NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TRÀN MÁU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI HAI BÊN TRONG CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị tràn máu tràn khí màng phổi hai bên trong chấn thương ngực kín":

Đề cương nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị tràn máu, tràn khí màng phổi trong chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TRÀN MÁU, TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TRONG CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG

Chấn thương ngực bao gồm chấn thương ngực kín và vết thương ngực hở. Chấn thương ngực (CTN) là cấp cứu ngoại khoa thường gặp. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội về giao thông, xây dựng,... tại các bệnh viện, bệnh nhân CTN cũng gia tăng cả về số lượng và mức độ trầm trọng của thương tổn. Thương tổn lồng ngực là một trong những thương tổn phức tạp, đe dọa tính mạng người bệnh, nguy cơ tử vong cao và để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí đúng và kịp thời.Việc chẩn đoán và điều trị đòi hỏi phải tiến hành khẩn trương trong điều kiện cấp cứu. Thái độ xử trí cấp cứu ban đầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cứu sống người bệnh. Một điều may mắn là mặc dù gặp với tỷ lệ cao nhưng phần lớn CVTLN không phải phẫu thuật mà chủ yếu được giải quyết bằng thủ thuật và điều trị nội(12 blunt), không đòi hỏi các trang thiết bị đặc dụng. Điều này có thể giải quyết được tại các bệnh viện tuyến dưới nơi còn khó khăn về trang thiết bị nếu nhân viên y tế được đào tạo hiểu biết về sinh lý bệnh, phương pháp chẩn đoán và điều trị. Ở các tuyến chuyên sâu hiện nay nhờ những tiến bộ trong cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, kỹ thuật mổ, gây mê hồi sức... đã cứu sống nhiều trường hợp có tổn thương phức tạp: tổn thương trong tim, tổn thương ĐMC ngực, khí phế quản...
Xem thêm

47 Đọc thêm

VẾT THƯƠNG NGỰC (Kỳ 2) pdf

VẾT THƯƠNG NGỰC KỲ 2

VẾT THƯƠNG NGỰC (Kỳ 2) IV. Rối loạn sinh lý bệnh: 1.Rối loạn hô hấp : + Hoạt động chức năng của hệ thống hô hấp bị rối loạn nặng do: - Thành ngực: bị đứt rách các cơ hô hấp. - Màng phổi: bị tràn máutràn khí. - Nhu mô phổi: bị chèn ép do tràn máu,tràn khí màng phổi.Bản thân nhu mô phổi còn bị tụ máu,phù nề do vết thương ở nhu mô phổi. - Đường thở: bị co thắt và ùn tắc chất xuất tiết. Có trường hợp tổn thương mạch máu trong nhu mô phổi làm chảy máu vào đường thở gây tắc đường thở cấp tính. + Trong vết thương tràn khí màng phổi hở còn có hai hiện tượng: - Hô hấp đảo chiều: Khi thở vào, áp lực trong khoang màng phổi giảm xuống nên không khí sẽ qua ống vết thương tràn vào khoang màng phổi làm phổi bên tổn thương bị ép lại và đẩy một lượng khí nhất định ra khỏi nó.Trong thì thở vào các hiện tượng trên lại diễn biến theo chiều ngược lại.Kết quả là có một lượng khí chạy luẩn quẩn trong đường thở .Nó vừa làm mất đi một lượng khí trao đổi (thông khí chết) đồng thời gây cản trở dòng khí lưu thông trong đường thở. - Lắc lư trung thất: Khi thở vào,không khí bên ngoài qua ống vết thương tràn vào khoang màng phổi bên tổn thương sẽ đẩy trung thất lệch về bên phổi lành. Khi thở ra các hiện tượng trên xảy ra theo chiều ngược lại. Sự lắc lư qua lại này của trung thất sẽ kích thích các trung tâm phản xạ của phổi và trung thất,đồng thời còn làm cho các cuống mạch ở nền tim bị xoắn vặn gây ra những rối loạn nặng nề về huyết động. + Trong vết thương tràn khí màng phổi van: khí tràn vào khoang màng phổi theo một chiều (không thoát ra theo hướng ngược lại được) qua vết thương ở thành ngực (van ngoài) hay vết thương ở phổi-phế quản (van trong) làm cho áp lực trong khoang màng phổi tăng dần lên, chèn ép và đẩy phổi, tim, các mạch máu trong trung thất lệch sang bên đối diện, dẫn đến các rối loạn hô hấp và tuần hoàn rất nghiêm trọng, có thể nhanh chóng dẫn tới tử vong.
Xem thêm

6 Đọc thêm

mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân của tràn khí màng phổi tự phát tại bệnh viện lao

MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, NGUYÊN NHÂN CỦA TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT TẠI BỆNH VIỆN LAO

do lao là 27%; Không rõ nguyên nhân là 55,5% [31]. Loại trừ những bệnh nhân TKMP do chấn thương hay do thầy thuốc trong quá trình điều trị gây ra, còn lại là loại TKMP tự phát, được phân làm 2 loại: TKMP tự phát nguyên phát (TKMPNP) và TKMP tự phát thứ phát (TKMPTP). Nếu như TKMPNP xảy ra phần lớn ở bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh, không có tiền sử về bệnh phổi phế quản (mà các y văn hay gọi là TKMP không rõ nguyên nhân), thì TKMPTP lại xảy ra trên những người có bệnh phổi từ trước. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và cách điều trịhai nhóm này cũng có những điểm khác biệt.Vấn đề xử trí cấp cứu TKMP đã trở nên dễ dàng hơn do tiến bộ y học ngày nay, nhưng do nguyên nhân gây TKMP đa dạng và phức tạp nên xử trí còn mang tính chất bậc thang từ giản đơn đến phức tạp, chỉ định đúng phương pháp điều trị ngay từ đầu có lẽ sẽ rút ngắn thời gian điều trị, nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Ở nước ta cũn ớt công trình nghiên cứu. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm mục tiêu:1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhõn của tràn khí màng phổi tự phát tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương từ tháng 01/2008 đến 06/2009. 2. Nhận xét kết quả điều trị tràn khí màng phổi tự phát tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương trong thời gian trên.2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1. VÀI NẫT VỀ CẤU TRÚC GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ MÀNG PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI.1.1.1. Giải phẫu.1.1.1.1. Cấu trúc màng phổiMàng phổi gồm 2 lá: Lá ngoài hay lá thành (màng phổi thành) bọc lót mặt trong lồng ngực; Lá trong hay lá tạng (màng phổi tạng) bọc toàn bộ mặt ngoài phổi và cỏc rónh liờn thựy. Hai lá này được tạo ra từ 2 rãnh màng phổi
Xem thêm

66 Đọc thêm

bài giảng chấn thương ngực

BÀI GIẢNG CHẤN THƯƠNG NGỰC

Suy hô hấp, đôi khi ho máu là các triệu chứng lâm sàng chính của dập phổi. Chẩn đoán dập phổi chủ yếu dựa vào X-quang ngực hay CT ngực. Trên X-quang, ổ dập phổi có hình ảnh một đám mờ giới hạn không rõ, không ở vùng thấp nhất và không thay đổi theo tư thế. Cần nhớ rằng hình ảnh của dập phổi trên X-quang và CT có thể không được biểu hiện đầy đủ trong vòng 12-24 giờ đầu sau chấn thương. Nói chung, thái độ điều trị một BN bị dập phổi tương tự như thái độ điều trị một BN bị mảng sườn di động. Giảm đau đầy đủ, thở oxy và thông thoáng khí đạo là các biện pháp chính trong điều trị dập phổi. Thông khí quản và thở máy hỗ trợ được chỉ định cho các trường hợp dập phổi diện rộng, PaO2 giảm. Những BN cần một số lượng lớn dịch truyền để hồi sức tim mạch nên được thông động mạch phổi để theo dõi áp lực động mạch phổi liên tục. 3.2.7-Vết thương ngực hở (tràn khí màng phổi hở): Tràn khí màng phổi hở (hay vết thương ngực hở) được định nghĩa là tình trạng tràn khí khoang màng phổi có kèm theo sự thông thương giữa khoang màng phổi với khí trời. Tràn khí màng phổi hở thường gặp nhất trong chấn thương ngực xuyên thấu. Tình trạng tràn khí màng phổi hở làm suy giảm chức năng thông khí. Khi có sự hiện diện của một lổ thông thương trên thành ngực, khí trời sẽ có xu hướng vào lồng ngực qua lổ này, vì dòng khí khi đi qua lổ này sẽ có quãng đường ngắn hơn, do đó kháng lực thấp hơn so với dòng khí đi qua ngả khí đạo. Phần lớn khí trời sẽ vào lồng ngực qua lổ thông thương trên thành ngực nếu đường kính của lổ lớn hơn ¾ đường kính của khí quản. Lổ thông thương có thể hoạt động như một van một chiều, dẫn đến tràn khí màng phổi áp lực. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất trong tràn khí màng phổi hở là suy hô hấp. Nếu có tràn khí màng phổi áp lực, BN sẽ có thêm biểu hiện suy tuần hoàn. Tràn khí màng phổi hở được chẩn đoán xác định nếu thấy dấu phì phò ở vết thương. Trong trường hợp vết thương bị toác rộng, có thể thấy nhu mô của phổi bị xẹp hoàn toàn trong
Xem thêm

11 Đọc thêm

Chấn thương ngực – Phần 3 pps

CHẤN THƯƠNG NGỰC – PHẦN 3 7

Chấn thương ngực – Phần 3 7. Vết thương ngực hở (tràn khí màng phổi hở): + Đặc điểm - Tràn khí màng phổi hở (hay vết thương ngực hở) được định nghĩa là tình trạng tràn khí khoang màng phổi có kèm theo sự thông thương giữa khoang màng phổi với khí trời. - Tràn khí màng phổi hở thường gặp nhất trong chấn thương ngực xuyên thấu. - Tình trạng tràn khí màng phổi hở làm suy giảm chức năng thông khí. Khi có sự hiện diện của một lổ thông thương trên thành ngực, khí trời sẽ có xu hướng vào lồng ngực qua lổ này, vì dòng khí khi đi qua lổ này sẽ có quãng đường ngắn hơn, do đó kháng lực thấp hơn so với dòng khí đi qua ngả khí đạo. Phần lớn khí trời sẽ vào lồng ngực qua lổ thông thương trên thành ngực nếu đường kính của lổ lớn hơn ¾ đường kính của khí quản. - Lổ thông thương có thể hoạt động như một van một chiều, dẫn đến tràn khí màng phổi áp lực. + Biểu hiện lâm sàng - Phổ biến nhất trong tràn khí màng phổi hở là suy hô hấp. - Nếu có tràn khí màng phổi áp lực, BN sẽ có thêm biểu hiện suy tuần hoàn. + Chẩn đoán - Tràn khí màng phổi hở được chẩn đoán xác định nếu thấy dấu phì phò ở vết thương. - Trong trường hợp vết thương bị toác rộng, có thể thấy nhu mô của phổi bị xẹp hoàn toàn trong lồng ngực. + Điều trị - Tràn khí màng phổi hở đòi hỏi một thái độ điều trị khẩn cấp. - Trước tiên, cần bít kín lổ thông thương trên thành ngực. - Có thể sử dụng nhiều lớp gạc để bít kín lổ thông thương. Gạc được băng kín ba chiều để hoạt động như một van. Van này chỉ cho khí từ trong lồng
Xem thêm

9 Đọc thêm

Chấn thương ngực kín và vết thương ngực (Kỳ 2) ppsx

CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN VÀ VẾT THƯƠNG NGỰC (KỲ 2) PPSX

màng ngoài tim. 2.2.2. Siêu âm: Trong nhiều trường hợp các triệu chứng lâm sàng và X quang lồng ngực không rõ ràng thì có thể thăm khám siêu âm khoang màng phổi để phát hiện tràn máu khoang màng phổi. 2.2.3. Các phương pháp thăm khám hình ảnh khác: Trong những cơ sở được trang bị tốt và tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các phương pháp thăm khám bằng hình ảnh khác có thể được dùng để chẩn đoán các chấn thương và vết thương ngực là: chụp CT, chụp MRI Các phương pháp này cho giá trị chẩn đoán xác định bệnh rất chính xác, đặc biệt là các trường hợp chấn thương và vết thương ngực có kèm các tổn thương phức tạp nhiều cơ quan khác nhau trong ngực và bụng 2.3. Chọc hút thăm dò khoang màng phổi: Để xác định chẩn đoán tràn máutràn khí màng phổi; đồng thời cũng có tác dụng điều trị trong những trường hợp tràn máu, tràn khí màng phổi mức độ nhẹ. Vị trí chọc hút khoang màng phổi: chọc hút khí thường ở điểm liên sườn II cắt đường giữa đòn, chọc hút máu thường ở liên sườn VII đường nách giữa hay liên sườn VIII đường nách sau. Đây là biện pháp chẩn đoán rất có giá trị, dễ thực hiện, cho kết quả khẳng định được chẩn đoán nên được sử dụng khá thường xuyên trong các chấn thương và vết thương ngực. Tuy nhiên cần phải được tiến hành trong điều kiện bảo đảm được vô trùng tốt để tránh biến chứng bội nhiễm, dẫn đến mủ màng phổi. 3. Triệu chứng học. 3.1. Tổn thương xương sườn: 3.1.1. Gãy xương sườn: + Điểm đau khu trú: có thể đau tự nhiên khi bệnh nhân thở hoặc khám tìm điểm đau chói (dùng ngón tay trỏ ấn dọc theo xương sườn từ trước ra sau để tìm điểm đau chói hoặc dùng lòng bàn tay ấn nhẹ lên xương ức của bệnh nhân để tìm điểm đau chói nằm trên xương sườn gãy).
Xem thêm

7 Đọc thêm

chấn thương ngực - ngoại khoa lâm sàng

CHẤN THƯƠNG NGỰC - NGOẠI KHOA LÂM SÀNG

Suy hô hấp, đôi khi ho máu là các triệu chứng lâm sàng chính của dập phổi. Chẩn đoán dập phổi chủ yếu dựa vào X-quang ngực hay CT ngực. Trên X-quang, ổ dập phổi có hình ảnh một đám mờ giới hạn không rõ, không ở vùng thấp nhất và không thay đổi theo tư thế. Cần nhớ rằng hình ảnh của dập phổi trên X-quang và CT có thể không được biểu hiện đầy đủ trong vòng 12-24 giờ đầu sau chấn thương. Nói chung, thái độ điều trị một BN bị dập phổi tương tự như thái độ điều trị một BN bị mảng sườn di động. Giảm đau đầy đủ, thở oxy và thông thoáng khí đạo là các biện pháp chính trong điều trị dập phổi. Thông khí quản và thở máy hỗ trợ được chỉ định cho các trường hợp dập phổi diện rộng, PaO2 giảm. Những BN cần một số lượng lớn dịch truyền để hồi sức tim mạch nên được thông động mạch phổi để theo dõi áp lực động mạch phổi liên tục. 3.2.7-Vết thương ngực hở (tràn khí màng phổi hở): Tràn khí màng phổi hở (hay vết thương ngực hở) được định nghĩa là tình trạng tràn khí khoang màng phổi có kèm theo sự thông thương giữa khoang màng phổi với khí trời. Tràn khí màng phổi hở thường gặp nhất trong chấn thương ngực xuyên thấu. Tình trạng tràn khí màng phổi hở làm suy giảm chức năng thông khí. Khi có sự hiện diện của một lổ thông thương trên thành ngực, khí trời sẽ có xu hướng vào lồng ngực qua lổ này, vì dòng khí khi đi qua lổ này sẽ có quãng đường ngắn hơn, do đó kháng lực thấp hơn so với dòng khí đi qua ngả khí đạo. Phần lớn khí trời sẽ vào lồng ngực qua lổ thông thương trên thành ngực nếu đường kính của lổ lớn hơn ¾ đường kính của khí quản. Lổ thông thương có thể hoạt động như một van một chiều, dẫn đến tràn khí màng phổi áp lực. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất trong tràn khí màng phổi hở là suy hô hấp. Nếu có tràn khí màng phổi áp lực, BN sẽ có thêm biểu hiện suy tuần hoàn. Tràn khí màng phổi hở được chẩn đoán xác định nếu thấy dấu phì phò ở vết thương. Trong trường hợp vết thương bị toác rộng, có thể thấy nhu mô của phổi bị xẹp hoàn toàn trong
Xem thêm

11 Đọc thêm

CHẤN THƯƠNG NGỰC – PHẦN 1 ppsx

CHẤN THƯƠNG NGỰC – PHẦN 1 PPSX

CHẤN THƯƠNG NGỰC – PHẦN 1 1-Đại cương: Chấn thương ngực là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong cấp cứu nói chung và cấp cứu ngoại khoa nói riêng. Tử vong do chấn thương ngực chiếm 20-25% số trường hợp tử vong do chấn thương. Chấn thương ngực được chia làm hai loại: chấn thương ngực kínchấn thương ngực xuyên thấu. Chấn thương ngực kín có thể hây tổn thương bất kỳ cấu trúc hay tạng nào trên thành ngựctrong lồng ngực. Các cơ quan có thể bị tổn thương trong chấn thương ngực kín bao gồm: xương (xương sườn, xương đòn, xương bả vai, xương ức), phổi và màng phổi, tim và các mạch máu lớn, khí quản, thực quản, cơ hoành… Nguyên nhân gây chấn thương ngực kín phổ biến nhất là tai nạn xe gắn máy. Cả người điều khiển xe gắn máy và người bị nạn đều có nguy cơ bị chấn thương ngực như nhau. Các vụ nổ cũng là một nguyên nhân gây chấn thương ngực kín thường gặp, sau tai nạn xe gắn máy. Cơ chế sinh lý bệnh phổ biến nhất của chấn thương ngực kín là sự rối loạn thông khí, hay mất máu, hay cả hai. Nhiễm trùng do vỡ một tạng rỗng (thực quản) cũng là một trong những hậu quả trầm trọng của chấn thương ngực. Tổn thương phổ biến nhất của chấn thương ngực kín là tổn thương thành ngực (gãy xương sườn). Đau do tổn thương thành ngực là nguyên nhân chính làm hạn chế quá trình thông khí. Sự hạn chế thông khí cũng xảy ra trong trường hợp dập phổi, tràn khí, tràn máu khoang màng phổi… Một thể lâm sàng cần được nhấn mạnh trong chấn thương ngựctràn khí màng phổi áp lực, đó là, tình trạng khí hiện diện trong khoang màng phổi với áp lực dương. Áp lực dương này làm trung thất bị đẩy sang bên đối diện, làm cản trở hoạt động thông khí của phổi đối bên, đồng thời làm xoắn vặn tĩnh mạch chủ trên, gây giảm lượng máu về tim, dẫn đến truỵ mạch. Hậu quả của tràn khí màng phổi áp lực là BN có cả hai nguy cơ: nguy cơ suy hô hấp cấp và nguy cơ suy tuần hoàn
Xem thêm

13 Đọc thêm

VẾT THƯƠNG NGỰC ppsx

VẾT THƯƠNG NGỰC PPSX

phổi: bị chèn ép do tràn máu,tràn khí màng phổi.Bản thân nhu mô phổi còn bị tụ máu,phù nề do vết thương ở nhu mô phổi. - Đường thở: bị co thắt và ùn tắc chất xuất tiết. Có trường hợp tổn thương mạch máu trong nhu mô phổi làm chảy máu vào đường thở gây tắc đường thở cấp tính.+ Trong vết thương tràn khí màng phổi hở còn có hai hiện tượng:- Hô hấp đảo chiều: Khi thở vào, áp lực trong khoang màng phổi giảm xuống nên không khí sẽ qua ống vết thương tràn vào khoang màng phổi làm phổi bên tổn thương bị ép lại và đẩy một lượng khí nhất định ra khỏi nó.Trong thì thở vào các hiện tượng trên lại diễn biến theo chiều ngược lại.Kết quả là có một lượng khí chạy luẩn quẩn trong đường thở .Nó vừa làm mất đi một lượng khí trao đổi (thông khí chết) đồng thời gây cản trở dòng khí lưu thông trong đường thở Lắc lư trung thất: Khi thở vào,không khí bên ngoài qua ống vết thương tràn vào khoang màng phổi bên tổn thương sẽ đẩy trung thất lệch về bên phổi lành. Khi thở ra các hiện tượng trên xảy ra theo chiều ngược lại. Sự lắc lư qua lại này của trung thất sẽ kích thích các trung tâm phản xạ của phổi và trung thất,đồng thời còn làm cho các cuống mạch ở nền tim bị xoắn vặn gây ra những rối loạn nặng nề về huyết động.+ Trong vết thương tràn khí màng phổi van: khí tràn vào khoang màng phổi theo một chiều (không thoát ra theo hướng ngược lại được) qua vết thương ở thành ngực (van ngoài) hay vết thương ở phổi-phế quản (van trong) làm cho áp lực trong khoang màng phổi tăng dần lên, chèn ép và đẩy phổi, tim, các mạch máu trong trung thất lệch sang bên đối diện, dẫn đến các rối loạn hô hấp và tuần hoàn rất nghiêm trọng, có thể nhanh chóng dẫn tới tử vong.2.Rối loạn tuần hoàn :+ Tim và màng tim: - Bản thân tim và màng tim có thể bị vết thương nặng, bị tràn máu màng ngoài tim…- Tim bị chèn ép do tràn máu, tràn khí khoang màng phổi. - Tăng gánh tim phải do nhu mô phổi bị phù nề, chèn ép Thiếu máu cơ tim do tim phải đập nhanh đáp ứng lại tình trạng thiếu ôxy và giảm khối lượng máu lưu hành của cơ thể. + Hệ thống mạch máu: - Các mạch máu lớn trong trung thất có thể bị chèn ép do tràn máu,tràn khí màng phổi,bị xoắn vặn do lắc lư trung thất Các mạch ngoại vi thường bị co thắt do Sốc chấn thương.+ Khối lượng máu lưu hành: bị giảm do mất máu.3.Sốc
Xem thêm

9 Đọc thêm

Chấn thương ngực kín và vết thương ngực doc

CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN VÀ VẾT THƯƠNG NGỰC 1

2.2.3. Các phương pháp thăm khám hình ảnh khác: Trong những cơ sở được trang bị tốt và tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các phương pháp thăm khám bằng hình ảnh khác có thể được dùng để chẩn đoán các chấn thương và vết thương ngực là: chụp CT, chụp MRI Các phương pháp này cho giá trị chẩn đoán xác định bệnh rất chính xác, đặc biệt là các trường hợp chấn thương và vết thương ngực có kèm các tổn thương phức tạp nhiều cơ quan khác nhau trong ngực và bụng 2.3. Chọc hút thăm dò khoang màng phổi: Để xác định chẩn đoán tràn máutràn khí màng phổi; đồng thời cũng có tác dụng điều trị trong những trường hợp tràn máu, tràn khí màng phổi mức độ nhẹ. Vị trí chọc hút khoang màng phổi: chọc hút khí thường ở điểm liên sườn II cắt đường giữa đòn, chọc hút máu thường ở liên sườn VII đường nách giữa hay liên sườn VIII đường nách sau. Đây là biện pháp chẩn đoán rất có giá trị, dễ thực hiện, cho kết quả khẳng định được chẩn đoán nên được sử dụng khá thường xuyên trong các chấn thương và vết thương ngực. Tuy nhiên cần phải được tiến hành trong điều kiện bảo đảm được vô trùng tốt để tránh biến chứng bội nhiễm, dẫn đến mủ màng phổi. 3. Triệu chứng học. 3.1. Tổn thương xương sườn: 3.1.1. Gãy xương sườn: + Điểm đau khu trú: có thể đau tự nhiên khi bệnh nhân thở hoặc khám tìm điểm đau chói (dùng ngón tay trỏ ấn dọc theo xương sườn từ trước ra sau để tìm điểm đau chói hoặc dùng lòng bàn tay ấn nhẹ lên xương ức của bệnh nhân để tìm điểm đau chói nằm trên xương sườn gãy). + Điểm biến dạng xương sườn: xác định bằng cách sờ dọc theo bờ sườn từ trước ra sau sẽ thấy ở điểm gãy xương bị gồ lên hoặc mất sự liên tục của xương sườn. Chính tại điểm này khi đặt ngón tay vào và bảo bệnh nhân hít thở thì có thể xác định được các triệu chứng di động bất thường và “lạo xạo” xương của đầu xương sườn gãy. 3.1.2. Mảng sườn di động:
Xem thêm

14 Đọc thêm

TRÀN MÁU MÀNG PHỔI DO CHẤN THƯƠNG docx

TRÀN MÁU MÀNG PHỔI DO CHẤN THƯƠNG DOCX

chấn thương. Lượng máu này bò áp lực âm khoang màng phổi hút lên qua chỗ rách của cơ hoành. Vì vậy trong trường hợp tràn máu màng phổi có rách cơ hoành cần chú ý đến các tạng trong ổ bụng. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TRÀN MÁU MÀNG PHỔI Tràn máu màng phổi đã được mô tả chi tiết qua nhiều bài viết trong y văn từ thời rất xa xưa đến nay. Hiện nay, trong khi các hình thái chấn thương khác được các phẫu thuật viên xử lý một cách dễ dàng và hiệu quả thì chấn thương ngực vẫn còn thường gặp khó khăn trong điều trò và gây tử vong với tỷ lệ khá cao. Vào thế kỷ 18, có vài phương pháp để điều trò tràn máu màng phổ. Tuy nhiên các nhà lâm sàng đã bàn cãi nhiều về các phương thức điều trò này. John Hunter và các phẫu thuật viên lớn thời bấy giờ đã đề nghò tạo ra một vết thương hở ở khoang liên sườn để dẫn lưu tràn máu màng phổi. Còn các phẫu thuật viên khác cho rằng khâu vết thương ở thành ngực, không dẫn lưu là phương pháp điều trò thích hợp với tràn máu màng phổi. Phương pháp điều trò của Hunter tỏ ra có hiệu quả trong việc dẫn lưu máu trong lồng ngực, tuy nhiên đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là tràn khí khoang màng phổi. Mặt khác, khâu vết thương hở ngay không gây tràn khí màng phổi nhưng nó gia tăng cao các trường hợp nhiễm trùng máu và mủ màng phổi. Hậu quả gây ra tỉ lệ tử vong cao và mủ màng phổi đưa đến dày dính màng phổi làm giảm chức năng phổi trầm trọng. − Nghiên cứu những điểm ích lợi và nguy hiểm của hai phương pháp nêu trên vào đầu những năm 1980, Guthrie đã hòa hợp hai quan điểm trên và đề ra phương pháp điều trò tràn máu màng phổi của ông: hút máu trong lồng ngực qua vết thương ở thành ngực càng sớm càng tốt; nếu máu vẫn chảy ra nhiều thì khâu vết thương với hy vọng làm tăng áp lực trong lồng ngực để cầm máu. Sau khi đã đạt được mục đích, ông khuyên nên mở một vết thương nhỏ để máu và dòch thoát ra bên ngoài. Vào những năm 1987, điều trò tràn máu màng phổi bằng trocar hay là rạch vết mổ trên khoang liên sườn vẫn được xem là phương pháp điều trò chuẩn. Tuy nhiên, không lâu sau đó nhiều nhà lâm sàng đã đề ra phương pháp dẫn lưu kín khoang màng phổi và kỹ thuật căn bản này vẫn còn là phương pháp được sử
Xem thêm

7 Đọc thêm

TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT – PHẦN 1 ppt

TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT – PHẦN 1 1

o Chiều cao cơ thể: BN cao gầy sẽ có lực căng thành phế nang ở đỉnh phổi lớn hơn BN mập lùn, do đó nguy cơ bị tràn khí màng phổi tự phát lớn hơn. o Yếu tố gia đình cũng ảnh hưởng đến nguy cơ xảy ra tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát. Biến chứng của tràn khí màng phổi tự phát: o Suy hô hấp cấp o Ngưng tim ngưng thở o Tràn máu-tràn khí màng phổi o Dò phế quản-màng phổi Nguy cơ tràn khí tái phát sẽ cao hơn nếu: o BN bị tràn khí màng phổi tự phát thứ phát o BN có thể tạng cao hay gầy o BN còn trẻ tuổi o BN đã có hơn một lần tràn khí trước đó. Nguy cơ tràn khí tái phát sẽ càng cao nếu số lần tràn khí trước đó càng nhiều. o BN được làm dính màng phổi có nguy cơ tràn khí tái phát thấp hơn BN được dẫn lưu màng phổi đơn thuần. o Bóng khí hiện diện trên CT ngực không là yếu tố làm tăng nguy cơ tràn khí màng phổi tái phát. 2-Chẩn đoán: 2.1-Chẩn đoán lâm sàng: Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát: o Triệu chứng thường xuất hiện khi nghỉ. o BN có thể chịu đựng một thời gian trước khi quyết định nhập viện. Thời gian này càng kéo dài, nguy cơ xảy ra biến chứng phù phổi do phổi tái dãn nở (re-expansion pulmonary edema) khi hút ống dẫn lưu càng lớn. o Triệu chứng cơ năng: § Đau ngực một bên § Khó thở § Ho khan. Có thể ho ít máu.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Tràn dịch màng phổi thanh tơ pptx

TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI THANH TƠ PPTX

- Sinh thiết màng phổi: 75% trường hợp tìm thấy nang lao khi xét nghiệm mô bệnh. - Một số phương pháp chẩn đoán lao: tìm BK bằng kỹ thuật lai tạogen PCR ( Polymeraza Chain Reaction ). Hoặc kỹ thuật miễn dịch gắn men ELISA : ( Enzym Liked Immunosorbernt assay ). Phát hiện kháng thể kháng lao với kháng nguyên tinh chế, có độ nhậy 50-70%. Kỹ thuật ADA ( Adenosin Desaminaza ) ở dịch màng phổi, nếu > 50 / l thì 90% là do lao. 3.2. Tràn dịch do ung thư: - Lâm sàng: thường gặp ở lứa tuổi ³ 50. Khởi phát từ từ. Ho khan hoặc ho ra máu, khó thở, nhưng mức độ khó thở không tương ứng với mức độ tràn dịch. Sốt hoặc không sốt. Toàn thân suy sụp: hạch thượng đòn, ngón tay dùi trống, hội chứng cận u, hội trứng trung thất. Tiến triển nặng dần. - Cận lâm sàng: Phản ứng Mantoux ( - ) tính , tốc độ lắng máu tăng cao + Xquang: thường là tràn dịch màng phổi mức độ nhiều ( hội chứng tối mờ nửa lồng ngực ). Nhưng cũng có thể thấy tràn dịch màng phổi khu trú, hoặc có thể thấy đi kèm với hình ảnh tràn dịch màng phổi là khối u tròn, hạch trung thất, xẹp phổi hoặc hình ảnh thả bóng khắp 2 phổi. + Chụp cắt lớp vi tính giúp chẩn đoán sớm ung thư phổi khi mà trên phim thường qui không thấy. + Dịch màng phổi thường là dịch máu, huyết thanh máu hoặc là dịch thanh tơ sau chuyển dần thành dịch huyết thanh máu, với đặc điểm là tái tạo nhanh, tồn tại lâu. Protein > 30g / lít, Glucose tăng > 0,6g / lít, Glucose DMP / huyết thanh > 0,8, Bilirubin DMP / huyết thanh > 1. Công thức tế bào đa dạng, N có thể tăng. Tế bào ung thư trong dịch màng phổi dương tính đạt 45%-60%. + Sinh thiết màng phổi xét nghiệm mô bệnh dương tính ³ 75% có giá trị quyết định chẩn đoán nguyên nhân. Soi màng phổi sinh thiết chẩn đoán xác định ³ 95%. + Xét nghiệm mô bệnh hoặc tế bào ở hạch ngoại vi có thể giúp chẩn đoán nguyên nhân. + Xét nghiệm tìm các dấu ấn của ung thư: CEA (Carcino Embryonic Antigen ). a -
Xem thêm

9 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên gây bệnh của tràn dịch màng phổi (TDMP) thanh tơ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CĂN NGUYÊN GÂY BỆNH CỦA TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI (TDMP) THANH TƠ

đặt vấn đề Tràn dịch màng phổi (TDMP) là sự tích tụ dịch trong khoang màng phổi.Tràn dịch màng phổi thanh tơ là dịch tiết có phản ứng Rivalta dương tính và lượng protein trên 30g/l [ 54]. Chẩn đoán tràn dịch màng phổi không khó nhưng chẩn đoán nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi vẫn còn gặp nhiều khó khăn: do lao, do ung thư và một số nguyên nhân khác. Tỷ lệ tràn dịch màng phổi không rõ nguyên nhân chiếm khoảng 5% - 30% các trường hợp [ 64]. Theo Sahn S.A (1998) nguyên nhân gây TDMP do ung thư tại phổi chiếm 36% [ 59]. ở Việt Nam theo Hoàng Long Phát TDMP do ung thư chiếm 34,8% [ 34]. Theo Hà Văn Như (1989) trong 290 bệnh nhân TDMP có tới 78,6% là do lao [ 31]. Có nhiều phương pháp xác định nguyên nhân như: vi sinh học, sinh hóa DMP, tế bào học DMP, mô bệnh học qua sinh thiết màng phổi… [ 12], [19], [ 55]. Phương pháp vi sinh để chẩn đoán nguyên nhân TDMP do lao như soi tìm trực khuẩn kháng cồn - kháng toan hay phương pháp nuôi cấy tìm trực khuẩn lao. Hiện nay áp dụng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction) là phương pháp chẩn đoán phân tử, trong việc chẩn đoán nguyên nhân do lao với ưu điểm là cho kết quả nhanh. Trong chẩn đoán TDMP do ung thư bằng tế bào học( TBH) DMP chỉ đạt dương tính 25% - 50% [ 45]. Phương pháp mô bệnh học được thực hiện chủ yếu bằng kỹ thuật sinh thiết màng phổi (STMP) với kim Castelain, Abrams, Tru-cut. STMP có hiệu quả cao trong chẩn đoán TDMP do lao vì tỷ lệ tìm thấy nang lao tới 70% 75% [50], trường hợp TDMP khu trú xác định chính xác vị trí, số lượng dịch trong màng phổi có ý nghĩa tới sự thành công và làm giảm tỷ lệ tai biến. Việc sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính (CLVT) là một kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến cho phép tạo ảnh cấu trúc không gian 3 chiều có nhiều ưu điểm cho ta xác định vị trí tính chất của dịch màng phổi. Ngoài ra còn cho phép xác định tổn thương phức tạp của phổi hoặc màng phổi đặc biệt tràn dịch số lượng ít mà X - quang thường không nhìn thấy được. Triệu chứng lâm sàng thay đổi tuỳ theo căn nguyên gây TDMP thanh tơ, tuy nhiên bệnh nhân thường có các biểu hiện: ho, đau tức ngực, khó thở, hội chứng 3 giảm (rung thanh giảm, gõ đục, rì rào phế nang giảm).... Do vậy chẩn đoán nguyên nhân TDMP thanh tơ còn gặp nhiều khó khăn, để góp phần làm rõ thêm lâm sàng - cận lâm sàng và căn nguyên gây bệnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên gây bệnh của TDMP thanh tơ ” với 2 mục tiêu sau: 1- Nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tràn dịch màng phổi thanh tơ. 2- Nhận xét nguyên nhân gây bệnh của tràn dịch màng phổi thanh tơ.
Xem thêm

98 Đọc thêm

DẪN LƯU MÀNG PHỔI (PHẦN 5) ppsx

DẪN LƯU MÀNG PHỔI (PHẦN 5) PPSX

( Tràn khí màng phổi trái tự phát lượng vừa( Dẫn lưu kín và hút liên tục sau 6 ngày cóhiệu quả( Thoát vò cơ hoành sau chấn thương( Hình ảnh dễ chẩn đoán nhầm vớitràn khí màng phổi hay nang khíphổi trái.( Không được dẫn lưuDẫn lưu thấp và không có hiệu quảTö theá beänh nhaân khi daãn löuMột BN được dẫn lưu màngphổi do tràn máu màng phổitrái trong chấn thương ngực ởbệnh viện tỉnhOÁng daãn löu maøng phoåi thaúngXIN CHÂN THXIN CHÂN THÀÀNH CNH CÁÁM ƠNM ƠN
Xem thêm

8 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM ÁP XE PHỔI ppt

ĐẶC ĐIỂM ÁP XE PHỔI PPT

Các biến chứng do điều trị nội nhiễm khuẩn bệnh viện, suy hô hấp, sốc kéo dài…, do điều trị ngoại chảy máu sau mổ, tràn khí màng phổi, tràn khí dưới da… BÀN LUẬN Trong khoảng thời gian h[r]

18 Đọc thêm

Thăm khám và triệu chứng học chấn thương ngực kín và vết thương ngực pdf

THĂM KHÁM VÀ TRIỆU CHỨNG HỌC CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN VÀ VẾT THƯƠNG NGỰC PDF

SIÊU ÂM: Trong nhiều trường hợp các triệu chứng lâm sàng và X quang lồng ngực không rõ ràng thì có thể thăm khám siêu âm khoang màng phổi để phát hiện tràn máu khoang màng phổi.. CÁC PHƯ[r]

13 Đọc thêm

CẤP CỨU TIỀN BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG SỌ pptx

CẤP CỨU TIỀN BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG SỌ PPTX

B.I. AIRWAY VA BREATHING.  Động tác đầu tiên phải được thực hiện sẽ là mở và khai thông các đuờng khí (lấy đi một vật lạ nếu có).  Một collier cervical cứng có kích thước thích ứng sau đó sẽ được đặt đúng vị trí.  Cho oxy hào phóng bằng mặt nạ nơi bệnh nhân tỉnh táo.  Không bao giờ được đặt một ống thông mũi do nguy cơ tạo nên một lạc đường (fausse voie) về phía não bộ trong trường hợp gãy đáy sọ. Các chỉ định nội thông (luôn luôn bằng đường miệng)  Chấn thương sọ GCS < 8/15  Suy hô hấp (détresse respiratoire) (sau khi dẫn lưu tràn khí màng phổi)  Choáng tuần hoàn nghiêm trọng  Mất phản xạ thanh quản (bảo vệ đường dẫn khí)  Đau đớn quan trọng.  Mọi bệnh nhân được nội thông khí quản phải được thông khí bằng quả bóng hay tốt hơn bằng một máy thở vận chuyển (un respirateur de transport).  Phải tránh tình trạng giảm oxy-huyết và tăng thán huyết (trong chấn thương sọ nhằm đến một thán huyết bình thường (normocapnie). Một tăng thông khí (hyperventilation) mức độ vừa phải (PaCO2 30-35 mmHg) sẽ được thực hiện trong trường hợp có những dấu hiệu thần kinh tụt kẹt não (engagement cérébral). Những dấu hiệu gãy đáy sọ. Khối máu tụ quanh hốc mắt hai bên :đôi mắt của raton laveur, các khối máu tụ hình chiếc kính (hématome en lunettes).Tràn máu màng nhĩ (hémotympan). Chảy máu cam hay chảy nước mũi (rhinorrhée). Chảy máu tai hay chảy nước tai (otorrhée).
Xem thêm

15 Đọc thêm

TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI docx

TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI DOCX

biệt là Sarcoma), nhồi máu phổi, xuất huyết phổi chưa rõ nguyên nhân, bệnh lý proteinosis phế nang, cocidiomycosis xơ hoá chưa rõ nguyên nhân, bệnh Von Reclinghausen, bệnh u hạt Wegener, hoá trị liệu K. 3. TKMP do chấn thương  Các thủ thuật thường gây TKMP là chọc hút xuyên thành ngực (30%), đặt CVP (3-6%), chọc tháo dịch, sinh thiết xuyên phế quản , sinh thiết gan, phong bế thần kinh liên sườn, soi trung thất và mở khí quản , thở máy.  TKMP thường không phát triển ngay sau khi thủ thuật mà thường xảy ra trong vòng 24 giờ .  Chấn thương xuyên thấu hay không xuyên thấu, chấn thương đụng dập có thể kết hợp với gãy sườn. Nguyên nhân là do tăng đột ngột độ chênh áp giữa phế quản và bao phế quản – mạch máu lân cận gây rách phế nang. Sự bóc tách của không khí qua khoảng không khí gây TKMP hoặc TK trung thất.  Đôi khi TKMP đi kèm với tổn thương khí quản-phế quản-thực quản. Trường hợp này nên soi phế quản nếu bệnh nhân có ho ra máu hay TKMP kéo dài. 80% tổn thương khí quản – phế quản nằm trong vùng 2,5 cm cách carina , thường ở bên phải nơi tiếp xúc giữa phần sụn và phần màng, phế quản gốc và khí quản vùng cổ cũng là vị trí tổn thương thường gặp.  Tổn thương thực quản do chấn thương gây TK-TDMP. Đa số bệnh nhân vỡ thực quản đoạn ngực cũng than khó nuốt và thực quản trung thất. Amylase trong dịch màng phổi tăng là xét nghiệm truy tìm đáng tin cậy của vỡ thực quản. Nếu nghi ngờ, chụp thực quản cản ngay nếu được. Vỡ thực quản, nếu không điều trị sẽ gây viêm trung thất và sốc nhiễm trùng, nên cần phải chẩn đoán sớm. 4. TKMP liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt  TKMP thường xảy ra kèm theo chu kỳ kinh và thường tái phát. Là một bệnh hiếm với < 100 cas được báo cáo trong y văn .  Tỷ lệ khoảng 3-6 % TKMP tự nhiên ở nữ.  Tuổi 30 –40, TKMP xảy ra 48 –72 giờ sau khi hành kinh, 90 –95 % ở bên phải.  Bệnh sinh không rõ , 20 –40% nữ TKMP có lạc nội mạc tử cung. Giả thiết
Xem thêm

14 Đọc thêm

nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả bước đầu điều trị tràn dịch màng phổi do lao ở trẻ em

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO LAO Ở TRẺ EM

trừ nguyên nhân do lao. Việc phân tích tỷ lệ tế bào biểu mô màng phổi cũng rất có giá trị trong chẩn đoán loại trừ lao màng phổi. Bình thường tế bào biểu mô màng phổi thấp khoảng từ 1.2% đến dưới 5%. Có một số nghiên cứu khẳng định rất hiếm khi lao màng phổi có tỷ lệ tế bào biểu mô màng phổi cao hơn 5% trừ trường hợp có đồng nhiễm HIV. Vì vậy khi phân tích DMP nếu tỷ lệ tế bào biếu mô màng phổi cao hơn 5% thì càn xem xét đến nguyên nhân ngoài lao.- Nghiên cứu về vi sinh • Tìm AFB trong đờm v à trong DMP: JM Merino và cộng sự ( 1999 ) [23] coi tìm AFB trong đờm là một tiêu chuẩn chuẩn đoán nguyên nhân TDMP do lao.6• Soi trực tiếp: phương pháp nhuộm soi trực tiếp DMP chỉ tìm thấy AFB dưới 10% trường hợp, tuy nhiên nếu kết hợp nhiễm HIV thì tăng >20% trường hợp [18]. Tìm AFB trong dịch MP là xét nghiệm đơn giản và độ nhậy cao, có giá trị tương đương sinh thiết MP [20].• Nuôi cấy: môi trường L-J (Loweinstein – Jensen ) từ lâu nay được coi là môi trường chuẩn dùng nuôi cấy vi khuẩn lao, sau 1-2 tháng vi khuẩn lao phát triển thành khuẩn lạc hình súp lơ, màu trắng ngà. Ưu điểm của phương pháp nuôi cấy là cho kết quả chính xác, có thể tiến hành các phản ứng sinh học đẻ phân loại vi khuẩn lao và làm được khánh sinh đồ giúp chọn thuốc chống lao thích hợp, nhất là trường hợp mắc bệnh lao kháng thuốc. Nhưng phương pháp nuôi cấy này đòi hỏi thời gian dài, tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn lao dương tính trong DMP thấp: Hoàng Thị Phượng (1999) 16,7%, Nguyễn Kim Cương (2006) 6.0%, JM Merino (1999) 20%, Chiu (2007) 22.4% [3],[7],[18],[23].- Một số kỹ thuật khác trong chẩn đoán TDMP do lao Phản ứng PCR(Polymerase Chain Reaction) là kỹ thuật sinh học phân tử với phản ứng chuỗi polymerase, PCR cho kết quả chẩn đoán lao nhanh, kết
Xem thêm

28 Đọc thêm

Cùng chủ đề