NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NUỐT Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CHƯA ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nghiên cứu đánh giá tình trạng nuốt ở bệnh nhân tai biến mạch máu não chưa đặt nội khí quản điều trị tại bệnh viện bạch mai":

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH SỌ NÃO Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHN VIỆT NAM CU BA - ĐỒNG HỚI" pot

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: " NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH SỌ NÃO Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHN VIỆT NAM CU BA - ĐỒNG HỚI" POT

5TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 52, 2009 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH SỌ NÃO BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHN VIỆT NAM CU BA - ĐỒNG HỚI Nguyễn Duy Bách, Bùi Văn Vĩ, Dương Thanh Bình Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba, Đồng Hới Hoàng Minh Lợi, Lê Trọng Khoan Bệnh viện Đại học Y Dược Huế TÓM TẮT Tai biến mạch máu não là bệnh lý không những gây tử vong cao mà còn để lại di chứng nặng nề về thần kinh và tâm thần, gánh nặng của xã hội. Đề tài này nhằm khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba, Đồng Hới. Nhóm nghiên cứu gồm 208 bệnh nhân chn đoán xác định trên lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính tai biến mạch máu não giai đọan cấp. Tỉ lệ nam/ nữ 1,5. Tuổi 41-70 có tỷ lệ mắc bệnh 80,77%. Bệnh nhân nhồi máu não chiếm 53,85%, bệnh nhân xuất huyết não chiếm 46,15%. Bệnh nhân tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 44,23%. Bệnh nhân nhồi máu não có thang điểm Glasgow mức độ trung bình chiếm 55,36%, nặng 27,68% và nhẹ 16,96%. Bệnh nhân xuất huyết não có thang điểm Glasgow mức độ nặng chiếm 62,5%, mức độ nhẹ chiếm 11,46%. Nhồi máu não bán cầu phải chiếm 40,18%, bán cầu
Xem thêm

8 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tai biến mạch máu não có tăng huyết áp

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CÓ TĂNG HUYẾT ÁP

quốc gia Hoa Kỳ năm 1992-1994, THA đợc kiểm soát tốt chỉ chiếm 27%. Vì vậy càng làm tăng tính nguy cơ của THA đối với TBMMN. a. Các thể tai biến mạch máu não thờng gặp trên bênh nhân tăng huyết áp: THA là nguyên nhân chính của TBMMN (79,18%) cả nhồi máu não và chảy máu não. THA lâu dài gây tổn thơng thành mạch, hình thành các mảng xơ vữa, tạo huyết khối tắc mạch; tạo các phình mạch nhỏ trong não, dễ gây nhồi máu ổ khuyết, chảy máu não. Vị trí xuất huyết não do THA điển hình thờng gặp 5 vị trí là bao trong, đồi thị, cầu não, tiểu não và thân não. b. Tăng huyết áp và ảnh hởng tới điều trị, tiên lợng tai biến mạch máu não giai đoạn cấp tính: có mối tơng quan thuận giữa mức độ 4 THA với mức độ tăng kích thớc khối máu tụ não, mức độ lan rộng của chảy máu não và tiên lợng của bệnh. 1.3. Khái niệm rối loạn tâm thần thực tổn Rối loạn tâm thần (RLTT) thực tổn có liên quan trực tiếp đến tổn thơng thực thể não hoặc các bệnh cơ thể ngoài não dẫn đến ảnh hởng chức năng não. Lâm sàng của RLTT thực tổn rất khác nhau, phụ thuộc vào nguyên nhân, mức độ tổn thơng nãotình trạng sức khỏe của ngời bệnh. RLTT thực tổn tiến triển hay thoái triển phụ thuộc vào sự tiến triển hay suy giảm của bệnh chính. 1.4. Đặc điểm rối loạn tâm thần bệnh nhân tai biến mạch máu não có tăng huyết áp 1.4.1. Rối loạn tâm thần tai biến mạch máu no giai đoạn cấp tính Đặc điểm lâm sàng chung của TBMMN giai đoạn cấp tính khởi phát đột ngột, triệu chứng thần kinh cùng các triệu chứng RLTT đa dạng nh thay đổi tính tình, cáu gắt hoặc lo lắng, hoảng sợ 1.4.2. Rối loạn tâm thần bệnh nhân tai biến mạch máu no có tăng
Xem thêm

15 Đọc thêm

Nhận xét chẩn đoán, xử trí tai biến mạch máu não ở phụ nữ mang thai và thời kỳ hậu sản tại Khoa thần kinh Bệnh viện Bạch Mai (từ 2004 - 2008)

NHẬN XÉT CHẨN ĐOÁN, XỬ TRÍ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO Ở PHỤ NỮ MANG THAI VÀ THỜI KỲ HẬU SẢN TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI (TỪ 2004 - 2008)

ĐặT VấN Đề Có thai và sinh con là thiên chức của nữ giới nhưng đó cũng là tình trạng quan trọng đối với sức khoẻ của người phụ nữ. Sự thay đổi về sinh lý trong suốt quá trình mang thai và hậu sản có thể làm tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Tai biến mạch máu não phối hợp với thai kỳ đã được biết đến từ rất nhiều năm và đó là nguyên nhân của hơn 12% tử vong mẹ [12], [13]. Tỉ lệ mắc trung bình từ 4,3 tới 210 ca trên 100.000 sản phụ [16], [18]. Sự xơ vữa mạch máu thì thường rất hiếm ở người trẻ nhưng lại có sự gia tăng của các nguyên nhân khác. Những yếu tố sinh lý bệnh ở phụ nữ mang thai gồm: tăng đông do thay đổi hệ thống đông máu, thay đổi độ nhớt và thể tích máu của mẹ, tắc mạch ối có nguồn gốc thiếu máu não, tiền sản giật và sản giật, vỡ phình mạch và chảy máu dưới nhện, huyết khối tĩnh mạch, nghẽn mạch nghịch thường và các nguyên nhân khác… Nghiên cứu với cỡ mẫu lớn thực hiện bởi Jame A và cộng sự cho thấy tỉ lệ phụ nữ mang thai bị tai biến mạch máu não là 34,2 trên 100.000 ca sinh [19]. Nghiên cứu của Wiebers & Whisnant báo cáo tỉ lệ này cao hơn gấp 13 lần. Hầu hết các tai biến mạch máu não liên quan tới thai sản thường xảy ra vào ba tháng cuối và sau sinh, điều này đặc biệt đúng với huyết khối tĩnh mạch não. Theo Lanska DJ, Kryscio RJ thì có tới 89% tai biến mạch máu não xảy ra vào lúc sinh đẻ và sau sinh [16]. Theo Kittner có sự tăng 8,7 lần nhồi máu não sau sinh và nguy cơ bị chảy máu não tăng gấp 2,5 lần trong suốt quá trình mang thai và sau sinh là 23,8 lần [17]. Để góp phần tìm hiểu sự liên quan cũng như ảnh hưởng của tai biến mạch máu não ở phụ nữ mang thai và hậu sản chúng tôi thực hiện đề tài: “Nhận xét chẩn đoán, xử trí Tai Biến Mạch Máu Não ở phụ nữ mang thai và thời kỳ hậu sản tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai (Từ 2004 – 2008)” nhằm hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tai biến mạch máu n∙o ở phụ nữ mang thai và trong thời kỳ hậu sản tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai từ 2004 - 2008. 2. Nhận xét chẩn đoán và xử trí tai biến mạch n∙o ở phụ nữ mang thai và thời kỳ hậu sản từ 2004 - 2008 tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai.
Xem thêm

88 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG PHCN TỈNH THÁI NGUYÊN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG PHCN TỈNH THÁI NGUYÊN

11khoèo hoặc các nguyên nhân khác dẫn đến biến dạng. Trong trường hợp liệtnửa người do TBMMN, phương pháp này ít được sử dụng đến.* Phương pháp Bobath: đư ợc phổ biến và áp dụng nhiều nhất từ năm 1985,sau hội thảo các chuyên gia phục hồi chức năng của Hà Lan, phương pháp phụchồi chức năng vận động của Bobath cho bệnh nhân liệt nửa người bắt đầu đượcáp dụng có hệ thống Việt Nam với hai mục tiêu chính: Chống mẫu co cứng vàphục hồi chức năng vận động tự chủ của bên liệt [35].* Tư thế chống mẫu co cứngLiệt nửa người do tai biến mạch máu não lúc đầu là liệt mềm, sauđó dần dần chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng rất đặc trưng: Cánh taykhép, cẳng tay gấp, chân duỗi và đổ ra ngoài, bàn chân duỗi, đầu nghiêngvề bên liệt.Cùng với tăng trương lực cơ, người bệnh không còn khả năng điềukhiển bên liệt theo ý muốn, chính vì thế cần có biện pháp chống mẫu co cứngngay từ lúc đầu, càng sớm càng tốt. Để chống mẫu co cứng đến nay chủ yếuvẫn dùng kỹ thuật “tư thế” trong nằm ngửa, nằm nghiêng bên liệt, nằmnghiêng bên lành và xoay đùi vào trong, ầuđ thẳng. Khi người bệnh đã ngồihay đứng, đi cũng cần tiếp tục chống mẫu co cứng [18], [48].* Phục hồi vận động bên liệtViệc phục hồi vận động bên liệt cho người liệt nửa người do tai biếnmạch máu não cần được tiến hành sớm, tuỳ theo giai đoạn, tình trạng củangười bệnh mà ứng dụng các kỹ thuật cho phù hợp với những động tác thụđộng, chủ động có trợ giúp, vận động chủ động và được lặp đi lặp lại, hoànthiện dần dần.[8], [11], [18].+ Động tác thụ động được áp dụng khi người bệnh không tự làm được,cần có sự trợ giúp hoàn toàn, đó là các vận động cơ bản của khớp (duỗi, gấp,dạng, khép, xoay...) và duy trì cho tới khi xuất hiện co cơ chủ động.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Tài liệu hướng dẫn phòng ngừa tai biến máu não

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MÁU NÃO

huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào khác.  Không để nằm chờ xem có khỏe lại không.  Không cạo gió, cắt lễ, cúng vái… Tại sao phải đưa người bệnh tới bệnh viện ngay?  Não người rất quan trọng nhưng lại rất nhạy cảm.  Nếu bị thiếu máu, thiếu oxy, hoặc bị chảy máu thì não sẽ bị hoại tử chết đi rất nhanh chóng.  Để càng lâu thì phần não bị chết càng lớn, không thể chữa trị phục hồi lại được.  Chỗ não bị hư sau đó còn bị sưng lên gây nguy hiểm đến tính mạng. Do đó phải đưa người bệnh vào bệnh viện càng nhanh càng tốt để có thể cứu sống kịp thời các phần não chưa chết nhưng đang bị thiếu máu nuôi, đang bị sưng, hoặc bị chèn ép. Bệnh viện sẽ giúp gì cho bệnh nhân?  Định bệnh chính xác và tìm nguyên nhân gây bệnh: bằng cách thăm khám và làm xét nghiệm. Các xét nghiệm quan trọng gồm có xét nghiệm máu, chụp CT (xi-ti) não, siêu âm mạch máu, siêu âm tim, điện tim  Điều trị khẩn cấp, làm thông mạch máu nếu tình trạng cho phép và người bệnh đến sớm trước 3 giờ tính từ lúc mắc bệnh. Tăng cường cấp máu cho não, giảm mức độ thiếu oxy não, giảm chèn ép não, ngăn không cho bệnh lan rộng, ngăn không cho tái phát.  Chăm sóc, nuôi ăn, phòng ngừa và điều trị các triệu chứng.  Tập vật lý trị liệu để giúp phục hồi chức năng.  Hướng dẫn cách điều trị tiếp theo sau xuất viện và đề phòng bệnh tái phát. PHẦN 2: PHỤC HỒI SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO 1. Di chứng có thể phục hồi được không?  Nhiều bệnh nhân có thể hồi phục một phần hoặc hoàn toàn, nếu được chăm sóc điều trị thích hợp. Thời gian để hồi phục: từ một vài ngày đến vài tháng, tùy theo mức độ bệnh. Thời gian hồi phục nhanh và nhiều nhất là ba tháng đầu tiên sau đột quỵ.  Trường hợp nặng có thể để lại di chứng tàn phế nặng nề, không thể tự sinh hoạt được.  Các trường hợp nặng nhất sẽ tử vong, hầu hết tử vong xảy ra trong tuần đầu tiên.  Các trường hợp nặng là những người bị nhồi máu não hoặc xuất huyết não với kích thước quá lớn hoặc xảy ra các vị trí quan trọng. 2. Người thân phải làm gì để giúp cho bệnh nhân? Trong
Xem thêm

22 Đọc thêm

Chăm sóc người nhà bị liệt nửa người pdf

CHĂM SÓC NGƯỜI NHÀ BỊ LIỆT NỬA NGƯỜI

Chăm sóc người nhà bị liệt nửa người Tai biến mạch máu não sẽ khiến bệnh nhân bị rối loạn chức năng thần kinh như hôn mê, liệt nửa người, nói đớ, nuốt bị sặc…Để cải thiện tình trạng sức khỏe cho bệnh nhân, chế độ dinh dưỡng và luyện tập vô cùng quan trọng. Khi ra viện, bệnh nhân tai biến mạch máu não có thể tự ăn hoặc được nuôi ăn qua ống xông. Với bệnh nhân có thể tự ăn được nên áp dụng chế độ dinh dưỡng như sau: - Cho người bệnh ăn uống như bình thường, nếu ăn ít thì nên tăng thêm bữa trong ngày. - Thức ăn phải được chế biến phù hợp với khả năng nhai của người bệnh. Có thể cắt nhỏ, băm nhuyễn, ninh nhừ để người bệnh dễ ăn và dễ hấp thụ. - Thức ăn phải cân đối và đáp ứng đủ các chất cần thiết như chất đạm từ thịt, cá, trứng, đậu hũ…; chất bột đường từ gạo, mì, bánh mì…; chất béo từ dầu mỡ…; rau củ quả và trái cây. Đa số người bệnh đều nằm tại giường hoặc đi lại hạn chế nên nhu cầu năng lượng sẽ thấp hơn so với người bình thường. - Năng lượng cần trong ngày là: 25-30kcal/kg cân nặng/ngày.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghiên cứu nhiễm khuẩn vết mổ các phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ CÁC PHẪU THUẬT TIÊU HÓA TẠI KHOA NGOẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn bệnh viện, đặc biệt là nhiễm khuẩn vết mổ luôn là vấn đề được quan tâm không chỉ ở các n¬ước phát triển mà còn là vấn đề ¬ưu tiên hàng đầu ở các nước đang phát triển. Nhiễm khuẩn vết mổ làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh tật và gia tăng gánh nặng về tài chính cho bản thân bệnh nhân, các cơ sở y tế và cho cả cộng đồng [91]. Nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy tỉ lệ bệnh nhân phẫu thuật mắc nhiễm khuẩn vết mổ dao động từ 2,0% - 5,0% với tổng số khoảng 2 triệu bệnh nhân mắc trong một năm [43], [82]. Tỉ lệ này có xu hướng tăng lên ở những nước đang phát triển, nơi có hệ thống y tế chưa thật sự hoàn thiện và trang thiết bị còn nhiều hạn chế. Tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ dao động khoảng từ 5% - 15% số bệnh nhân được phẫu thuật [3], [14], [15], [28], [29]. Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ là do vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh trùng; trong đó nguyên nhân do vi khuẩn là phổ biến nhất [79], [103]. Việc xâm nhập, phát triển và gây bệnh của các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố nguy cơ sau: yếu tố môi trường, yếu tố phẫu thuật, yếu tố bệnh nhân và yếu tố vi khuẩn [6]. Các yếu tố này tác động qua lại, đan xen với nhau làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Đối với bệnh nhân bị nhiễm khuẩn vết mổ, việc điều trị cũng gặp một số khó khăn như: chẩn đoán phát hiện sớm nhiễm khuẩn vết mổ, bản thân bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật, và hiện tượng kháng kháng sinh của vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ. Điều trị tốt nhiễm khuẩn vết mổ chính là một thách thức nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị cho bệnh nhân tại các bệnh viện. Trong các phẫu thuật ngoại khoa, phẫu thuật tiêu hóa có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn vì khi can thiệp vào đường tiêu hóa sẽ tăng nguy cơ phơi nhiễm với vi khuẩn và theo phân loại vết mổ thì phẫu thuật tiêu hóa chủ yếu là các phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn, dẫn đến khả năng phơi nhiễm cao [4], [6]. Nghiên cứu của Blumetti J. và cộng sự (2007) ở bệnh nhân phẫu thuật đại tràng cho tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là 25,0% [46]. Nghiên cứu về nhiễm khuẩn vết mổ tại Việt Nam cũng cho tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa cao hơn so với một số phẫu thuật khác [4], [14]. Bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện đa khoa lớn nhất Việt Nam với quy mô 2500 giường bệnh; bệnh viện có nhiệm vụ tiếp nhận bệnh nhân ở khu vực Hà Nội và bệnh nhân nặng được chuyển tuyến từ các bệnh viện khu vực phía Bắc. Tình trạng quá tải bệnh viện cùng với việc tập trung nhiều bệnh nhân nặng và lưu lượng qua lại hàng ngày cao của nhiều đối tượng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện và đặc biệt là tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ. Nghiên cứu năm 2008 của Nguyễn Quốc Anh tại bệnh viện Bạch Mai cho tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ngoại khoa là 4,2% [3]. Thực tế cho thấy, tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ ở các phẫu thuật tiêu hóa còn ít được chú ý tới. Câu hỏi đặt ra là tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ và nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ các phẫu thuật tiêu hóa ở Bệnh viện Bạch Mai hiện nay như thế nào? Yếu tố nguy cơ nào ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ này? Kết quả điều trị nhiễm khuẩn vết mổ các phẫu thuật tiêu hóa ra sao? Đó chính là lý do tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu nhiễm khuẩn vết mổ các phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai” nhằm mục tiêu: 1. Xác định nguyên nhân và một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai, năm 2011 - 2013. 2. Đánh giá kết quả điều trị nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại, bệnh viện Bạch Mai, năm 2011 - 2013.
Xem thêm

166 Đọc thêm

U30 cũng bị tai biến mạch máu não pps

U30 CŨNG BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

U30 cũng bị tai biến mạch máu não Mỗi ngày khoa thần kinh Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội tiếp nhận từ 25 - 30 bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, vào viện trong tình trạng hôn mê, liệt, không nói được, phải thở máy Người mắc bệnh đang ngày càng trẻ hoá và tập trung nhiều hơn tại các thành phố lớn. TS Lê Văn Thính, Trưởng khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết, trong ba năm lại đây, số bệnh nhân phải nhập viện vì căn bệnh này có chiều hướng tăng 1,7 - 2,5%, trong đó, tỷ lệ nam giới mắc cao gấp bốn lần nữ giới. Gây liệt và tử vong Em Nguyễn Thị Huệ, 11 tuổi, Nam Định, được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng nhợt nhạt, tay chân lạnh run, người lơ mơ vật vã, huyết áp tụt thấp. Em được chẩn đoán dị dạng mạch máu não và cả hàm mặt, rất hiếm gặp. Anh Lê Văn Hưng, 32 tuổi (Ba Đình, Hà Nội), không có tiền sử cao huyết áp nhưng dù được đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng đã tử vong chỉ sau một cơn đau đầu, nôn, rồi hôn mê. Theo TS Thính, bệnh tai biến mạch máu não, đột quỵ trước đây gặp chủ yếu người già nhưng 3 năm trở lại đây đang trẻ hoá dần, gặp mọi lứa tuổi. Đặc biệt, bệnh xảy ra rất đột ngột, cả những người khỏe mạnh, không
Xem thêm

9 Đọc thêm

đánh giá kết quả phục hồi chức năng đi lại và mối liên quan với cơ lực chi dưới ở bệnh nhân tai biến nhồi máu não vùng bán cầu

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐI LẠI VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CƠ LỰC CHI DƯỚI Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN NHỒI MÁU NÃO VÙNG BÁN CẦU

ðẶT VẤN ðỀ Tai biến mạch máu não cho tới nay vẫn là một vấn đề thời sự cấp thiết vì lẽ ngày càng hay gặp, tỉ lệ tử vong cao đứng thứ ba sau ung thư và các bệnh tim mạch. Thường để lại nhiều di chứng nặng nề đặc biệt là di chứng vận động. ðó là gánh nặng không chỉ đối với người bệnh và gia đình họ mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng và quốc gia của họ [10]. Tai biến mạch máu não là một nguyên nhân quan trọng khiến bệnh nhân phải nhập viện điều trị và mang nhiều di chứng gây tàn phế cho người bệnh. Theo tổ chức Y tế Thế giới có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não mang di chứng vĩnh viễn. Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới liệt nửa người do tai biến mạch máu não là loại đa tàn tật trong đó di chứng vận động chiếm phần lớn. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Văn ðăng, di chứng về vận động chiếm 92,62% [11]. Theo Feighensson mỗi năm Mỹ phải chi 7 tỷ đô la cho tai biến mạch máu não, sau khi ra viện chi phí điều trị tiếp tục tại cơ sở phục hồi chức năng là 19.285 đô la. Tổng chi phí một năm cho tai biến mạch máu não là 17 tỷ đô la[42]. Tai biến mạch máu não thường để lại di chứng nặng nề, có thể làm giảm hoặc mất khả năng vận động dẫn đến tàn tật, nhất là chức năng vận động và đi của chi dưới làm cho một số lượng lớn bệnh nhân phải phụ thuộc vào người khác. Chức năng vận động của chi dưới và chức năng đi của bệnh nhân có ý nghĩa quan trọng, nhờ nó mà con người có khả năng lao động và tự chăm sóc. Khi chức năng này bị ảnh hưởng, người bệnh không những bị giảm khả năng lao động mà có thể mất khả năng tự chăm sóc bản thân. Vì vậy nghiên cứu các phương pháp nhằm cải thiện khả năng vận động nói chung, cũng như khả năng vận động của chi dưới nói riêng, là mối quan tâm lớn của bệnh nhân, gia đình và các thầy thuốc chuyên ngành phục hồi chức năng. Mặt khác nó còn tạo cho người bệnh sau khi bị tai biến mạch máu não có nhiều cơ hội sống một cuộc sống hạnh phúc, một số trong họ được phục hồi chức năng tốt có thể tái đóng góp sức lao động cho gia đình và xã hội. Do đó trước một bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não, tiên lượng được sự phục hồi vận động chi dưới để có kế hoạch luyện tập hợp lý là điều mà chúng tôi quan tâm. Tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này còn chưa được đề cập nhiều. ðể tìm hiểu rõ mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan với khả năng phục hồi chức năng đi của chi dưới ở bệnh nhân tai biến nhồi máu não chúng tôi thực hiện đề tài: “ðánh giá kết quả phục hồi chức năng đi lại và mối liên quan với cơ lực chi dưới ở bệnh nhân tai biến nhồi máu não vùng bán cầu” nhằm mục tiêu: 1. ðánh giá kết quả phục hồi chức năng đi lại. 2. Xác định mối liên hệ giữa cơ lực chi dưới bên liệt và chức năng đi ở bệnh nhân tai biến nhồi máu não vùng bán cầu.
Xem thêm

96 Đọc thêm

HIỂU BIẾT VỀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ NHU CẦU TÌM KIẾM NHỮNG THÔNG TIN CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN LÃO KHOA NĂM 2015

HIỂU BIẾT VỀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ NHU CẦU TÌM KIẾM NHỮNG THÔNG TIN CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN LÃO KHOA NĂM 2015

nguy cơ tử vong và di chứng sau tai biến.• => Cần tìm hiểu nhận thức và mức độ hiểu biết củangười thân bệnh nhân TBMMNMỤC TIÊU• Mục tiêu 1: Mô tả hiểu biết về bệnh TBMMN củangười nhà bệnh nhân tại khoa Tâm thần kinh Bệnhviện Lão khoa trung ương năm 2015.• Mục tiêu 2: Mô tả nhu cầu tìm kiếm thông tin vànâng cao hiểu biết của người thân bệnh nhân vềbệnh TBMMNI. TỔNG QUAN1. Định nghĩa•. Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “ Tai biến mạch máu não là dấu hiệuphát triển nhanh trên lâm sàng của một rối loạn khu trú chứcnăng của não kéo dài trên 24 giờ thường do nguyên nhân huyếtquản. Như vậy trên lâm sàng đây là những biểu hiện bệnh lý baogồm phần lớn các trường hợp chảy máu trong não, chảy máu dướinhện, nhồi máu não và không đề cập đến trường hợp thiếu máunão thỏang qua hoặc bệnh lý mạch máu não lan toả khởi đầu lặnglẽ ” [8].•. [8] Lê Đức Hinh, Đặng Thế Chân (2012), " Tử vong do tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Bạch Mai", kỷ yếucông trình nghiên cứu khoa học thần kinh, NXB Y học, tr.94-100I. TỔNG QUAN
Xem thêm

36 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP HÚT ĐỜM KÍN TRONG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN THỞ MÁY

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP HÚT ĐỜM KÍN TRONG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN THỞ MÁY

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNGPHÁP HÚT ĐỜM KÍN TRONG CHĂMSÓC BỆNH NHÂN THỞ MÁY TẠIKHOA ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC - CHỐNGĐỘC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNHNINH BÌNH.Cử nhân: Đinh Ngọc ToànBệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình1. ĐẶT VẤN ĐỀ.- Viêm phổi bệnh viện có liên quan tới thở máy chiếm tỷlệ cao nhất trong các nhiễm khuẩn bệnh viện theo cácnghiên cứu trong nước.- Theo điều tra năm 2005 của Bộ y tế trên 19 bệnh việntoàn quốc, viêm phổi bệnh viện chiếm 55,4% trong cácnhiễm khuẩn bệnh viện.1. ĐẶT VẤN ĐỀ (tiếp)- Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hồng Nga về thực trạngnhiễm trùng bệnh viện tại khoa ĐTTC – CĐ Bệnh viện Đakhoa tỉnh Ninh Bình năm 2011 cho thấy:+ Có 60,2% bệnh nhân đặt nội khí quản, mở khí quản, thởmáy sau 48h và 72h đã có vi khuẩn gây viêm phổi.+ Các loại vi khuẩn thu thập được bao gồm đầy đủ cácchủng loại vi khuẩn gram(-), gram(+), tụ cầuvàng(S.aureus), liên cầu, trực khuẩn mủ xanh, Klebsiela,E.Coli, nấm Candida gây viêm phổi do thở máy.+ Các vi khuẩn này đã kháng hầu hết các loại kháng sinhgây khó khăn cho việc điều trị và tăng chí phí cho người
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu điều trị hạ natri máu ở bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn bằng dung dịch natriclorua 2% tại trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ HẠ NATRI MÁU Ở BỆNH NHÂN BỊ RẮN CẠP NIA CẮN BẰNG DUNG DỊCH NATRICLORUA 2% TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Tìm vết móc độc thờng mờ khó phát hiện, đôi lúc giống nh vết xớc, không biểu hiện sng nề, không hoại tử, không đau buốt. Đây là triệu chứng nhẹ làm bệnh nhân chủ quan, dễ quên, hoặc nhập viện muộn, khi nhập viện bệnh nhân đã nặng rồi. Toàn thân: + Dấu hiệu họng: Thờng là triệu chứng sớm mà bệnh nhân cảm nhận đợc, thờng xuất hiện sau 30 phút đến một vài giờ, bệnh nhân thấy đau họng tăng dần há miệng hạn chế, lỡi không đa ra đợc khó nói khó nuốt liệt màn hầu tăng tiết ứ nớc bọt. + Dấu hiệu thần kinh cơ 9 Biểu hiện mắt: sụp mi và đồng tử dãn, nhìn đôi, liệt cơ vận nhãn là dấu hiệu thờng xuất hiện sớm bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn, đi kèm các dấu hiệu nhiễm độc thần kinh thờng xuất hiện vài giờ sau bị rắn cạp nia cắn. Sụp mi xuất hiện sớm, tiến triển rõ dần, có thể sụp mi hoàn toàn bệnh nhân không mở đợc mi mắt, sau đó liệt một phần hoặc hoàn toàn cơ vận nhãn 2 bên, mất nếp nhăn mặt. Đồng tử bệnh nhân dãn nhiều tối đa có thể 6 - 7 mm và chậm phản xạ hoặc mất phản xạ với ánh sáng, dấu hiệu tồn tại nhiều tuần sau bị cắn. 9 Liệt chi, liệt mềm thờng liệt gốc chi trớc khi liệt ngọn chi, liệt tiến triển tăng đến liệt toàn thân bệnh nhân nằm bất động nhng ý thức tỉnh và biết những gì nghe đợc. Giảm trơng lực cơ, giảm phản xạ gân xơng. 9 Liệt cơ hô hấp: Bệnh nhân khó thở tăng dần, dấu hiệu tiến triển từ từ và tăng dần, liệt cơ hoành, cơ liên sờn, các cơ hô hấp phụ, tăng tiết nớc bọt 10dẫn đến suy hô hấp nhanh chóng. Đây là triệu chứng nguy hiểm và là nguyên nhân chính gây tử vong bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn nếu không đợc đặt nội khí quản thông khí nhân tạo. 9 Dấu hiệu tim mạch có thể có các rối loạn nhịp tim nh nhịp nhanh xoang, ngoại tâm thu, block nhĩ thất Nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn trên 380
Xem thêm

87 Đọc thêm

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO XUẤT HUYẾT pptx

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO XUẤT HUYẾT PPTX

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO XUẤT HUYẾT (ACCIDENT VASCULAIRE CEREBRAL HEMORRAGIQUE) Chẩn đoán tai biến mạch máu não xuất huyết được gợi ra trước những triệu chứng thần kinh đột ngột, bại liệt thần kinh khu trú liên kết hay không với một rối loạn tri giác. Những tai biến mạch máu não là xuất huyết trong một trường hợp trên năm, và tính chất xuất huyết được xác nhận nhờ một scanner não không tiêm chất cản quang. Nơi những bệnh nhân trẻ, người ta tìm thấy một thương tổn xuất huyết trong hơn 1/3 các trường hợp, ngược với những người lớn tuổi hơn, nơi những người này cao huyết áp thường là nguyên nhân. I/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ BAN ĐẦU. Vào lúc nhập viện, chính mức độ tri giác và sự tiến triển của nó trong những giờ đầu tạo nên mức độ nghiêm trọng. Thái độ xử trí ban đầu sẽ là giữ cho bệnh nhân được an toàn, đồng thời xác nhận vị trí xuất huyết và tìm kiếm một chỉ định ngoại khoa. 1/ Đặt bệnh nhân trong tình trạng an toàn. Liệt khu trú (déficit focal) sau khi được chứng thực, sự bảo vệ các đường dẫn khí của bệnh nhân hôn mê bằng nội thông miệng-khí quản (intubation orotrachéale) là cần thiết. Trong khi thực hiện TDM (tomodensitométrie), người ta đặc biệt chú ý duy trì một huyết áp bình thường (huyết áp trung bình cần duy trì trên 65 mmHg, vì một sự giảm quá rõ rệt có thể làm phương hại sự tưới máu não, do đó sự điều trị quá mức của một cao huyết áp là nguy hiểm), và một sự thông khí được thích ứng với một thán huyết (capnie) bình thường
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu biến đổi huyết áp ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp và hiệu quả điều trị của lercanidipine bằng theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CÓ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA LERCANIDIPINE BẰNG THEO DÕI HUYẾT ÁP LƯU ĐỘNG 24 GIỜ

1. Tính cấp thiết của đề tài ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp, một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu đối với ngƣời lớn tuổi ở các nƣớc phát triển cũng nhƣ đang phát triển [9], ƣớc tính gây tử vong 7,1 triệu ngƣời t rên thế giới [65] và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [26], [139], [23].Tăng huyết áp là nguy cơ quan trọng của tất cả các loại đột quỵ ở tất cả các khu vực nghiên cứu trên thế giới [22], [33]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhồi máu não chiếm khoảng 80% tai biến mạch máu não [131] là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thƣ [32]. Ở Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 500.000-750.000 bệnh nhân tai biến mạch máu não mới và tái phát [22].Ở Pháp mỗi năm có 130.000 cas tai biến mạch máu não và đó là nguyên nhân của 40.000 ngƣời tử vong và 30.000 ngƣời bị tàn phế nặng nề. Nguy cơ tái phát trong 5 năm ƣớc tính trong khoảng 30-43%. Tai biến mạch máu não cấp thƣờng do nhồi máu não (khoảng 85% số cas) [147]. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tỷ lệ tai biến mạch máu não trong đó có nhồi máu não đang có chiều hƣớng gia tăng cƣớp đi sinh mạng của nhiều ngƣời hoặc để lại di chứng nặng nề gây thiệt hại to lớn cho gia đình và xã hội. Theo Lê Văn Thành và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc trung bình hàng năm là 416/100.000 dân và mới mắc là 152/100.000 dân [11]. Phần lớn bệnh nhân tai biến mạch máu não (trong đó có nhồi máu) có huyết áp tăng song đa số trƣờng hợp huyết áp sẽ giảm tự nhiên trong 3- 5 ngày [6] đến 10 ngày đầu mà không cần dùng thuốc chống tăng huyết áp [118]. Do đó việc dùng thuốc điều trị tăng huyết áp trong tai biến mạch máu não giai đoạn cấp có ảnh hƣởng đến diễn biến và tiên lƣợng bệnh, đôi khi lại gây bất lợi cho bệnh nhân, nhƣng trên thực tế lâm sàng, phần lớn những bệnh nhân nhồi máu não vào viện có tăng huyết áp đều đƣợc dùng thuốc ngay trong giai đoạn cấp không kể mức độ huyết áp nhƣ thế nào. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng, để chọn thời điểm dùng thuốc hạ huyết áp hợp lý, đạt hiệu quả, giảm biến chứng tụt huyết áp do tác dụng của thuốc cần thiết phải theo dõi huyết áp thƣờng xuyên trong giai đoạn cấp để đánh giá biến đổi huyết áp và phân biệt đƣợc bệnh nhân có tăng huyết áp từ trƣớc hay là tăng huyết áp phản ứng khi bị nhồi máu não. Nhiều khuyến cáo cho rằng, ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp có tăng huyết áp chỉ hạ huyết áp trong những trƣờng hợp tăng quá cao gây các biến chứng, nhƣng phải hạ từ từ trong 24 giờ đầu [6], [44] còn đa số các trƣờng hợp nên dùng các loại thuốc tác dụng kéo dài đƣờng uống nhƣ ức chế kênh canxi thế hệ mới, ức chế thụ thể angiotensin II, ức chế men chuyển. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh thuốc ức chế kênh can xi thế hệ mới nhƣ lercanidipine có tác dụng kéo dài, êm dịu suốt 24 giờ, có tác dụng chống oxid hoá, giảm xơ vữa động mạch, ức chế quá trình chết tế bào thần kinh trong đột quỵ thiếu máu não, phù hợp khi sử dụng ở bệnh nhân nhồi máu não. Ở Việt Nam, việc áp dụng kỹ thuật theo dõi huyết áp lƣu động 24 giờ cũng mới xuất hiện một thập kỷ lại đây, đã có một số công trình nghiên cứu về phƣơng pháp đo này để đánh giá tác dụng của thuốc, chẳng hạn nhƣ đánh giá tác dụng của thuốc ức chế thụ thể angiotensin II-losatan bằng kỹ thuật theo dõi huyết áp lƣu động 24 giờ. Vấn đề đáng quan tâm là theo dõi biến đổi các thông số huyết áp và đánh giá tác dụng của thuốc ức chế kênh canxi thế hệ mới lercanidipine trên bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp bằng kỹ thuật theo dõi huyết áp lƣu động 24 giờ thì chƣa có nghiên cứu nào đƣợc tiến hành. Để theo dõi huyết áp trong giai đoạn cấp và lựa chọn một số thuốc có tác dụng trên huyết áp ở bệnh nhân nhồi máu não chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu biến đổi huyết áp ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp và hiệu quả điều trị của lercanidipine bằng theo dõi huyết áp lƣu động 24 giờ”.
Xem thêm

206 Đọc thêm

BỆNH U NGUYÊN BÀO TỦY

BỆNH U NGUYÊN BÀO TỦY

· Chụp cắt lớp vi tính sọ não, chụp cộng hưởng từ sọ não và cột sống: thấy hình ảnh khối tổn thương vùnggiữa của tiểu não, có kèm theo hay không tổn thương vùng tủy sống. Chụp cộng hưởng từ não và tủy sốngcần được chụp trước và sau phẫu thuật, xạ trị, hoá trị và mỗi lần kiểm tra định kỳ sau điều trị.· Chụp cộng hưởng từ phổ (MRS): chụp cộng hưởng từ đặc biệt hơn, giúp đo được mức độ chuyển hoá củacác mô, giúp phân biệt được mô lành, mô u và có thể phân biệt được nhiều loại u khác nhau cuả não .Sinh thiết kim: dùng kim để sinh thiết u não để chẩn đoán xác định bệnh, tuy nhiên sinh thiết kim ít khi đượcchỉ định, thường chỉ làm khi không thể phẫu thuật mở cắt u được.Chọc dịch não tủy được thực hiện sau phẫu thuật để đánh giá tình trạng di căn tủy sống thông qua tìm cáctế bào ác tính trong dịch não tủy.Điều trị:Chỉ định và lựa chọn phương pháp điều trị u nguyên bào tủy tùy thuộc vào các yếu tố sau: Tuổi, tình trạngtoàn thân, tiền sử bệnh, vị trí, kích thước u…Biện pháp điều trị cơ bản nhất là phối hợp: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Đối với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi điều trị xạ trịkhó khăn vì trẻ khó nằm yên trong khi xạ trị thì phương pháp điều trị là phối hợp phẫu thuật và hóa trị. Đôikhi cần phải gây mê để điều trị xạ trị cho bệnh nhi.Lập kế hoạch xạ trị não và tủy bằng máy gia tốc cho bệnh nhân u nguyên bào tủy tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu- Bệnh viện BạchMaiBệnh nhân được điều trị bằng máy xạ trị gia tốc tạiTrung tâm YHHN và UB, Bệnh viện Bạch MaiTại Việt Nam, cho đến nay Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch MaiBệnh viện Nhitrung ương đã cùng phối hợp để điều trị cho các bệnh nhi có u não, bước đầu cũng thu được một số kết quảkhả quan đối với các trẻ được phẫu thuật lấy u sau đó điều trị xạ trị rồi hóa trị. Hy vọng trong tương lai vớiviệc chẩn đoán sớm và kết hợp với việc điều trị tích cực sau phẫu thuật (xạ trị, hóa trị bổ trợ), tiên lượng củacác bệnh nhi u não sẽ ngày càng tốt hơn.Dưới đây là một số hình ảnh minh họa bệnh nhân u nguyên bào tủy được điều trị tai Trung tâm Y học hạtnhân và Ung bướu bệnh viện Bạch MaiBệnh viện Nhi Trung ương.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Phòng tai biến mạch máu não ở người cao huyết áp docx

PHÒNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO Ở NGƯỜI CAO HUYẾT ÁP DOCX

Phòng tai biến mạch máu não người cao huyết áp Tai biến mạch máu não xuất hiện do rối loạn tuần hoàn não cấp tính. Đây là loại bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao và có nhiều di chứng. Nguy cơ gặp tai biến này rất lớn những người bị cao huyết áp. người có tăng huyết áp mạn tính, thành mạch máu thoái hóa dày lên, sẽ ảnh hưởng tới tuần hoàn não. Khi những động mạch đưa máu lên não bị tắc nghẽn, não sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng và ôxy, dẫn đến đột quỵ và tử vong. Các chấn động tâm lý có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Khi làm việc căng thẳng về trí lực, sinh hoạt gia đình có khó khăn đột biến, khi về hưu mà không có chuẩn bị trước về tinh thần… người cao tuổi rất dễ bị chấn động tâm lý và nếu có kèm bệnh cao huyết áp, tai biến mạch máu não sẽ rất dễ xảy ra. Để phát hiện sớm tai biến mạch máu não do tăng huyết áp, bác sĩ có thể soi đáy mắt để đánh giá tình trạng mạch máu võng mạc. Cách phòng tránh chủ yếu đối với tai biến trên là điều trị, khống chế tốt bệnh cao huyết áp và các vấn đề tim mạch khác. Nên định kỳ đi khám, nhất là tuổi chuyển tiếp “49 chưa qua, 53 đã tới”. Nên lưu ý và đến bác sĩ ngay khi có những biểu hiện sau: - Nhức đầu. - Chóng mặt (cảm giác quay). Có hiện tượng quên, rối loạn cảm xúc (buồn giận thất thường…), rối loạn tâm lý. - Hiện tượng ruồi bay (nhìn thấy những điểm đen). Ngoài việc điều trị đều, liên tục, giữ huyết áp trị số ổn định, hợp lý, bác sĩ sẽ tư vấn cho người bệnh về dinh dưỡng (ăn uống hợp lý, không cho mỡ máu tăng, không uống rượu, bia). Bệnh nhân có thể tập luyện xoa bóp khí công, chống stress, tham gia các câu lạc bộ dưỡng sinh, thể dục ngoài trời…
Xem thêm

3 Đọc thêm

Trời lạnh dễ bị tăng huyết áp docx

TRỜI LẠNH DỄ BỊ TĂNG HUYẾT ÁP DOCX

Trời lạnh dễ bị tăng huyết áp “Kẻ giết người thầm lặng” Trời rét lạnh là tác nhân làm huyết áp tăng cao, dễ gây các tai biến nguy hiểm. Mặc dù tăng huyết áp (THA) rất nguy hiểm nhưng khoảng 80% bệnh nhân không biết mình mắc phải, cho đến khi đột ngột bị tai biến mạch não, liệt, hôn mê. Bởi vì THA khó phát hiện, 90% không có biểu hiện điển hình. Theo GS-BS Nguyễn Lân Việt, THA gây các biến chứng tim mạch như: nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim; tai biến mạch máu não (bao gồm cả xuất huyết não và nhũn não); biến chứng về thận, biến chứng về mắt, có thể dẫn đến mù lòa, thậm chí tử vong. Những ngày qua, miền Bắc lạnh rét, số bệnh nhân nhập viện do biến chứng THA tăng rõ rệt. Theo Viện Tim mạch quốc gia, nếu trước đây xuất hiện rải rác khoảng 3-5 ca/tháng thì hiện tại có ngày tiếp nhận 3 bệnh nhân. Một nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, có gần 70% người bệnh không biết mình bị THA. Trong các bệnh nhân biết cũng chỉ có 11,5% được điều trị, và chỉ khoảng 19% được khống chế huyết áp đạt yêu cầu. Trong khi đó, tuân thủ điều trị sẽ giảm được huyết áp, ngăn chặn được đáng kể tử vong và tàn phế do các biến chứng gây ra. Ước tính, nếu cứ giảm được mỗi 10 mmHg huyết áp tâm thu người bị THA thì sẽ giảm được khoảng 30% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, và giảm được 40% nguy cơ tử vong do tai biến mạch não. Người lớn tuổi dễ bị huyết áp cao khi trời lạnh. Gia tăng đột quỵ não Tại khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Châm cứu T.Ư (Hà Nội), số bệnh nhân nhập viện điều trị do tai biến mạch máu não tăng khoảng 30% trong những
Xem thêm

4 Đọc thêm

Phục hồi chức năng bệnh nhân tai biến mạch máu não pptx

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO PPTX

chuyển hóa và hiệu ứng quang học, điều chỉnh để tối ưu hóa các chức năng trong cơ thể, đặc biệt hệ tim mạch và thần kinh, góp phần không nhỏ trong quá trình rút ngắn thời gian bệnh nhân phải nằm viện, đồng thời giải quyết được cả một số yếu tố nguy cơ TBMMN, tạo điều kiện cho bệnh nhân mau chóng phục hồi, tránh được khả năng tái phát. Các bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên từng cặp theo thứ tự vào viện: một bệnh nhân được điều trị laser nội tĩnh mạch (nhóm nghiên cứu), bệnh nhân cùng giới kế tiếp sẽ vào nhóm chứng. Nếu bệnh nhân kế tiếp không đủ tiêu chí sẽ tiếp tục lấy bệnh nhân kế tiếp nữa để so sánh, cả hai nhóm này đều được điều trị và sử dụng các phương pháp phục hồi chức năng khác như nhau. Để tránh sai số hệ thống, khi một trong hai bệnh nhân cùng cặp ra viện sẽ được lấy làm mốc tổng thời gian điều trị để lượng giá cùng thời điểm, nếu một trong hai bệnh nhân cùng cặp không thể tiếp tục tham gia nghiên cứu thì bệnh nhân kia cũng bị loại theo. Bệnh nhân bị TBMMN chưa quá ba tháng, trước đó không bị dị tật bẩm sinh hoặc mắc phải (để tránh yếu tố gây nhiễu). Các bệnh nhân này đồng ý tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2007 chúng tôi đã nghiên cứu 84 bệnh nhân bị TBMMN (sau khi đã loại ra 8 bệnh nhân vì không đủ tiêu chí tiếp tục tham gia), chia làm hai nhóm: 42 người thuộc nhóm laser nội mạch, 42 người thuộc nhóm chứng để so sánh, trong quá trình nghiên cứu không có biến chứng hoặc tác dụng phụ gì xảy ra. Để tránh sai số hệ thống do yếu tố giới tính trong quá trình can thiệp, thiết kế được chọn bắt cặp ngẫu nhiên cùng giới lần lượt theo thứ tự vào viện gồm 16 cặp nam (38,1%) và 26 cặp nữ (61,9%). Trong mẫu nghiên cứu này tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn bệnh nhân nam chưa phản ánh được tỷ lệ mắc bệnh này trong dân chúng, vì mẫu chỉ giới hạn trong phạm vi một đơn vị điều trị. Chúng tôi chia mẫu bệnh nhân làm hai nhóm tuổi thể hiện hai giai đoạn quan trọng trong cuộc đời, mà đó nhiều rối loạn bệnh lý xảy ra ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Đặc biệt tuổi trên 60 nguy cơ tai biến về thần kinh và tim
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tiên Đoán Tai Biến Mạch Máu Não (Phương Pháp ABCD²) potx

TIÊN ĐOÁN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO (PHƯƠNG PHÁP ABCD²) POTX

Tiên Đoán Tai Biến Mạch Máu Não (Phương Pháp ABCD²) Cơn thiếu máu não tức thời (Transient Ischemic Attack, TIA), là một hình thức tai biến mạch máu não bất chợt. Thường thì triệu chứng xuất hiện từ 10 tới 15 phút đầu, có thể kéo dài trong 24 giờ đầu. Nói một cách khác, TIA hiện biến rất nhanh. Khi bị TIA cục máu bầm xuất hiện trong một động mạch não, máu không phân phối được tới não. Những triệu chứng của TIA cũng na ná giống triệu chứng tai biến mạch máu não, như cảm thấy yếu hay tê nửa thân mình, tự nhiên thấy đầu óc lẫn lộn, không nói được, không nhìn thấy được (một bên mắt hay cả hai mắt), cơ thể mất thăng bằng và cử động không được điều hòa. TIA thường tới trước tai biến mạch máu não cho nên cần biết sớm, cần tìm hiểu gấp và điều trị TIA kịp thời, để phòng ngừa tai biến mạch máu não. Hai tường trình đăng trong báo Lancet số 370 trang 1432-1442, 2007, và báo Lancet Neurol, 6: 953-960, 2007, cho biết nếu sớm chẩn định và điều trị TIA có thể ngừa tai biến mạch máu não lên tơí 80% trong vòng 90 ngày. Và trong vòng 24-48 giờ khi bị TIA, bệnh nhân cần phải nhập viện (báo Ann Neurol 60: 310-313, 2006). Hiện có 3 phương pháp giúp tiên đoán tai biến mạch máu não, nhưng phương pháp ABCD2 có vẻ là khá hơn cả. Tiên đoán tai biến mạch máu não tính theo điểm: Age (tuổi tác): Nếu bệnh nhân tuổi từ 60 hay trên 60 coi là bị 1 điểm. Blood pressure (huyết áp): Huyết áp tâm thu 140 mm thủy ngân hay trên 140 hoặc huyết áo tâm trương 90 hay trên 90 mm thủy ngân, thì bị thêm 1 điểm. Triệu Chứng: bệnh nhân bị yếu nửa người do tiểu sử bệnh lý cho biết bệnh nhân bị yếu nửa người hay do bệnh nhân than phiền bị yếu nửa người. Bệnh nhân có thể bị yếu nửa bên mặt, một bên cánh tay hay một bên chân. Nếu bị thì tính thêm 2 điểm. Nếu nói ngọng ngọeo hay không thể nói được hoặc vừa nói ngọng
Xem thêm

4 Đọc thêm

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

cục tắc bắn từ xa tới và nhũn não do giảm tới máu 121não. Các nguyên nhân hiếm gặp khác bao gồm: tách thành động mạch não, viêm mạch não và huyết khối tĩnh mạch não. a. Nhũn não do mảng xơ vữa chủ yếu xảy ra các mạch máu lớn (động mạch cảnh trong, động mạch sống, động mạch nền) song cũng xảy ra các động mạch não nhỏ và vừa bất kỳ vùng nào. Thơng tổn lúc đầu chỉ là mảng xơ vữa gây hẹp dần lòng mạch, từ đó tạo thành huyết khối, sau cùng gây tắc mạch. Huyết khối có khi hình thành mới dù không có xơ vữa từ trớc, hay gặp bệnh nhântình trạng tăng đông. Khuyết não (lacunar stroke) thờng vì tắc các tiểu động mạch nằm sâu trong não do mảng xơ vữa nhỏ hoặc do quá trình lipohya-linolysis (hay gặp bệnh nhân tăng huyết áp).a. TBMN do cục tắc bắn từ xa thờng gây tắc các động mạch não đờng kính trung bình, nhất là động mạch não giữa và các nhánh chính của hệ thống động mạch sống nền. Nguồn gốc của các cục tắc này chủ yếu từ tim, một số ít hình thành ngay tại vùng xơ vữa của phần đầu các động mạch não. Gần một nửa nguyên nhân cục tắc từ tim là huyết khối hình thành do rung nhĩ, phần còn lại là huyết khối hình thành do rối loạn chức năng thất trái nặng, do các bệnh van tim (hẹp van hai lá), tắc mạch nghịch thờng hoặc nhồi máu cơ tim mới, thậm chí do mảng xơ vữa bắn từ quai
Xem thêm

19 Đọc thêm

Cùng chủ đề