DỊ SINH TỦY MYELODYSPLASIA DOC

Tìm thấy 2,122 tài liệu liên quan tới tiêu đề "DỊ SINH TỦY MYELODYSPLASIA DOC":

Dị Sinh Tủy Myelodysplasia doc

DỊ SINH TỦY MYELODYSPLASIA DOC

Dị Sinh Tủy - Myelodysplasia Thiếu máu ở người già (trên 60-70 tuổi) lắm khi rất khó tìm ra nguyên cớ (tạm viết: thiếu máu không rõ nguyên nhân: TMKRNN), với tất cả những phương tiện định bệnh ngày nay, kể cả lấy tủy xương để khám nghiệm dưới kính hiển vi, flow cytometry và cytogenetics. Trong kinh nghiệm riêng với khoảng hơn 3000 (ba nghìn) bnhân thiếu máu đã được khám trong các consultations trong hơn 20 năm qua, và với kết quả cuả trên dưới 2000 (hai nghìn) tủy xương đã xét nghiệm, có lẽ khoảng 5% những cases thiếu máu rơi vào khu vực định bệnh (diagnostic category) nói trên (TMKRNN). Trong hồ sơ, hiện nay các hematologists, vì thiếu một chữ hay hơn (lack of a better term), đã đành tạm thời để các bnhân này vào khu vực: thiếu máu đỏ vì các lý do trì tính (sẽ viết tắt: TMDTT) (anemia of chronic diseases). Dĩ nhiên là có rất nhiều trường hợp ta có thể thấy những nguyên cớ rất rõ rệt đã tạo ra thiếu máu: chẳng hạn b.nhân bị suy thận kinh niên (anemia associated with chronic renal failure), đái đường hoặc do các nguyên cớ miễn nhiễm (autoimmune). Nhưng trong số này, có những b.nhân vẫn không thể xếp loại được. Trong nhóm cuối cùng này, có những bnhân đang bắt đầu phát ra chứng dị sinh tủy (viết tắt DST) (myelodysplasia), mà có khi cần một thời gian mới tìm ra. DST là một nhóm bệnh tương đối mới được định nghĩa, dù rằng ta đã nhận thấy chứng bệnh này trong một thời gian dài, mà nguyên cớ thiếu máu của những bnhân này không giải thích được. Nay nhờ các tiến bộ về flow cytometry và cytogenetics, ta đã hiểu hội chứng DST - Myelodysplasia một cách rõ ràng hơn, và trong vài năm gần đây đã bắt đầu có cách chữa trị. NTM Bệnh nhân DST (myelodysplasia) trung bình ở khoảng 70-75 tuổi, độ xuất hiện khoảng 3/100000, và hiện nay, khoảng 45% sống được 3 năm (Blood 112:45-52, 2008).
Xem thêm

8 Đọc thêm

Ghép tủy xương hay ghép tế bào gốc (Kỳ 2) pptx

GHÉP TỦY XƯƠNG HAY GHÉP TẾ BÀO GỐC (KỲ 2) PPTX

một tế bào gốc, trong khi đó số lượng tế bào gốc ở máu chỉ bằng 1/100 ở tủy. Khái niệm ghép tủy để trị bệnh được khảo sát một cách khoa học vào cuối thế chiến II khi có nhiều nạn nhân bị hoại tủy do tiếp cận với phóng xạ, đặc biệt là sau vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật. Kỹ thuật ghép tủy xương được thực hiện thành công vào năm 1968 để điều trị các bệnh ung thư bạch cầu, thiếu máu vô sinh (aplastic anemia), u ác tính các hạch bạch huyết như bệnh Hodgkin, rối loạn miễn dịch và vài loại u như ung thư noãn sào, vú. Trong ghép tủy, các tế bào bệnh hoạn của tủy bị tiêu diệt và tế bào gốc lành mạnh được truyền vào máu, tập trung vào ổ xương và bắt đầu sinh ra tế bào máu bình thường cũng như thiết lập một hệ miễn dịch mới. Ghép tế bào gốc cứu sống nhiều người và chỉ thực hiện được khi có người cho thích hợp. Điều này không dễ dàng, vì để phương thức thành công, tế bào đôi bên phải hầu như 100% tương xứng. Chỉ dưới 30% bệnh nhân cần ghép tế bào mầm có thể tìm được tương xứng ở thân nhân. Nếu người nhận và người cho là sanh đôi đồng nhất (identical twins), do một trứng được thụ tinh rồi phân chia tạo ra hai thai nhi, thì mọi sự êm đẹp, không có phản ứng khước từ (reject). Ngược lại khi người cho và người nhận không là sinh đôi đồng nhất thì cần phải tìm một người cho có loại tế bào gần tương tự như tế bào người nhận. Đây là việc làm khá khó khăn, tốn nhiều thời gian để có đối tác tương ứng. Nhu cầu của bệnh nhân cần được ghép tế bào gốc rất cao mà kiếm được hai loại tế bào tương xứng giữa người cho và người nhận rất khó khăn. Vì thế nhiều tổ chức bất vụ lợi quốc tế đã đứng ra để ghi danh những vị tình nguyện hiến tủy hoặc tế bào mầm trong máu. Mỗi vị ghi danh là một niềm hy vọng cho những bệnh nhân khao khát chờ đợi được cứu sống. Hiện nay danh sách có khoảng hơn 10 triệu người trên thế giới sẵn sàng dâng hiến. Hiến tủy được thực hiện tại cơ sở y tế với đầy đủ phương tiện, sau nhiều sửa soạn chu đáo cho nên rất an toàn. Mọi người từ 18 tới 60 tuổi, có sức khỏe tốt và hội đủ một số tiêu chuẩn y tế đều có thể ghi danh.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Bạch cầu tủy mãn docx

BẠCH CẦU TỦY MÃN DOCX

Bạch cầu tủy mãn I. Đại cương. Bệnh bạch cầu tủy mãn là bệnh máu ác tính nằm trong nhóm tăng sinh tủy ác tính do bất thường mắc phải của một Clon tế bào gốc. Bệnh biểu hiện bằng hiện tượng tăng sinh quá sản dòng bach cầu hạt đã biệt hóa nhiều nhưng chất lượng bạch cầu hạt không bình thường. Số lượng bạch cầu hạt tăng rất cao ở máu ngoại vi và tủy xương, đủ các lứa tuổi từ non, trung gian đến trưởng thành. Trên 90% trường hợp có NST Phi (chuyển đoạn 9 – 22) Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi thường gặp ở 30 – 50 tuổi, rất ít gặp ở trẻ em và người già trên 70 tuổi. Chưa tìm được nguyên nhân rõ ràng, có một số yếu tố liên quan đến bệnh sinh là : phóng xạ, hóa chất . Tiến triển khá hơn BCC, đời sông trung bình của bệnh từ khi phát bệnh la 4 – 5 năm. Sự tiến triển của BCTM được chia làm hai giai đoạn rất rõ rệt: giai đoạn tiến triển mãn tính được kéo dài từ 20 – 40 tháng. Giai đoạn tiến triển cấp tính với các biểu hiện lâm sàng xét nghiệm giống như BCC dẫn đến tử vong. Một số được điều trị tích cực có thể vượt qua giai đoạn tiến triển cấp và đạt lui bệnh hoàn toàn. II. Giai đoạn tiến triển mãn. 1. Lâm sàng. - Lách to: Là dấu hiệu điển hình bao giờ cũng có, nếu không có lách to thì cần xem lại chẩn đoán.Thường lách to đến quá rốn, mật độ chắc, mặt nhẵn không đau, nếu đau có thể có kèm viêm quanh, nếu đau dữ dội có thể có nhồi máu lách. - Thiếu máu từ nhẹ đến vừa: Da xanh, niêm mạc nhợt, có thể có tiếng thổi tâm thu ở mỏn tim ( cơ năng), gầy sút cân, rối loạn tiêu hóa. - Gan có thể to ( 30 – 40 trường hợp ) - Thường không có xuất huyết trong giai đoạn tiến triển mãn tính. - Sốt : có thể sốt thất thường không rõ nguyên nhân. - Có thể có một số dấu hiệu khác : đau khớp, cương cứng dương vật. Nói
Xem thêm

8 Đọc thêm

cách khám triệu chứng thiếu máu

CÁCH KHÁM TRIỆU CHỨNG THIẾU MÁU

• Bất đồng nhóm máu ,• Tán huyết trẻ sơ sinh• TMTH do tự kháng thể nóng , Kháng thể lạnh• Vô căn• Do thuốc, ngưng kết lạnh• TH vi mạch , do chấn thương• TH do Hội chứng Urê huyết cao ( HUS : hemolytic uremic syndrome )• Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (TTP:Thrombotic thrombocytopenicpurpura)• DIC : Đông máu nội mạch lan tỏa ( Disseminated intravascular coagulation )• Ung thư• Thuốc hóa trị• Nhiễm trùng : sốt rét , toxoplasma , clostridial , dịch tả, thương hàn• Nọc độc ,• Nhiệt• Giảm phosphatte máu• Tiểu Hb kịch phát về đêm VII.4. Lâm sàng: • TMTH có thể cấp như truyền nhằm nhóm máu , dùng thuốc oxy hóa ở Bn thiếu G6PD; HUS , TTP : BN có biểu hiện đột ngột như đau lưng , đau bụng , đau chân, đau thắt cơ , nhức đầu , chóng mặt , buồn nôn , lạnh run , sốt cao . Da xanh , vàng da , tim nhanh . • TMTH mãn có thể âm ỉ , phát triển từ vài tuần đến vài tháng. Da xanh , vàng mắt ,vàng da , vàng niêm mạc dưới lưỡi, lách to . Đối với những trường hợp TMTH bẩm sinh , quá trình tán huyết có thể ngưng do có cơn suy tủy ( Aplastic crisis ).Một số bệnh lý ác tính có thể có thể tán huyết như Lymphoma , Lupus , viêm phổi domycoplasma . VII.5. Cận lâm sàng: • Bilirubine huyết thanh tăng , chủ yếu là tăng bilirubine gián tiếp . Thành phần
Xem thêm

16 Đọc thêm

VIÊM TỦY CẤP ppsx

VIÊM TỦY CẤP PPSX

+ Mất tất cả các loại cảm giác nông, sâu và nội tạng dưới mức tổn thương. Giới hạn trên tổn thương chức năng cảm giác bình thường, đôi khi có một dải tăng cảm ngay trên vùng tổn thương. + Liệt và mất cảm giác cơ vòng gây bí đái hoặc đái không kìm được. + Rối loạn thần kinh thực vật biểu hiện bằng rối loạn vận mạch, rối loạn bài tiết mồ hôi, rối loạn phản xạ dựng lông. Rối loạn quan trọng nhất về dinh dưỡng là teo cơ, phù và loét nhanh. Tất cả các triệu chứng trên chứng tỏ tính chất của một liệt mềm, là hậu quả của giai đoạn sốc tủy nặng nề. Giai đoạn shock tủy biểu hiện sự giải phóng đột ngột tủy sống khỏi sự kiểm soát ở cao theo hướng kìm hãm được duy trì bởi các bó vỏ-gai và dưới gai. Hết giai đoạn sốc tủy, phản xạ của tủy dưới mức tổn thương sẽ hồi phục. — Giai đoạn tự động tủy biểu hiện bằng sự trở lại của một vài hoạt động phản xạ tự động tủy; các phản xạ này bình thường bị ức chế, sẽ xuất hiện khi bó tháp bị tổn thương; xuất hiện muộn từ tuần thứ 4 - 6 và có thể tiếp diễn trong 4 - 6 tháng. + Sự xuất hiện trở lại của phản xạ da gan chân: từ tuần thứ 3, khi kích thích gan bàn chân gây duỗi ngón cái (dấu hiệu Babinski). Ngoài ra kích thích da gan chân ở xa bàn chân hoặc sờ mó cẳng chân hay đùi đôi khi cũng gây dấu hiệu này. + Sự trở lại của hoạt động vận động tự động và phản xạ: trái ngược với sự mất hoàn toàn vận động chủ động. Kích thích mu bàn chân, gấp các ngón chân gây ra hoặc hiện tượng 3 co hoặc một phản xạ duỗi đối bên nhưng ít thấy hơn. Ta thấy vùng sinh phản xạ lan dần từ ngọn chi đến gốc chi. + Những phản xạ gân xương trở nên nhậy lan tỏa và đa động. + Trương lực cơ thay đổi muộn hơn, ưu thế rõ hơn ở các cơ gấp, vì vậy sự co cứng có thể cố định các chi ở tư thế 3 co. + Cơ vòng rối loạn kiểu trung ương. 2.2. Xét nghiệm — Dịch não tủy: nhiều trường hợp không thay đổi đáng kể, một số có biểu hiện tăng albumin, bạch cầu. — Máu: có thể tăng tốc độ máu lắng, thay đổi công thức bạch cầu, cấy dịch não
Xem thêm

16 Đọc thêm

EPREX (Kỳ 1) docx

EPREX (KỲ 1) DOCX

phải dạng tủy bào đang điều trị với một tác nhân hóa trị liệu. - Điều trị thiếu máu ở các bệnh nhân nhiễn HIV đang được điều trị bằng zidovudine có mức erythopoietin nội sinh <= 500 mU/ml. - Làm nhanh việc lấy máu tự thân trong chương trình gửi máu trước và làm giảm nguy cơ của việc truyền máu dị thân ở những bệnh nhân có Hct 33-39% mà đã được lên chương trình cho một cuộc phẫu thuật lớn có chọn lọc và dự kiến cần nhiều máu hơn lượng máu mà họ có thể có được thông qua kỹ thuật lấy máu tự thân không sử dụng Epoetin alfa.
Xem thêm

5 Đọc thêm

2.hc liet hai chi duoi

2.HC LIET HAI CHI DUOI

trắng hay chất xám tủy sống, do nhiễm siêu vi, nhiễm khuẩn, do giang mai, hoặc liên quan đến miễn dịch, viêm mạch hệ thống, thường không có nguyên nhân nào được tìm thấy.- Lâm sàng: hội chứng cắt ngang tủy (xem phần trên). Một số trường hợp bệnh tiến triển hướng lên gây suy hô hấp và rối loạn nuốt.- Cận lâm sàng: . Xét nghiệm tầm soát các bệnh giang mai, lao, HIV… rất cần thiết cho xác định nguyên nhân, xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán siêu vi ít khi dương tính. . Dịch não tuỷ: tăng nhẹ albumin và tế bào. . Chụp cộng hưởng từ (MRI): tủy sống phù nề, lớn hơn bình thường, đôi khi còn tạo ra một khối choán chỗ chèn ép màng tủy một hay hai bên, tổn thương giảm tín hiệu trên T1W, tăng tín hiệu trên T2W.- Điều trị: đa số các trường hợp không có điều trị đặc hiệu và chỉ điều trị triệu chứng. Một số ít trường hợp xác định được nguyên nhân điều trị sẽ thuận lợi hơn. . Kháng sinh nếu do nhiễm vi trùng.. Corticoide dùng trong viêm tuỷ do nhiễm siêu vi, bệnh miễn dịch, tuy nhiên một số quan điểm corticoide chưa tỏ ra có lợi ích.. Nuôi dưỡng đầy đủ các chất dinh dưỡng.. Chống loét.. Chống nhiễm trùng đường niệu.4. Tập vận động, xoa bóp chi liệt.- Tiên lượng: phụ thuộc vào việc điều trị nguyên nhân. Một số trường hợp viêm tuỷ cắt ngang không hoàn toàn có thể phục hồi phần nào về khiếm khuyết thần kinh, đa số viêm tuỷ cắt ngang hoàn toàn ít có khả năng phục hồi.* Bệnh mạch máu tủy:
Xem thêm

10 Đọc thêm

BIỂU HIỆN DỊCH NÃO TỦY TRÊN BỆNH NHÂN LIỆT HAI CHI DƯỚI DO TỔN THƯƠNG TỦY

BIỂU HIỆN DỊCH NÃO TỦY TRÊN BỆNH NHÂN LIỆT HAI CHI DƯỚI DO TỔN THƯƠNG TỦY

BIỂU HIỆN DỊCH NÃO TỦY TRÊN BỆNH NHÂN LIỆT HAI CHI DƯỚI DO TỔN THƯƠNG TỦY TÓM TẮT Mục tiêu: nghiên cứu dịch não tủy giúp chẩn đoán nguyên nhân liệt hai chi dưới do tổn thương tủy. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiền cứu những bệnh nhân liệt hai chi dưới do tổn thương tủy tại bv Chợ Rẫy. Dịch não tủy được khảo sát sinh hóa, tế bào và vi sinh. Kết quả và bàn luận: có 65 bệnh nhân, gồm 44 bệnh thuộc nhóm KCE (không chèn ép) tủy và 21 trường hợp thuộc nhóm CE (chèn ép) tủy. Tỉ lệ bệnh tủy theo giới tính: Nam chiếm 47,7% (31 bệnh nhân) và nữ 52,3% (34 trường hợp) (pvalue > 0,05). Tuổi trung bình là 40,3 tuổi (tuổi trong nhóm nghiên cứu thấp nhất 16, cao nhất 83 tuổi). Tập trung cao ở nhóm 20 đến 49 tuổi, chiếm 60% (có 39 trường hợp). Nhóm nghề nghiệp lao động chân tay cao nhất, 29 trường hợp chiếm 44,6%. Về phân bố theo địa dư, tỉ lệ cao ở nhóm bệnh nhân sinh sống ở nông thôn, có 52 trường hợp (80%), nhóm bệnh tủy sống ở thành thị có 13 bệnh nhân (20%) (pvalue =0,0000 < 0,05). Tổn thương tủy đoạn ngực chiếm tỉ lệ cao nhất, 61,4% trong nhóm KCE và 66,7% trong nhóm CE tủy. Nguyên nhân thường gặp trong nhóm KCE này do viêm 53,8% (35 bệnh nhân), có 5 bệnh nhân xơ cứng rải rác, tất cả các trường hợp này đều là giới nữ, bệnh mạch máu tủy có 4 trường hợp (6,2%). Ở CE tủy ung thư gặp cao nhất có 21,5% (14 bệnh nhân), CE tủy do lao có 2 trường hợp (3,1%), 2 trường hợp áp xe ngoài màng cứng (3,1%), 1 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm (1,5%), 2 trường hợp u màng tủy (3,1%). Trung bình đạm của dịch não tủy (DNT) ở bệnh nhân tổn thương tủy KCE 62,9 mg%. Nhóm CE tủy có trung bình đạm là 481mg% (đạm DNT ở nhóm này rất phân tán từ 30-2500mg%). Do vậy
Xem thêm

15 Đọc thêm

CƠ CHẾ THÍCH NGHI BÙ ĐẮP KHI THIẾU MÁU pot

CƠ CHẾ THÍCH NGHI BÙ ĐẮP KHI THIẾU MÁU POT

bệnh bạch cầu cũng cao hơn so với những năm trước đây. A- QUY LUẬT DIỄN BIẾN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH BC Trong bệnh bạch cầu các tế bào náu không phát triển theo quy luật bình thường mà có những đặc điểm riêng sau: 1. Tăng sản quá mức hay quá sản : Tăng sản quá mức một dòng tế bào, tổ chức tạo bạch cầu đó có biểu hiện phì đại, tăng sinh lan tràn ( tăng sinh quá mức dòng bạch cầu hạt thì tủy đỏ và tủy vàng đều tràn ngập các tế bào đó ) đồng thời có hiện tượng ức chế biệt hóa nên ở máu ngoại vi xuất hiện rất nhiều bạch cầu non ( bình thường chỉ ở trong tủy xương ). Bóp nghẹt, ức chế các dòng tế bào khác: khi các tế bào bạch cầu hạt tăng sinh thì tạo hồng cầu bị ức chế, tăng độ huyết tán nên gây thiếu máu nặng, dòng tiểu cầu cũng bị ức chế gây giảm tiểu cầu và hội chứng chảy máu ( chảy máu răng, lợi, dưới da, niêm mạc mũi, mắt, võng mạc, nội tạng ) Bệnh càng ác tính các biểu hiện trên càng rõ rệt. 2. Dị sản, sản xuất không theo quy luật bình thường mà lan tràn sang các tổ chức lân cận, hoặc sang các tổ chức tạo máu khác mà bình thường không sản xuất ra dòng tế bào đó. Như trong bệnh bạch cầu tủy hay tổ chức hạch, lách cũng sản xuất các bạch cầu hạt, xâm nhập chèn ép cốt mạc gây đau xương, đau khớp; xâm nhập chèn ép tổ chức thần kinh gây liệt, hội chứng chèn ép tủy sống… Trong bệnh bạch cầu Lympho tủy xương tràn ngập tế bào lympho , tổ chức lympho còn xâm nhập tổ chức da, nằm trong trung bì vùng mặt, mũi, má, gây biến dạng diện mạo, xâm nhập nhu mô phổi, thành dạ dầy, ruột gây các u cục rải rác, gây xuất huyết loét và hoại tử… Loạn sản, tức là sản xuất những tế bào bệnh lý không điển hình cả về hình thái và chức năng. Chức năng thực bào, miễn dịch của các tế bào đó giảm làm giảm sức đề kháng chống đỡ của cơ thể. Các tế bào thường có dấu hiệu thoái hóa, hình dạng bất thường, có không bào, phát triển không đồng đều giữa nhân và nguyên sinh chất. Các nguyên tủy bào không điển hình được gọi là cận nguyên tủy bào ( paramyêloblast ) hoặc nguyên tủy bào nhỏ ( micromyêloblast ), có trường hợp khó xác định là nguyên bào của dòng nào nên gọi chung là các nguyên bạch cầu (
Xem thêm

32 Đọc thêm

Dây thần kinh tủy ( Sinh 8 )

DÂY THẦN KINH TỦY ( SINH 8 )

GV: Gọi HS khác nhận xét bỗ sung.GV: Treo tranh câm hình 45.1 . Yêu cầu HS thảo luận nhóm và dán các mảnh bìa chú thích vào tranh.GV: Gọi nhóm khác bỗ sung , nhận xét.HS: Quan sát hình , đọc thông tin SGK và trả lời:- Có 31 đôi dây thần kinh tuỷ- Mỗi dây thần kinh tuỷ gồm 2 rễ:+ Rễ trước: Rễ vận động+ Rễ sau: Rễ cảm giác- Các rễ tuỷ đi ra khỏi lỗ gian đốt chập lại thành dây thần kinh tuỷ.HS: Thảo luận nhóm 3 phút. Sau đó đại diện nhóm trình bày.Tiểu kết:I/ Cấu tạo của dây thần kinh tuỷ:- Có 31 đôi dây thần kinh tuỷ- Mỗi dây thần kinh tuỷ gồm 2 rễ:+ Rễ trước: Rễ vận động+ Rễ sau: Rễ cảm giác- Các rễ tuỷ đi ra khỏi lỗ gian đốt chập lại thành dây thần kinh tuỷ. Hoạt động 2 ( 14 phút )II/ Chức năng của dây thần kinh tủy:Mục tiêu: Thông qua thí nghiệm, HS rút ra được kết luận về chức năng của dây thần kinh tủy.GV: Yêu cầu HS nghiên cứu thí nghiệm trang 142 và đọc kỹ bảng 45 trang 143. Sau đó thảo luận nhóm 4 phút và trả lời các câu hỏi sau:
Xem thêm

3 Đọc thêm

HỘI CHỨNG TAY - CHÂN - MIỆNG potx

HỘI CHỨNG TAY - CHÂN - MIỆNG POTX

Phần lớn các báo cáo cho thấy không có sự khác biệt giữa hai giới. Vài số liệu công bố một sự khác biệt nhẹ giữa nam/nữ : 1,2 – 1,3/1. Tuổi Bệnh thường xảy ra ở trẻ < 10 tuổi. Tại Việt Nam, bệnh thường gặp ở trẻ < 5 tuổi, đặc biệt là < 3 tuổi. Những cá thể trong cùng gia đình hoặc tiếp xúc gần gũi với trẻ cũng có nguy cơ nhiễm Enterovirus. V. LÂM SÀNG Bệnh sử Thời gian ủ bệnh khoảng 1 tuần; bệnh nhân thường than phiền đau họng hoặc miệng, Cơn mailaise có thể xảy ra, Thỉnh thoảng trẻ có kèm theo ói, tiêu chảy phân không đàm máu. Khám Khởi đầu, sang thương ban xuất hiện ở niêm mạc miệng, lưỡi, và/hoặc vòm khẩu cái cứng. Các sang thương niêm mạc miệng tiến triển nhanh chóng thành bóng nước và được bao bọc bởi quầng hồng ban. Các bóng nước này nhanh chóng thành vết loét làm trẻ khó ăn uống, hay quấy khóc. Cha mẹ thường than phiền trẻ chảy nước bọt liên tục. Sang thương da, xuất hiện dưới dạng ban nhỏ, hoặc bóng nước trên nền hồng ban, hiện diện khoảng 75% tổng số bệnh nhân HFMD. Vị trí thường gặp là lòng bàn tay - chân, bàn tay, bàn chân, đầu gối, mông, cơ quan sinh dục. Bóng nước có kích thước nhỏ (2-10mm), dịch trong hơi đục, khi lành không để lại sẹo. Sốt 38-39oC có thể xuất hiện và kéo dài 24-48 giờ. Trẻ HFMD do EV-71 có thể biểu hiện các biến chứng thần kinh bao gồm hội chứng giả bại liệt, viêm màng não vô trùng, viêm não, viêm não tủy, thất điều tiểu não cấp, viêm tủy cắt ngang, hội chứng Guillain-Barré, tăng áp lực nội sọ lành tính. VI. CẬN LÂM SÀNG
Xem thêm

11 Đọc thêm

ĐIỆN QUANG THẦN KINH part 2 ppsx

ĐIỆN QUANG THẦN KINH PART 2 PPSX

Các bể trên bênBể Sylvien Nằm giữa thuỳ đảo vàxương sọ, nối với bể trênĐộng mạch não giữa và cácnhánh của nó, các tĩnh ,mạch12yên nông của ĐM não giữaCác khoang dưới nhệnvòm sọHai bên bán cầu Động tĩnh mạch vỏ não1.5.5. Nước não tủy.+ Cơ thể có khoảng 150ml+ Nước não tủy được sinh ra khoảng 500ml/ngày-85% do đám rối mạch mạc, quan trọng nhất trong NT3-15% do màng não hay thấm qua mao mạch+ Lưu thông của dịch não tủy khoảng 3 lần /ngày nhờ sức đập của mạch máu-Nước não tủy đi từ NT bên sang NT 3 qua lỗ Monro , sang NT 4 qua cốngSylvius-Từ NT4 nước não tủy qua các lỗ bên và sau để vào các bể não hố sau, thườngchúng chỉ lưu thông một lượng rất nhỏ vào ống giữa tủy.-Sau đó phần lớn NNT lưu thông lên tầng trên lều vào các bể trên yên, bể quanhcuống, khoang dưới nhện bán cầu đại não-Một phần NNT đi xuống dưới trong khoang màng nhện tủy+ Phân bố nước não tủy:-20% trong các NT-50% trong khoang dưới nhện-30% trong khoang dưới nhện tủy+ Hấp thụ NNT-Phần lớn NNT được hấp thụ qua các nhú của màng nhện trong các xoang TMnhất là xoang dọc trên và xoang bên
Xem thêm

8 Đọc thêm

SINH HỌC PHÁT TRIỂN CÁ THỂ NÂNG CAO

SINH HỌC PHÁT TRIỂN CÁ THỂ NÂNG CAO

Sinh học phát triển cá thể nâng caoBÀI KIỂM TRASINH HỌC PHÁT TRIỂN CÁ THỂ NÂNG CAOHọ và tên: Nguyễn Xuân HạnhLớp: K12 – Sinh học thực nghiệm - Tỉnh Bắc Giang Chuyên đề: GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁUGhép tế bào gốc tạo máu hay thường được gọi ngắn gọn là ghép tủy là một phương pháp điều trị bệnh được ứng dụng nhiều trong ngành huyết học và ung thư học. Phương pháp này thực hiện quá trình cấy ghép tế bào gốc tạo máu lấy từ tủy xương hoặc từ máu ghép vào cơ thể người bệnh để chữa các bệnh lý huyết học, bệnh lý miễn dịch, di truyền và một số bệnh lý ung thư khác.1. Lịch sử ngành ghép tủyNgành ghép tủy thực sự phát triển bắt đầu sau sự bùng nổ của năng lượng và vũ khí hạt nhân năm 1945. Mặc dù trước đó đã có một vài nỗ lực của các nhà khoa học trong việc dùng tủy xương của người hiến đưa vào cơ thể người nhận là những bệnh nhân bị thiếu máu hay ung thư máu bằng đường uống, tiêm bắp hay truyền tĩnh mạch.Vào thời điểm này, ngành ghép tủy bắt đầu được nghiên cứu nhiều vì xuất hiện những bệnh nhân bị các bệnh lý máu ác tính do phơi nhiễm phóng xạ iôn hóa.Chúng ta có thể lược lại một số mốc quan trọng của ngành ghép tủy: - Ca ghép tủy đầu tiên được ghi nhận năm 1939, thực hiện trên một bệnh nhân bị xơ tủy do kim loại nặng, tủy ghép lấy từ người anh ruột của bệnh nhân. Ca ghép này không thành công, bệnh nhân chết sau 5 ngày.- Ca ghép tủy được ghi nhận thành công đầu tiên là năm 1965, khi một bệnh nhân Bạch cầu lymphô cấp loại nguyên bào lynphô được điều trị bằng hóa trị và xạ trị, sau đó được truyền tế bào tủy xương từ 6 người hiến tủy khác nhau nhưng có liên hệ huyết thống. Bệnh nhân này tử vong sau 20 tháng vì bệnh tái phát.- Từ năm 1977 đến 1980, thành công trong nghiên cứu ghép tủy dị thân. Cũng từ năm 1978, ghép tủy trong bệnh lymphô bắt đầu có những thành công nhất định.- Năm 1990, BS E.D. Thomas đã được trao giải thưởng Nobel y học cho
Xem thêm

10 Đọc thêm

Bệnh xơ tủy vô căn ppt

BỆNH XƠ TỦY VÔ CĂN

Bệnh xơ tủy vô căn Bệnh xơ tủy vô căn là rối loạn phát triển của một tế bào tiền thân tạo máu đa năng với bệnh nguyên không rõ. Biểu hiện đặc trưng bằng xơ tủy, dị sản tủy, kèm tạo máu ngoài tủy và lách to. Xơ tủy vô căn được xếp loại là các rối loạn tăng sinh tủy mạn tính, bệnh không thường gặp, do không có triệu chứng đặc hiệu cho dòng nào, việc chẩn đoán khó khăn bởi vì xơ tủy, dị sản tủy, lách to cũng là đặc điểm của các bệnh khác như tăng hồng cầu vô căn, bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML); xơ tủy và lách to còn là triệu chứng của nhiều bệnh lành tính lẫn ác tính. Khác với các rối loạn tăng sinh tủy mạn tính khác hay bệnh xơ tủy ác tính hoặc cấp tính hay gặp ở mọi lứa tuổi, xơ tủy vô căn gặp chủ yếu ở người trên 60 tuổi. Nguyên nhân sinh bệnh là gì? Bệnh nguyên của xơ tủy vô căn không rõ. Người ta thấy các bất thường nhiễm sắc thể nhất định như 20q-, 13q- và ba nhiễm sắc thể 1q rất thường gặp, nhưng không có bất thường di truyền học tế bào đặc hiệu nào được xác định. Không thấy có sự liên quan giữa mức độ xơ tủy và mức độ tạo máu ngoài tủy. Bệnh xơ tủy vô căn liên quan với sản xuất quá mức collagen týp III, phát hiện này được quy cho yếu tố tăng trưởng bắt nguồn từ tiểu cầu hay yếu tố tăng trưởng chuyển dạng b, song chưa có một bằng chứng nào thuyết phục. Một đặc điểm quan trọng là các nguyên bào sợi trong xơ tủy vô căn không phải là một phần của dòng u tân sinh. Biểu hiện của bệnh như thế nào? Xơ tủy vô căn không có triệu chứng cơ năng hay thực thể nào đặc hiệu. Hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng biểu hiện mà thường chỉ được phát hiện khi thấy lách to hoặc công thức máu bất thường khi khám. Có dấu hiệu cho thấy các đặc điểm đặc trưng của tạo máu ngoài tủy: hồng cầu hình giọt lệ, có nhân, tủy bào và tiền tủy bào, nguyên tủy bào. Triệu chứng thiếu máu luôn có nhưng thường nhẹ trong khi số lượng bạch cầu và tiểu cầu bình thường, hoặc tăng hay giảm. Có thể thấy gan to nhẹ, kèm với lách to. Nồng độ lactat dehdrogenase và phosphatase kiềm huyết thanh có thể tăng; nồng độ phosphatase kiềm bạch cầu có thể thấp,
Xem thêm

4 Đọc thêm

Sinh học 8 - DÂY THẦN KINH TỦY potx

SINH HỌC 8 - DÂY THẦN KINH TỦY POTX

Mục tiêu : Thông qua thí nghiệm , học sinh rút ra được kết luận về chức năng của dây thần kinh tủy . ––– Gv yêu cầu học sinh nghiên cứu thí nghiệm đọc kỹ bảng 45 SGK ––– Học sinh quan sát kỹ hình , đọc thông tin trong SGK trang 142  Tự thu thập thông tin . –

4 Đọc thêm

GA NHA KHOA L4

GA NHA KHOA L4

H- Bài học hơm nay đã đưa ra những thơng điệp nào?H- Theo em như thế nào là đi trám răng?- Đại diện các nhóm trình bày- Ngun nhân và cơng thức gây sâu răng.- Diễn tiến bệnh sâu răng.- Nên đi khám răng định kỳ để nha sĩ phát hiện bệnh răng sâu giúp em ngay trước khi em cảm thấy đau, GV: Nguyễn Văn Út Năm học 2009-2010Trường tiểu học Đông Thuận Kế hoạch bài dạy nha khoa lớp 47’H- Ich lợi của việc trám răng là gì?- Kết luận: Sâu răng diễn tiến theo qua các giai đoạn sau: sâu ngà, viêm tủytủy chết.em nên đi khám răng định kỳ để nha sĩ giúp phát hiện răng sâu ngay từ khi em chưa có cảm giác ê buốt, hay đau và giúp em trám răng sớm. Hoạt động 2: Liên hệ thực tế• Mục tiêu: Biết hậu quả khi bị sâu răng và từ đó có thái độ tích cực trong việc giữ vệ sinh răng miệng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Ghép Tủy Xương pptx

GHÉP TỦY XƯƠNG PPTX

Ghép Tủy Xương Gần đây có bạn trên diễn đàn này viết bài hỏi xin giúp về ghép tủy (bài hỏi "xin giúp đỡ về việc "ghép tủy sống" chữ này sai, vì khi ghép tủy thì lấy tủy xương thường ở xương chậu, chứ không ai lấy ở xương sống cả. Nói hay viết "ghép tủy" (hoặc ghép tủy xương) (bone marrow transplantation) thì đúng hơn. Không thể nào nói hết trong một bài này về việc ghép tủy, chẳng hạn các fellows về hematology khi chịu trách nhiệm tại trại ghép tủy thì thường phải đi qua trại này trong 3- 6 tháng, và tại các bệnh viện đại học lớn, có các hematologists suốt đời chỉ lo việc ghép tủy mà thôi. (Con số khoảng 1985: Hoa kỳ có 135 trường đại học y khoa, nhưng chỉ có 40 truờng đại học y khoa có đủ khả năng để ghép tủy ; trong số này, chỉ có một nửa đủ khả năng - và được chấp thuận - để dạy cho các fellows / residents). Theo kinh nghiệm riêng, trại này còn bận và "cực" hơn cả ICU (intensive care unit) hoặc trại về tim (CCU) (cardiac care units). Lý do chính là vì các bệnh nhân ở trại ghép tủy đã rất yếu, bệnh rất nặng (ung thư), và họ còn có cả nhừng bệnh khác kèm theo (co-morbid conditions) (đái đường, suy tim, suy phổi, suy thận, nhiễm trùng ). Nguyên do chính của tử vong trên trại ghép tủy là nhiễm trùng (do chính mình gây ra - iatrogenic), và GVHD (Graft - versus - host Disease) (tủy của nguời cho - donors - phá bệnh nhân) (Graft là tủy cúa người cho, còn host là chính bệnh nhân) cho nên các hematologists / oncologists đều phái nắm vững về việc điều trị các biến chứng khác trong toàn thể các subspecialties về nội thuơng, đặc biệt là nhiễm trùng. Sở dĩ có nhiễm trùng, vì khi ghép tủy, thì phải chuẩn bị cơ thể cho bệnh nhân : tức là phải phá hủy hoàn toàn tủy (bone marrow ablation) của bệnh nhân, khiến cho tủy bệnh nhân trở thành "sterile" (tức là mình giết tất cảc tế bào ung thư trong tủy của b.nhân) và sau đó cợ thể của bệnh nhân sẽ "đón" tủy mà mình sẽ ghép vào (các stem cells mà mình ghép vào sẽ đi tìm các vùng tủy cúa bệnh nhân rồi sinh sôi nảy nở ("home in" ) - tức là mình
Xem thêm

7 Đọc thêm

BỆNH HỌC NGOẠI CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG

BỆNH HỌC NGOẠI CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG

môn và bộ phận sinh dục.Phân biệt giữa liệt hoàn toàn với liệt không hoàn toànPhải sau 1-3 tuần mới phân biệt được.Liệt hoàn toànPhản xạ co gấp chi dưới rõ.Cương dương vật thường xuyên.Mất hoàn toàn các dấu hiệu thần kinh và không phục hồi.Liệt không hoàn toànPhản xạ co gấp chi dưới nhẹ và chậm.Không mất hoàn toàn các dấu hiệu thần kinh và hồi phục dần.Một số triệu chứng xác định vùng tủy bị chấn thươngTứ chi vận động bình thường: Không có tổn thương trầm trọng của tủy sống.Hai chi dưới liệt tổn thương từ sống lưng trở xuống.Tứ chi liệt: Tổn thương cột sống cổ.Các tư thế liệt của Bailav:Hai chi trên để cao trên đầu, khuỷu gấp, cẳng tay ngữa các ngón tay gấpnữachừng trong tổn thương C6.Hai chi trên khuỷu gấp để cạnh ngực, các ngón tay gấp nữa chừng trong tổnthương C7.Hai chi trên liệt hoàn toàn như chết nằm dọc theo thân mình trong tổn thương C5.Cận lâm sàngChụp phim cột sống thẳng nghiêng tùy theo vị trí thương tổn trên lâm sàng để xácđịnh gãy cột sống (gãy thân, gãy mỏm ngang, mỏm gai), trượt đốt sống, xẹp đốtsống.Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ (IRM): Để phát hiện những thương tổn
Xem thêm

8 Đọc thêm

Sinh học 8 - DÂY THẦN KINH TỦY ppsx

SINH HỌC 8 - DÂY THẦN KINH TỦY PPSX

BÀI 45 : DÂY THẦN KINH TỦY I/ MỤC TIÊU: 1/Kiến thức:  Trình bày được cấu tạo và chức năng của dây thần kinh tủy  Giải thích được vì sao dây thần kinh tủy là dây pha . 2/ Kỹ năng:  Phát triển kỹ năng quan sát và phân tích hình  Kỹ năng hoạt động nhóm . II/ CHUẨN BỊ: 1/ Giáo viên: Tranh phóng to hình 45.1 ; 45.2 ; 44.2 Tranh câm hình 45.1 và những miếng bià rời ghi chú thích từ 1 – 5 . III/ TIẾN TRÌNH BÀI HỌC: 1/ Ổn định lớp 2 / Kiềm tra bài cũ : 3 / Các hoạt động dạy và học: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung ghi bài Hoạt động 1 : Cấu tạo của dây thần kinh tủy . Mục tiêu: Học sinh hiểu và trình bày cấu tạo dây thần kinh tủy . I . Cấu tạo của dây thần kinh tủy
Xem thêm

3 Đọc thêm

Hội chứng liệt nửa người (Kỳ 4) docx

HỘI CHỨNG LIỆT NỬA NGƯỜI (KỲ 4) DOCX

Hội chứng liệt nửa người (Kỳ 4) 2.1.3. Nguyên nhân: Hạ liệt mềm có thể có nhiều nguyên nhân gây nên nhưng thường gặp các nguyên nhân sau: + Chấn thương, vết thương gây cắt ngang tủy sống. + Chấn động tủy, choáng tủy sau chấn thương: tiên lựơng tốt, có thể tự phục hồi sau 2-3 tuần. + Chảy máu tủy: thường khởi phát đột ngột, có rối loạn phân ly cảm giác kiểu rỗng tủy, chọc sống thắt lưng thấy dịch não tủy có máu. + Viêm tủy ngang cấp: liệt vận động và rối loạn cảm giác, rối loạn thực vật, dinh dưỡng, cơ vòng rất nặng nề. + Viêm tủy thị thần kinh: tổn thương dây thần kinh thị giác kết hợp với triệu chứng viêm tủy. + Viêm tủy xám hay viêm sừng trước tủy sống, bệnh bại liệt (bệnh Heine-Medine). + Hạ liệt gia đình kiểu Werdnig-Hoffmann: bệnh giống bại liệt nhưng tiến triển mạn tính, khởi phát ở tuổi trẻ em, liệt bắt đầu ở gốc chi kèm theo teo cơ rất nặng, mất phản xạ gân xương. 2.2. Hạ liệt cứng: 2.2.1. Đặc điểm: + Hạ liệt cứng có thể nguyên phát nhưng cũng có thứ phát (đi sau liệt mềm). + Từ liệt mềm chuyển sang liệt cứng là tiên lượng tốt, tủy có hồi phục. + Từ liệt cứng chuyển sang liệt mềm là tiên lượng xấu, tủy bị hủy hoại. 2.2.2. Lâm sàng: + Vận động: sức cơ giảm, ngọn chi nặng hơn gốc chi. + Trương lực cơ tăng kiểu co cứng tháp. + Phản xạ gân xương tăng, lan toả, có thể có rung giật bàn chân và rung
Xem thêm

5 Đọc thêm