ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ SUY ĐA TẠNG DO SỐC NHIỄM KHUẨN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Đánh giá hiệu quả của lọc máu liên tục trong điều trị suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn":

Đánh giá hiệu quả của biện pháp lọc máu tĩnh mạch – tĩnh mạch liên tục trong phối hợp điều trị viêm tụy cấp nặng.

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP LỌC MÁU TĨNH MẠCH – TĨNH MẠCH LIÊN TỤC TRONG PHỐI HỢP ĐIỀU TRỊ VIÊM TỤY CẤP NẶNG.

Viêm tụy cấp là một quá trình tổn thương cấp tính của tụy với tỉ lệ mắc bệnh khá cao, diễn biến phức tạp từ viêm tụy cấp nhẹ thể phù tới viêm tụy cấp nặng thể hoại tử với các biến chứng suy đa tạng nặng nề và tỉ lệ tử vong cao. Ở Mỹ hàng năm có khoảng 250.000 trường hợp nhập viện vì viêm tụy cấp [32], trong đó VTC hoại tử chiếm 10% - 25% và tỷ lệ tử vong xấp xỉ 25% số bệnh nhân viêm tụy cấp nặng [33]. Ở Việt Nam trong những năm gần đây qua một số nghiên cứu và thống kê cho thấy viêm tụy cấp ngày càng gia tăng [16], đặc biệt với thể nặng có biến chứng suy đa tạng thì thời gian điều trị kéo dài, chi phí tốn kém, với nhiều biến chứng nặng nề và tỷ lệ tử vong cao có thể tới 20 – 50 %. Ngày nay hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của VTC đã rõ ràng tụy bị tổn thương do nhiều cơ chế và hậu quả giải phóng ra các cytokine như IL-1, TNF-α, IL-6, IL-8…, tăng phản ứng tế bào bạch cầu và các tế bào nội mạc mạch máu và tăng áp lực ổ bụng, đây chính là nguyên nhân dẫn đến suy đa tạng trong viêm tụy cấp và bản thân các cytokine là mắt xích của vòng xoắn suy đa tạng [29]. Điều trị viêm tụy cấp cũng có nhiều tiến bộ như điều trị nguyên nhân viêm tụy cấp (nhiễm khuẩn, do sỏi, rối loạn chuyển hóa mỡ …) và biện pháp can thiệp điều trị nguyên nhân như nội soi ngược dòng lấy sỏi, các biện pháp điều trị hỗ trợ, các biện pháp về hồi sức. Một trong các biện pháp điều trị hỗ trợ được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây là ứng dụng phương pháp lọc máu liên tục (CVVH – Continuous veno-venous hemofiltration) trong điều trị hỗ trợ viêm tụy cấp nặng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy lọc máu liên tục CVVH có khả năng loại bỏ các cytokin cắt vòng xoắn gây suy đa tạng, làm giảm áp lực ổ bụng, giảm suy tạng, cải thiện tỉ lệ tử vong [49],[48]. Trong viêm tụy cấp nặng có suy đa tạng đặc biệt có suy thận và tụt huyết áp, rối loạn về chuyển hóa thì lọc máu liên tục CVVH là biện pháp an toàn và hiệu quả [49]. Tuy nhiên một số tác giả laị cho rằng lọc 2máu liên tục cho các bệnh nhân viêm tuy cấp mức độ nặng không làm cải
Xem thêm

85 Đọc thêm

đánh giá hiệu quả trên huyết động của lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRÊN HUYẾT ĐỘNG CỦA LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẨN

đặt vấn đề Sốc nhiễm khuẩn (SNK) là một bệnh lý nặng, th−ờng gặp và tỷ lệ tử vong cao hàng đầu trong các khoa Hồi sức cấp cứu[ 41]. ở Pháp, Annane và cộng sự[ 19] phân tích số liệu từ 22 bệnh viện trong 8 năm, từ 1993 đến 2000 thấy rằng: tỷ lệ bị SNK là 8,2% số bệnh nhân (BN) vào khoa Hồi sức cấp cứu và tỷ lệ này ngày càng tăng từ 7,0% năm 1993 đến 9,7% năm 2000; trong đó tỷ lệ tử vong rất cao chiếm 60,1% và có giảm từ 62,1% năm 1993 đến 55,9% năm 2000, nh−ng vẫn còn cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ tử vong ở các BN không bị SNK. ở Mỹ, theo Sharma năm 2007 tỷ lệ bị nhiễm khuẩn nặng là 3/1000 dân, trong đó 51,1% phải chăm sóc tích cực, tử vong 26,2%[ 54]. ở Việt Nam hiện ch−a có thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc SNK, nh−ng theo đa số tác giả tỷ lệ tử vong do SNK còn khá cao, khoảng 50%[ 7]. Trong sinh bệnh học của SNK, ng−ời ta thấy rằng sự xuất hiện của các cytokine gây viêm là yếu tố chủ yếu dẫn đến sốc và suy đa tạng. Điều trị SNK đòi hỏi các biện pháp tổng hợp bao gồm điều trị nguyên nhân (nhiễm khuẩn), bồi phụ thể tích tuần hoàn và dùng các thuốc vận mạch, điều trị hỗ trợ các cơ quan và điều trị cơ chế bệnh sinh của SNK. Lọc máu liên tục (LMLT) đã đ−ợc nghiên cứu và áp dụng từ nhiều năm nay với mục đích loại bỏ cytokine và các chất hòa tan, cân bằng n−ớc điện giải, kiềm toan. Tuy nhhiên hiệu quả của ph−ơng pháp này ở BN SNK cho đến nay vẫn ch−a đạt đ−ợc sự đồng thuận cao. Theo phần lớn các tác giả, LMLT là biện pháp điều trị phối hợp có tác dụng cải thiện huyết áp (HA) trung bình và giảm tỷ lệ tử vong có ý nghĩa, nh−ng có tác giả lại cho rằng hiệu quả của LMLT không thực sự tốt hơn lọc máu ngắt quãng. Để góp phần tìm hiểu hiệu quả của LMLT trong điều trị SNK, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với các mục tiêu nghiên cứu sau đây: 1. Đánh giá hiệu quả của lọc máu liên tục trên huyết động ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. 2. Nhận xét một số biến chứng của lọc máu liên tục trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn.
Xem thêm

89 Đọc thêm

Nghiên cứu hiệu quả chống đông của Citrate trong lọc máu liên tục

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CHỐNG ĐÔNG CỦA CITRATE TRONG LỌC MÁU LIÊN TỤC

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nam nữ 40 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ calci máu < 1 mmol/l theo thời gian 52 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ ion natri > 145 mmol/l theo thời gian 52 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân có pH máu > 7.45 theo thời gian 53 1 Đặt vấn đề Kỹ thuật lọc máu liên tục đợc Kramer tiến hành lần đầu tiên vào năm 1977. Kể từ đó kỹ thuật lọc máu liên tục đã và đang phát triển mạnh mẽ với những u điểm vợt trội so với lọc máu ngắt quãng nh loại trừ nớc và các chất hoà tan chậm và liên tục, ít ảnh hởng tới huyết động của bệnh nhân đã góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân nặng và đóng một vai trò rất lớn trong ngành hồi sức và thận học [15]. Trong quá trình lọc máu liên tục, sử dụng thuốc chống đông là vấn đề hết sức quan trọng để kéo dài tuổi thọ của màng lọc, tránh mất máu, giảm chi phí điều trị, tiết kiệm đợc sức lao động của nhân viên y tế [10]. Cho tới nay đã có nhiều phơng pháp chống đông ra đời với mong muốn đảm bảo thời gian và hiệu quả cuộc lọc, vừa tránh đợc những tai biến khi sử dụng thuốc chống đông tuy nhiên không có phơng pháp nào là tối u cho tất cả các trờng hợp [35]. ở Việt Nam heparin là thuốc chống đông đợc sử dụng chủ yếu vì giá thành rẻ, tuy nhiên nguy cơ chảy máu là luôn có kể cả với heparin liều thấp [24] và trong các trờng hợp có rối loạn đông máu nặng thì việc sử dụng
Xem thêm

91 Đọc thêm

Đánh giá hiệu quả của thay huyết tương và lọc máu liên tục trong điều trị tổn thương gan ở bệnh nhân ngộ độc cấp

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA THAY HUYẾT TƯƠNG VÀ LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG GAN Ở BỆNH NHÂN NGỘ ĐỘC CẤP

ngày càng trở nên hoàn thiện, hiệu quả cao, dễ dung nạp nhờ những tiến bộ của khoa học hiện đại [7]. 1.6.1. Các phơng thức lọc máu liên tục Qua nhiều lần cải tiến kỹ thuật lọc máu dựa trên những tiến bộ khoa học về Y sinh học, các biện pháp lọc máu liên tục đợc ra đời nhằm tăng cờng hiệu quả của lọc máu và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Biện pháp này đào thải các chất độc và các sản phẩm có hại cũng nh lấy ra một lợng dịch thừa trong cơ thể dựa trên cơ chế của thẩm tách, siêu lọc ngoài ra còn tăng cờng bởi cơ chế thay thế thể tích liên tục nhờ những cải tiến quan trọng trong cơ chế lọc đặc biệt là tăng diện tích lỗ lọc (hay còn gọi là quả lọc high flux) cho phép tăng tốc độ các chất qua màng lọc và cho phép các phân tử có trọng lợng tơng đối lớn đi qua (có thể lọc đợc các chất có phân tử lợng lên tới 50.000 dalton). Thể tích dịch trong huyết tơng đợc thay thế dần bởi các dung dịch bên ngoài đa vào qua áp lực lọc. Biện pháp đợc tiến hành liên tục chậm trong suốt 24 giờ. Tổng thời gian điều trị thay đổi từ nhiều ngày đến nhiều tuần tuỳ thuộc vào yêu cầu điều trị đối với từng bệnh nhân. Trong phần lớn trờng hợp, máu đợc chống đông trớc khi tuần hoàn qua một quả lọc có màng bán thấm và truyền lại về bệnh nhân. Phơng pháp điều trị liên tục này đảm bảo việc cân bằng nội môi một cách chậm nhng liên tục và thờng dung nạp tốt trên những bệnh nhân nặng có huyết động không ổn định (sốc, suy tim). Lọc máu liên tục bao gồm nhiều phơng thức điều trị khác nhau; tĩnh mạch tĩnh mạch là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến. Để tiến hành lọc máu liên tục, yêu cầu tối thiểu phải sử dụng catheter 2 nòng đặt vào tĩnh mạch lớn, quả lọc và dây máu tuần hoàn ngoài cơ thể, bơm máu và bơm dịch thải. Trong một số phơng thức khác cần có sử dụng bơm dịch thấm phân và dịch thay thế. Các phơng thức lọc máu liên tục bao gồm: SCUF: Siêu lọc chậm (Slow continuous ultrafiltration)
Xem thêm

100 Đọc thêm

Điều trị sốc nhiễm khuẩn trẻ em

ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẨN TRẺ EM

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế Trờng Đại học Y Hà Nội - - Trần Minh Điển Chuyên đề tiến sỹ: Điều trị sốc nhiễm khuẩn trẻ em Hà Nội - 2008 Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế Trờng Đại học Y Hà Nội - - Trần Minh Điển Chuyên đề tiến sỹ: Điều trị sốc nhiễm khuẩn trẻ em Tên luận án: Nghiên cứu kết quả điều trị và một số yếu tố tiên lợng tử vong trong sốc nhiễm khuẩn trẻ em. Chuyên ngành : Nhi khoa Mã số : 301 . 43 Ngời hớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm văn thắng Hà Nội - 2008 Những chữ viết tắt ACCM: American College of Critical Care Medecine (Hội hồi sức cấp cứu Hoa kỳ) ALI: Acute lung injury (tổn thơng phổi cấp) APLS: Advance Pediatric Life Support (cấp cứu nhi khoa nâng cao) ARDS: Acute respiratory distress syndrome (Hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch) AT III: Anti Thrombine III CI: Cardiac Index (chỉ số tim) CMV: Conventional Mechanical Ventilation (thở máy thông lệ) CVP: Centre Veinous Pressure (áp lực tĩnh mạch trung tâm) CVVH: Continuous Veino-Veinous Hemoinfiltration (lọc máu liên tục) DIC: Disseminated Intravascular Coagulation (đông máu trong lòng mạch rải rác) DNT: Dịch no tủy ĐM: Động mạch ECMO: Extracorporeal Menbrane Oxygenation (màng trao đổi oxy ngoài cơ thể) FFP: Fresh Frose Plasma (plasma tơi đông lạnh) HATB: Huyết áp trung bình HATĐ: Huyết áp tối đa HATT: Huyết áp tối thiểu HFOV: High Frequency Oscillation (thở máy cao tần) HSCC: Hồi sức cấp cứu IVIG: Intraveinous Immunoglobulin (globuline miễn dịch tĩnh mạch) KT: Catether MAP: Mean airway pressure (áp lực trung bình đờng thở) NaBiCa: Natri Bi Carbonate NKQ: Nội khí quản NKN: Nhiễm khuẩn nặng NP: Nosocomical pneumoniae (viêm phổi bệnh viện) NT: Nhiễm trùng PAWP: Pulmonary Artery Wedge Pressure (áp lực động mạch phổi bít) PDE III: Phosphodiesterase type III PEEP: Positive End-Expiratory Pressure (áp lực dơng cuối thì thở ra) rhAPC: Recombinante human activated protein C (protein C hoạt hoá tái tổ hợp) rPFTI: Recombinante tissue factor pathway
Xem thêm

55 Đọc thêm

Nghiên cứu chi phí – hiệu quả trong điều trị suy thận mạn tính giai đoạn cuối bằng thận nhân tạo tại bệnh viện và lọc màng bụng ngoại trú

NGHIÊN CỨU CHI PHÍ – HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ SUY THẬN MẠN TÍNH GIAI ĐOẠN CUỐI BẰNG THẬN NHÂN TẠO TẠI BỆNH VIỆN VÀ LỌC MÀNG BỤNG NGOẠI TRÚ

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy thận mạn là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa, tiến triển qua nhiều năm tháng, hậu quả của các bệnh thận gây giảm sút từ từ số lượng nephron chức năng dẫn đến giảm dần mức lọc cầu thận [6], [21], [31]. Theo Hội thận học Thế giới, hiện nay có trên 500 triệu người suy thận mạn trên thế giới, cho thấy bệnh lý đang ngày càng phổ biến và có tính chất toàn cầu. Ở Việt Nam ước có khoảng gần 6 triệu người bị suy thận mạn (chiếm 6,72% dân số), trong đó 80.000 người đã chuyển sang giai đoạn cuối - thông tin đáng báo động này được đưa ra trong Hội nghị “Thận nhân tạo và chất lượng trong lọc máu” vào năm 2009 [7], [16]. Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối phải điều trị thay thế thận bằng lọc máu ngoài thận hoặc ghép thận để duy trì sự sống. Ghép thận không phổ biến vì phải có người hiến thận nên lọc máu ngoài thận là phương pháp điều trị chủ yếu. Có hai phương pháp lọc máu ngoài thận phổ biến là điều trị thận nhân tạo chu kỳ và lọc màng bụng/ thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú [6], [21], [31]. Điều trị thận nhân tạo chu kỳ là việc sử dụng máy có chức năng như một quả thận để thực hiện việc lọc máu cơ thể qua một màng lọc nhân tạo. Bệnh nhân điều trị thận nhân tạo chu kỳ sẽ phải đến cơ sở y tế từ 1 đến 3 lần mỗi tuần để lọc máu, mỗi lần kéo dài khoảng 4 giờ và gắn liền với việc điều trị này suốt đời. Tuân thủ điều trị thận nhân tao có nhiều khó khăn và khi không thể là đồng nghĩa với tử vong sớm, nhất là đối với những bệnh nhân sống ở vùng xa nên khó tiếp cận các trung tâm điều trị thận nhân tạo. Lọc màng bụng là phương pháp điều trị thay thế thận thông qua chức năng lọc của màng bụng. Phương pháp có thể thực hiện tại nhà và trở thành cơ hội sống cho những bệnh nhân không thể đến các trung tâm chạy thận thường xuyên [6], [21], [53]. Ở Việt Nam, ngay từ những năm 70, Khoa Thận tiết niệu - Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành kỹ thuật lọc màng bụng cho bệnh nhân cấp cứu suy thận cấp. Tuy nhiên, lọc màng bụng liên tục ngoại trú được quản lý thì mới chỉ phổ biến gần đây. Khoa Nội Thận - Miễn dịch ghép - Bệnh viện Nhân dân 115 – Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thực hiện và quản lý lọc màng bụng liên tục ngoại trú cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối từ 2005 và là một trong những cơ sở y tế đầu tiên trong cả nước áp dụng phương pháp điều trị này. Đến nay, lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại nhà ngày càng phổ biến ở Việt Nam với gần 30 trung tâm thực hiện phương pháp điều trị này do tính đơn giản, thuận tiện và chi phí tương đối thấp nhưng vẫn chỉ là một lựa chọn bên cạnh điều trị thận nhân tạo chu kỳ có chi phí cao do thực hiện tại cơ sở y tế chuyên sâu [91], [92]. Việc đánh giá kinh tế của lọc màng bụng ngoại trú tại nhà là cần thiết, giúp cung cấp bằng chứng ưu tiên phương pháp này trong điều trị bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối không có chống chỉ định tương đối với lọc màng bụng, khi nguồn lực quốc gia cho y tế còn hạn hẹp. Đề tài “Nghiên cứu chi phí – hiệu quả trong điều trị suy thận mạn tính giai đoạn cuối bằng thận nhân tạo tại bệnh viện và lọc màng bụng ngoại trú” được triển khai với các mục tiêu sau: 1.Phân tích chi phí điều trị suy thận mạn tính giai đoạn cuối bằng thận nhân tạo tại bệnh viện và lọc màng bụng ngoại trú tại Bệnh viện Nhân dân 115, thành phố Hồ Chí Minh (2011-2012).
Xem thêm

145 Đọc thêm

Sử dụng thuốc vận mạch

SỬ DỤNG THUỐC VẬN MẠCH

 Hiểu sinh lý bệnh sốc  Hiểu cơ chế tác dụng của thuốc vận mạch  Biết cách sử dụng thuốc vận mạch  Biết cách đánh giá hiệu quả  Biết các biến chứng  Mục tiêu điều trị sốc: ổn định huyết động  Các biện pháp điều trị sốc: Bù dịch, Truyền hồng cầu lắng, Sử dụng vận mạch

33 Đọc thêm

Tài liệu NHIỄM TRÙNG HUYẾT docx

TÀI LIỆU NHIỄM TRÙNG HUYẾT DOCX

 Stapylococcus aureus  Enterobacteriacae b. Không tìm thấy ổ nhiễm trùng nghi ngờ: thường căn cứ theo tuổi  < 2 tháng tuổi: Ampicilline Gentamycine ± Cefotaxime. Nếu có kèm sốc hoặc nghi tụ cầu: Cefotaxime Oxacillin ± Gentamycine  > 2 tháng tuổi: Cefotaxime hoặc Ceftriaxone ± Gentamycine. Nếu có kèm sốc hoặc nghi tụ cầu: thêm Oxacillin. o Cơ địa suy giảm miễn dịch: Cefotaxime hoặc Ceftriaxone hoặc Ceftazidime hoặc Fluoroquinolones ± Amikacin. o Nghi tụ cầu: thêm Oxacillin. Nếu có sốc: thêm Vancomycin 2.3. Điều trị biến chứng:  Rối loạn đông máu: truyền tiểu cầu và huyết tương đông lạnh, kết Tủ Bếpa lạnh.  Toan chuyển hóa: thường là hậu quả của sốc nên cần điều trị tích cực sốc nhiễm trùng tránh để sốc kéo dài. Trong trường hợp toan hóa máu nặng cần điều chỉnh bằng Bicarbonate. 2.4. Điều trị khác:  Lọc máu liên tục: khi bệnh nhân thiểu niệu ? 24 giờ hoặc Creatinin > 0,4 mmol/L hoặc tăng > 0,1mmol/L/ngày.  Corticoides liều cao tĩnh mạch: nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả chưa rõ ràng và có thể làm tăng nguy cơ bội nhiễm, xuất huyết. 3. Điều trị tiếp theo:  Sau khi có kết quả phân lập vi khuẩn và kháng sinh đồ. 3.1. Cấy máu dương tính:
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nghiên cứu một số chỉ số đánh giá kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng (TT)

Nghiên cứu một số chỉ số đánh giá kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng (TT)

1. Đặt vấn đề. Lọc màng bụng và thận nhân tạo là hai phương thức lọc máu điều trị thay thế thận suy phổ biến hiện nay. Lọc máu tốt giúp điều chỉnh các rối loạn cho các bệnh nhân suy thận mạn tính, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như kéo dài thời gian sống của người bệnh. Sức khỏe nói chung và sức khỏe của người bệnh lọc máu nói riêng theo như định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là một tình trạng thoải mái cả về thể chất, tinh thần. Như vậy để đánh giá đúng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lọc máu bao gồm hai phần lớn: thứ nhất, điều kiện tiên quyết là đảm bảo hiệu quả lọc máu tốt thể hiện bằng các thông số kỹ thuật lọc máu cụ thể, khách quan; Và thứ hai là sự tự đánh giá chất lượng cuộc sống về tình trạng thể chất và cảm giác chủ quan về sức khoẻ của chính người bệnh. Tại Việt Nam, tại các cơ sở y tế lớn, tuyến trung ương, đã có nhiều công bố về hiệu quả lọc máu của bệnh nhân suy thận mạn tính. Tuy nhiên các bệnh viện tuyến tỉnh hoặc khu vực với điều kiện cơ sở vật chất thiếu thống và con người còn non trẻ rất cần có những nghiên cứu thực trạng tình hình lọc máu và chất lượng cuộc sống ở những người bệnh này. Do đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số đánh giá kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng” với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá thực trạng và sự thay đổi một số kết quả điều trị lọc máu theo dõi trong 2 năm ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi. 2. Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi SF-36 và sự thay đổi sau 2 năm ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi. 2. Tính cấp thiết của đề tài. Duy trì sự sống cho người bệnh là mục tiêu ban đầu trong điều trị. Tuy nhiên, với mục tiêu đưa người bệnh mắc bệnh mạn tính nói chung và bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị lọc máu về với cuộc sống thường ngày, qua đó họ có những đóng góp cụ thể cho xã hội là rất thiết thực và có ý nghĩa nhân văn. Đánh giá kết quả điều trị lọc máu bằng lâm sàng, chỉ số cận lâm sang với các thông số kỹ thuật lọc máu cụ thể kết hợp với sự tự đánh giá chất lượng cuộc sống của mình thông qua bộ câu hỏi SF36 của người bệnh là khá toàn diện, cần thiết và dễ thực hiện. 3. Những đóng góp của luận án. Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh viện đa khoa khu vực ở 174 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu chu kỳ theo dõi trong 2 năm. Luận án có giá trị thực tiễn, phản ánh được thực trạng lọc máu của người bệnh. Điều này giúp cho cơ sở y tế nơi đây có những nhìn nhận đầy đủ, khách quan hơn về chất lượng chăm sóc, phục vụ người bệnh từ đó có những điều chỉnh, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế tốt hơn nữa. 4. Bố cục của luận văn. Luận án gồm 131 trang trong đó: Đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu 34 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết quả nghiên cứu 31 trang, bàn luận 41 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT LỌC MÁU HIỆN ĐẠI TRONG CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH

Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh 1. Lọc máu liên tục và ứng dụng 1.1. Lịch sử[1], [2], [20] - Năm 1960, Scribner lần đầu tiên mô tả kỹ thuật lọc máu động - tĩnh mạch áp dụng cho việc điều trị bệnh nhân suy thận. - Năm 1967, Heudersur và cộng sự đã sử dụng bộ lọc để thẩm tách máu. - Năm 1974, kỹ thuật siêu lọc máu đã được Silvestein thực hiện. - Năm 1977, Kramer đã công bố kết quả đầu tiên áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục cho một bệnh nhân suy thận, phù to, có suy tim không thể áp dụng kỹ thuật thận nhân tạo thông thường (Internitent Hemodialysis- IHD). Tác giả đã lấy máu động mạch cho chạy qua một phin lọc và trở về tĩnh mạch, một phần nước và các chất hòa tan đi qua phin lọc ra ngoài (Hemofiltration). Như vậy áp lực lọc là nhờ áp lực động mạch, tốc độ đào thải dịch có thể kiểm soát được và thực hiện liên tục. - Năm 1981, Bischoft đã lắp thêm 1 bơm và lấy máu ra từ tĩnh mạch, qua quả lọc và đưa vào tĩnh mạch đã có kết quả tốt hơn so với lấy máu từ động mạch. - Năm 1985, Geromerous đã phát triển kỹ thuật kết hợp cả hai kiểu trong lọc máu là siêu lọc (Hemofiltration) và thẩm tách (dialysis) nhằm nâng cao hiệu quả. - Năm 1987 Uldall đã cải tiến lại cách lấy máu ra từ tĩnh mạch và đưa vào qua đường tĩnh mạch (Venno- Venous), kết hợp cả 2 phương thức lọc (Hemofiltration - Dialysis) đã làm tăng được hiệu quả và kỹ thuật được tiến hành dễ dàng hơn (Hemodiafiltration). Thuật ngữ CRRT (Continuous Renal Replacement Therapy). Hemofiltration therapy: liệu pháp thay thế thận liên tục cũng ra đời vào thời điểm này. 1.2. Những nguyên lý của LMLT LMLT được thực hiện dựa trên bốn cơ chế vận chuyển chính sau: khuếch tán, đối lưu, siêu lọc và hấp phụ qua một màng bán thấm [1], [1], [2], [20], [21], [24], [25] Màng bán thấm Màng lọc là một màng bán thấm, có vai trò quyết định trong tất cả các phương thức lọc máu. Nó cho phép nước và một số chất hòa tan đi qua màng, trong khi các thành phần hữu hình của máu và một số chất hòa tan vẫn bị giữ lại ở phía bên kia. Nước huyết tương và một số chất hòa tan lọt qua màng được gọi là dịch siêu lọc. Màng lọc gồm nhiều bó sợi rỗng cho máu đi qua và được bao bọc trong một khung cố định gọi là quả lọc. Dịch lọc thường chảy ngược chiều với dòng máu chảy qua bó sợi rỗng để tăng diện tích tiếp xúc và tăng hiệu quả lọc. Có hai loại màng bán thấm được sử dụng trong lọc máu là màng có bản chất cellulose và màng tổng hợp. Trong đó màng có bản chất là cellulose (cuprophan, hemophan, cellulose acetate) thường được sử dụng trong thẩm tách máu ngắt quãng. Màng có bản chất là tổng hợp (polysulfone, polyamide, polyacrylonitrile, polymethylmethacrylate). Quả lọc thường dùng là AN69 (Acrylonitrile) có diện tích hiệu dụng là 0,9m2, sẽ cho qua các phân tử hòa tan có TLPT <50.000 daltons. Siêu lọc Siêu lọc là sự dịch chuyển của nước và các chất hòa tan qua màng bán thấm dưới tác dụng của sự chênh lệch áp lực. Tốc độ siêu lọc sẽ tùy thuộc vào áp lực tác dụng lên màng lọc và tốc độ của dòng máu qua quả lọc. Do vậy áp lực tác dụng lên màng lọc cao hơn, tốc độ dòng máu qua quả lọc nhanh hơn thì sẽ càng làm tăng tốc độ lọc. Tromg lọc máu áp lực để dẫn dịch siêu lọc qua màng lọc gọi là áp lực xuyên màng (TMP). Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu và điều trị một số bệnh
Xem thêm

281 Đọc thêm

Thay đổi các thông số PO2,PCo2, HCo3-, pH máu động mạch trong lọc máu liên tục tĩnh mạch - tĩnh mạch

THAY ĐỔI CÁC THÔNG SỐ PO2,PCO2, HCO3-, PH MÁU ĐỘNG MẠCH TRONG LỌC MÁU LIÊN TỤC TĨNH MẠCH - TĨNH MẠCH

Bệnh viện Bạch Mai đã ứng dụng kỹ thuật này trên các bệnh nhân (BN) sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, viêm tụy cấp nặng mang lại kết quả tốt [3], [19] [21], [22]. Trong điều trị ngộ độc cấp vẫn còn tranh cãi về ưu nhược điểm của LMLT so với lọc máu ngắt quãng (LMNQ), nhưng những nghiên cứu gần đây đã thấy được hiệu quả của LMLT trong các ngộ độc nặng và/ hoặc có rối loạn huyết động [6], [32], [37], [59]. Trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai tiến hành ca LMLT đầu tiên năm 2007. Đây là biện pháp can thiệp phức tạp nên những nguy cơ xuất hiện các biến chứng khi sử dụng nó vẫn chưa được hiểu biết nhiều. Các BN ngộ độc có chỉ định lọc máu thường là các BN nặng, có suy hô hấp và rối loạn toan kiềm [18]. Trước đây việc sử dụng LMNQ thường gặp biến chứng thay đổi khí máu đặc biệt hay gặp biến chứng giảm oxy máu trong quá trình lọc máu, làm phải dừng cuộc lọc và gây nguy hiểm đến tính mạng cho BN [30]. Nguyễn Phan Đức Sanh (1997): Giảm oxy máu là biến chứng rất hay gặp trong quá trình lọc máu, đặc biệt ở các BN nặng như hôn mê, có rối loạn huyết động, suy hô hấp [20]. Chúng tôi chưa thấy các công trình nghiên cứu về thay đổi khí máu động mạch trong quá trình LMLT trong điều trị ngộ độc. 2Để góp phần tìm hiểu về thay đổi khí máu động mạch trong LMLT phục vụ cho việc ứng dụng kỹ thuật này trong điều trị, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi các thông số: PO2, PCO2, HCO
Xem thêm

85 Đọc thêm

thay đổi các thông số po2, pco2, hco3-, ph máu động mạch trong lọc máu liên tục tĩnh mạch - tĩnh mạch

THAY ĐỔI CÁC THÔNG SỐ PO2, PCO2, HCO3-, PH MÁU ĐỘNG MẠCH TRONG LỌC MÁU LIÊN TỤC TĨNH MẠCH - TĨNH MẠCH

quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Phạm Duệ - Giám đốc Trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai, là ngời thầy đã trực tiếp hớng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng nh đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đặng Quốc Tuấn đồng chủ nhiệm đề tài cấp bộ Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật lọc máu trong điều trị bệnh nhân ngộ độc cấp nặng đã cho phép tôi sử dụng số liệu để hoàn thành luận văn này. Tôi xin tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô, các anh chị và các bạn đồng nghiệp các tại Trung tâm Chống độc - khoa Cấp cứu - khoa Hồi sức tích cực, các bạn đồng khoá cao học 16 đã đóng góp ý kiến, động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn. Tôi rất cảm ơn Đảng uỷ, Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Đô Lơng đã tạo điều kiện cho tôi đợc công tác, đi học tập và nghiên cứu. Tôi xin cảm ơn các bệnh nhân, gia đình bệnh nhân tại Trung tâm Chống độc đã hợp tác, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tiến hành làm nghiên cứu. Tôi gửi lời cảm ơn tới bố mẹ, anh chị em và những bạn bè, ngời thân đã luôn bên tôi, động viên trong quá trình học tập cũng nh trong cuộc sống. Dơng Phúc Chung Lời cam đoan Tôi xin cam đoan: Đây là nghiên cứu của riêng mình. Tất cả các số liệu trong đề tài này là hoàn toàn trung thực và khách quan, cha từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nghiên cứu này là do bản thân tôi thực hiện và hoàn thành, nếu sai tôi
Xem thêm

85 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu và hiệu quả điều trị thiếu máu bằng Beta Erythropoietin kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ.

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THIẾU MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU BẰNG BETA ERYTHROPOIETIN KẾT HỢP BỔ SUNG SẮT TRUYỀN TĨNH MẠCH Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN LỌC MÁU BẰNG THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ.

ĐẶT VẤN ĐỀ Thiếu máu trong suy thận mạn là một biến chứng thường xuyên và nghiêm trọng, [31], [34], [54], [98], chủ yếu do tổn thương chức năng nội tiết của thận làm giảm sản xuất Erythropoietin kích thích tủy xương sinh hồng cầu [14],[48]. Thiếu máu làm giảm vận chuyển Oxy đến mô, gây tổn thương đa cơ quan, gánh nặng bù trừ của tim, nặng thêm suy thận, tăng tỉ lệ biến chứng và tử vong. Điều trị thiếu máu trong suy thận mạn là một trong những mục tiêu quan trọng nhất ở bất kỳ giai đoạn nào của suy thận, nhất là trong điều trị lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Từ khi Erythropoietin người tái tổ hợp (recombinant Human Erythropoietin gọi tắc là rHuEPO) được sử dụng đầu tiên ở Châu Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước để điều trị thiếu máu trong suy thận mạn [11], cùng với sự tiến bộ vượt bậc về trang thiết bị, thuốc tạo máu và kỹ thuật thận nhân tạo chu kỳ, đã cải thiện đáng kể tình trạng thiếu máu, giảm chỉ định và biến chứng truyền máu. Tuy vậy, hiệu quả điều trị thiếu máu ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ thì còn tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý suy thận mạn, nhiểm trùng, nguồn nước, liều chạy thận, tình trạng dinh dưỡng,.. đặc biệt là tình trạng thiếu sắt trong quá trình điều trị tạo máu ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ thận[59]. Việc sử dụng rHuEPO, nguy cơ thiếu sắt đã trở thành vấn đề thực tế và phổ biến [98]. Chỉ một nửa các bệnh nhân chạy thận tại Hoa Kỳ có thể đạt đến hematocrit 30%, nguyên nhân quan trọng nhất là do thiếu sắt, tỉ lệ thiếu sắt được ước tính khoảng 43- 90% bệnh nhân điều trị rHuEPO [52]. Rõ ràng, thiếu máu là một vấn đề lâm sàng thách thức nhất ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Mục tiêu điều trị thiếu máu trên bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ hiện nay là làm sao duy trì cung cấp đầy đủ sắt cho tác dụng hiệu quả của thuốc tạo máu và quyết định liều rHuEPO, mức hematocrit, hemoglobin tối ưu cho bệnh nhân,[52],[99]. Chi phí cho điều trị và chăm sóc bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ rất tốn kém. Thống kê ở Mỹ (2005), bảo hiểm y tế đã chi trả 7,9 tỉ Đô la cho lọc máu, bao gồm 2 tỉ Đô la cho thuốc tạo máu rHuEPO [96]. Tại Việt Nam, điều trị thiếu máu bằng rHuEPO vẫn là gánh nặng cho Bảo hiểm y tế và bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Bổ sung sắt đầy đủ và hợp lý sẽ giảm liều rHuEPO và giảm chi phí cho điều trị. Bổ sung sắt bằng đường uống có lợi ích là đơn giản, chi phí thấp, an toàn, nhưng hiệu quả của nó ở những bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ thì rất hạn chế do tác dụng phụ lên tiêu hóa [50] như khó tiêu, táo bón, đầy hơi, tiêu lỏng và khó tuân thủ do phải bù sắt lượng lớn ( theo NKF- K/DOKI # 200mg nguyên tố sắt/ngày [54]). Hiệu quả của bù sắt đường tĩnh mạch (sắt dextran, sucrose và gluconate) ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ đã được nghiên cứu rộng rãi và một nền tảng y văn đáng kể đã chứng minh cho mức độ đáp ứng tăng hemoglobin cao hơn hoặc giảm liều yêu cầu EPO, hoặc cả hai.[30],[36], [44], [51], [50], [58], [60], [76], [79], [84], [99], [100]. Ở Việt Nam, sự quan tâm đến việc bù sắt trong điều trị thiếu máu bằng rHuEPO ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ còn chưa đúng mức, các công trình nghiên cứu để đánh giá về hiệu quả điều trị bù sắt ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ còn rất ít. Vì vậy, nghiên cứu việc điều trị bổ sung sắt truyền tĩnh mạch trong quá trình điều trị thiếu máu bằng rHuEPO ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ đã trở thành mục tiêu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị thiếu máu, giảm chi phí điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân, giảm tỉ lệ tử vong. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu và hiệu quả điều trị thiếu máu bằng Erythropoietin bêta kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Nhằm các mục tiêu sau: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. 2. Đánh giá hiệu quả điều trị thiếu máu bằng Erythropoietin beta kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ.
Xem thêm

111 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ-NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ-NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Suy thận mạn là hậu quả của các bệnh thận mạn tính, gặp phổ biến trong lâm sàng và ngày càng gia tăng. Agodoa L.Y dựa theo báo cáo của Hệ thống dữ liệu Thận Hoa Kỳ cho thấy bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối năm 1993 là 462.000 người và khoảng 94.000 bệnh nhân đang sống với thận ghép. Theo các tác giả J. Guiserx, Pouteil-Noble-Claire, Simon-P ở Pháp, số bệnh nhân đang được điều trị bằng lọc máu và ghép thận ngày càng gia tăng nhanh chóng, rất tốn kém chi phí điều trị [37],[169],[173],[175]. Ở Việt Nam số người suy thận cấp và mạn chiếm tỉ lệ 40,4% bệnh nhân được điều trị tại khoa Nội thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai từ 1991-1995 và bệnh nhân đang sống nhờ lọc máu chu kỳ ngày càng nhiều [4]. Ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối, tử vong do biến chứng tim mạch chiếm hàng đầu và tăng gấp 10 đến 30 lần so với quần thể chung sau khi đã hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc và đái tháo đường. Phì đại thất trái, suy tim và xơ vữa động mạch là những nguyên nhân chính của tử vong tim mạch [104]. Theo tác giả Kes P những yếu tố nguy cơ tim mạch được nhận biết trong nghiên cứu Framingham như giới nam, nguồn gốc chủng tộc, đái tháo đường, hút thuốc lá cũng được tìm thấy ở những bệnh nhân suy thận mạn giai đọan cuối nhưng không đủ giải thích tình trạng tăng tử vong tim mạch ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ, nên những vấn đề như rối loạn nước - điện giải, thiếu máu, tăng nồng độ homocystein máu, tăng lipoprotein(a), nhiễm khuẩn và tăng hình thành huyết khối là những yếu tố liên quan đến sự gia tăng tỉ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này cần phải được nghiên cứu điều trị [103]. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có sự tương quan nghịch giữa nồng độ homocystein máu với chức năng thận và ở bệnh nhân suy thận mạn sự gia tăng nồng độ homocystein máu dẫn đến tăng gấp 20 lần nguy cơ bệnh lý mạch máu [166]. Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về homocystein máu ở những bệnh nhân suy thận mạn giai đọan cuối chưa hoặc đang lọc máu và đánh giá sự tương quan giữa nồng độ homocystein máu với độ lọc cầu thận, tỉ lệ tử vong, từ đó đưa ra những biện pháp điều trị nhằm hạ thấp nguy cơ tim mạch ở nhóm bệnh nhân này [58],[127],[167]. Tại Việt Nam, đã có tác giả nghiên cứu rối loạn homocystein máu ở bệnh nhân bị bệnh mạch vành [14], bệnh nhân tai biến mạch máu não [9], bệnh nhân suy thận mạn các giai đoạn chưa lọc máu [27] và bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ [32]. Tuy nhiên nghiên cứu nồng độ homocystein máu và đánh giá hiệu quả điều trị tăng homocystein máu ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ qua các tài liệu chúng tôi tham khảo được cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến. 2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Khảo sát sự biến đổi nồng độ homocystein máu và tương quan giữa nồng độ homocystein với tuổi, huyết áp, nồng độ axit folic, vitamin B12, hemoglobin, albumin máu ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. 2. Đánh giá hiệu quả điều trị tăng homocystein máu sau một lần lọc máu bằng thận nhân tạo, sau 4 tuần thận nhân tạo chu kỳ đơn thuần và thận nhân tạo chu kỳ kết hợp thuốc axit folic, vitamin B6, vitamin B12.
Xem thêm

159 Đọc thêm

SỐC NHIỄM KHUẨN2

SỐC NHIỄM KHUẨN2

Serotonine, yếu tố tiểu cầu IV, các chất tăng sinh tiểu cầu, tăng sinh tế bào non. Các yếu tố này sẽ gây ra:+ Kết dính tiểu cầu trên các tế bào nội mạch+Thay đổi cấu trúc thẩm thấu của tế bào nội mạch do phát triển tế bào xơ non.+ Làm co mạch do Thromboxan A2 và Serotonin.3.3. Với bổ thể (Complement - C)- LPS kích hoạt bổ thể tạo ra C3a và C5a gây ra:+ Tăng tính thấm mao mạch+ Co bóp cơ trơn+ Tác dụng lên tế bào mastocyte, tế bào nội mạch để sản xuất ra histamin làm giãn mao mạch, ứ trệ tuần hoàn ngoại vi, tăng thấm mao mạch gây tụt huyết áp.+ C5a cũng có tác động kết dính bạch cầu đơn nhân sản xuất ra TNF và IL1 mà vai trò sinh học đã nêu ở trên.3.4. Với hệ thống đông máu:- LPS kích hoạt yếu tố Hageman XII làm cho men Prekallikreine thành Kallikerein, Kallikreine sẽ chuyển Kininogens là chất có trọng lượng phân tử cao (High Molecular Weight Kininogens = HMWK) thành kinin. Trong 3số này có Bradykinine là chất gây giãn mạch rất nhanh, tăng thấm mao mạch, thoát quản, hạ huyêta áp (sơ đồ).- Mặt khác: Kallikreine hoạt hoá sẽ thúc đẩy chuyển Plasminogen thành Plasmin gây tiêu sợi huyết (Fibrinolyse) làm giảm fibrin gây rối loạn đông máu.Sơ đồ:3.5. Các tế bào nội mạch:- Các tế bào nội mạch đóng vai trò quan trọng từ giai đoạn đầu của hoạt hoá do LPS. Sự hoạt hoá này tạo ra:+ Giải phóng chất trung gian PAF gây ngưng tụ, tập hợp tiểu cầu và
Xem thêm

11 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ SỐC

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ SỐC

đáng, thuốc vận mạch đơn độc có thể gây rối loạn huyết động nặng hơn và sốc mất bù.2.4. Vấn đề sức bóp cơ tim (bơm) • Vấn đề suy yếu bơm tim chỉ được đánh giá tốt nhất qua các thăm dò huyết động xâm lấn như " thông tim phải" bằng catheter Swans-Gantz để đo chỉ số tim (CI), hay cung lượng tim (CO), nhưng thực tế không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được, chủ yếu vẫn phải dựa vào những dấu hiệu lâm sàng của giảm cung lượng tim hoặc là ngược dòng (về phía thượng nguồn: ứ huyết phổi, phù phổi…) hoặc là xuôi dòng (về phía hạ lưu: tụt giảm HA kèm dấu hiệu da của giảm tưới máu, yếu cơ, mạch nhỏ…).Cần cố gắng tìm chính xác nguyên nhân gây suy bơm để điều trò thích hợp vì nhiều khi có thể cứu sống BN như khi đứt cột nhú, vỡ vách LT, sa van cấp... có thể phẫu thuật. Hoặc nếu ngộ độc thuốc β-blocker, chẹn Ca++ …, có thể dùng thuốc đối kháng. Ngoài ra cũng cần tìm yếu tố làm giảm cung lượng tim thứ phát như giảm oxy, hạ đường máu, nhòn đói… để can thiệp kòp thời.• Điều trò hỗ trợ sức bóp− Dùng thuốc tăng co bóp như dopamine, dubotamine…,− Giảm hậu tải (sức cản hệ thống) bằng thuốc giãn động mạch…,− Giảm tiền tải bằng thuốc giãn tónh mạch, lợi tiểu,… và − Sử dụng các thiết bò trợ giúp cơ học (bóng nội động mạch dội ngược) hoặc phẫu thuật.2.5. Vấn đề tần số • Nhòp tim quá chậm hoặc qúa nhanh có thể làm suy giảm cung lượng tim nghiêm trọng đe dọa tính mạng cần can thiệp ngay theo nguyên tắc nếu đã gây rối loạn huyết động (tụt huyết áp) thì cần can thiệp bằng thủ thuật, nếu chưa thì có thể dùng thuốc:3− Nhòp chậm (&lt;50 ck/p) mà còn ổn đònh chưa có triệu chứng chỉ cần theo dõi hoặc dùng Atropin nhưng nếu có ngất, rối loạn ý thức, huyết động thì cần đặt máy tạo nhòp tạm thời cấp cứu ngay (qua da, thực quản, lòng mạch); có thể sử dụng Isuprel trong khi chờ đợi can thiệp tạo nhòp.− Nhòp nhanh quan trọng (thường &gt;150ck/p) nếu đã gây tụt giảm huyết áp thì cần chuyển
Xem thêm

11 Đọc thêm

liệu pháp corticosteroid trong điều trị sốc nhiễm khuẩn

LIỆU PHÁP CORTICOSTEROID TRONG ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẨN

cả cortisol binding globulin (CBG) và albumin mà trong hoàn cảnh bình thường gắn &gt;90% thường là giảm. Những hậu quả này làm tăng nồng độ cortisol tự do, mà được cho là dạng hoạt động sinh lý của hormon. ◊ Các cytokin của phản ứng viêm có thể làm tăng ái lực các thụ thể glucocorticoids, vô hiệu hóa sự bất hoạt của glucocorticoids và/ hoặc làm gia tăng sự biến đổi tiền chất cortisol ở ngoại vi.SỰ SUY YẾU CỦA TRỤC HPACó những trường hợp mà trong đó không thể gia tăng nồng độ để đáp ứng nhu cầu, chẳng hạn các loại thuốc như ketoconazol, phenyltoin và etomidate có thể làm giảm tổng hợp cortisol. Một nghiên cứu quan sát 62 bệnh nhân cho thấy việc sử dụng etomidate để đặt nội khí quản có liên quan tới khả năng gia tăng của sự đáp ưng kém ( ≤ 9mcg/dl) để kích thích tiết
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nguy cơ do nhiễm khuẩn đường mật ppsx

NGUY CƠ DO NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG MẬT PPSX

BỆNH GÂY CÁC BIẾN CHỨNG RẤT NẶNG NHƯ: VIÊM GAN, ÁP-XE ĐƯỜNG MẬT, UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT, VỠ TÚI MẬT, HOẠI TỬ TÚI MẬT, SỐC MẬT, NHIỄM KHUẨN MÁU, VIÊM THẬN, SUY THẬN… VÌ SAO BỊ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜN[r]

7 Đọc thêm

Giáo án khoa điều dưỡng - CHỌC HÚT DỊCH MÀNG BỤNG potx

GIÁO ÁN KHOA ĐIỀU DƯỠNG - CHỌC HÚT DỊCH MÀNG BỤNG POTX

• kéo ruột bơm tiêm sau mỗi• lần đẩy kim.• - Khi đột ngột thấy hẫng tay• và dịch chảy vào bơm tiêm, • dừng chọc• - Điều chỉnh catheter và rút kim.• - Gắn bơm tiêm lớn với catheter • và hút 30-60 ml dịch để xét nghiệm.• - Nếu muốn dẫn lưu dịch, nối ống• dẫn một đầu với catheter, đầu kia• với bình chân không.• - Khi lấy đủ lượng dịch, rút catheter • và băng kín bằng băng dính vô khuẩn.• 6. Xét nghiệm dịch• - Dịch được lấy vào các ống nghiệm đúngquy cách và gửi xét nghiệm ngay.• - Xét nghiệm: albumin, tế bào, vi khuẩn vàcác xét nghiêm khác tuỳ thuộc vào dịch cổchường và tình trạng lâm sàng.• 7. Biến chứng• - Rối loạn tuần hoàn có thể xảy ra khi chọc hút thểtích lớn dịch: hạ huyết áp, hạ natri máu, tăngcatecholamin và renin máu. Trường hợp nặng dẫnđến hội chứng gan thận, thậm chí tử vong. • Các chuyên gia khuyên truyền albumin cho ngườilấy trên 5 lít dịch ( liều 6-8g/lít dịch hút ra).• - Biến chứng khác, ít gặp: rỉ dịch, nhiễm khuẩn,• tụ máu thành bụng.• - Biến chứng nặng hơn cũng rất hiếm: chảy máu,• tổn thương tạng trong ổ bụng, chọc vào động
Xem thêm

11 Đọc thêm

sốc tim bộ môn hồi sức cấp cứu

SỐC TIM BỘ MÔN HỒI SỨC CẤP CỨU

Bệnh cơ tim do nhiễm khuẩn, nhiễm virusBệnh cơ tim do miễn dịch, do chuyển hoáBệnh cơ tim do nguyên nhân nội tiếtBệnh cơ tim do ngộ độcGđ cuối của bệnh cơ tim giãn hay bệnh van tim 4Nguyên nhânTăng hậu gánh (tắc nghẽn):Nhồi máu phổi rộngHẹp động mạch chủ ép tim cấp.Tổn thơng cơ học của tim:Hở van động mạch chủ, hở van hai lá cấpThủng vách liên thấtRối loạn nhịp tim.Rối loạn dẫn truyền.

9 Đọc thêm

Cùng chủ đề