NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA NGHIỆM PHÁP ĐI BỘ Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nghiên cứu giá trị của nghiệm pháp đi bộ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định":

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC) NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ hsCRP VÀ TNFα HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH CÓ HAY KHÔNG CÓ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HUẾ

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC) NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ HSCRP VÀ TNFΑ HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH CÓ HAY KHÔNG CÓ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HUẾ

(LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC) NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ hsCRP VÀ TNFα HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH CÓ HAY KHÔNG CÓ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HUẾ (LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC) NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ hsCRP VÀ TNFα HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH CÓ HAY KHÔNG CÓ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HUẾ (LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC) NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ hsCRP VÀ TNFα HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH CÓ HAY KHÔNG CÓ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HUẾ (LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC) NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ hsCRP VÀ TNFα HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH CÓ HAY KHÔNG CÓ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HUẾ
Xem thêm

51 Đọc thêm

Nghiên cứu nồng độ vitamin d huyết thanh ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Nghiên cứu nồng độ vitamin d huyết thanh ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

biết về vai trò của vitamin D ngày càng đầy đủ, vai trò của vitamin D với cácmô khác ngoài xương ngày càng được quan tâm chú ý nhiều hơn của các nhàkhoa học [2], [3]. Nhiều công trình nghiên cứu đều công nhận thiếu vitamin Dlà phổ biến, ước tính có khoảng 30 – 50 % số người thiếu vitamin D, thiếuvitamin D được công nhận là vấn đề sức khỏe toàn cầu trên toàn thế giới [4].Sự thiếu hụt vitamin D đã được chứng minh có liên quan đến gia tăng mắcmột số bệnh mạn tính: đái tháo đường, ung thư, bệnh tự miễn, bệnh tim mạch,bệnh truyền nhiễm và một số bệnh mạn tính khác trong đó có COPD [5].Bệnh nhân COPD dễ bị thiếu hụt vitamin D do giảm tiếp xúc ánh sángmặt trời, thay đổi quá trình tổng hợp da của vitamin D do tuổi tác, cung cấpdinh dưỡng không đầy đủ, giảm hấp thu của đường ruột và gan, ảnh hưởngcủa thuốc điều trị đến chuyển hóa vitamin D. Gần đây vai trò của vitamin D2với các bệnh mạn tính trong đó có COPD nhận được nhiều sự chú ý của cácnhà khoa học. Nhiều nghên cứu gần đây cho thấy sự thiếu hụt vitamin D làphổ biến và có sự liên quan với tiên lượng của bệnh COPD, tuy nhiên cho đếnnay chưa có bằng chứng xác thực nào cho thấy thiếu hụt vitamin D có liênquan đến tăng nguy cơ mắc hoặc tăng tỷ lệ đợt cấp COPD.Tại Việt nam đã có một số nghiên cứu về vitamin D trên bệnh nhân mắccác bệnh nội khoa như: loãng xương, bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống, xơgan, đái tháo đường, trẻ em suy dinh dưỡng… tuy nhiên chưa có công trìnhnghiên cứu nào về vitamin D trên bệnh nhân COPD. Vì vậy chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nồng độ vitamin D huyết thanh ởbệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” với 2 mục tiêu chính:1. Đánh giá nồng độ vitamin D huyết thanh bệnh nhân bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính.2. Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ vitamin D
Xem thêm

Đọc thêm

KIẾN THỨC VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI NHÀ TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH CỦA BỆNH NHÂN BỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH BỆNH VIỆN THANH NHÀN

KIẾN THỨC VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI NHÀ TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH CỦA BỆNH NHÂN BỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH BỆNH VIỆN THANH NHÀN

Chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về kiếnthức của bệnh nhân BPTNMT.1. Tìmhiểu kiến thức chung của bệnh nhân vềđiều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giaiđoạn ổn định.2. Tìm hiểu kiến thức của bệnh nhân bệnh phổitắc nghẽn mạn tính về sử dụng thuốc dự phòngtại nhà.Định nghĩa Là một tình trạng bệnh lý phổi Đặc trưng bởi sự tắc nghẽn lưu lượng khí thở rakhông hồi phục hoàn toàn Tiến triển từ từ tăng dầnCác yếu tố nguy cơ Các yếu tố liên quan đến môi trường Các yếu tố liên quan đến cơ địaTiến triển và biến chứng Bệnh tiến triển từ Biến chứng sau Bội nhiễm phổi: Viêm phổi, áp xe phổi
Xem thêm

34 Đọc thêm

Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định

NGHIÊN CỨU ALBUMIN NIỆU VI THỂ Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH DO THUỐC LÁ GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) đặc trưng bỡi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và là hậu quả của sự tiếp xúc lâu ngày với các chất và khí độc hại. Quá trình viêm mất cân bằng của hệ thống Proteinase, anti- Proteinase, sự tấn công của các gốc oxy tự do, làm phá hủy cấu trúc đường thở cũng như nhu mô phổi dẫn đến suy giảm chức năng hô hấp. gây ra sự khó thở và các triệu chứng hô hấp khác, và ngày càng làm xấu đi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây ra cả về tử suất cũng như bệnh suất ở các quốc gia đã và đang phát triển. Từ năm 1990 BPTNMT được thế giới xếp hạng là nguyên nhân thứ 12 gây ra tử vong và tàn phế nhưng có thể thành nguyên nhân thứ 3 vào năm 2020. Ở bệnh nhân BPTNMT, tỉ lệ sống sót trong thời gian 10 năm chỉ khoảng 50% chiếm hơn 1/3 số bệnh nhân tử vong do suy hô hấp[26]. Ở nước ta, tại hội thảo "Kiểm soát hen và BPTNMT" tổ chức tại TP.HCM ngày 11/3/2007, tiến sĩ Suzanne Hurd - Chủ tịch Hội đồng khoa học thuộc Tổ chức Phòng chống bệnh hen và BPTNMT toàn cầu cho biết, Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc bệnh BPTNMT cao nhất châu Á - Thái Bình Dương với 6,7% dân số với trên 4 triệu người mắc hen; trong đó 3.000 người tử vong/năm[53]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuyên và cộng sự đã báo cáo năm 2010. Nghiên cứu thực hiện 25.000.000 người lớn từ 15 tuổi trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh thành phố đại diện cho dân số Việt Nam từ tháng 09/2006 đến 06/2007, kết quả: Tỉ lệ mắc BPTNMT chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi 2,2%, tỉ lệ mắc BPTNMT ở Nam là 3,4% và ở nữ là 1,1%. Tỉ lệ mắc BPTNMT ở lứa tuổi 40 là 4,2%, trong khi đó lứa tuổi dưới 40 là 0,4%. Ở nông thôn có tỉ lệ mắc BPTNMT cao hơn ở miền núi và thành thị. Miền Bắc có tỉ lệ BPTNMT cao nhất 5,7% so với Miền Trung là 4,6% và Miền Nam là 1,9%. Các yếu tố nguy cơ chủ yếu là do hút thuốc gây tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 4 lần[17]. Hiện nay một số nghiên cứu chứng minh rằng, ở những bệnh nhân BPTNMT do tình trạng thiếu oxy máu kéo dài, có thể do tác hại của thuốc lá hoăc do các chất trung gian phản ứng viêm gây tổn thương màng lọc cầu thận làm rò rỉ một lượng protein niệu hay còn gọi là albumin niệu vi thể có trong nước tiểu bệnh nhân BPTNMT. Đây cũng là dấu ấn sinh học quan trọng để phát hiện sớm và điều trị kịp thời những biến chứng tim mạch và hạn chế tử vong ở bệnh nhân BPTNMT. Cơ chế sinh bệnh chủ yếu là do ảnh hưởng của cấu trúc và chức năng vi huyết quản hệ thống. Theo các tác giả Casanova C, de Torres JP, Navarro J, Aguirre-Jaime A và cộng sự Bệnh viện Universitario La Candelaria Tây Ban Nha nghiên cứu 129 bệnh nhân BPTNMT ổn định và 51 người hút thuốc lá được đo phế dung kế bình thường và không mắc bệnh tim mạch cho kiểm tra nồng độ albumin niệu và nhận thấy nồng độ albumin niệu ở nhóm bệnh nhân BPTNMT cao hơn ở nhóm hút thuốc lá (Bệnh nhân BPTNMT chiếm 24%, hút thuốc lá chiếm 6%)và có liên quan đến sự thiếu Oxy trong máu ( PaO2) [35]. Một nghiên cứu khác Bulcun E , Ekici M , Ekici A ,Kisa U Trường Đại học Y khoa Kirikkale Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu 66 bệnh nhân BPTNMT và 40 người hút thuốc đo phế dung kế bình thường cho kiểm tra albumin niệu vi thể cũng cho kết quả tỉ lệ albumin niệu vi thể ở bệnh nhân BPTNMT cao hơn hút thuốc lá và nhận thấy albumin niệu vi thể phụ thuộc vào tình trạng nặng lên BPTNMT và nồng độ PaO2 trong máu[31]. Tuy nhiên trong nước chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định” Nhằm các mục tiêu: 1 .Khảo sát nồng độ albumin niệu vi thể ở bệnh nhân BPTNMT do thuốc lá giai đoạn ổn định bằng chỉ số albumin/creatinin niệu.Nong do albumin nieu the 2. Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ albumin niệu vi thể với tuổi, số lượng thuốc lá được dùng, BMI, thời gian phát hiện bệnh, khó thở theo mMRC, HA tâm thu, HA tâm trương, FEV1, FVC, khí máu động mạch, lipid máu.
Xem thêm

94 Đọc thêm

Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần biết potx

BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CẦN BIẾT POTX

Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần biết Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tínhbệnh không chữa khỏi hoàn toàn, bệnh liên tục tiến triển nặng dần, các bệnh nhân khi có chẩn đoán thường cần dùng thuốc kéo dài, các bệnh nhân này cần có hiểu biết tương đối đầy đủ về bệnh của họ. Hãy cảnh giác với bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) Bạn có biết? - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( BPTNMT hay COPD) là một trong những bệnh gây tàn phế và có tỉ lệ tử vong cao. - Số người mắc bệnh và tần suất tử vong đang có chiều hướng gia tăng. - COPD làm suy giảm chức năng hô hấp, hạn chế khả năng hoạt động hàng ngày và làm giảm chất lượng cuộc sống bệnh nhân. - Bệnh nhân thường đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh trong giai đoạn muộn, khi tình trạng tắc nghẽn đã nặng. - Việc đánh giá không đúng mức về COPD góp phần làm gia tăng tần suất bệnh và tăng gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là gì ? COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) là tình trạng bệnh lý phổi, với sự giới hạn thông khí không thể hồi phục hoàn toàn, gây nên tình trạng tắc nghẽn lưu thông khí, gia tăng lượng khí cặn trong phổi, làm bệnh nhân khó thở. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường xảy ra các đối tượng: - Nam giới, tuổi > 40.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đặc điểm bệnh tim mạch kết hợp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Đặc điểm bệnh tim mạch kết hợp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Mục tiêu: Tìm hiểu đặc điểm bệnh tim mạch kết hợp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang 162 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính từ 01 - 2016 đến 10 - 2018.

Đọc thêm

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Mục đích của luận án nhằm đánh giá giá trị của xét nghiệm D-dimer và các thang điểm Wells, Geneva cải tiến trong chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có D-dimer ≥ 1 mg/l FEU.

Đọc thêm

Đặc điểm lâm sàng, X quang phổi, điện tim và siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp

Đặc điểm lâm sàng, X quang phổi, điện tim và siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp

Bài viết trình bày nhận xét đặc điểm lâm sàng, X quang phổi, điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp.

Đọc thêm

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người già pps

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH Ở NGƯỜI GIÀ

thể sinh hoạt bình thường, bệnh thường đáp ứng tốt với những thuốc giãn phế quản. Cần khám để phân biệt bệnh phổi TNMT và bệnh hen. Chẩn đoán và điều trị bệnh phổi TNMT Tổ chức phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính toàn cầu (www.goldcopd.com) đã đưa ra các tiêu chí chẩn đoán và điều trị bệnh phổi TNMT. Các triệu chứng chính là ho dai dẳng, khạc đàm, khó thở, thở khò khè. Khó thở người bệnh phổi TNMT tiến triển ngày càng nặng hơn, dai dẳng ngày này qua ngày khác, làm cho bệnh nhân luôn cảm thấy nặng ngực, thiếu khí, hụt hơi. Để chẩn đoán chắc chắn bệnh phổi TNMT, bệnh nhân cần được đo chức năng hô hấp (còn gọi là hô hấp ký). Đây là xét nghiệm khá đơn giản, bệnh nhân thổi hơi vào máy đo theo hướng dẫn của thầy thuốc. Kết quả đo chức năng hô hấp cho biết có bị bệnh phổi TNMT hay không? Bị mức độ mấy từ đó có phác đồ điều trị thích hợp. Hiện nay Tổ chức phòng chống bệnh phổi TNMT chia thành phân loại bệnh theo 4 mức độ (4 giai đoạn): giai đoạn 1 (nhẹ), giai đoạn 2 (trung bình), giai đoạn 3 (nặng), giai đoạn 4 (rất nặng). Điều trị bệnh phổi TNMT theo từng giai đoạn. Thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh như: salbutamol, terbutaline, fenoterol… hoặc kết hợp với kháng cholinergic như: ipratroium, oxitropium… có thể dùng bất kì giai đoạn nào khi có cơn khó thở. Từ giai đoạn 2, bệnh nhân được cho dùng thêm thuốc giãn phế quản tác dụng dài như: salmerterol, formoterol… Từ giai đoạn 3, bệnh nhân được cho dùng thêm các thuốc corticoid dạng hít như khi có các đợt khó thở cấp tái phát. Đến giai đoạn 4, bệnh nhân được cân nhắc cho dùng thêm oxy lâu dài. Người mắc bệnh phổi TNMT có thể hay bị các đợt khó thở cấp tính còn gọi là đợt kịch phát, nguyên nhân chính thường do nhiễm trùng đường thở hoặc ô nhiễm không khí. Khi lên cơn cấp, bệnh nhân cần nhanh chóng sử dụng các thuốc xịt, bơm giãn phế quản và đến cơ sở y tế gần nhất, để được điều trị nhằm tránh biến chứng suy hô hấp, nhiễm trùng nặng, thậm chí tử vong. Phòng ngừa, ăn uống và tập luyện Đối với tất cả các giai đoạn, bệnh nhân đều được yêu cầu bỏ thuốc lá, tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ (khói bụi,
Xem thêm

4 Đọc thêm

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

và 7,3/1.000 nữ.• Một nghiên cứu Tây Ban Nha cho tất có khoảng 9.1% người độ tuổi từ 40-69 bị COPD. Trong số đó có 78% là nam giới.• Tỷ lệ tử vong do COPD thay đổi tùy theo nước. Chẳng hạn như có 400/100.000 trường hợp tử vong nam giới độ tuổi 65-74 tại Romania, trong khi đó tỷ lệ này Nhật Bản là dưới 100/100.000 người.NGUYÊN NHÂNHút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốcHút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây COPD. COPD xảy ra khoảng 15% người nghiện thuốc và việc sử dụng thuốc lá chiếm 90% nguy cơ mắc bệnh này.Hút thuốc lá thụ động hoặc tiếp xúc với khói thuốc cũng làm gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dẫn đến giảm chức năng của phổi.Những người hút thuốc là có thể tích thở ra gắng sức (FEV - forced expiratory volume) giảm rất nhanh. FEV là thể tích không khí tối đa mà người đó có thể thở ra trong vòng một khoảng thởi gian quy định ngay sau khi hít vào hết mức. Con số nhỏ phía dưới chỉ khoảng thời gian quy định tính bằng giây. Chẳng hạn như FEV1 là thể tích không khí tối đa có thể thở ra trong vòng 1 giây. Giảm FEV làm cho người bệnh thở hơi ngắn và khó thở.Ô nhiễm không khíNgười ta vẫn chưa xác định được chắc chắn việc ô nhiễm không khí có gây COPD hay không. Tuy nhiên, nếu có thì hậu quả của nó cũng nhỏ so với thuốc lá.Tăng nhạy cảm đường dẫn khíMột số bệnh nhân COPD bị tăng nhạy cảm đường dẫn khí, là tình trạng đường dẫn khí phản ứng quá mức với những chất kích thích từ không khí,
Xem thêm

12 Đọc thêm

Hút thuốc lá – Nguyên nhân gây ra bệnh COPD ppt

HÚT THUỐC LÁ – NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH COPD

Cũng theo khuyến cáo của WHO, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có tỷ lệ lưu hành cao những nước sử dụng nhiều thuốc lá. Tại Việt Nam, đây là bệnh khá phổ biến với tần xuất ngày càng tăng do tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề trong khi tập quán hút thuốc lá không giảm. Theo một nghiên cứuBộ Y tế thực hiện trên gần 2.600 người Hà Nội, gần 7% số người trên 40 tuổi bị COPD. Chi phí cho điều trị COPD hơn 3 triệu đồng/năm. ""Đối với bệnh nhân COPD, biện pháp tốt nhất là không nên hút thuốc, làm việc trong môi trường trong sạch, tập luyện thể thao thường xuyên, sống vui vẻ lạc quan Bệnh cần được phát hiện sớm khi có biểu hiện ho và khạc đờm thường xuyên, khó thở khi gắng sức"", BS Ngô Quý Châu đã có lời khuyên như vậy.
Xem thêm

3 Đọc thêm

 DUNG TÍCH HÍT VÀO IC CỦA BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

DUNG TÍCH HÍT VÀO IC CỦA BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

DUNG TÍCH HÍT VÀO CỦA BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TÓM TẮT Mục tiêu: Khảo sát dung tích hít vào (IC) của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính sau điều trị thuốc giãn phế quản. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích. Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) và được theo dõi, điều trị với seretide và salbutamol (ventoline). Ngoài ra, các trường hợp đều được đo chức năng hô hấp trước và sau điều trị với thời gian giữa hai lần đo ít nhất trong bốn tuần. Kết quả: Từ 2/2006 đến 2/2007, có 73 bệnh nhân BPTNMT (57 nam và 16 nữ). Tất cả họ có tuổi từ 40 trở lên. 49 trường hợp (67%) hút thuốc lá, trung bình 32  16 gói/năm. Số trường hợp BPTNMT giai đoạn II là 24; giai đoạn III là 34; và giai đoạn IV là 15. Sau điều trị thuốc giãn PQ, chỉ số IC tăng 330 ml và 22%; và FEV1 tăng 210 ml và 18% so với trước điều trị. Sự cải thiện này đều xảy ra tương tự các giai đoạn (II, III và IV) của BPTNMT cũng như từng lứa tuổi và đều có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Ngoài ra, sự tăng IC và FEV1 sau khi điều trị thuốc giãn phế quản nhóm hút thuốc lá là có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), ngược lại nhóm không hút thuốc lá sự thay đổi này không có ý nghĩa (P > 0,05). Đồng thời, khi phân tích nhiều mức độ khác nhau, thì giá trị P của IC luôn luôn có ý nghĩa thống kê hơn giá trị P của FEV1. Kết luận: Sự thay đổi của dung tích sống hít vào (IC) dùng để đánh giá đáp ứng điều trị thuốc giãn phế quản cho bệnh nhân BPTNMT tốt hơn là sự thay đổi của FEV1. ABSTRACT THE SURVEY OF INSPIRATORY CAPACITY IN COPD PATIENTS AFTER TREATED WITH BRONCHODILATORS Vo Minh Vinh, Quang Van Tri * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - Supplement of No 4 - 2008: 173 - 177 Objectives: to survey inspiratory capacity in COPD patients after treated with
Xem thêm

16 Đọc thêm

Viêm phế quản pdf

VIÊM PHẾ QUẢN

đơn thuốc long đờm khi bệnh nhân có ho tương đối khan hoặc đờm quá đặc không thể khạc ra ngoài. Bệnh nhân cần theo dõi đờm về màu sắc, số lượng, độ đặc để có thể biết được tình trạng nhiễm trùng hô hấp. Khi đó, bác sĩ có thể cho dùng kháng sinh phổ rộng từ 5 - 10 ngày để điều trị nhiễm trùng. Trong trường hợp bạn quá cân, bác sĩ sẽ khuyên nên ăn kiêng để tránh quá tải cho tim. Nếu bạn bị kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đã được xác định thông qua kết quả bất thường trên phế dung kế thì bác sĩ có thể kê đơn thuốc dãn phế quản kháng hệ thống cholinergic. Đây là những thuốc giúp làm dãn tạm thời các phể quản bị hẹp trong phổi. Các bác sĩ cũng có thể sử dụng thuốc nhóm steroid để làm giảm hiện tượng viêm trong các phế quản. Tuy nhiên biện pháp điều trị quan trọng nhất và thành công nhất cho bệnh VPQ mạn tínhbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là ngưng hút thuốc. Các công trình nghiên cứu cho thấy nếu bạn ngưng hút thuốc, thậm chí khi bệnh VPQ mạn tính và viêm phổi tắc nghẽn mạn tính đang trong giai đoạn tiến triển thì không những giúp làm giảm đi độ nặng của các triệu chứng mà còn giúp cải thiện tiên lượng cuộc sống. Trong trường hợp VPQ mạn tính có kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng, thì cơ thể bị suy giảm về khả năng vận chuyển oxy từ phổi vào máu. Do đó bác sĩ có thể cho bạn thở oxy liên tục hoặc tùy theo nhu cầu. Những thiết bị cung cấp oxy hiện nay đang được phổ biến một cách rộng rãi. Nếu bạn sử dụng bình oxy tại nhà thì phải đặc biệt chú ý không được đặt thiết bị gần những chất dễ cháy nổ như rượu, xăng, các loại bình xịt hoặc gần những nguồn nhiệt như bếp, máy sấy tóc, lò sưởi Chế độ điều trị tại nhà như thế nào?  VPQ cấp tính: Khi bị sốt, thở nhanh, khò khè thì bạn nên nhà, giữ ấm, uống nhiều nước. Không cần thiết phải luôn nằm tại giường, và cũng không nên vận động quá nhiều. Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ trong bình chứa đầy nước nóng.  VPQ mạn tính: Tránh tiếp xúc với nước sơn, xúc động
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn pps

TẬP LUYỆN VỚI NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN

Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn Đối với người bình thường việc hô hấp không làm tiêu hao năng lượng gì nhiều, khi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), các cơ hô hấp phải hoạt động nhiều hơn nhưng lại không được cung cấp đủ ôxy nên rất mau mệt. Đến giai đọan nặng, ngay cả những việc thông thường như tắm rửa, mặc áo quần cũng làm khó thở do đó họ ngại vận động dẫn đến hậu quả là giảm khối lượng và sức mạnh của cơ. Điều này giải thích tại sao tập luyện rất cần cho bệnh nhân BPTNMT. Tập duỗi cơ: là kéo dãn cơ chân và cánh tay trước và sau buổi tập để chuẩn bị cơ cho buổi tập và giúp đề phòng bị chấn thương. Tập duỗi cơ đều đặn sẽ làm tăng phạm vi vận động và độ mềm dẻo của gân cơ. Tập làm tăng sức chịu đựng (tập aerobic): là phương pháp tập sử dụng đều đặn một khối lượng lớn các cơ. Kiểu tập nay cũng làm mạnh tim, phổi và cải thiện khả năng tiêu thụ ôxy của cơ thể. Với thời gian nó giúp làm giảm nhịp tim, hạ huyết áp, việc thở được cải thiện. Những môn tập aerobic thích hợp là: đi bộ, đạp xe ngoài trời hoặc tại chỗ Một phương pháp đơn giản và dễ dàng nhất là đi bộ: hãy bắt đầu với quãng ngắn và đánh dấu độ dài bao xa trước khi bạn bắt đầu thấy mệt. Hãy dừng lại và nghỉ khi bắt đầu thấy khó thở. Khi đi bạn đếm mỗi lần bạn hít vào mất bao nhiêu bước ví dụ 2 bước, sau đó bạn thở ra bằng cách chúm môi lại và kéo dài với số bước gấp đôi là 4 bước. Tập cho cơ mạnh lên: làm co các cơ lặp đi lặp lại nhiều lần đến khi mỏi mệt. Phương pháp làm mạnh các cơ phần trên của cơ thể đặc biệt rất có ích cho bệnh nhân BPTNMT vì đồng thời cũng làm mạnh các cơ hô hấp. Bạn có thể dùng tạ nhỏ hoặc dây đàn hồi để thực hành các bài tập này. Tập thở: Có hai phương pháp giúp người mắc BPTNMT thấy dễ thở hơn: Tập thở. Thở chúm môi: là cách thở khi hít vào qua mũi đồng thời miệng ngậm kín, khi thở ra
Xem thêm

3 Đọc thêm

TẦN SUẤT BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

TẦN SUẤT BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

KẾT QUẢ- BÀN LUẬN Đặc điểm dân số nghiên cứu Tuổi trung bình 58 ± 12,2 Giới: Nam: 106 (82,8%) Nữ: 22 (17,2%) Tỉ lệ hút thuốc là khá cao là 70% (90/128 bệnh nhân) Chức năng hô hấp

8 Đọc thêm

Triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ppt

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Những bệnh nhânbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường có các biểu hiện sau : - Bệnh nhân tuổi thường trên 40, có tiền sử hút thuốc hoặc nghề nghiệp có tiếp xúc với khói, bụi ô nhiễm - Bệnh nhân thường đến khám vì ho, khạc đờm, khó thở: + Ho: nhiều về buổi sáng, ho cơn hoặc ho thúng thắng, có kèm khạc đờm hoặc không. + Đờm: nhầy, trong, trừ đợt cấp có bội nhiễm thì màu vàng. + Khó thở: khi gắng sức, xuất hiện dần dần, cùng với ho hoặc sau đó một thời gian; giai đoạn muộn có khó thở liên tục. Bệnh nhân có thể được chia thành 2 nhóm sau + Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhóm A: khó thở nhiều, người gầy, thiếu oxy máu lúc nghỉ ít. + Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhóm B: thiếu oxy máu và tăng carbonic nhiều, khó thở ít. Khám lâm sàng - Kiểu thở: thở mím môi nhất là khi gắng sức. - Có sử dụng các cơ hô hấp phụ: cơ liên sườn, co kéo hõm ức, hố thượng đòn. - Đường kính trước sau của lồng ngực tăng lên (lồng ngực hình thùng). - Gõ lồng ngực thấy vang như trống, biểu hiện này rất rõ những bệnh nhân có lồng ngực hình thùng. - Nghe phổi những bệnh nhân này có thể thấy tiếng tim mờ nhỏ, tiếng thở của phổi giảm hơn người bình thường, có thể nghe thấy những tiếng lép bép khi có bội nhiễm. Các biểu hiện của suy tim như: - Mắt lồi như mắt ếch, nhìn thấy nổi nhiều vằn đỏ. - Nhịp tim nhanh, có thể có loạn nhịp hoàn toàn. - Nhìn tĩnh mạch vùng cổ thấy nổi và có thể đập theo nhịp tim. - Dấu hiệu đau vùng gan gặp những trường hợp suy tim, làm gan to và đau.
Xem thêm

10 Đọc thêm

BỆNH ÁN HÔ HẤP 4 doc

BỆNH ÁN HÔ HẤP 4 DOC

+ Tăng huyết áp 02 năm, HA max: 170/100mmhg + Nằm viện điều trị COPD 4 lần/ 2 năm, lần gần đây trước nhập viện 5 ngày. + 3 tháng nay: bệnh nhân thường xuyên thấy khó thở khi đi lại trong nhà. + Bệnh nhân vừa xuất viện về nhà được 5 ngày, đang uống thuốc theo toa của BVĐK TW Cần Thơ chẩn đoán: Đợt cấp COPD/Tăng huyết áp, thuốc điều trị về nhà: Augmentin 1g 1Vx3 lần uống, Medrol 16mg 1 viên uống, Nexium 40mg 1 viên uống, Kaleoride 0,6g 1 viên x 2 lần uống, Coversyl 5mg 1 viên uống. VI. Chẩn đoán sơ bộ: Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mức độ nặng/ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn III biến chứng tâm phế - Tăng huyết áp độ III ( JNC VI) theo dõi nguy cơ C*Chuẩn đoán phân biệt: Viêm phổi bệnh viện nặng / tăng huyết áp độ III ( JNC VI) theo dõi nguy cơ C - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn III.* Biện luận chẩn đoán: - Đợt cấp COPD mức độ nặng: bệnh nhân đang điều trị COPD có biểu hiện tăng khó thở, ho, tăng khạc đàm, đàm vàng nhạt, suy hô hấp: thở co kéo cơ hô hấp phụ nhiều, tím môi, đầu chi, phổi rale rít, ngáy. Mức độ nặng bệnh nhân: có 4 đợt cấp trong 2 năm, năm nay >1 đợt cấp, COPD giai đoạn III, thở co kéo cơ hô hấp phụ nhiều, các triệu chứng còn ít sau khi điều trị ban đầu. Để chẩn đoán được rõ hơn ta cần tiêu chuẩn vàng đo chức năng hô hấp sau khi dùng test dãn phế quản ( FEV1/ FVC < 70 và FEV1)- COPD giai đoạn III: triệu chứng khó thở xuất hiện thường xuyên, bệnh nhân đi lại trong nhà thấy mệt ( giảm gắng sức). Lồng ngực bệnh nhân hình thùng có tiền sử viêm phế
Xem thêm

8 Đọc thêm

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính docx

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH DOCX

*Thể xanh phị( Typ BB Blue bloatter ) : viêm phế quản mạn tính chiếm ưu thế thường người béo bệu, tím tái, ho khạc đờm nhiều năm rồi mới khó thở, hay có nhiễm khuẩn phế quản, hay gặp những đợt suy hô hấp, tâm phế mạn xuất hiện sớm: phù mắt cá chân, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, hay kèm theo hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ. Xquang: hình ảnh phổi bẩn, bóng tâm thất phải rộng. Đo khí máu: giảm PaO2, thường kèm theo tăng PaCO2, tăng hồng cầu và Hematocrit. * Cần chú ý rằng: - Khó thở trước rồi sau mới ho, khạc đờm ít là khí phế thũng chiếm ưu thế . - Ho khạc đờm trước rồi sau mới khó thở, hay có đợt bội nhiễm phế quản, suy hô hấp, tâm phế mạn là viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn chiếm ưu thế 4. Chẩn đoán: 4.1 . Chẩn đoán xác định: - Bệnh nhân trên 40 tuổi, thường là nam giới, tiền sử hút thuốc lâu năm. + Ho và khạc đờm, khó thở trên 2 năm. + Tiền sử hay có đợt nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. + Xquang phổi: có thể có hội chứng phế quản, khí phế thũng. + Đo thông khí phổi: tắc nghẽn lưu lượng thở không hồi phục ( FEV1 < 80% số lý thuyết, test hồi phục phế quản âm tính ). 4.2. Chẩn đoán phân biệt : - Hen phế quản: khó thở từng cơn tái diễn, cơn khó thở tự khỏi hoặc hết sau khi dùng thuốc giãn phế quản, đo thông khí phổi có rối loạn tắc nghẽn hồi phục test hồi phục phế quản ( + ). - Ngoài ra, cần chẩn đoán phân biệt BPTNMT với: tắc nghẽn đường thở trên, thoái hoá nhầy nhớt và viêm tiểu phế quản tận cùng. 5. Dự phòng và điều trị : 5.1. Phòng bệnh: - Cần bỏ thuốc lá, có thể dùng các biện pháp hỗ trợ bỏ thuốc. - Tăng cường chế độ dinh dưỡng: dùng các Vitamin A,C, E,(chống oxy hoá )
Xem thêm

5 Đọc thêm

Thời tiết chuyển mùa, người cao tuổi dễ mắc, tái phát bệnh đường hô hấp pot

THỜI TIẾT CHUYỂN MÙA NGƯỜI CAO TUỔI DỄ MẮC TÁI PHÁT BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP

Thời tiết chuyển mùa, người cao tuổi dễ mắc, tái phát bệnh đường hô hấp Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ cơ thể của người cao tuổi (NCT) rõ nét mỗi khi thời tiết chuyển mùa, nhất là từ nóng sang lạnh. Trong các bệnh mà NCT dễ mắc phải hoặc tái phát khi chuyển mùa thì bệnh về đường hô hấp là loại bệnh hay gặp nhất. Những bệnh đường hô hấp Với NCT thì khi sức đề kháng yếu đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virút, vi khuẩn, vi nấm). Đường hô hấp được phân chia thành đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Bệnh viêm mũi, họng, thanh quản là một bệnh thuộc đường hô hấp trên, loại bệnh này có thể gặp quanh năm nhưng khi thời tiết chuyển muà, nóng sang lạnh thì NCT dễ gặp phải. Người cao tuổi bị COPD dễ trở nặng khi thời tiết chuyển mùa Bệnh thể hiện bằng hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở. Có thể ho khan hoặc có đờm. Đờm có thể là màu trắng, đặc quánh hoặc lỏng, đôi khi có một ít máu tươi do có tổn thương một số mạch máu nhỏ đường hô hấp trên gây ra. Nếu viêm họng kéo dàithì cơn ho sẽ làm cho NCT rất khó chịu nhất là gây đau thượng vị, kẽ liên sườn do cơ hoành bị kích thích nhiều gây co kéo. Viêm họng mạn tính kéo dài hoặc viêm mũi mạn tính rất có thể biến chứng viêm xoang gây nhức đầu. Viêm đường hô hấp dưới NCT khi thời tiết chuyển mùa có thể gặp viêm phế quản, viêm phổi. Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính NCT thân nhiệt ít tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ và dễ bỏ qua cho nên khi bệnh đã nặng thì gây không ít khó khăn cho điều trị. Một số người có bệnh mạn tính như
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ppt

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( BPTNMT : Chronic obsttructive pulmonary disease-COPD ) là một bệnh có đặc điểm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường xuyên bị hạn chế không hồi phục hoặc chỉ hồi phục một phần, tiến triển, thường có tăng phản ứng đường thở, do viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng gây ra Có thể coi BPTNMT là một loại bệnh do biến chứng của viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng và hen phế quản mức độ không hồi phục. Cần được coi là loại bệnh mạn tính nặng, để có biện pháp phòng và điều trị sớm. Chẩn đoán BPTNMT khi có tắc nghẽn đường thở cố định do viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng gây ra, hen phế quản có tắc nghẽn đường thở cố định không hồi phục cũng gọi là BPTNMT . 2. Dịch tễ của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh phổ biến trên thế giới. Mỹ ( 1995 ) có khoảng 14 triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với tỷ lệ dao động từ 4-6% nam và 1-3% nữ giới da trắng tuổi trưởng thành. Châu Âu, chỉ số lưu hành của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính từ 23-41% những người nghiện thuốc lá , tỷ lệ nam/ nữ là 10/1.Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây tử vong đứng hàng thứ 5 trong các nguyên nhân gây tử vong trên thế giới. Tại Pháp tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 20.000 người / năm. 3. Lâm sàng: Chủ yếu gặp 2 thể của BPTNMT: *Thể thổi hồng (Typ PP Pink Puffer ) : khí phế thũng chiếm ưu thế, có đặc điểm: người gầy, khó thở là chủ yếu, ít ho khạc đờm, ít bị nhiễm khuẩn phế quản, tâm phế mạn xuất hiện muộn ( thường bị giai đoạn cuối ) phù không rõ, ngực hình thùng, rút lõm cơ ức đòn chũm, gõ vang, phổi rì rào phế nang giảm. Đo thông khí phổi, khí cặn tăng rõ, RV/ TLC tăng. Khí máu bình thường, chỉ giảm PaO2 nhẹ.Xquang: căng giãn phổi, tim hình giọt nước. *Thể xanh phị( Typ BB Blue bloatter ) : viêm phế quản mạn tính chiếm ưu thế thường người béo bệu, tím tái, ho khạc đờm nhiều năm rồi mới
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cùng chủ đề