TÓM TẮT CÁC PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM DOCX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "TÓM TẮT CÁC PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM DOCX":

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

có điều kiện để mở rộng việc cướp đoạt thị trường thế giới. Để thực hịên việc này, tư sản Pháp đã sử dụng các giáo sĩ làm công cụ, họ khoác lên mình áo tôn giáo để tiến hành truyền bá gây cơ sở trong nhân dân, chuẩn bị cho hành động xâm lược trước khi thời cơ đến. Nhưng cùng với việc xâm nhập của các giáo sĩ, khoa học kỹ thuật phương Tây cũng bước đầu được giới thiệu ở Việt Nam . Vì vậy, đã có một số người yêu nước thức thời thấy được sức mạnh của văn minh học thuật phương Tây nên đã đột phá hàng rào "Bế quan toả cảng" của nhà Nguyễn, sẵn sàng tiếp nhận những tiến bộ của thế giới để cứu nước như: Nguyễn Trường Tộ, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu.Những cuộc gặp gỡ, bút đàn với các chính khách Trung Quốc, Nhật Bản đã tạo ra sự nhất trí trong giới sĩ phu yêu nước về việc chuyển mục tiêu xuất dương cầu viện sang xuất dương cầu học. Bước chuyển đó đã tạo nên một không khí cách mạng sôi nổi. Phong trào Đông Du lan rộng khắp Bắc, Trung, Nam và việc ra đời của Đông Kinh nghĩa thục (1907) đã thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng dân trí và phong trào chống thuế ở Trung kỳ (1908), các sĩ phu Đông Du vẫn không được chính quyền Nhật giúp đỡ và cuối cùng chính phủ Nhật đã trục xuất những người Việt Nam yêu nước ra khỏi đất Nhật theo đề nghị của Pháp.Ngoài tác động của các sự kiện từ Nhật Bản, thời kỳ này gồm có các sự kiện xảy ra tại Trung Hoa. Đối với nước ta Trung Hoa không chỉ là đồng văn, đồng chủng, mà còn là nước cùng cảnh ngộ, ảnh hưởng Nho giáo Trung Quốc ở Việt Nam hết sức sâu đậm. Thời kỳ này nhiều tác phẩm của phái cấp tiến Trung Quốc đã đưa vào Việt Nam với nhiều nhân vật nổi tiêng như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu với nhiều cải cách mới mẻ và tiến bộ. Tuy nhiên các cuộc cải cách đó cũng dần dần đi vào thất bại, Khang Hữu Vi - Lương Khải Siêu bị truy nã phải chạy sang Nhật. Các cuộc đấu tranh nói trên đã dẫn tới cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) của giai cấp tư sản do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Cuộc cách mạng này như Lênin đánh giá "đã kết thúc chế độ phong kiến tồn tại hai nghìn năm đưa quan niệm dân chủ cộng hoà vào sâu trong tận đáy lòng mọi người".Đối với Việt Nam những sự kiện trên đã ảnh hưởng mạnh mẽ và tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho phong trào Duy Tân nảy nở. Cuối cùng sự chuyển biến của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 20 chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và chủ nghĩa Mác- Lênin. Những tư tưởng này mới
Xem thêm

8 Đọc thêm

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

có điều kiện để mở rộng việc cướp đoạt thị trường thế giới. Để thực hịên việc này, tư sản Pháp đã sử dụng các giáo sĩ làm công cụ, họ khoác lên mình áo tôn giáo để tiến hành truyền bá gây cơ sở trong nhân dân, chuẩn bị cho hành động xâm lược trước khi thời cơ đến. Nhưng cùng với việc xâm nhập của các giáo sĩ, khoa học kỹ thuật phương Tây cũng bước đầu được giới thiệu ở Việt Nam . Vì vậy, đã có một số người yêu nước thức thời thấy được sức mạnh của văn minh học thuật phương Tây nên đã đột phá hàng rào "Bế quan toả cảng" của nhà Nguyễn, sẵn sàng tiếp nhận những tiến bộ của thế giới để cứu nước như: Nguyễn Trường Tộ, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu.Những cuộc gặp gỡ, bút đàn với các chính khách Trung Quốc, Nhật Bản đã tạo ra sự nhất trí trong giới sĩ phu yêu nước về việc chuyển mục tiêu xuất dương cầu viện sang xuất dương cầu học. Bước chuyển đó đã tạo nên một không khí cách mạng sôi nổi. Phong trào Đông Du lan rộng khắp Bắc, Trung, Nam và việc ra đời của Đông Kinh nghĩa thục (1907) đã thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng dân trí và phong trào chống thuế ở Trung kỳ (1908), các sĩ phu Đông Du vẫn không được chính quyền Nhật giúp đỡ và cuối cùng chính phủ Nhật đã trục xuất những người Việt Nam yêu nước ra khỏi đất Nhật theo đề nghị của Pháp.Ngoài tác động của các sự kiện từ Nhật Bản, thời kỳ này gồm có các sự kiện xảy ra tại Trung Hoa. Đối với nước ta Trung Hoa không chỉ là đồng văn, đồng chủng, mà còn là nước cùng cảnh ngộ, ảnh hưởng Nho giáo Trung Quốc ở Việt Nam hết sức sâu đậm. Thời kỳ này nhiều tác phẩm của phái cấp tiến Trung Quốc đã đưa vào Việt Nam với nhiều nhân vật nổi tiêng như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu với nhiều cải cách mới mẻ và tiến bộ. Tuy nhiên các cuộc cải cách đó cũng dần dần đi vào thất bại, Khang Hữu Vi - Lương Khải Siêu bị truy nã phải chạy sang Nhật. Các cuộc đấu tranh nói trên đã dẫn tới cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) của giai cấp tư sản do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Cuộc cách mạng này như Lênin đánh giá "đã kết thúc chế độ phong kiến tồn tại hai nghìn năm đưa quan niệm dân chủ cộng hoà vào sâu trong tận đáy lòng mọi người".Đối với Việt Nam những sự kiện trên đã ảnh hưởng mạnh mẽ và tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho phong trào Duy Tân nảy nở. Cuối cùng sự chuyển biến của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 20 chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và chủ nghĩa Mác- Lênin. Những tư tưởng này mới
Xem thêm

8 Đọc thêm

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

chống giặc ngoại xâm và xây dựng chủ nghĩa xã hội.Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cánbộ người dân tộc thiểu số và coi đây là nhân tố có tính quyết định đểthực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng ta, là yêu cầu kháchquan của cách mạng Việt Nam. Vấn đề cán bộ vốn đã có vị trí đặc biệtquan trọng, đối với miền núi và vùng dân tộc thiểu số càng quan trọnghơn nhiều vì ở vùng núi dân trí thấp; ít người biết tiếng phổ thông vàchữ phổ thông, việc tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách củaĐảng, Nhà nước lại ít dùng tiếng dân tộc cho nên khả năng tiếp thu củacác đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, ở miền núi và vùng dân tộcthiểu số, vai trò của cán bộ địa phương có ý nghĩa quyết định trực tiếp.Nhân dân các dân tộc hiểu biết, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước thôngqua những cán bộ đảng viên, tận tâm, gắn bó với dân. Người coi cán bộlà gốc của mọi công việc cho nên cần đặc biệt chú trọng đến đào tạo vàbồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời tăng cường đoànkết giữa cán bộ tại chỗ và cán bộ ở nơi khác đến, làm động lực thúc đẩysự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. HồChí Minh coi cán bộ là những người đem chính sách của Đảng và Nhànước giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tìnhhình của nhân dân báo cho Đảng và Nhà nước hiểu rõ đặt chính sáchcho phù hợp, đúng đắn.1.3. NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁCDÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAMTheo Hồ Chí Minh các dân tộc trong cộng đồng dân tộc ViệtNam phải bình đẳng cả quyền và nghĩa vụ trên tất cả các lĩnh vực:kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Quyền bình đẳng đó còn phải đượchiện thực hóa, thể chế hóa trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng vàNhà nước.Quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc trong cộngđồng dân tộc Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong di sản tư
Xem thêm

19 Đọc thêm

PHÁT HUY BÀI HỌC SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY

PHÁT HUY BÀI HỌC SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY

(8).Chính vì vậy, Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Nhạy bén trong việc xác định rõ kẻ thù, mục tiêu cách mạng trong từng thời điểm, kịp thời đề ra khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của quần chúng.Ngày 12-3-1945, đúng ba ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Đảng ta đã kịp thời chỉ rõ kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt duy nhất của nhân dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là phát-xít Nhật và quyết định thay khẩu hiệu “Đánh đuổi phát-xít Nhật - Pháp’’ bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát-xít Nhật’’. Chỉ thị cũng nhấn mạnh đến việc phải mở rộng cơ sở của Mặt trận Việt Minh, nhằm đoàn kết, tập hợp 2mọi lực lượng nhân dân vào cao trào kháng Nhật cứu nước. Đó chính là thực hiện chính sách đoàn kết, phân hóa hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ. Một tháng sau khi Chỉ thị ra đời, ngày 12-4-1945, Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị quan chức ái quốc Việt Nam và Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị huynh thứ ái quốc. Nội dung các lời kêu gọi ấy đã góp phần đẩy nhanh quá trình phân hóa và tranh thủ một bộ phận vào lúc cách mạng bùng nổ.Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói’’ đã đáp ứng nguyện vọng khẩn thiết, cấp bách trước sự sinh tồn của đại đa số nhân dân, là một nghệ thuật phát động quần chúng, hình thức đấu tranh thích hợp nhất lúc bấy giờ để đưa hàng triệu quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp đến hình thức đấu tranh cao, từ đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị. Chính vì vậy, phong trào phá kho thóc, giải quyết nạn đói của quần chúng, không chỉ có ý nghĩa kinh tế trước mắt, mà còn có nội dung chính trị sâu sắc. “Khẩu hiệu này đưa ra giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang diễn ra ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, do đó, đã thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền’’(9).Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Toàn dân nổi dậy, cả nước đồng lòng đứng lên. Từ chiến khu về đồng bằng,
Xem thêm

6 Đọc thêm

MẶT TRẬN VIỆT MINH VÀ NHỮNG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ 1941- 1945

MẶT TRẬN VIỆT MINH VÀ NHỮNG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ 1941- 1945

cũng như nhân dân các thuộc địa của chúng. Trong thời gian đó, chính phủ phản động Pháp đã tham gia chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Nhưng chỉ đến tháng 6-1940, đế quốc Pháp đã bị phát xít Đức đánh bại.Chính sự thất bại của Pháp ở Châu Âu là một dịp tốt cho phát xít Nhật đánh chiếm Đơng Dương rồi dùng Đơng Dương làm bàn đạp để tấn cơng vào các thuộc địa của Anh và Pháp ở Thái Bình Dương. Trước sức mạnh của mũi súng, ngày 23/9/1940 Đờ-cu_tên tồn quyền ở Đơng Dương đã quỳ gối đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Tình hình chính trị trong nước ta thời gian này cũng diễn ra tương đối phức tạp. Ngày Pháp đầu hàng Nhật, dựa vào Nhật để đàn áp cách mạng Việt Nam thì cũng là lúc bắt đầu cuộc sống “một cổ hai tròng” của nhân dân ta, bắt đầu thời kì cả hai lũ quỷ Nhật-Pháp thi nhau róc xương, hút tuỷ dân ta. Về phía Pháp, ngay khi tình hình chính trị khơng có lợi cho chúng, chúng đã bắt tay ngay vào cơng cuộc vơ vét, hút máu dân ta đến cùng. Chúng tung ra chiêu bài “chính sách chỉ huy” rêu rao là làm cho nền kinh tế Đơng dương được ổn định, đời sống nhân dân được bảo đảm. Nhưng thực chất cái gọi là nền kinh tế chỉ huy đó cốt để tăng cường đầu cơ,độc quyền kinh tế, bóc lột dân ta thậm tệ hơn. Mặt khác, chúng lại tăng thuế khơng ngừng,lạm phát giấy bạc trầm trọng,làm cho đồng bạc mất giá, nền tài chính Đơng Dương khủng hoảng chưa từng thấy. Đồng thời, chúng ra pháp lệnh thu mua lương thực của dân ta một cách cưỡng bức. Chính những thủ đoạn tàn bạo đó của Pháp-Nhật đã gây nên một thảm hoạ vơ cùng khủng khiếp, mỗi khi nhớ lại chúng ta càng bầm gan tím ruột. Đó chính là thảm trạng 2 triệu đồng bào ta chết đói trong mấy tháng đầu năm 1945. Đó là một trong những tội ác mà qn cướp nước đã ghi vào lịch sử dân tộc ta những nét đẫm máu khơng bao giờ phai nhạt được. Khơng đơn thuần chỉ là những vơ vét cạn kiệt về nhân tài và vật lực. Bọn thực dân Pháp còn ra sức khủng bbó các lực lượng u nước; xố bỏ hết thảy mọi quyền dân chủ mà nhân dân Việt Nam đã dành được trong thời kì 1936-1939.Chúng khủng bố Đảng Cộng Sản Đơng Dương, giả tán các hội ái hữu, thủ tiêu quyền tự do hội họp, tự do báo chí; tịch thu báo chí tiến bộ, bắt bớ hàng loạt THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾNnhững người u nước. Về mặt chính quyền, chúng đã “qn nhân hố” và “phát
Xem thêm

34 Đọc thêm

THƯƠNG NHỚ, KÍNH YÊU BẰNG CÁCH LÀM ĐÚNG LỜI DẶN CỦA NGƯỜI

THƯƠNG NHỚ, KÍNH YÊU BẰNG CÁCH LÀM ĐÚNG LỜI DẶN CỦA NGƯỜI

- Con tim của triệu triệu người Việt Nam, từ khi Người còn sống cho đến nay - sau 40năm Người không còn nữa - vẫn dành trọn vẹn cho Người tình yêu thương, lòng kính trọngvà ngưỡng mộ sâu sắc nhất. Với dân tộc Việt Nam, một trăm năm trở lại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân vật trung tâm củalịch sử, là ngọn cờ sáng chói nhất trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhấtđất nước. Điều này hầu như không có gì phải bàn cãi, sử sách Việt Nam, nhân dân và chính giới các nướctrên thế giới đều ghi nhận điều đó. Ảnh tư liệuNiềm kính yêu đó đã vượt qua không gian và thời gian. Những giọt nước mắt của hàng triệu đồngbào cả nước tiễn đưa Người về cõi vĩnh hằng 40 năm trước cũng là những giọt nước mắt nghẹnngào khi nghe lại lời ca tiếng hát cất lên từ Quảng trường Ba Đình, nơi Người yên nghỉ trong đêm“Hồ Chí Minh - cả một đời vì nước, vì dân” mới đây.Đó là điều đặc biệt về một nhân vật lịch sử đặc biệt. Trong suốt 30 năm trời ấy (1911-1941), từbuổi xuống tàu trên bến Nhà Rồng đến ngày trở về Pác Bó, trên hành trình vạn dặm tìm đườngcứu nước, khắp bốn biển năm châu, Hồ Chủ Tịch một mình bôn ba, khi ẩn khi hiện. tìm ánh sángđưa dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ. Cũng thật đặc biệt khi Người không có một cuộc sống gia đình như mọingười bình thường khác, không có nhà cửa, tài sản cá nhân, chỉ biết hy sinhvà cống hiến, lấy sự nghiệp của dân tộc làm hạnh phúc của đời mình.Nhiều nhà văn, nhà báo, nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và nghiệp dư chuyên viết về nhânvật lịch sử thậm chí còn xem cuộc đời Người là một bí ẩn, bí ẩn của một huyền thoại lịch sử. Vàhọ muốn giải mã sự bí ẩn đó.Trên con đường khám phá, có người phát hiện được những tình tiết bất ngờ và thú vị về một conngười thật, thật như bao con người bình thường khác trên trái đất này. Nhưng cũng có người tìmtòi đâu đó những mẩu chuyện rời rạc, đôi khi mâu thuẫn nhau rồi chắp nối lại, bằng sự phong phúcủa tưởng tượng xây dựng nên nhân vật “tiểu thuyết” khác xa với nhân vật “nguyên mẫu”.Những năm gần đây, người ta có thể tìm thấy trong một số cuốn sách ở hải ngoại, trên một sốwebsite những trang viết như thế. Nhưng lịch sử vốn công bằng, cuộc đời cũng công bằng, chỉsớm hay muộn, mọi sự uẩn khúc đều đến lúc sáng tỏ.
Xem thêm

4 Đọc thêm

THUYẾT TRÌNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG 2 docx

THUYẾT TRÌNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG 2 DOCX

tế cộng sản…”, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính.chân chính.771.2.3. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc với giai 1.2.3. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH, chủ nghĩa yêu nước cấp, độc lập dân tộc và CNXH, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.với chủ nghĩa quốc tế.Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Hồ Chí Minh Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng Việt Nam phải trải xác định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: làm “tư sản dân quyền cách qua hai giai đoạn: làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Do đó, “giành được độc lập rồi phải tiến lên sản”. Do đó, “giành được độc lập rồi phải tiến lên CNXH…”. “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn CNXH…”. “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội”.liền với yêu chủ nghĩa xã hội”.Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc khác. “Phải đấu tranh cho tự do, độc lập của các
Xem thêm

17 Đọc thêm

SỨC MẠNH NHÂN DÂN CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

SỨC MẠNH NHÂN DÂN CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

on kt gn vi u tranh, t phờ bỡnh, phờ bỡnh trờn tỡnh ng chớ, ngha ng bo cng c s thng nht bn cht. Phỏt huy cỏc yu t tng ng gii quyt nhng mõu thun khỏc bit. M rng Mt trn, tp hp cỏc lc lng, liờn minh giai cp, tranh th cỏc lc lng trung gian, phõn húa, cụ lp k thự, kiờn quyt ỏnh bi cỏc th lc phn ng u s, ngoan c. i on kt bng lũng nhõn ỏi, khoan dung, lng, bng gng sỏng cng sn. Túm li - T tng H Chớ Minh v i on kt th hin tớnh sỏng to, c ỏo, rt Cỏch mng, rt nhõn vn v rt Vit Nam. - T tng H Chớ Minh v i on kt y p tớnh hnh ng, thc tin. - T tng H Chớ Minh v i on kt chớnh l mt h thng nhng lun im, quan im, phng phỏp giỏo dc, t chc, hng dn lc lng Cỏch mng, lc lng nhõn dõn nhm phỏt huy n mc cao nht sc mnh dõn tc, quc t trong s nghip u tranh vỡ c lp dõn tc, dõn ch v Ch ngha xó hi. THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 12 II. Những chủ trương lớn của Đảng về đại đồn kết tồn dân tộc trong giai đoạn hiện nay Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua đã chứng tỏ sức sống diệu kỳ và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng đại đồn kết Hồ Chí Minh. Tiến vào thế kỉ XX, đất nước ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thử thách. Nền kinh tế thị trường dần dần di vào chiều sâu tác động mạnh đến đời sống kinh tế, xã hội, đến quan hệ cộng đồng. Q trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang đặt ra những vấn đề cần giải quyết. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong và ngồi nước ngày càng tinh vi, quyết liệt. Bối cảnh quốc tế từng ngày, từng giờ diễn biến phức tạp. Một bộ phận Đảng viên, cán bộ bộc sự yếu kém, thối hóa biến chất làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân. Đó là những nhân tố khơng thuận đang tác động đến khối đại đồn kết tồn dân. Nhận thức được tình hình trong thời kỳ mới, Đảng ta đã đưa ra những chủ
Xem thêm

30 Đọc thêm

Slide bài giảng chương 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh pptx

SLIDE BÀI GIẢNG CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH PPTX

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng của phong trào cách mạng nước ta.phong trào cách mạng nước ta.112.3. Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc 2.3. Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộcbao gồm toàn dân tộcCách mạng giải phóng dân tộc là “việc chung của Cách mạng giải phóng dân tộc là “việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, phải đoàn kết toàn dân.người”, phải đoàn kết toàn dân.““Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”.để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”.Trong lực lượng đó “công–nông là gốc của cách Trong lực lượng đó “công–nông là gốc của cách mạng”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ mạng”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ…chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông nhỏ…chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.
Xem thêm

17 Đọc thêm

MẶT TRẬN VIỆT MINH VÀ NHỮNG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ 1941-1945

MẶT TRẬN VIỆT MINH VÀ NHỮNG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ 1941-1945

làm bàn đạp để tấn cơng vào các thuộc địa của Anh và Pháp ở Thái Bình Dương. Trước sức mạnh của mũi súng, ngày 23/9/1940 Đờ-cu_tên tồn quyền ở Đơng Dương đã quỳ gối đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Tình hình chính trị trong nước ta thời gian này cũng diễn ra tương đối phức tạp. Ngày Pháp đầu hàng Nhật, dựa vào Nhật để đàn áp cách mạng Việt Nam thì cũng là lúc bắt đầu cuộc sống “một cổ hai tròng” của nhân dân ta, bắt đầu thời kì cả hai lũ quỷ Nhật-Pháp thi nhau róc xương, hút tuỷ dân ta. Về phía Pháp, ngay khi tình hình chính trị khơng có lợi cho chúng, chúng đã bắt tay ngay vào cơng cuộc vơ vét, hút máu dân ta đến cùng. Chúng tung ra chiêu bài “chính sách chỉ huy” rêu rao là làm cho nền kinh tế Đơng dương được ổn định, đời sống nhân dân được bảo đảm. Nhưng thực chất cái gọi là nền kinh tế chỉ huy đó cốt để tăng cường đầu cơ,độc quyền kinh tế, bóc lột dân ta thậm tệ hơn. Mặt khác, chúng lại tăng thuế khơng ngừng,lạm phát giấy bạc trầm trọng,làm cho đồng bạc mất giá, nền tài chính Đơng Dương khủng hoảng chưa từng thấy. Đồng thời, chúng ra pháp lệnh thu mua lương thực của dân ta một cách cưỡng bức. Chính những thủ đoạn tàn bạo đó của Pháp-Nhật đã gây nên một thảm hoạ vơ cùng khủng khiếp, mỗi khi nhớ lại chúng ta càng bầm gan tím ruột. Đó chính là thảm trạng 2 triệu đồng bào ta chết đói trong mấy tháng đầu năm 1945. Đó là một trong những tội ác mà qn cướp nước đã ghi vào lịch sử dân tộc ta những nét đẫm máu khơng bao giờ phai nhạt được. Khơng đơn thuần chỉ là những vơ vét cạn kiệt về nhân tài và vật lực. Bọn thực dân Pháp còn ra sức khủng bbó các lực lượng u nước; xố bỏ hết thảy mọi quyền dân chủ mà nhân dân Việt Nam đã dành được trong thời kì 1936-1939.Chúng khủng bố Đảng Cộng Sản Đơng Dương, giả tán các hội ái hữu, thủ tiêu quyền tự do hội họp, tự do báo chí; tịch thu báo chí tiến bộ, bắt bớ hàng loạt THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 5những người u nước. Về mặt chính quyền, chúng đã “qn nhân hố” và “phát xít hố”. Chúng chọn và đưa những tên khát máu lên nắm chính quyền, do đó chúng đã thi hành những chính sách đàn áp dã man, đã tắm nhân dân ta trong bể máu.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC pps

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC PPS

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng của phong trào cách mạng nước ta.phong trào cách mạng nước ta.112.3. Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc 2.3. Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộcbao gồm toàn dân tộcCách mạng giải phóng dân tộc là “việc chung của Cách mạng giải phóng dân tộc là “việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, phải đoàn kết toàn dân.người”, phải đoàn kết toàn dân.““Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”.để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”.Trong lực lượng đó “công–nông là gốc của cách Trong lực lượng đó “công–nông là gốc của cách mạng”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ mạng”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ…chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông nhỏ…chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.
Xem thêm

17 Đọc thêm

VẤN ĐỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG CỦA CÁC DÂN TỘC VÙNG SÂU VÙNG XA

VẤN ĐỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG CỦA CÁC DÂN TỘC VÙNG SÂU VÙNG XA

ging cu xin tr thnh nhng iu xng ca va tr tỡnh, li va trang nghiờm, cỏc ng tỏc cu xin tng ng cng khụng phm tc nh nhng ng tỏc sinh hot hng ngy, m chỳng ó cỏch iu hoỏ thnh cỏc chui ng tỏc nhy mỳa Tt c nhng hỡnh thc biu hin nh vy u cú trong cỏc l hi c truyn, m ngy nay khi quan sỏt chỳng ta luụn nhn thy c mt cỏi gỡ ú cỏc l hi ny, ng ngha vi vic th cỳng thỡ l hot ng song song l tớn ngng th cỏc v thn ca dõn tc hay mt vi v thn linh no ú. Cú th núi rng, ni dung chớnh ca mt l hi l th cỳng cỏc v thn linh, nhng mi v thn li din t mt mong mung c vng rt riờng, biu hin nhn thc ca con ngi v mt mỏnh hin thc. Do vy mi núi rng, l hi l ni thc hnh (1) Trớch vn hoỏ dõn gian Vit Nam trong bi cnh ụng Nam ỏ - inh Khỏnh THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 11 các tín ngưỡng nó được ra đời và hình thành để thực hiện một tín ngưỡng, nó có nguồn gốc từ các tín ngưỡng. -Có thể nói rằng, về thực chất, tín ngưỡng ấy là sự phản ánh những nhận thức ban đầu của lồi người về các hiện thực tự nhiên và xã hội ở buổi bình minh của lịch sử (nên nó còn được các nhà nhân học, dân tộc học… gọi là tơn giáo sơ khai, hoặc tự nhiên…). Một số người theo thuyết tiến hố luận như : Jfrazen, E.B Tylor, Ư.Wundt… thì cho rằng về bản chất thì tơn giáo và tín ngưỡng khơng có gì khác nhau về bản chất vì chúng đều là những phương thức nhận thức hiện thực tác động trở lại hiện thực được đặc định bởi sự từ bỏ tìm kiếm thú vui và bởi sự lựa chọn đối tượng bên ngồi phụ thuộc vào những lề thói và những u sách của hiện thực. Trước những lời giải thích như vậy thì chúng ta có thể tiến hành mơ hình hố của những quan niệm về thế giới như sau : Quan niệm về sự phát triển của ý thức trong thế giới
Xem thêm

39 Đọc thêm

TÓM TẮT CÁC MÔN HỌC - CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TỔNG QUÁT -ĐH HOA SEN

TÓM TẮT CÁC MÔN HỌC - CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TỔNG QUÁT -ĐH HOA SEN

TÓM TẮT MÔN HỌC 1. Giới và phát triểnMôn học này nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa những hiểu biết về giới và các chiến lược phát triển, vốn là mối quan tâm của ngành xã hội học và các ngành khoa học xã hội khác. Môn học giới thiệu những khái niệm căn bản trong nhập môn khoa học về giới: phân biệt giới tính và giới, sự phân công lao động theo giới, hai gánh nặng của người phụ nữ, bình đẳng giới, nhu cầu giới, phụ nữ trong phát triển, giới và phát triển và sơ đồ tăng quyền lực cho phụ nữ. Nội dung cũng giới thiệu hai văn kiện quan trọng giúp cho sinh viên hiểu những trọng tâm của các phong trào phụ nữ trên thế giới cũng như những cam kết của các chính phủ: 12 lĩnh vực quan tâm của hội nghị thế giới về phụ nữ ở Bắc Kinh và công ước quốc tế về sự xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ.2. Đạo đức kinh doanhMôn học này thảo luận và đánh giá trách nhiệm đạo đức của các nhà quản lý và các cơ quan công quyền, doanh nghiệp (DN). Môn học sẽ giúp sinh viên (SV) khám phá những vấn đề thực tiễn trong quan điểm quản trị cũng như quan điểm đa dạng khác, và phân tích những xung đột phức tạp và vấn đề khó xử, thông qua các nghiên cứu tình huống. SV tiếp cận được các phạm trù đạo đức trong môi trường cạnh tranh cua thời hội nhập. Môn học này cần trang bị cho SV tất cả các ngành và các hệ. SV vừa học lý thuyết trên lớp, vừa đi thực tế tại các cơ quan công quyền, DN…để viết báo cáo môn học (BCMH) theo nhóm.3. Dẫn nhập phương pháp nghiên cứuMôn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các phương pháp tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống và mang tính khoa học. Sinh viên sẽ được giới thiệu về các bước thực hiện một nghiên cứu, từ đặt vấn đề, tổng quan tài liệu, thu thập thông tin, cho đến hoàn thành và báo cáo đề án nghiên cứu. Sinh viên sẽ được giới thiệu về những thiết kế nghiên cứu khác nhau, về cách chọn mẫu, cách đo đạc, và cách thức tổ chức nghiên cứu để có thể tự mình áp dụng vào các đề án nghiên cứu của mình sau này.4. Đạo đức nghề nghiệpMôn đạo đức nghề nghiệp không mang tính giáo điều, không nhằm dạy cho sinh viên những giá trị đạo đức (moral values) hay chuẩn mực xã hội (social norms) như các môn học đạo đức truyền thống. Ngược lại, môn học này sẽ cung cấp cho sinh viên những nền tảng của ‘ethics’ để sinh viên có thể phân tích, suy xét, phản biện và xây dựng những chuẩn mực đạo đức (ethical standards) cho
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÓM TẮT CƠ BẢN VỀ CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM

TÓM TẮT CƠ BẢN VỀ CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM

Tóm tắt cơ bản về cam kết gia nhập WTO của Việt Nam (Website Chính phủ) - Như Website Chính phủ đã đưa tin, ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại toàn cầu (WTO), kết thúc chặng đường 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy khó khăn, phức tạp. Để trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, do Việt Nam đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nên Việt Nam yêu cầu và được WTO chấp nhận lộ trình thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh...Về cam kết đa phươngKết quả mà Việt Nam đàm phán được là trong khoảng thời gian 12 năm (không muộn hơn 31/12/2018) WTO chấp nhận coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường" đối với Việt Nam. Chế độ "phi thị trường" này chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt Nam vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì sẽ được xem xét, xử lý theo quy định của WTO.Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất
Xem thêm

32 Đọc thêm

BÁO CÁO TÓM TẮT NGÀNH GIẤY VIỆT NAM

BÁO CÁO TÓM TẮT NGÀNH GIẤY VIỆT NAM

7. Chính sách thuế và ảnh hưởng của việc gia nhập WTO đối với ngành giấy ....................................... 12 8. Phân tích theo mô hình five forces ....................................................................................................... 13 9. Phân tích SWOT .................................................................................................................................. 14 10. Triển vọng ngành giấy Việt Nam ....................................................................................................... 15 11. Thống kê số liệu doanh nghiệp niêm yết ............................................................................................ 16 PHÒNG PHÂN TÍCH - CTCK HABUBANK 2 BÁO CÁO TÓM TẮT1. Tổng Quan 1.1. Lịch sử hình thành & phát triển Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại Việt Nam, khoảng năm 284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân gian, vàng mã… Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp công nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì. Trong thập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máy bột giấy Vạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai v.v. Năm 1975, tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm. Năm 1982, Nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã đi vào sản xuất với công suất thiết kế là 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000 tấn giấy/năm, dây chuyền sản xuất khép kín, sử
Xem thêm

19 Đọc thêm

GIỚI THIỆU TÓM TẮT PHẦN MỀM EOFFICE1

GIỚI THIỆU TÓM TẮT PHẦN MỀM EOFFICE1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘITRUNG TÂM AN NINH MẠNGGIỚI THIỆU TÓM TẮT PHẦN MỀM EOFFICE1. Đặt vấn đềCông cuộc tin học hoá cải cách hành chính ở Việt Nam đã được thực hiện trong gần 10 năm qua, nhưng những kết quả thu được còn khiêm tốn. Cho tới thời điểm này, phần lớn các cơ quan ban ngành, các doanh nghiệp ở Việt Nam đã có các hệ thống mạng nội bộ. Tuy nhiên máy tính vẫn chủ yếu hiệu quả trong công việc soạn thảo văn bản, hệ thống mạng còn được sử dụng rất hạn chế.Trong 4 năm qua Trung tâm An ninh mạng BKIS Đại học Bách Khoa Hà Nội đã nghiên cứu, thiết kế và xây dựng một phần mềm giúp cho các hệ thống mạng máy tính ở Việt Nam có thể được sử dụng hiệu quả hơn, phần mềm “eOffice – Văn phòng điện tử”.Vậy eOffice là gì, triết lý khi thiết kế và các chức năng chính của eOffice như thế nào ?2. Giới thiệueOffice – Văn phòng điện tử là hệ thống phần mềm trao đổi thông tin, điều hành tác nghiệp và quản lý trình duyệt công văn, văn bản, hồ sơ công việc trên mạng máy tính. Phần mềm được thiết kế thân thiện đối với người sử dụng, giao diện hoàn toàn tiếng Việt. Tiêu chí của eOffice là đưa đến cho người sử dụng phần lớn những tiện ích của mạng máy tính, của Internet nhưng với một cách tiếp cận tự nhiên nhất, giúp họ dần có một tác phong làm việc hiện đại, hiệu quả, dễ dàng tiếp cận với các ứng dụng công nghệ thông tin hơn.Tính năng của eOffice rất đa dạng, đáp ứng tối đa nhu cầu của người sử dụng máy tính văn phòng như gửi nhận email, gửi thông báo trong cơ quan tới từng cá nhân, hay tới nhóm, phòng ban. Bạn có thể hội thoại, nhắn tin, gửi file, trưng cầu ý kiến, gửi tin nhắn ra điện thoại di động, nhắc việc (tự nhắc mình, nhắc người khác qua mạng), lưu sổ địa chỉ... Đặc biệt, cũng trên hệ thống này, bạn cũng có thể xử lý, tạo, duyệt các công văn, giấy tờ theo những chu trình (luồng công việc) tự định nghĩa một cách rất mềm dẻo và tiện lợi.Vận dụng một triết lý hoàn toàn mới là “Khiến thông tin tìm đến với người sử dụng”, eOffice giúp bạn nắm bắt thông tin một cách nhanh nhất. Tính năng tự động thông báo (notify) sẽ thông báo cho bạn biết mỗi khi có thông tin mới với đầy đủ nội dung trích yếu, tên và ảnh của người gửi. Bạn cũng có thể tùy biến qui định những ai sẽ được notify.3. Mục tiêu
Xem thêm

7 Đọc thêm

 LUẬT TỤC CỦA CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM1

LUẬT TỤC CỦA CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM1

hình thức trung gian chuyển tiếp giữa luật và tục hay nói cách khác nó là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức sơ khai, hình thức tiền luật khác. Vì vậy nó phù hợp với các xã hội tiền công nghiệp, phù hợp với các cộng đồng nhỏ hẹp gắn với từng nhóm tộc người, từng địa phương cụ thể.Khác với luật pháp luật tục là một bộ phận của hệ thống xã hội và văn hoá cổ truyền, nó ra đời, biến đổi và tham gia chế định các hành vi cá nhân và cộng đồng dưới sự tác động của hệ thống xã hội và văn hoá tộc người, nó trở thành tình cảm, lương tâm và trách nhiệm thiêng liêng của mỗi thành viên với cộng đồng mà trước hết là cộng đồng gia tộc, dòng họ. Nó không phải là sự áp đặt của hệ thống cai trị đối với mỗi cá nhân mà là sự tự nguyên, tự giác của mỗi cá nhân với tư cách là chủ nhân của cộng đồng ấy. Luật tục mang tính đặc thù, tính địa phương, tính đa dạng. Mỗi làng người Việt có một bản hương ước riêng, mỗi mường của người Thái có bản luật Mường riêng…Do luật tục là một bộ phận của hệ thống xã hội, hệ thống văn hoá cho nên du luật tục đã hình thành và định hình trong qúa trình lịch sử lâu dài nhưng không vì vậy mà nó bất biến, trái lại nó luôn biến đổi theo những hoàn cảnh xã hội và văn hoá nhất định.43. Giá trị của luật tục- Luật tục là một sản phẩm của một xã hội nên nó là tấm gương phản chiếu sát thực xã hội tộc người. Luật tục đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống tộc người từ môi trường tự nhiên, quan hệ sản xuất và sở hữu, tổ chức và các quan hệ xã hội, hôn nhân, gia đình, tín ngưỡng, phong tục và lễ nghi… Đó là các chuẩn mực ứng xử đã được hình thành và định hình trong qúa trình lịch sử lâu dài của tộc người được mọi người chấp nhận và tự giác thực hiện như một thói quen, tập quán.- Luật tục là di sản văn hoá tộc người: luật tục đặc biệt là luật tục truyền miệng của các dân tộc ở Tây Nguyên là di sản văn hoá quý báu. Trong mỗi bộ luật tục nó không chỉ chứa đựng những sắc thái văn hoá độc đáo của mỗi tộc
Xem thêm

17 Đọc thêm

MỘT DÂN TỘC DỐT, MỘT DÂN TỘC ĐÓI NGHÈO LÀ MỘT DÂN TỘC YẾU

MỘT DÂN TỘC DỐT, MỘT DÂN TỘC ĐÓI NGHÈO LÀ MỘT DÂN TỘC YẾU

Tiểu luận Triết học 1LỜI MỞ ĐẦU "Dân tộc chúng tôi hiểu đầy đủ rằng: dân tộc mình là một dân tộc nghèo, một đất nước đang phát triển ở mức thấp… Chúng tôi hiểu rõ khoảng cách giữa nền kinh tế của chúng tôi và nền kinh tế của những nước phát triển trên thế giới. Chúng tôi hiểu rõ khoa học công nghệ trong thế kỷ 21 sẽ có những bước tiến khổng lồ. Thực hiện tư tưởng vĩ đại của chủ tịch Hồ Chính Minh: Lấy sức ta mà giải phóng cho ta, chúng tôi phải tri thức hoá Đảng, tri thức hoá dân tộc, tiếp tục tri thức hóa công nông, cả nước là một xã hội học tập, phát huy truyền thống những ngày mới giành được độc lập 45, cả nước học chữ, cả nước diệt giặc dốt, cả nước diệt giặc đói… Phải nắm lấy ngọn cờ khoa học như đã nắm lấy ngọn cờ dân tộc. Một dân tộc dốt, một dân tộc đói nghèo là một dân tộc yếu" (Lê Khả Phiêu - Tổng bí thư ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam - Phát biểu tại hội thảo quốc tế tại Việt Nam trong thế kỷ 20). Không, dân tộc chúng ta nhất định không phải là dân tộc yếu. Chúng ta đã từng chiến thắng bọn thực dân Pháp và đề quốc Mỹ. Thắng lợi đó là thắng lợi của lực lượng trí tuệ Việt Nam đối với lực lượng sắt thép và đô la khổng lồ của Mỹ. Con người Việt Nam đã làm được những điều tưởng như không thể làm được và tôi tin rằng, con người Việt Nam trong giai đoạn mới với những thử thách mới vẫn sẽ làm được những điều kỳ diệu như thế. Đất nước Việt Nam sẽ sánh vai được với các cường quốc năm châu cho dù hiện nay chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, rất nhiều sự đối đầu. Chính vì niềm tin bất diệt đó mà tôi chọn đề tài: "Đào tạo nguồn lực con người và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước" cho tiểu luận triết học của
Xem thêm

13 Đọc thêm

Báo cáo tóm tắt đề tài khao học công nghệ

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHAO HỌC CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ1. TÊN ĐỀ TÀINghiên cứu xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật chung để triển khai dịch vụ hành chính công trực tuyến tại Việt NamMã số: 27-11-KHKT-TCChủ trì đề tài: CN. Nguyễn Quỳnh Anh2. ĐƠN VỊ CHỦ TRÌViện chiến lược Thông tin và Truyền thôngĐịa chỉ liên hệ: CN. Nguyễn Quỳnh Anh, Ban Công nghệ thông tinĐiện thoại (84-4) 3 556 5328 (75); Email:nqanh@mic.gov.vn3. KẾT QUẢ CHÍNH CỦA ĐỀ TÀINhóm chủ trì đề tài đã hoàn thành việc nghiên cứu các nội dung theo đúng yêu cầu tại đề cương khoa học công nghệ đã được phê duyệt. Một số kết quả đạt được: Báo cáo khái quát về tình hình áp dụng một số quy chuẩn kỹ thuật tại Việt Nam và trên thế giới cho dịch vụ hành chính công trực tuyến  Báo cáo nghiên cứu đề xuất danh mục quy chuẩn về kiến trúc ứng dụng, mô hình hóa quy trình nghiệp vụ, truy cập và trình diễn thông tin, mô hình hóa và trao đổi dữ liệu, kết nối dịch vụ và an toàn thông tin.Với kết quả này, nhánh 2 của đề tài được cấu trúc thành (04) bốn chương:Chương 1: Tổng quan về dịch vụ hành chính công trực tuyếnDịch vụ công trực tuyến được thống nhất hiểu theo Nghị định số 43/2011-NĐ-CP ngày 13/06/2010 về Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước: “Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”. Do đó, “dịch vụ hành chính công trực tuyến là dịch vụ hành chính công của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”. “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực thông tin và truyền thông là quy chuẩn kỹ thật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức xây dựng và ban hành. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bao gồm các quy định kỹ thuật bắt buộc áp dụng và các quy định về quản lý nhằm bảo đảm các mục tiêu quản lý của Bộ
Xem thêm

4 Đọc thêm

khái niệm hệ thống luật

KHÁI NIỆM HỆ THỐNG LUẬT

kiện, thủ tục giải quyết một vụ án hình sự từ việc khởi tố, điều tra, kiểm sát và xét xử cácvụ án hình sự quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hình sự. Luật TTHScó nhiệm vụ bảo đảm nhanh chóng phát hiện tội phạm, điều tra chính xác và xét xửnghiêm minh, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân. Luật thể hiện rõ các nguyên tắcdân chủ , pháp chế và nhân đạo.12/ Luật quốc tế : Là hệ thống các QPPL được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận giữa các quốc giacó chủ quyền, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, các tổ chức quốc tế liênchính phủ được thành lập phù hợp với hiến chương liên hợp quốc, nhằm điều chỉnh cácquan hệ chính trị , kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật giữa các quốc gia và các tổ chức ởtrên, giữa các công dân, pháp nhân của các nước khác nhau trong lĩnh vực dân sự, hônnhân và gia đình, lao động và một số quan hệ khác.Quy phạm của luật được hình thành trên sự thỏa thuận và thể hiện ý chí chung củacác quốc gia.Luật gồm 2 bộ phận: công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế. Công pháp quốc tếđiều chỉnh các quan hệ về chính trị. Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự, laođộng, hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự phát sinh giữa các công dân, pháp nhân của cácquốc gia khác nhau.13/ Một số ngành luật khác: Luật ngân hàng, luật tài nguyên khoáng sản, luậtthương mại đang hình thành.Đà nẵng, ngày 25-11-2006.Biên tập: Nguuyễn Văn Đường3
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề