PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH BA ĐÌNH

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Pháp luật về quản lý sử dụng vốn của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và thực tiễn tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình với mục đích nghiên cứu lý luận về quản lý sử dụng vốn và quản lý sử dụng vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần; nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng công thương Việt Nam;... Cùng tìm hiểu để nắm bắt nội dung thông tin tài liệu.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Pháp luật về tự vệ thương mại và thực tiễn áp dụng tại việt nam

PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

đề tài tập trung nghiên pháp luật về tự vệ thương mại và vấn đề thực tiển tại Việt Nam bắt đầu từ việc tìm hiểu nội dung chế định tự vệ thương mại
Tuy nhiên, trong khi nhiều quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của các biện pháp tự vệ thương mại và có nhiều cách vận dụng khác nhau thì tại Việt Nam, việc áp dụng cơ chế này vẩn là một đề tài mới mẽ. Bởi vậy, muốn làm rỏ câu hỏi Việt Nam có thể áp dụng một cách hiệu quả biện pháp tự vệ thương mại nên đây là lý do em chọn đề tài “Pháp luật về tự vệ thương mại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” làm đề tài niên luận của mình. Công việc nghiên cứu bắt đầu từ việc tìm hiểu nội dung chế định tự vệ thương mại theo quy định của tổ chức thương mại thế giới, tìm hiểu lý thuyết và thực tiển áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam qua đó làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về vấn đề này và từ đó đề xuất ra những giải pháp khắc phục, hoàn thiện hơn nữa cũng như góp phần minh bạch hóa chính sách và quy định pháp luật của Việt Nam.
Xem thêm

46 Đọc thêm

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Xem thêm

26 Đọc thêm

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, mỗi khi có dịp ghé qua những thành phố xưa kia phong kín như
Thượng Hải, Phnom Penh, Hà Nội, Sài Gòn, chúng ta có thể bắt gặp những hình ảnh
quảng cáo đầy khắp phố, trên bảng hiệu, trên tường, trên xe bus, trên bìa tạp chí… Nó
như một trong những tín hiệu tượng trưng cho sự đổi mới và phát triển kinh tế. Trong
những thập niên gần đây, quảng cáo thương mại đã có mặt ở khắp chốn, từ những quốc
gia có truyền thống tư bản đến những nền kinh tế theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa
– họ đều chọn sự cạnh tranh thương mại là động lực cho sự phát triển kinh tế. Hiểu
đơn giản, quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tuyên truyền
giới thiệu hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động của doanh nghiệp về hàng hóa dịch vụ đó,
nhằm tạo sự hứng thú của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Từ đó kích thích sức mua
của người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng chọn được sản phẩm thích hợp. Đó cũng là
cách các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm và đẩy mạnh hoạt động sản xuất, bán hàng
và dịch vụ.
Quảng cáo thương mại là một nghệ thuật nhưng cũng là một chiến t rường giữa
các thương nhân trong hoạt động kinh doanh. Tại sao gọi quảng cáo thương mại là một
nghệ thuật? Bởi quảng cáo thương mại ngày nay cần có một hàm lượng trí tuệ cao để
thâm nhập được vào tâm lý khách hàng. Khách hàng ngày nay có quá nhiều sự lựa
chọn về các loại hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, muốn hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp
được chú ý, doanh nghiệp cần biết cách làm sao quảng cáo của mình thực sự hấp dẫn,
quảng bá sản phẩm một cách ưu Việt nhất đến khách hàng. Tại sao gọi quảng cáo
thương mại là một chiến trường giữa các thương nhân? Bởi quảng cáo thương mại có
vai trò quan trọng trong việc tạo ra áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Quảng
cáo tạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến giá cả, phải đổi mới, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những sản phẩm độc đáo thoả mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng, giúp doanh nghiệp xây dựng danh tiếng, hình ảnh và định vị
nhãn hiệu trên thị trường. Chính vì vậy, các doanh nghiệp quảng cáo thương mại ở mọi lúc, mọi nơi, dưới nhiều hì nh thức khác nhau để tác động đến khách hàng của
mình.
Có thể nói, quảng cáo thương mại khuyến khích cạnh tranh, thúc đẩy sự năng
động của doanh nghiệp, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế . Trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Cùng với sự phát triển của các hoạt động kinh tế, xã hội khác, hoạt động quảng cáo
thương mại ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăng về số lượng doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quảng cáo nảy sinh hiện tượng vi phạm những
quy định của pháp luật về hoạt động quảng cáo thương mại hay lợi dụng việc quảng
cáo để gièm pha bôi nhọ doanh nghiệp khác. Hiện nay,vấn đề xử lý chưa được quan
tâm đúng mức. Hoạt động quảng cáo ở nước ta vẫn còn tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả
và gây ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng... Thông tin về các loại hàng hóa, dịch
vụ tràn ngập, lẫn lộn thật giả làm người dân bối rối, khó phân biệt, khó chọn lựa.
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về pháp luật quảng cáo thương mại nói
chung và quảng cáo thương mại trên báo điện tử, truyền hình nói riêng, nhưng học
viên nhận thấy, có rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về pháp luật quảng cáo
thương mại trên báo in ở Việt Nam hiện nay. Thực tế, quản lý hoạt động quảng cáo
thương mại hiện nay còn nhiều bất cập về thể chế và tổ chức thực thi trong đó, quảng
cáo thương mại trên báo in còn khá lộn xộn. Đây là một mảng đề tài cần có sự quan
tâm phù hợp hơn trong thời đại công nghệ thông tin, nếu chúng ta bỏ ngỏ quản lý nó,
có thể sẽ dẫn đến rất nhiều bất cập trong tương lai. Chính vì lẽ đó mà học viên mạnh
dạn lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in ở Việt Nam
hiện nay” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học.
Xem thêm

110 Đọc thêm

Xây dựng điều lệ công ty những vấn đề lý luận và thực tiễn

XÂY DỰNG ĐIỀU LỆ CÔNG TY NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Xây dựng điều lệ công ty_Những vấn đề lý luận và thực tiễn bao gồm:
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG: Khái niệm, vai trò, quy định của pháp luật về xây dựng Điều lệ trong công ty.
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT VÀ QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG: Thực trạng quy định pháp luật về việc xây dựng và áp dụng Điều lệ Công ty, thực trạng xây dựng và áp dụng Điều lệ tại các công ty.
CHƯƠNG III. NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN: Nguyên nhân, hướng hoàn thiện.
Xem thêm

39 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế Hoàn thiện quản trị quảng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ QUẢNG CÁO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU (ACB)

Quản trị quảng cáo đã được ACB áp dụng trong hoạt động kinh doanh của mình, tuy vậy hiệu quả vẫn chưa cao và còn rất nhiều hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện.
Kết hợp tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn cùng với đó là bối cảnh nghiên cứu đồng thời mong muốn ứng dụng thành công quản trị quảng cáo cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của ACB trong điều kiện hiện nay nên tác giả làm Luận văn tốt nghiệp: “Hoàn thiện quản trị quảng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) ”
Xem thêm

113 Đọc thêm

Nhượng quyền thương mại

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

Nhượng quyền thương mại (NQTM) là hoạt động kinh doanh phổ biến trên thế giới. Ở Việt Nam, với đà tăng trưởng trên 20%năm như hiện nay rất có tiềm năng để trở thành thị trường hấp dẫn cho NQTM, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì số lượng hệ thống nhượng quyền chắc chắn sẽ còn tăng cao hơn nữa. Để có thể hội nhập thành công cũng như phát triển kinh tế đất nước thì một điều kiện tiên quyết là các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu, nghiên cứu các thuận lợi và thách thức của loại hình kinh doanh đặc thù này trước khi quyết định kí kết hợp đồng để tham gia mô hình kinh doanh này. Hợp đồng NQTM chính là hình thức pháp lý thực hiện hoạt động NQTM và là căn cứ pháp luật quan trọng nhất cho sự hợp tác kinh doanh của hai bên từ đó làm cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ, đồng thời giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra. Mặc dù đã có các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động NQTM nhưng trong thực tiễn thực hiện vẫn còn có nhiều khó khăn, chồng chéo và thiếu tính chặt chẽ trong các quy định pháp luật. Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài: “ Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại”.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàiSự xuất hiện, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã chứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá và tiền tệ. Vai trò, vị trí của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Khi nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng càng cần thiết, càng được coi trọng và hoàn thiện.Sự ra đời của BLDS 2005 và LTM 2005 là bước cải cách lớn để hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta trước quan hệ xã hội phức tạp phát sinh. Sự cấp thiết đòi hỏi ban hành quy định mới phù hợp với thực tiễn để điều chỉnh quan hệ dân sự, kinh tế đang được đặt ra. BLDS 2005, LTM 2005 ra đời đánh dấu sự đổi mới, tiến bộ trong thời kì hội nhập. Trong BLDS 2005, chế định hợp đồng đã được khẳng định với 205 điều luật trên tổng số 777 điều luật (từ điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều 693 đến điều 732); Có thể khẳng định, chế định hợp đồng không chỉ là một trong những chế định “xương sống” của BLDS 2005 mà bao gồm cả một số Luật chuyên ngành như LTM 2005, Bộ luật Hàng hải, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh doanh bất động sản...Khi thành lập doanh nghiệp, ai cũng muốn doanh nghiệp phát triển đúng hướng, thành công, tạo dựng chỗ đứng cũng như vị thế của mình trên thương trường. Doanh nghiệp luôn hướng mình là doanh nghiệp tiên phong trong những lĩnh vực mới và mạnh mẽ trong lĩnh vực không mới. Có rất nhiều yếu tố để đánh giá cũng như quyết định sự thành công của doanh nghiệp mà không phân định đó là yếu tố chính hay phụ mà thiếu nó thì khó đạt được mục đích. Không chỉ vì bản thân muốn thử sức mà những doanh nghiệp Việt Nam chúng ta luôn ấp ủ phát triển kinh tế, phát triển đất nước lên tầm cao mới. Sự trả giá của những doanh nghiệp đi trước cả trong nước và thế giới đó là những gì mà doanh nghiệp trẻ Việt Nam phải học hỏi; để không đi vào “vết xe đổ”. Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kĩ thuật, nền kinh tế nước ta phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường để tạo nên uy tín và sức mạnh cho nước ta trên trường thế giới. Công cụ để xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là hợp đồng. Do đó, hợp đồng phải tuân thủ theo qui định của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính. Bất cứ một vấn đề nào, khi nắm được những kiến thức cơ bản cũng mang lại những lợi ích nhất định. Khi có những tranh chấp, rủi ro bất ngờ có liên quan đến hợp đồng và hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu sẽ khó tránh khỏi tổn thất. Cho nên, phải hiểu sâu, hiểu rõ các qui định của pháp luật hiện hành về các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại để tiến hành kinh doanh có hiệu quả. Ngày nay, rất nhiều doanh nghiệp khi kí kết hợp đồng lợi dụng quy định của pháp luật để khi không có lợi thì yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu.Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.1.Tình hình nghiên cứu đề tàiĐề tài này là một đề tài đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu trong nước và trên thế giới. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở các vấn đề lý luận và đã từ lâu. Ngày nay, với sự phát triển kinh tế, sự thay đổi trong ngoại giao, kéo theo đó là sự thay đổi quy định của pháp luật, tình hình và thực trạng xã hội cần có những nghiên cứu mới, tổng hợp hơn.Ở nước ngoài: có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật hợp đồng nói chung trong đó có đề cập đến các vấn đề có liên quan đến hợp đồng nói chung như sách chuyên khảo về Luật hợp đồng The modern law of contract 5th ed của Richard Stone 18; European Contract Law của Hein Kotz Axel Flessner; Elements of the Law of contract của Macmillan C.A R.Stone 25; bài báo Competing Approaches to Force Majeure and Hardship của Catherine Kessedjian 20Ở trong nước có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu đến hợp đồng trong kinh doanh vô hiệu và các vấn đề liên quan như: “Chế dộ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của TS. Phạm Hữu Nghị; “Hợp đòng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của TS. Lê Thị Bích Thọ 14; “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” của TS.Nguyễn Văn Cường 17; “Pháp luật về hợp đồng” của TS.Nguyễn Mạnh Bách; “Cẩm nang giao kết hợp đồng thương mại điện tử” của GS.TS. Nguyễn Thị Mơ 15Ngoài ra, còn có một số sách tổng quát các vấn đề liên quan đến hợp đồng nói chung như: “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” của TS. Đỗ Văn Đại 16 “Pháp luật về hợp đồng” của TS. Nguyễn Mạnh Bách.Những công trình trên là tài liệu vô cùng quý giá giúp em có nhiều thông tin quan trọng, hữu ích để tham khảo, phục vụ cho việc hoàn thành tốt của khóa luận 2.Mục đích nghiên cứuKhóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh tại Việt Nam và những tồn tại khi áp dụng thực tiễn từ đó đề ra phương hướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật;3.Phương pháp nghiên cứuĐề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp so sánh để thấy những điểm tiến bộ, những điểm hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước khác về hợp đồng kinh doanh vô hiệu. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải…cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài.4.Kết cấu của khóa luậnNgoài phần Mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tham khảo, khóa luận có kết cấu 3 chương:Chương 1. Lý luận chung về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.Chương 2. Quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.Chương 3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.
Xem thêm

62 Đọc thêm

Chế tài thương mại nhìn từ một số vụ tranh chấp và một số kiến nghị

CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI NHÌN TỪ MỘT SỐ VỤ TRANH CHẤP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp tồn tại và phát triển trong một thời gian dài của giai đoạn quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Mọi hoạt động của các đơn vị kinh tế ở giai đoạn đó nhất nhất phải tuân theo kế hoạch, chỉ tiêu mà Nhà nước đã ấn định. Bước sang nền kinh tế thị trường, do được thiết lập trên nền tảng pháp lý của quyền tự do kinh doanh, quan hệ thương mại và đầu tư có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua quan hệ hợp đồng. Sự thoả thuận, thống nhất ý chí một cách tự nguyện, bình đẳng giúp cho các bên cùng có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp của mình. Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thoả thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn cùng có lợi cho tổ chức, cá nhân. Từ năm 2005, khi Luật Thương mại (2005) và Bộ luật Dân sự (2005) được ban hành, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 bị huỷ bỏ, sự điều chỉnh đối với các quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng đã có sự thay đổi căn bản. Pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng. Nếu một bên có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi. Việc quy định các hình thức chế tài trong thương mại có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo ổn định các quan hệ hợp đồng, trật tự pháp luật, khôi phục lợi ích của bên bị vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật về hợp đồng. Tiếp nhận sự đổi mới của hệ thống pháp luật về hợp đồng trong những năm gần đây, nhu cầu tìm hiểu về vấn đề chế tài trong thương mại ngày càng trở nên bức thiết nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng, nhất là khi Việt Nam đã tham ra vào “sân chơi” quốc tế về các vấn đề thương mại (Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới WTO). Nhận thức rõ được điều đó em đã lựa chọn đề tài : “ Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại” làm khoá luận tốt nghiệp đại học cho mình. Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, các tài liệu và thực tiễn áp dụng các hình thức chế tài trong thương mại trong thời gian qua, tác giả đặt ra cho mình mục đích nhận thức toàn diện về các hình thức chế tài trong thương mại, từ đó có kiến nghị cần thiết đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề hình thức chế tài trong thương mại. Để giải quyết đề tài một cách thấu đáo, luận văn đi vào nghiên cứu các vấn đề sau:Phân tích những nét chung về hợp đồng và hợp đồng trong thương mại;Phân tích một số vấn đề chung về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và chế tài trong thương mại;Phân tích và đánh giá về các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại cụ thể theo quy định của pháp luật hiện hành;Phân tích thực tiễn áp dụng chê tài thương mại từ một vụ án và nêu ra một số kiến nghị về chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại.Để khai thác đề tài này em đã sử dụng các phương pháp : phân tích, so sánh, logic, tổng hợp... làm phương pháp nghiên cứu cho mình.Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm có ba chương:•Chương I: Khái quát chung về hợp đồng và chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại.•Chương II: Nội dung pháp lý cơ bản của các hình thức chế tài trong thương mại.•Chương III: Chế tài thương mại nhìn từ một số vụ tranh chấp và một số kiến nghị. CHƯƠNG I
Xem thêm

94 Đọc thêm

Phân tích và bình luận quy định tại Điều 177 Luật Thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 177 LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005 VỀ THỜI HẠN ĐẠI LÝ

A. MỞ ĐẦU
Đại lý thương mại là một dịch vụ trung gian thương mại đã được ghi nhận trong Luật thương mại năm 1997. Hiện này, bộ Luật thương mại năm 2005 tiếp tục kế thừa và sửa đổi bổ sung những quy định của bộ Luật Thương mại năm 1997 theo hướng hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng sự thay đổi liên tục, nhanh chóng của các quan hệ thương mại nói chung và quan hệ về đại lý hàng hóa nói riêng. Tuy vậy, bên cạnh những điểm tích cực, các quy định của Luật thương mại năm 2005 đã cho thấy những điểm còn hạn chế. Để hiểu rõ hơn về dịch vụ đại lý hàng hóa cũng như thấy được những điểm còn hạn chế của pháp luật em xin được nghiên cứu đề tài số 1: “Phân tích và bình luận quy định tại Điều 177 Luật Thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý.”.
Xem thêm

10 Đọc thêm

KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua 70 năm hình thành và phát triển, từ năm 1946 đến nay công tác thi
hành án dân sự đã đạt được nhiều thành công, khẳng định được vị thế trong đời
sống pháp luật, xã hội và ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà
nước và nhân dân. Hoạt động thi hành án dân sự từ chỗ chỉ có nhân viên thi hành,
sau đó hình thành Chấp hành viên thuộc Tòa án, đến năm 1993 cơ quan Thi hành án
tách ra từ Tòa án và cho đến nay là hệ thống Thi hành án dân sự độc lập.
Thi hành án kinh doanh, thương mại là một loại việc trong thi hành án dân
sự. Những năm gần đây, cả nước nói chung và tại tỉnh Thái Bình nói riêng, số vụ
việc thi hành án kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều, số tiền phải thi hành
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tiền thi hành án dân sự. Việc tổ chức thi hành loại án
này gặp rất nhiều khó khăn phức tạp, như: người phải thi hành án hầu hết đều liên
quan đến doanh nghiệp, tài sản phải xử lý cũng hết sức đa dạng, phong phú, mang
tính đặc thù, như: nhà xưởng, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, đất đai… Để thi
hành loại án này nhất là phải áp dụng biện pháp kê biên cần thiết phải có sự tham
gia phối hợp tích cực của rất nhiều cơ quan hữu quan và liên quan đến nhiều quy
định pháp luật khác nhau. Việc tiếp cận với án kinh doanh, thương mại của Chấp
hành viên cơ quan Thi hành án còn nhiều hạn chế, trình tự thủ tục và các vấn đề liên
quan đến tổ chức thi hành án cũng còn nhiều bất cập. Hiện nay, tỷ lệ thi hành án
kinh doanh, thương mại kết quả rất thấp, đặc biệt số tiền phải thi hành chuyển kỳ
sau rất lớn, dẫn đến việc một số năm gần đây nhiều cơ quan thi hành án không hoàn
thành chỉ tiêu thi hành án về tiền, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức
và công dân không được đảm bảo.
Xuất phát từ những trăn trở về công tác thi hành án dân sự nói chung và thi
hành án kinh doanh, thương mại nói riêng, mong muốn nâng cao nhận thức cho bản
thân và hy vọng sẽ đóng góp được một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng
hiệu quả trong hoạt động thi hành án kinh doanh, thương mại, nhất là công tác này ở
tỉnh Thái Bình, tôi đã chọn đề tài “Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh
doanh, thương mại qua thực tiễn tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của
mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định Nhà nước cộng hòa xã chủ nghĩa
Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Để đảm bảo những yêu cầu đó, trong nhà nước
pháp quyền phải có hình thức tổ chức quyền lực nhà nước thích hợp và có cơ chế
giám sát sự tuân thủ pháp luật, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật
được áp dụng chuẩn xác, nhưng không mất đi sự linh hoạt, tính sáng tạo.
Trong những năm vừa qua, công tác thi hành án dân sự đã từng bước được xây
dựng và trưởng thành cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng. Với các văn bản pháp
luật về thi hành án dân sự như Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản
hướng dẫn thi hành, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, các văn
bản hướng dẫn thi hành ngày càng được cải cách và phù hợp với thực tiễn hơn. Văn
bản quy phạm pháp luật liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật các
Tổ chức tín dụng năm 2010, Bộ luật dân sự 2015, Luật Đất đai 2013, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 …. và các văn bản dưới luật với những điểm mới, hoàn thiện và tiến
bộ đã giúp cho việc tổ chức thi hành án dân sự được thực hiện một cách có hiệu quả
trong thực tiễn.
Trước đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân sự thời gian qua đã có
một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là:
- Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án
VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án.
- Luận án tiến sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay", của Nguyễn Thanh Thủy, năm 2008;
- Luận văn Thạc sỹ “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình” của tác
giả Đỗ Thị Lý, năm 2011;
- Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân sự
và một số khuyến nghị - Tác giả: Ths. Trần Công Thịnh, Tạp chí Khoa học Đại học
quốc gia Hà Nội;
Xem thêm

78 Đọc thêm

báo cáo thực tập tại Công ty Cổ phần Việt Nhật

BÁO CÁO THỰC TẬP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NHẬT

LỜI MỞ ĐẦU

Công ty Cổ phần Việt Nhật là công ty chuyên về sản xuất và phân phối đồ uống không cồn, nước khoáng với đầy đủ tiêu chuẩn chất lượng đảm bảo an toàn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Công ty đã khá thành công trong hoạt động kinh doanh thương mại của mình, song cũng phải chịu sự tác động của rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Để mở rộng tầm hiểu biết của bản thân về thực tiễn thực hiện pháp luật em đã xin được thực tập tại công ty. Trong quá trình thực tập tại công ty, em đã có cơ hội được tiếp cận về các văn bản pháp luật tác động trực tiếp đến hoạt động của công ty và có cơ hội được nhận xét đánh giá về việc thực hiện pháp luật của công ty.
Trên nền tảng những kiến thức đã được đào tạo trong nhà trường cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong công ty và sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn, bản báo cáo thực tập này đã nêu ra được một số vấn đề như sau:
- Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Việt Nhật.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của công ty.
- Thực trạng thực hiện các quy định của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt động kinh doanh của công ty.
- Đánh giá chung về thực trạng thực hiện và những tác động của hệ thống các văn bản pháp luật đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Đề xuất đềtài khóa luận.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị trong Công ty Cổ phần Việt Nhật đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại công ty và Th.s Phạm Minh Quốc là giảng viên trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài báo cáo này. Nhờ có sự giúp đỡ và hướng dẫn đó, em đã có thêm nhiều hiểu biết về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ảnh hưởng tới hoạt động của công ty cũng như việc áp dụng những quy định đó trong thực tiễn.
Do một số hạn chế trong quá trình làm bài và kiến thức chưa đủ sâu rộng nên bài báo cáo khó tránh khỏi nhiều thiếu sót, kính mong các thầy cô chỉ bảo và góp ý chỉnh sửa để bài được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Xem thêm

22 Đọc thêm

Quy chế quản lý hoạt động của website TMĐT

QUY CHẾ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA WEBSITE TMĐT

QUY CHẾ HOẠT ĐỘNGWEBSITE CUNG CẤP DỊCH VỤ TMĐT WWW.XYZ.COMI. Nguyên tắc chung Sàn giao dịch thương mại điện tử WWW.XYZ.COMthuộc quyền sở hữu của CÔNG TY XYZ là tổ hợp các dịch vụ phục vụ nhu cầu mua bán trực tuyến bao gồm: Quảng cáo trực tuyến, rao vặt trực tuyến, đăng tin muabán trực tuyến… được xây dựng nhằm hỗ trợ tối đa cho thành viên có nhu cầu muabán hàng hoá trực tuyến. Mục tiêu mà WWW.XYZ.COM.Com hướng tới là trở thành một diễn đàn muabán trực tuyến sôi động, là cầu nối thương mại giữa người bán và người mua, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Thành viên của WWW.XYZ.COM.com là các thương nhân có hoạt động thương mại hợp pháp, phải đăng ký kê khai ban đầu về các thông tin cá nhân bắt buộc theo yêu cầu, và được Ban quản lý WWW.XYZ.COM.com chính thức công nhận và được phép sử dụng dịch vụ do WWW.XYZ.COM.com và các bên liên quan cung cấp. Từ “dịch vụ” bao gồm tất cả các dịch vụ do WWW.XYZ.COM.com cung cấp hoặc liên quan đến WWW.XYZ.COM.com Các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trên WWW.XYZ.COM.com tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hoạt động mua bán hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ thông qua hợp đồng, không trái với qui định của pháp luật. Hàng hóa, sản phẩm dịch vụ tham gia giao dịch tại WWW.XYZ.COM.com phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật có liên quan, không thuộc các trường hợp cấm kinh doanh, cấm quảng cáo theo quy định của pháp luật hiện hành. Hoạt động mua bán hàng hóa thông qua WWW.XYZ.COM.com phải được thực hiện công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.II. Quy định chung Sàn giao dịch TMĐT WWW.XYZ.COM.Com là trang web WWW.XYZ.COM thuộc quyền sở hữu của CÔNG TY XYZ. Định nghĩa chung: + Người bán: là thương nhân, tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ của sàn giao dịch TMĐT WWW.XYZ.COM.Com bao gồm: đăng tin mua bán, rao vặt. quảng cáo trực tuyến, đăng tin giới thiệu sản phẩm, đăng tin khuyến mại sản phẩmdịch vụ. + Người mua (khách hàng): là thương nhân, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu thông tin về sản phẩm, dịch vụ được đăng tải trên sàn
Xem thêm

16 Đọc thêm

Thiết kế mạch hiển thị dùng ma trận LED

THIẾT KẾ MẠCH HIỂN THỊ DÙNG MA TRẬN LED

Ngày nay khi nhu cầu về thông tin quảng cáo rất lớn , việc áp dụng các phương tiện kĩ thuật mới vào các lĩnh vực trên là rất cần thiết .
Khi bạn đến các nơi công cộng, bạn dễ dàng bắt gặp những áp phích quảng cáo điện tử chạy theo các hướng khác nhau với nhiều hình ảnh và màu sắc rất ấn tượng.
Từ yêu cầu của môn học kĩ thuật vi xử lý và thực tiễn như trên, chúng em quyết định chọn đề tài cho bài tập lớn môn học là:

16 Đọc thêm

Quảng cáo so sánh bài tập cá nhân luật Thương mại

QUẢNG CÁO SO SÁNH BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT THƯƠNG MẠI

Quảng cáo so sánh Bài tập cá nhân Luật Thương mại 2

Người ta thường nói trong kinh doanh nếu không biết biết đến hoạt động xúc tiến thương mại thì không phải là người kinh doanh. Quảng cáo là một nghệ thuật cũng như là một chiến trường giữa các thương nhân. Một vấn đề rất nhạy cảm hiện nay là quảng cáo so sánh. Vậy sau đây tôi xin trình bày vấn đề quảng cáo so sánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1, Định nghĩa quảng cáo so sánh.

Quảng cáo so sánh (comparative advertising) đã xuất hiện ở Mỹ và Tây âu từ lâu. Theo tuyên bố của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ thì: “Quảng cáo so sánh được định nghĩa như là quảng cáo mà so sánh những nhãn hiệu hàng hóa khác theo những thuộc tính khách quan có thể kiểm chứng hoặc giá cả và là sự làm nhận ra nhãn hiệu hàng hóa khác bởi tên, minh họa bằng hình ảnh hoặc thông tin riêng biệt khác”. Theo Liên minh Châu âu thì: “Quảng cáo so sánh là mọi quảng cáo làm nhận ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp một doanh nghiệp cạnh tranh hoặc các sản phẩm hoặc các dịch vụ mà một doanh nghiệp cạnh tranh cung ứng”. Còn ở Việt Nam, quảng cáo so sánh được đề cập đến trong Luật Thương mại 1997 tại Đ192. Nhưng cả Luật Thương mại năm 1997 và 2005; Luật Cạnh tranh 2004 hay Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001…đều không định nghĩa quảng cáo so sánh. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu quảng cáo so sánh là“Quảng cáo so sánh là quảng cáo làm nhận ra một hoặc một vài đối thủ cạnh tranh hoặc các sản phẩm hay các dịch vụ cùng loại mà đối thủ cạnh tranh sản xuất, cung ứng hay phân phối và đáp ứng được một số điều kiện khác do pháp luật quy định”.

2. Điều kiện trở thành quảng cáo so sánh:

Không phải bất kỳ hành vi quảng cáo nào có thông tin, có sự so sánh với một doanh nghiệp hay hàng hóa, dịch vụ khác cũng đều trở thành quảng cáo so sánh. Sự so sánh này được biểu hiện ở khía cạnh: Một là, sản phẩm được quảng cáo và sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm cùng loại. Lý luận về cạnh tranh đã chỉ rõ rằng các sản phẩm chỉ có thể được coi là cạnh tranh với nhau khi chúng cùng loại và các thông tin trong quảng cáo khi nói đến hai sản phẩm cùng loại của hai doanh nghiệp khác nhau thì mới là so sánh. Hai là, sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm do doanh nghiệp khác sản xuất hoặc kinh doanh.

3, Quy định của pháp luật Việt Nam về quảng cáo so sánh:

Thứ nhất, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 không cấm quảng cáo so sánh nhưng quảng cáo so sánh lại bị cấm theo quy định tại Nghị định 242003NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày 13032003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này (khoản 7 Điều 3): “7. Quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của người khác;…”

Thứ hai, Luật Cạnh tranh năm 2004 coi quảng cáo so sánh trực tiếp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cấm thực hiện tại khoản 1 Điều 45: “Cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây: 1. So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác…”

Thứ ba, quảng cáo so sánh nằm trong danh mục quảng cáo thương mại bị cấm theo quy định tại khoản 6 Điều 109 LDN 2005 theo đó: “Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác”

Thứ tư, Điều 37 Nghị định 372006NĐCP hướng dẫn Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có quyền so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ để so sánh”.

Như vậy, ta có thể thấy hiện nay hành vi quảng cáo so sánh ở Việt Nam được điều chỉnh bởi khá nhiều văn bản của pháp luật thương mại và pháp luật cạnh tranh.Tuy nhiên, thì Luật Cạnh tranh năm 2004 vẫn là văn bản điều chỉnh có tính chất chuyên ngành nhất.

4. Nhận xét các quy định của pháp luật hiện hành về quảng cáo so sánh:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa xây dựng định nghĩa quảng cáo so sánh. Đây là một thiếu sót cơ bản của Luật Cạnh tranh (2004) về nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Bất cứ một hiện tượng pháp lý nào cũng cần được định nghĩa để có thể xác định được bản chất pháp lý và các yếu tố cấu thành nên hiện tượng đó nhằm định hướng cho các quy định cụ thể cho hiện tượng đó trong các văn bản pháp luật.

Thứ hai, về phạm vi các chủ thể bị cấm tiến hành hoạt động quảng cáo so sánh trực tiếp vẫn còn những quan điểm khác nhau do tính không rõ ràng của Luật Cạnh tranh (2004). Khoản 1 Điều 45 của Luật này có quy định: quảng cáo“so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác” thì bị cấm; Khoản 6 Điều 109 Luật Thương mại (2005) quy định cấm “quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác”. Có thể nhận thấy cụm từ “của mình” đã dẫn đến các cách giải thích luật khác nhau về vấn đề chủ thể này dẫn đến hình thành nên hai cách hiểu về hàng hóa, dịch vụ “của mình” trong quy định của pháp luật Việt Nam. Có ý kiến cho rằng chỉ có nhà sản xuất, nhà cung ứng mới có hàng hóa, dịch vụ “của mình” nên Luật Cạnh tranh không điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhà phân phối, vô hình chung tạo ra lỗ hổng ngoài ý muốn và sự phân biệt đối xử.

Thứ ba, quy định về đối tượng so sánh còn có sự chưa thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp (2005) (“hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”) và Luật Cạnh tranh (2004) (“hàng hóa, dịch vụ”). Hơn nữa, quy định cấm so sánh trực tiếp “hàng hóa, dịch vụ” nhưng không nói rõ là chỉ cấm so sánh những tính chất căn bản hay là tất cả tính chất của hàng hóa, dịch vụ đó.

Thứ tư, Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh (2004) cấm “so sánh trực tiếp” nhưng cả Luật Cạnh tranh (2004) và các văn bản khác có liên quan như: Nghị định số 1162005NĐCP ngày 15092005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Nghị định số 242003NĐCP ngày 13032003 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quảng cáo không nêu được đặc điểm để nhận diện như thế nào là “sự so sánh trực tiếp”. Từ đó dẫn đến một vấn đề khó xác định là cấm quảng cáo dùng phương pháp so sánh trực tiếp hay là cấm quảng cáo có nội dung so sánh trực tiếp. Bên cạnh đó, Luật Thương mại (2005) cấm “quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp” nhưng cũng không hướng dẫn thêm về vấn đề thế nào là dùng phương pháp so sánh trực tiếp.

5, Vai trò và những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh từ quảng cáo so sánh

Ta có thể thấy, tuy quảng cáo so sánh là một hành vi nhỏ trong hệ thống pháp luật nhưng nó lại mang những điểm đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Điều đó được thể hiện qua những vai trò của hành vi quảng cáo so sánh như:

Trước hết, quảng cáo so sánh là một trong những phương thức thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các hàng hóa,dịch vụ cùng loại với nhau của các thương nhân để từ đó tạo nên sự phát triển trong cả nền kinh tế, dịch vụ hàng hoá.

Thứ hai, quảng cáo so sánh cho phép thương nhân chứng minh một cách khách quan sự xứng đáng của sản phẩm mà họ có; không những vậy, quảng cáo so sánh vừa tạo ra một hệ thống thông tin phong phú và đặc sắc cho người tiêu dùng vừa góp phần làm nên những “nhà tiêu dùng thông thái” trong nền kinh tế thị trường.

Thứ ba, quảng cáo so sánh phát huy chức năng của cạnh tranh trong nền kinh tế. Và cũng thông qua sự thúc đẩy cạnh tranh của quảng cáo so sánh, quyền lợi của người tiêu dùng sẽ ngày càng được bảo vệ tốt hơn, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bảo vệ người tiêu dùng hơn nữa.

Thứ tư, quảng cáo so sánh góp phần thúc đẩy tốc độ phát triển của thương mại và môi trường kinh doanh.

Bên cạnh những vai trò trên thì quảng cáo so sánh cũng gây ra một số ảnh hưởng tiêu cực như sau:

Quảng cáo so sánh gây ra những bất lợi cho thương nhân hoặc hàng hoá,dịch vụ của thương nhân được so sánh. Ảnh hưởng này được xem xét dưới góc độ những quảng cáo so sánh trung thực, không vi phạm pháp luật.

Các thương nhân lợi dụng quảng cáo so sánh để quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Những biểu hiện của hành vi này có thể đề cập đến như: quảng cáo so sánh sai sự thật, gây nhầm lẫn, không khách quan,…

Qua đó, ta nhận thấy rằng: Quảng cáo so sánh là vấn đề khá phức tạp bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng chứa đựng nhiều nội dung cần điều chỉnh và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, cũng phải công nhận rằng quảng cáo so sánh sẽ luôn giữ vững được vai trò vốn có của mình là một phương thức xúc tiến thương mại hữu hiệu, một công cụ đắc lực cho thương nhân trên thương trường.

6, Quảng cáo so sánh theo Luật quảng cáo 2012 có hiệu lực ngày 112013.

Như ta đã biết Luật quảng cáo sắp có hiệu lực tại Khoản 10 Điều 8 Luật quảng cáo năm 2012 quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo: “10. Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.” Như vậy có thể thấy rằng luật quảng cáo cũng đã quy định cấm quảng cáo so sánh trên 2 điều kiện: thứ nhất, trực tiếp trên các phương diện như so sánh về giá cả; so sánh chất lượng tốt hơn hay tốt nhất; hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và thứ hai, quảng cáo đó phải trực tiếp so sánh với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Chuyên đề Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ

CHUYÊN ĐỀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ CUNG CẤP PHẦN MỀM

I . CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ CUNG CẤP PHẦN MỀM

1. Quan hệ của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường .03

1.1Giới thiệu về nền kinh tế thị trường .03

1.2 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường .04

2. Hợp đồng nhìn từ góc độ doanh nghiệp 06

II. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ CUNG CẤP PHẦN MỀM

1.Những vấn đề chung về hợp đồng kinh doanh, thương mại

1.1 Khái niệm về hợp đồng kinh doanh, thương mại .06

1.2 Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh, thương mại .06

1.3 Phân loại hợp đồng kinh doanh thương mại .07

2. Sơ lược quá trình phát triển của hợp đồng .07

3. Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .09

3.1Quy định về ký kết hợp đồng 09

3.1.1Nguyên tắc ký kết .09

3.1.2Chủ thể và đại diện ký kết hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm 11

3.1.3 Trình tự ,thủ tục ký kết hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm 13

3.1.4 Hình thức của hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .14

3.1.5 Nội dung của hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .14

3.1.6 Văn bản phụ lục và biên bản bổ sung hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .16

3.2 Quy định về Thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .17

3.2.1 Các nguyên tắc Thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm 17

3.2.2 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm 17

3.3 Quy định về nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng cung cấp phần mềm .19

3.3.1 Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ .19

3.3.2 Nghĩa vụ của khách hàng .22

3.4 Thay đổi đình chỉ, thanh lý hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .23

3.4.1 Sửa đổi hợp đồng dịch vụ .23

3.4.2 Chấm dứt hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .23

3.4.3 Thanh lý hợp đồng dịch vụ 24

3.5 Quy định về trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng .24

3.6 Những quy định về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm .25

3.6.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên tranh chấp .25

3.6.2Hoà giải các tranh chấp .26

3.6.3Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục trọng tài thương mại .27

3.6.4Giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án 29

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN CNTM HÀ BẢO

I.Tổng quan về cơ sở thực tập và đề tài nghiên cứu 31

2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 31

3. Các hoạt động kinh doanh của công ty .34

4. Sơ đồ cấu trúc và nhân lực công ty .34

5. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty 38

6. Vấn đề pháp lý trong quan hệ lao động .41

II. Thực tiễn tại Công ty TNHH tư vấn CNTM Hà Bảo

1.Tình hình ký kết hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm tại công ty TNHH tư vấn công nghệ và thương mại Hà Bảo .42

1.1 Chủ thể hợp đồng .42

1.2 Nguyên tắc ký kết .45

1.3 Căn cứ ký kết hợp đồng .46

1.4 Nội dung của hợp đồng cung cấp phần mềm .47

2.Thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm tại công ty Hà Bảo.51

2.1 Thực hiện điều khoản theo đúng yêu cầu về đối tượng, chất lượng, giá cả của phần mềm .51

2.2 Thực hiện điều khoản phương thức giao nhận phần mềm và triển khai .53

2.3 Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ 54

2.4 Thực hiện điều khoản thời hạn hợp đồng và phụ lục hợp đồng 54

2.5 Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng .55

2.6 Giải quyết tranh chấp hợp đồng cung cấp phần mềm ở công ty Hà Bảo .56

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ CUNG CẤP PHẦN MỀM

I.NHỮNG YÊU CẦU KHÁI QUÁT CỦA VIỆC XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ CUNG CẤP PHẦN MỀM

1.Xây dựng, hoàn thiện chế độ hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm phù hợp với đường lối, chủ chương của Đảng và của chính phủ .57

2.Xây dựng, hoàn thiện chế độ hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm phù hợp với thực tiễn trong nền kinh tế thị trường hiện nay .58

II. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ CUNG CẤP PHẦN MỀM

1. Những kiến nghị với hoạt động ban hành pháp luật và quản lý của nhà nước

1.1 Thu hút sự tham gia của các nhà khoa học vào hoạt động xây dựng pháp luật và tính minh bạch của pháp luật đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và hoạt động cung ứng phần mềm .59

1.2 Xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện pháp luật .60

1.3 Ban hành một văn bản quy định chi tiết hơn về hoạt động dịch vụ cung cấp phần mềm .61

2. Những kiến nghị về phía công ty TNHH tư vấn công nghệ và thương mại HÀ BẢO

2.1. Nâng cao trình độ pháp lý cho nhân viên kinh doanh .61

2.2Cập nhật những văn bản pháp luật trong hoạt động kinh doanh cũng như trong hợp đồng .61

2.3Cần xây dựng hợp đồng phù hợp với pháp luật hiện hành .62
Xem thêm

71 Đọc thêm

tự do giao kết hợp đồng – những vấn đề lý luận và thực tiễn

TỰ DO GIAO KẾT HỢP ĐỒNG – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Nền kinh tế Việt Nam đang tiến những bước dài trong quá trình hội nhập quốc tế và đặc biệt sau khi là thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, lao động,… trong và ngoài nước không ngừng được xác lập, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải xây dựng những chính sách pháp luật mang tính chất định hướng, đúng đắn, mềm dẻo,… để tạo ra hành lang pháp lý an toàn nhất bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào các giao dịch đó với nguyên tắc tôn trọng quyền tự do, thỏa thuận, định đoạt. Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống các văn bản về hợp đồng được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày càng bảo đảm quyền tự do trong giao kết hợp đồng góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng còn bộc lộ những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ quyền tự do giao kết hợp đồng trong những hoạt động đặc thù so với các quy định về hợp đồng của BLDS năm 2005 nhất là các văn bản được ban hành trước BLDS năm 2005 và ngay trong BLDS năm 2005 vẫn còn những hạn chế trong việc bảo vệ quyền tự do giao kết hợp đồng.Dưới sức ép mạnh mẽ của tự do thương mại và toàn cầu hóa, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam tuy đã hoàn thiện nhưng vẫn còn sự ảnh hưởng của cơ chế cũ. Những quy định còn can thiệp sâu và quyền tự do khế ước vừa không bảo vệ được trật tự công đôi khi còn làm cho doanh nghiệp rơi vào thế yếu và người tiêu dùng bị thiệt thòi trước các hành vi kinh doanh thiếu bình đẳng, lợi dụng vị thế thị trường gây thiệt hại cho đối tác. Việc bảo vệ quyền tự do giao kết hợp đồng của bên có vị thế yếu trước các hành vi lạm dụng quyền tự do hợp đồng của bên có thế mạnh trong quan hệ hợp đồng chưa được pháp luật điều chỉnh một cách cụ thể.Tuy nhiên, tự do giao kết hợp đồng không phải là sự tự do hoàn toàn, tự do vô giới hạn, sự tự do này là sự tự do bị hạn chế, không được giao kết hợp đồng bằng cách lừa đảo, gian trá, đe dọa; không được giao kết hợp đồng để hạn chế hoạt động kinh doanh của các chủ thể khác cũng như của xã hội nói chung. Nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực công không những có thể mà cần can thiệp vào quan hệ hợp đồng. Sự can thiệp này vào quan hệ hợp đồng không phải là sự xâm phạm thô bạo đến quy tắc tự do hợp đồng mà là một bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện nguyên tắc đó trong thực tế cuộc sống.Chính vì thế, việc tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn trong phạm vi đề tài: “Tự do giao kết hợp đồng Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về chế định tự do giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam.
Xem thêm

83 Đọc thêm

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp tồn tại và phát triển trong một thời gian dài của giai đoạn quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Mọi hoạt động của các đơn vị kinh tế ở giai đoạn đó nhất nhất phải tuân theo kế hoạch, chỉ tiêu mà Nhà nước đã ấn định. Bước sang nền kinh tế thị trường, do được thiết lập trên nền tảng pháp lý của quyền tự do kinh doanh, quan hệ thương mại và đầu tư có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua quan hệ hợp đồng. Sự thoả thuận, thống nhất ý chí một cách tự nguyện, bình đẳng giúp cho các bên cùng có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp của mình. Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thoả thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn cùng có lợi cho tổ chức, cá nhân. Từ năm 2005, khi Luật Thương mại (2005) và Bộ luật Dân sự (2005) được ban hành, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 bị huỷ bỏ, sự điều chỉnh đối với các quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng đã có sự thay đổi căn bản. Pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng. Nếu một bên có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi. Việc quy định các hình thức chế tài trong thương mại có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo ổn định các quan hệ hợp đồng, trật tự pháp luật, khôi phục lợi ích của bên bị vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật về hợp đồng. Tiếp nhận sự đổi mới của hệ thống pháp luật về hợp đồng trong những năm gần đây, nhu cầu tìm hiểu về vấn đề chế tài trong thương mại ngày càng trở nên bức thiết nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng, nhất là khi Việt Nam đã tham ra vào “sân chơi” quốc tế về các vấn đề thương mại (Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới WTO). Nhận thức rõ được điều đó em đã lựa chọn đề tài : “ Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại” làm khoá luận tốt nghiệp đại học cho mình. Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, các tài liệu và thực tiễn áp dụng các hình thức chế tài trong thương mại trong thời gian qua, tác giả đặt ra cho mình mục đích nhận thức toàn diện về các hình thức chế tài trong thương mại, từ đó có kiến nghị cần thiết đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề hình thức chế tài trong thương mại. Để giải quyết đề tài một cách thấu đáo, luận văn đi vào nghiên cứu các vấn đề sau:Phân tích những nét chung về hợp đồng và hợp đồng trong thương mại;Phân tích một số vấn đề chung về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và chế tài trong thương mại;
Xem thêm

94 Đọc thêm

Cùng chủ đề