VỀ TÍNH ĐẢNG TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Về tính đảng trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại":

Triết học phương Tây - ThS. Trịnh Đình Thanh

Triết học phương Tây - ThS. Trịnh Đình Thanh

Triết học phương Tây trình bày về triết học Hy Lạp cổ đại, vài nét về hoàn cảnh ra đời sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại. Những đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại, một số tác giả tiêu biểu của triết học Hy Lạp cổ đại.

Đọc thêm

Vấn đề con người trong triết học Hy Lạp cổ đại

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI


Hêraclít, giữa vũ trụ và con người luôn có một mối liên hệ. Do vậy, nên ông không giải thích vũ trụ bằng con người, cũng không giải thích con người bằng vũ trụ, vì không bao giờ có bên kia mà lại không có bên này và ngược lại.
Nếu gạt sang một bên quan niệm mang tính nửa thần thoại của Hêraclít về sự xuất hiện của Thượng đế, thì có thể nói rằng, ông là người đã đánh giá cao sự tự do của con người, khi so sánh sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ với sự khác biệt giữa Thượng đế và con người. Ông cho rằng, Thượng đế luôn thờ ơ với cuộc sống nô lệ của một số người này và sự tự do của một số người khác, song con người thì không thờ ơ với điều đó. Con người biết đến “chiến tranh khiến cho một số người trở thành thần thánh, một số người trở thành nô lệ và một số người khác thì trở thành người tự do”. Mặc dù đề cao chiến tranh và đấu tranh, coi chiến tranh như ông hoàng, song Hêraclít luôn kêu gọi con người đừng kiêu hãnh về chiến tranh mà hãy cùng nhau dặp tắt sự kiêu hãnh ấy, bởi “dập tắt bệnh kiêu hãnh còn cần hơn là cứu hỏa”. Đấu tranh cho một luật pháp được thực hiện là cuộc đấu tranh cần thiết để giữ gìn tính có trật tự của vũ trụ, giữ gìn sự hài hòa của cuộc sống, của vũ trụ và “con người nên chiến đấu cho pháp luật giống như chiến đấu cho bức tường thành của mình”. Không chỉ thế, Hêraclít còn kêu gọi con người hãy tự đấu tranh với chính mình, mặc dù “đấu tranh với trái tim là rất khó, bởi mỗi nguyện vọng đều phải trả giá bằng linh hồn”.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Tài liệu Bài tiểu luận môn Triết học Mac-Lenin docx

TÀI LIỆU BÀI TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MAC-LENIN DOCX

quan niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người. Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin về con người.

17 Đọc thêm

Tiểu luận cao học triết học hy lạp cổ đại

Tiểu luận cao học triết học hy lạp cổ đại

A. PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học Hy Lạp cổ đại là một di sản vĩ đại không chỉ của dân tộc Hy Lạp mà còn cả của nhân loại. Trong di sản ấy chứa rất nhiều điều bổ ích. Hơn thế, triết học Hy Lạp cổ đại còn chứa đựng mầm mống thế giới quan tồn tại cho đến ngày nay.
Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại là lịch sử đấu tranh giữa đường lối Đêmôcrít và đường lối Platông. Những vấn đề đặt ra và giải quyết trước hết với đề tài trên là những vấn đề thế giới quan. Đó là hệ thống quan điểm, quan niệm con người về thế giới xung quanh, về bản thân con người, về vị trí cuộc sống con người trong thế giới đó cũng như những phương pháp luận về những nguyên tắc, nguyên lý chủ đạo mà con người tìm tòi, lựa chọn vận dụng để nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.
Triết học ra đời từ thời cổ đại từ đó đến nay triết học trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trong quá trình phát triển đó, những khái niệm, đối tượng, vai trò, phương pháp luận của triết học cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Thời cổ đại, khi mới bắt đầu có sự phân chia lao động chân tay và trí óc, tri thức loài người còn ít, chưa có sự phân chia giữa triết học và các khoa học khác thành các khoa học độc lập. Ở Trung hoa triết học gắn liền với vấn đề chính trị xã hội, ở Ấn độ gắn liền với tôn giáo, ở Hy lạp triết học gắn liền với tự nhiên và gọi là triết học tự nhiên, cũng vì vậy triết học nghiên cứu mọi lĩnh vực tri thức. Đây cũng là nguyên nhân sâu xa về sau dẫn đến quan niệm triết học là khoa học của mọi khoa học.
Thời kỳ này triết học đạt nhiều thành tựu rực rỡ, đặt nền móng về sau không chỉ đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Triết học Hy Lạp được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại và một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới. Theo chữ Hy lạp triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái. Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức chân lý, làm sáng tỏ được sự vật. Về Triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa trào lưu duy vật, duy tâm, biện chứng và siêu hình, hữu thần và vô thần.
Trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrit và trào lưu duy tâm của Platon. Để hoàn thiện tư duy lý luận xây dựng đất nước theo định hướng chủ nghĩa xã hội thì chúng ta cần thiết nghiên cứu toàn bộ triết học trước đó đặc biệt là triết học Hy lạp cổ đại và đường lối Đêmôcrít. Người đã đặt nền móng cho triết học chủ nghĩa duy vật, đã đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học với đỉnh cao là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Xem thêm

Đọc thêm

Triết học Hy LạpLa Mã cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc, nối những bến bờ triết học sau này.Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó.Triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ. Thời ky

Triết học Hy LạpLa Mã cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc, nối những bến bờ triết học sau này.Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó.Triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ. Thời ky

Triết học Hy LạpLa Mã cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc, nối những bến bờ triết học sau này.Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó.Triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ. Thời ky tiền Socrate, thời kỳ Socrate là thời kỳ cực thịnh, thời kỳ hậu Socrate. Trong giai đoạn này có rất nhiều triết gia nổi bậc như: Thales, Anaximandre, Heraclite, Pythagore, Xenophane, Parmenide, Zenon, Anaxagore, Empedocle, Democrite, Socrate, Platon, Aristote…Triết lý Hy Lạp cổ đại là những viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ ngôi nhà văn minh của Châu Âu ngày nay. Ta có thể thấy cả bề mặt và bề trái của Châu Âu ngày nay qua nền triết học Hy Lạp cổ đại. Điều đó làm cho nó sáng rực rỡ trên vũ đài triết học nhân loại và trở nên bất hủ. Marx nói: “Dại dột cho ai không thấy giá trị Hy Lạp cổ đại”
Xem thêm

Đọc thêm

Bài giảng Triết học - Chương 2: Khái lược về lịch sử triết học trước Marx

Bài giảng Triết học - Chương 2: Khái lược về lịch sử triết học trước Marx

Chương 2 của bài giảng Triết học giúp người học hiểu được khái lược về lịch sử triết học trước Marx như: Triết học Ấn Độ cổ, trung đại; triết học Trung Hoa cổ, trung đại; triết học Hy Lạp cổ đại; triết học Tây Âu thời trung cổ; triết học Tây Âu thời Phục hưng, cận đại. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI, XÃ HỘI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI TỚI CẬN ĐẠI

TÀI LIỆU THAM KHẢO TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI, XÃ HỘI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI TỚI CẬN ĐẠI

Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII VI trước công nguyên ở Ản Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác.Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
Xem thêm

Đọc thêm

Triết học hy lạp cổ đại

Triết học hy lạp cổ đại

Nền triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học phương tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương tây sau này. Nền triết học trung cổ là khoảng lặng của những phách nhạc thời gian trải qua hàng ngàn năm. Rồi mới được thăng hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời kỳ phục hưng. Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng trắng quá dài. Từ những âm ba của những nốt nhạc thăng trầm đó mà ta có cả nền triết học cận và hiện đại như nay. Trong bản nhạc giao hưởng đầy tính bác học của triết học phương tây, mà khúc dạo đầu lại rực rỡ âm sắc trang hoàng đó là những trường phái triết học Hy Lạp cổ đại, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh để khảy lên bằng chính đôi tay của người phàm tục. Những đôi tay vàng ấy được phản ánh qua những triết gia dệt nên những trang bất hủ bởi thời gian, một trong những đôi tay đẹp hơn tất cả đôi tay thời bấy giờ là Socrate, triết lý của ông đã mỹ miều và cái chết của ông như là linh hồn của bản giao hưởng bức ra khỏi phím đàn bay xa vào không gian bất tận. Ta muốn tìm hiểu nét nổi bậc của khúc dạo đầu đầy quyến rũ đó không gì khác hơn là hãy nghiên cứu khái quát về Các Trường Phái Triết Học Hy Lạp cổ đại, cuộc đời và cái chết của triết gia Socrate.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN (CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA

TIỂU LUẬN (CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA

A. LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền triết học Hy Lạp cổ đại là thời kỳ đầu nền của triết học phương tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương tây sau này.Triết học Hy lạp đã tồn tại cách chúng ta hơn hai nghìn năm . Từ đó đến nay, sự phát triển của xã hội cũng như nhận thức của con người đã trãi qua những bước nhãy vọt dài và đạt được những thành tựu khổng lồ, vượt rất xa thời kỳ mà chúng ta nghiên cứu. Nhưng triết học cổ Hy lạp không chỉ giúp chúng ta nắm được những điều kiện xã hội và văn hoá các quốc gia cổ đại này – một trong những cái nôi của văn minh nhân loại – mà còn hiểu được cội nguồn của tư tưởng và văn hóa phưong Tây tiếp theo đó . Mặc dù dưới dạng sơ khai, nhưng các trường phái triết học Hy lạp đại đã chứa đựng những mầm mống của mọi dạng thế giới quan sau nầy . Nhiều vấn đề do các nhà triết học thời kỳ này đặt ra cho đến nay vẫn còn nhiều ý nghĩa. Nghiên cứu trường phái triết học Hy lạ cổ đại cho chúng ta hiểu được cội nguồn lịch sử và bản chất của nhiều vấn đề hiện đại.
Cho đến nay hiện nay nhiều nước trên thế giới vẫn xuất hiện các công trình nghiên cứu những di sản quý báu của triết học cổ Hy Lạp . Những di sản ấy có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình phát triển tư tưởng và văn hoá phương Tây nói riêng và nhân loại nói chung .
Chính vì vậy em đi nghiên cứu đề tài “ Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại nội dung và ý nghĩa” nhằm nghiên cứu khái quát nhất về các trường phái triết học thời kỳ này và đưa ra một số hạn chế, thành tựu và ý nghĩa của nó.Do quá trình làm bài còn nhiều thiếu sót, cũng như kiến thức và tài liệu chưa được đầy đủ em mong được sự góp ý và chỉnh sửa và bổ sung của thầy, cô để đề tài được thực sự hoàn chỉnh hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

NHỮNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CỦA SOCRATES TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

NHỮNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CỦA SOCRATES TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

A. MỞ ĐẦU
Hy Lạp cổ đại có một nền triết học rất rực rỡ. Trước Socrates, nền triết học này bao gồm hai khuynh hướng chính: một, những người phát biểu về thế giới tự nhiên; và hai, các nhà tư biện về thần thánh.
Các triết gia trước Socrates chưa có một nghiên cứu cụ thể nào liên quan đến con người và coi con người là đối tượng của Triết học. Socrates là một trong những tư tưởng gia Hy Lạp cổ đại đầu tiên kêu gọi giới học giả và các nhà lãnh đạo quốc gia đương thời, những người quá chú tâm đến các công trình nghiên cứu thế giới tự nhiên, nên quan tâm nhiều hơn đến bản chất của con người. Ông xem con người là một con vật có lý trí, xã hội tính, có xác và hồn là một tổng thể thống nhất, ông tin có thượng đế là thần minh thấu suốt những điều tốt điều xấu và vì thế ông là người đầu tiên đề ra chuẩn mực đạo đức cho triết học về con người.
Đối với Socratess, con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả và bất cứ điều gì ảnh hưởng đến con người đều có tầm quan trọng quyết định. Tri thức về thế giới tự nhiên bên ngoài, nếu không có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống con người, chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Mọi tri thức có liên quan đến bản chất và cuộc sống của con người đều đáng được sở hữu và cần phải được tích luỹ. Hơn nữa, theo cách nói của Socratess, “cuộc sống vô minh thì không đáng để sống.”
Những quan điểm triết học của Socrates rất sâu sắc và thấm đẫm tính nhân văn; Trong triết học của ông về vấn đề con người, đạo đức con người có nhiều điểm tương đồng với Triết học nhân sinh quan của Phật giáo. Đó là điểm thú vị chứng tỏ sự sao lưu tư tưởng giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, đồng thời nó cũng chứng tỏ vấn đề con người, bản chất con người là một trong những vấn đề trọng tâm hàng đầu, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Triết học.
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐỀ CƯƠNG ÔN THI LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY SAU ĐẠI HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐỀ CƯƠNG ÔN THI LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY SAU ĐẠI HỌC

Là một điểm sáng trong bức tranh triết học chung của thế giới, triết học Hy Lạp cổ đại đã đóng góp cho sự hình thành và phát triết tư tưởng triết học nhân loại những giá trị to lớn, đặt nền móng ban đầu cho các học thuyết triết học sau này phát triển, đặc biệt là đã cống hiến cho Triết học Mác Lênin những hạt nhân hợp lý.Không mờ nhạt như triết học phương đông, triết học cổ đại Hy Lạp đề cập một cách sâu sắc đến hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học, đặc biệt là vấn đề bản thể luận và nhận thức luận những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Xem thêm

Đọc thêm

Chuyên đề 1Khái luận về triết học

Chuyên đề 1Khái luận về triết học

CHUYÊN ĐỀ 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC
1.1 Đối tượng và đặc điểm của triết học
a) Sự thống nhất giữa yếu tố nhận thức và nhận định trong triết học; tính khoa học và tính đảng trong triết học
Sự thống nhất giữa yếu tố nhận thức và nhận định trong triết học
Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại.
Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật.
Theo người Ấn Độ, triết học là darshana. Điều đó có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.
Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái. Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật.
Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới ra đời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật.
Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung. Đó là, triết học là một hệ thống trong đó có hai yếu tố khác nhau, thậm chí đối lập nhau là nhận thức và nhận định. Nhận thức là sự tìm kiếm, khám phá, nó đem lại những tri thức nhất định về đối tượng. Những tri thức mà triết học tìm kiếm là những tri thức lý luận, khái quát chung nhất. Nhận định là đánh giá, bày tỏ thái độ, nó đem lại những quan điểm hay những cái nhìn nhất định về đối tượng.
Tính khoa học và tính đảng trong triết học
Quan điểm về thế giới được gọi là thế giới quan, quan niệm về con người được gọi là nhân sinh quan. Triết học định hướng chung nhất cho hoạt động của con người bằng phương pháp luận.
Chủ nghĩa hư vô trong quan điểm lịch sử đồng nghĩa với sự dửng dưng đối với chính các vấn đề hiện tại, bởi lẽ nó hiểu lịch sử chỉ như những lát cắt rời rạc, không có mối liên hệ với nhau.
Quan điểm máy móc, siêu hình xem lịch sử triết học thuần túy chỉ như lịch sử đấu tranh giữa hai hệ thống thế giới quan và hai phương pháp triết học đối lập nhau, theo sự phân tuyến đơn giản: tốt – xấu, đúng – sai, khoa học – phản khoa học. Lý luận khoa học chân chính không nhìn vấn đề một chiều như thế, mà cố gắng làm sáng tỏ bức tranh đa dạng và phức tạp của sự phát triển tư duy triết học, từ đó rút ra tính quy luật của nó.
Sự thống nhất tính đảng (tính đảng phái) và tính khoa học (tính khách quan, chuẩn mực) trong việc xem xét các tư tưởng, học thuyết triết học trong lịch sử nhân loại đòi hỏi dựa vào cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, đồng thời nắm vững nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể, nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán, chủ quan đối với lịch sử.
Xem thêm

Đọc thêm

lich su triet hoc phuong dong

lich su triet hoc phuong dong

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
A . TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
HỌC THUYẾT “CHÍNH DANH” TRONG TƯ TƯỞNG
CỦA KHỔNG TỬ
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
UPANISHAD VÀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA UPANISHAD

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN CỦA TRIẾT HỌC DUY VẬT Ở HY LẠP CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN CAO HỌC VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN CỦA TRIẾT HỌC DUY VẬT Ở HY LẠP CỔ ĐẠI

MỞ ĐẦU

Nền triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học phương tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương tây sau này. Nền triết học trung cổ là khoảng lặng của những phách nhạc thời gian trải qua hàng ngàn năm. Rồi mới được thăng hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời kỳ phục hưng. Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng trắng quá dài. Từ những âm ba của những nốt nhạc thăng trầm đó mà ta có cả nền triết học cận và hiện đại như nay. Trong bản nhạc giao hưởng đầy tính bác học của triết học phương tây, mà khúc dạo đầu lại rực rỡ âm sắc trang hoàng đó là những trường phái triết học Hy Lạp cổ đại, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh để khảy lên bằng chính đôi tay của người phàm tục.
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác. Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Phương Tây nói chung và Triết học Phương Tây từ cổ đại đến cận đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học thế giới.
Đối tượng của triết học phương Tây nói chung ngoài phần siêu hình học bàn về những ý niệm trừu tượng như bản thể, ý thức, hư vô... còn lại là những hành trình vào các vấn đề cụ thể có liên quan tới con người như cảm giác, nhận thức, ký ức, hạnh phúc, đạo đức…. Các vấn đề về con người như con người tri thức thế giới xung quanh như thế nào, vai trò của con người trong quá trình nhận thức như thế nào… hay những vấn đề và xã hội như quan hệ giữa cá nhân và xã hội, ai quan trọng hơn, đạo đức là vấn đề xã hội hay vấn đề cá nhân, quan hệ giữa cá nhân và nhà nước… là trọng tâm trong quan điểm của các triết gia phương Tây.
Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và những đặc điểm cơ bản của từng giai đoạn phát triển triết học phương Tây là cơ sở để làm rõ được những thành tựu và giá trị tư tưởng mà triết học phương Tây đóng góp cho sự phát triển của nhân loại. Từ các vấn đề cần nghiên cứu nói trên, tác giả nghiên cứu đề tài : Vấn đề nhận thức luận của triết học duy vật ở Hy Lạp cổ đại”.Trong quá trình làm bài tiểu luận, em đã kết hợp những kiến thức được học cũng như là qua quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu. Tuy nhiên do kiến thức của em có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy em kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô cùng các bạn để bài làm của em được tốt hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Thuyết trình khái quát về triết học hy lạp cổ đại

THUYẾT TRÌNH KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy Lạp, không có khoa học và công nghiệp Hy Lạp”.
Engels : “Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phân công lao động lớn lao hơn trong công nghiệp và nông nghiệp, mới xây dựng được đất nước Hy Lạp giàu có. Nếu không có

35 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI _Đặc điểm thứ nhất,_ triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất của nhận thức nhân loại từ PTSX thứ nhất đến PTSX thứ[r]

37 Đọc thêm

TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI


LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại chúng ta không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó là triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại là những cái nôi của triết học thế giới, là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống triết học thế giới sau này. Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học mà sau này các học thuyết triết học khác từng bước giải quyết theo nội dung của thời đại mình. Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và giải quyết những vấn đề của tư duy triết học. Việc tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết học phương Đông, những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó chúng ta biết cách vận dụng những tinh hoa của hai nền triết học này, nâng cao khả năng tư duy, nhận thức thế giới, con người và xã hội.
Xem thêm

25 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG NHÂN CÁCH CỦA ARIXTỐT TRONG TÁC PHẨM ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA NICOMAQUE

TƯ TƯỞNG NHÂN CÁCH CỦA ARIXTỐT TRONG TÁC PHẨM ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA NICOMAQUE

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học và triết học Arixtốt sau: _Triết học Hy Lạp cổ đại_ do Thái Ninh biên soạn nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin ấn hành[r]

87 Đọc thêm

LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI

LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI

LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI
LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI
LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI
LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI
LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI
LỊCH SỬ 10: BÀI 4: HY LẠP VÀ RÔ MA CỔ ĐẠI

Đọc thêm

Hãy phân tích sự đối lập giữa triết học của đêmôcrít với triết học của platon về vấn đề bản thể luận

Hãy phân tích sự đối lập giữa triết học của đêmôcrít với triết học của platon về vấn đề bản thể luận

Hãy phân tích sự đối lập giữa triết học của Đêmôcrít với triết học của Platon về vấn đề bản thể luận?
Tư tưởng triết học ra đời rất sớm ở Hy Lạp cổ đại, nhưng với tư cách là một hệ thống (một nền) triết học hoàn chỉnh, nó xuất hiện khoảng thế kỷ VII đến đầu thế kỷ VI tr.CN. Do sự phát triển của kinh tế, nên sự phân công lao động diễn ra khá sâu sắc. Điều này đã góp phần hình thành tầng lớp trí thức. Đây là yếu tố quan trọng thúc nđẩy sự phát triển của khoa học nói chung và triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng. Chính cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc đã là những điều kiện chính trị quan trọng cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng cũng như sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung. Cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy vật và duy tâm của Đêmôcrít với đường lối triết học duy tâm thần bí của Platôn là cuộc đấu tranh điển hình trong lịch sử triết học, thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: bản thể luận, nhận thức luận, lôgic học, đạo đức học và chính trị xã hội.
Xem thêm

Đọc thêm