NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC, CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH CỦA HẠCH CỔ DI CĂN TRONG UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, chẩn đoán hình ảnh của hạch cổ di căn trong ung thư vòm mũi họng":

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư âm hộ di căn hạch

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG MÔ BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ÂM HỘ DI CĂN HẠCH

Đặt vấn đề Ung thư âm hộ là bệnh ít gặp, chiếm 3-5% ung thư phụ khoa [19], [70]. Theo thống kê hàng năm ở Mỹ, ung thư âm hộ và âm đạo chỉ chiếm 1,7% số ca ung thư ở phụ nữ, tỷ lệ mắc mới của ung thư âm hộ là 1,46/100.000 dân [31], [39]. Tại Việt Nam, theo ghi nhận ung thư của Hà Nội 1991-1995, ung thư âm hộ và âm đạo chiếm 1,7% ung thư ở phụ nữ [1], ghi nhận ung thư quần thể tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1997, ung thư âm hộ chiếm 0,9% ung thư ở phụ nữ, tỷ lệ mắc là 1/100.000 dân [15] . Có lẽ do chỉ chiếm một vị trí khá khiêm tốn mà từ lâu bệnh ít được các tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu. Phần lớn ung thư âm hộ xảy ra ở phụ nữ lớn tuổi, 80-85% sau mQn kinh [12], [28]. Trong ung thư âm hộ, ung thư biểu mô tế bào vảy chiếm trên 90% các trường hợp [10], [67], đây là loại hay di căn hạch, ở giai đoạn III, IV tỉ lệ di căn hạch tới 60 -100% [42]. Ung thư âm hộ là một ung thư bề mặt dễ phát hiện, nhưng ở Việt Nam điều ngạc nhiên đa số bệnh nhân được phát hiện và điều trị ở giai đoạn tương đối muộn đQ có di căn hạch, làm cho kết quả điều trị còn hạn chế, điều này do: Bệnh nhân e ngại, lo sợ không đi khám bệnh hoặc do một số nhân viên y tế ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu còn ít kinh nghiệm, ít hiểu biết về ung thư âm hộ nên chẩn đoán nhầm sang bệnh khác hoặc đQ cố thử chữa làm kéo dài thời gian phát triển bệnh. Di căn hạch là một yếu tố tiên lượng đặc biệt quan trọng và độc lập, tỷ lệ sống thêm 5 năm khi chưa có di căn hạch từ 80 - 90% nhưng khi có di căn hạch chỉ còn 40 - 60% [59], [70], do đó việc tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến di căn hạch có ý nghĩa trong chiến lược điều trị, di căn hạch cũng là một yếu tố để xây dựng phác đồ điều trị. Phẫu thuật là phương pháp cơ bản được áp dụng trong điều trị ung thư âm hộ, từ năm 1981 đa số các tác giả áp dụng phẫu thuật cắt âm hộ toàn bộ và vét hạch bẹn bằng các đường riêng rẽ do đó đQ làm giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng và tử vong do phẫu thuật [43], [51] . Xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cho ung thư âm hộ di căn hạch đQ làm tăng thêm kết quả điều trị [35]. Bệnh viện K Hà Nội đQ áp dụng phương pháp trên trong điều trị ung thư âm hộ di căn hạch song chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư âm hộ di căn hạch”. Nhằm mục tiêu: 1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và một số yếu tố liên quan đến di căn hạch của ung thư âm hộ điều trị tại Bệnh viện K Hà Nội từ 1/2003 – 12/ 2007. 2. Đánh giá kết quả điều trị ung thư âm hộ di căn hạch.
Xem thêm

110 Đọc thêm

Nghiên cứu chẩn đoán lâm sàng và gen virus epstein - barr trong ung thư vòm mũi họng

NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG VÀ GEN VIRUS EPSTEIN BARR TRONG UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

IV. Vấn đề liên quan giữa EBV với chẩn đoán bệnh học được đề cập nhiều nhất trong các nghiên cứu của các 22tác giả nước ngoài, nó liên quan nhiều với thể UCNT, sau đó là đến hạch cổ di căn. Còn sự liên quan đến hình thái tổn thương lâm sàng chúng tôi thấy có rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Sự nhiễm trùng EBV đã xảy ra rất sớm khoảng dưới 10 tuổi tới 90% (ở vùng có nguy cơ cao với UTVMH) (Klein, Henle và CS) 111. Trong UTVMH, EBV đã có tác động điều khiển hình thành hình thái khối u và chỉ liên quan trực tiếp tới tổn thương vi thể của bệnh học. Còn khi đã hình thành ung thư về mặt đại thể thì ít được đề cập đến, và đây có thể là giai đoạn của rối loạn bản thân tế bào vật chủ về gen, về tăng sinh và loạn sản của tổ chức? 83] [85] [100] [111 [126] [130] [153. EBV và các tổn thương nghi ngờ UTVMH trên lâm sàng : Với những tổn thương lâm sàng bị nghi ngờ UTVMH (dị sản) nhưng qua chẩn đoán bệnh học thì vẫn (-) mặc dù đã sinh thiết 2, 3, hoặc nhiều lần, và ở những bệnh nhân này đều cho kết quả PCR (+). Chúng tôi gặp 6 trường hợp như vậy. Zhang [228] có 3/6 PCR(+) ở viêm vòm họng (50%), Sheen gặp 25% (4/10), PCR(+) ở người không có UTVMH [195]. Pathmanathan [177] cho thấy có DNA EBV trong cả dị sản trung bình (3/3) và nặng (3/3) cũng như trong ung thư biểu mô tại chỗ (insitu) (5/5). Qua nghiên cứu sâu hơn về gen EBNA1 và LMP, tác giả này đã đưa ra nhận định rằng : đã có 1 dòng EBV gây ra dị sản tế bào biểu mô vòm họng (focus of EBV), từ đó gây ra sự xâm lấn, làm dầy lớp niêm mạc và mất đi hình thái của biểu mô trụ (strafication), gây
Xem thêm

14 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của DDimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Bệnh học ung thư vòm mũi họng

BỆNH HỌC UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

27 Đọc thêm

Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa, xạ đồng thời ung thư hạ họng thanh quản tại Trung tâm Ung bướu BVTW Huế

KHẢO SÁT CÔNG TÁC CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SAU HÓA, XẠ ĐỒNG THỜI UNG THƯ HẠ HỌNG THANH QUẢN TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU BVTW HUẾ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư thanh quản (UTTQ) là bệnh tương đối phổ biến ở các nước Âu Mỹ. Theo ước tính của Hội ung thư học lâm sàng Mỹ (ASCO) cho UTTQ và UTHH ở Mỹ vào năm 2010 có 12.720 trường hợp UTTQ mới mắc; 3.600 trường hợp tử vong vì UTTQ và mỗi năm có 2.850 trường hợp mới mắc UTHH. Tại Việt Nam, loại ung thư này cũng đứng hàng thứ hai trong các ung thư vùng đầu - cổ (UTĐC) , chỉ sau ung thư vòm mũi họng [1], [10]. Bệnh thường gặp nhiều ở nam giới, lứa tuổi từ 55 đến 65. Liên quan chặt chẽ với tình trạng hút thuốc và tiêu thụ quá nhiều rượu. Các tình trạng này tạo nên những thay đổi của lớp niêm mạc biểu mô phủ bề mặt thanh quản và hạ họng [3]. Cho đến nay, mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán nhưng do các triệu chứng bệnh thường mơ hồ, tổn thương nằm sâu, khó phát hiện, dễ bỏ sót do khi khám Tai - Mũi - Họng thông thường nên khi được phát hiện bệnh thường đã ở giai đoạn (GĐ) muộn. Có đến trên 80% bệnh nhân (BN) đến ở GĐ III-IV [6]. Theo kinh điển, phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn cho 2 loại ung thư này, những trường hợp ở GĐ muộn thường phải cắt bỏ toàn bộ thanh hầu, làm mất chức năng cơ quan, mang lỗ thở suốt đời ảnh hưởng đến chất lượng sống thêm. Đặc biệt khi bệnh ở giai đoạn quá muộn không còn khả năng phẫu thuật được, tiên lượng thường rất xấu. Điều trị GĐ này phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng toàn thân của BN. Nếu trước đây chỉ xạ trị mang tính chất giảm nhẹ triệu chứng cho BN thì ngày nay, suốt 30 năm thử nghiệm lâm sàng (TNLS) thêm hóa trị kết hợp xạ trị trên những BN thể trạng còn tốt, các chỉ số huyết học, gan, thận bình thường thu được các hiệu quả về kiểm soát bệnh tại chỗ-vùng, tăng thời gian sống thêm, nhưng kèm theo là tăng tác dụng không mong muốn của điều trị. Hóa xạ trị đồng thời (với thuốc cơ bản là cisplatin) đã được coi như điều trị chuẩn thay thế cho xạ trị đơn thuần trong những ung thư đầu cổ (UTĐC) GĐ không còn mổ được. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa được thống nhất, các tác giả đều có khuyến cáo, cần tiếp tục
Xem thêm

31 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính và mô bệnh học của polyp đơn độc Killian

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẮT LỚP VI TÍNH VÀ MÔ BỆNH HỌC CỦA POLYP ĐƠN ĐỘC KILLIAN

1Đặt vấn đề Viêm xoang mạn tính polyp mũi là một bệnh rất hay gặp trong chuyên ngành Tai Mũi Họng. Bệnh có thể gặp ở nhiều lứa tuổi, tiến triển kéo dài, ảnh hởng đến sức khỏe và khả năng học tập, lao động của ngời bệnh[16]. Hình thái lâm sàng của viêm xoang mạn tính có polyp mũi rất đa dạng, polyp có thể xuất hiện ở 1 bên mũi hoặc cả 2 bên. Trong thể polyp mũi 1 bên có loại polyp đơn độc hay còn gọi polyp Killian (Antrochoanal polyp), loại này chiếm khoảng 4% - 6% tổng số polyp mũi nói chung( gặp nhiều ở trẻ em) [12,47]. Loại polyp này đã đợc Gustav Killian phát hiện và mô tả đầu tiên vào năm 1906, từ đó polyp này mang tên polyp Killian và đã có nhiều tác giả khác trên thế giới nghiên cứu về loại polyp này. Trớc đây, chỉ bằng cách thăm khám mũi họng thông thờng và chụp XQ kinh điển, bản chất cấu trúc và cơ chế bệnh sinh của polyp Killian còn cha đợc hiểu biết một cách đầy đủ. Nhiều ngời vẫn cho rằng polyp xuất phát từ khe giữa và việc điều trị bệnh lý này đơn thuần chỉ là phẫu thuật cắt bỏ khối polyp mà thôi. Tuy nhiên, với cách điều trị đó, tỷ lệ polyp tái phát còn rất cao và cha có nhà khoa học nào lý giải đợc vấn đề này. Sau này, cùng với sự tiến bộ của các ngành khoa học khác, sự ra đời của ống nội soi ánh sáng lạnh, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hởng từ đã mở ra một cái nhìn mới về bệnh lý polyp Killian. Bản chất cấu trúc của polyp Killian đợc tìm thấy là bao gồm phần nang trong xoang hàm và phần polyp ngoài hốc mũi[20,21,34,47]. Từ đó, phơng pháp điều trị loại polyp này đợc thay đổi và kết quả điều trị trở nên tốt hơn. ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về polyp mũi xoang v hiệu quả của phơng pháp phẫu thuật NSCNMX trong điều trị viêm xoang mạn tính có polyp. Tuy nhiên cha có công trình nào nghiên cứu cụ thể về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của polyp Killian. Vì vậy chúng tôi 2
Xem thêm

72 Đọc thêm

Phương pháp điều trị ung thư vòm mũi họng

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

RT0% IV(UICC/AJCC)64% vs 37% 5 n RFS(p=0,01)68% vs 56% 5 n OS(p=0,02)Ghi chú: C: Hoá chất; RT: xạ trị; P: Cisplatine; F: Flurouacil; ; B: Bleomycine; E: Epirubivine;DFS: khỏi bệnh; OS: sống thêm toàn bộMột số KQ phối hợp HC tân bổ trợ kết hợp xạ trị UTVMHHoá-xạ trị đồng thời ( Concomitant C.R )- Tăng tính nhạy cảm của TBUT với XT- Tiêu diệt TBUT di căn vi thểƯu điểm: giảm tỷ lệ tái phát và DC, rút ngắn T/g điều trịNhợc điểm: thể lực ngời bệnh phải tốt, tăng T/dụng phụ, phác đồđiều trị cha thống nhất.Hoá chất bổ trợ (Adjuvant)Mục đích: giảm nguy cơ DC xa với UT GĐ muộn, kéo dài T/gian STNhợc điểm: cha khẳng định đợc sự khác nhau giữa 2 nhóm điều trị(XT đơn thuần và xạ-hoá trị), chủ yếu áp dụng cho UTVMH tái phátvà di căn sau iu tr.Một số KQ phối hợp hoá-xạ trị đồng thời UTVMHTác gỉa và cơ sở BN điều trị Tử vongGiai đoạn Tỷ lệ sống HC + XT sovới XT đơn thuầnRossi và CS 1979-83 CNR, Italy Ngẫu nhiên113C +
Xem thêm

24 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của sinh thiết cắt xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán các tổn thương dạng u ở phổi

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA SINH THIẾT CẮT XUYÊN THÀNH NGỰC DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN CÁC TỔN THƯƠNG DẠNG U Ở PHỔI

THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ Những kết luận mới của luận án Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các tổn thương dạng u ở phổi Triệu chứng lâm sàng hay gặp: đau ngực và ho. U nhỏ nhất 9 x 9mm, lớn nhất 70 x 50mm, trung bình 23 x 28mm. Vị trí u thường gặp: thuỳ trên 2 bên. 2. Giá trị chẩn đoán của kỹ thuật 104 BN được sinh thiết 128 lượt. Độ sâu sinh thiết lớn nhất 70mm, trung bình 25mm. 99,2% lượt sinh thiết lấy được bệnh phẩm; 99,2% lấy được bệnh phẩm xét nghiệm tế bào, 97,7% lấy được bệnh phẩm xét nghiệm mô bệnh. Sinh thiết chẩn đoán: 65 trường hợp ung thư, 5 u nấm, 3 u thần kinh, 1 u lao. Ung thư típ biểu mô tuyến nhiều nhất 61 bệnh nhân. Tính trên số lượt sinh thiết kỹ thuật có tỉ lệ chẩn đoán đúng 91,3%, độ nhậy 86,5%, độ đặc hiệu 98,1%, giá trị dự đoán dương tính 98,5%, giá trị dự đoán âm tính 83,9%. Tính trên BN nghiên cứu độ nhậy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính, xác xuất chẩn đoán đúng của kỹ thuật tương ứng là 92,6%, 97,1%, 98,5%, 87,2%, 94,2%. Phù hợp chẩn đoán típ mô bệnh học trong nhóm ung thư 92,3%. Phù hợp chẩn đoán mô bệnh học trong nhóm không ung thư là 23,1%. Tỉ lệ tai biến: 21,9%. Tràn khí màng phổi:14,8%, ho máu 7,8%. Tràn máu màng phổi 0,8%. 3. Chẩn đoán giai đoạn TNM ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi theo phân loại UICCAJCC 2009 Chẩn đoán giai đoạn TNM trước mổ 65 BN ung thư: giai đoạn Ia, Ib, IIa, IIb, IIIa tương ứng là 56,9%; 15,4%; 4,6%; 6,2%; 16,9%. Chẩn đoán giai đoạn TNM sau mổ: giai đoạn Ia, Ib, IIa, IIb, IIIa, IIIb, IV tương ứng là 53,6%; 14,5%; 15,9%; 1,4%; 10,1%, 1,4%; 2,9%. Đối chiếu trước và sau mổ phù hợp chẩn đoán 43,8%.
Xem thêm

165 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm hình thái học di căn hạch vùng trong ung thư biểu mô đại trực tràng

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC DI CĂN HẠCH VÙNG TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ ĐẠI TRỰC TRÀNG

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở nhiều nước trên thế giới và hiện vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ 2 trong các tử vong do ung thư nói chung. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1996 có hơn 875.000 người bị UTĐTT, chiếm khoảng 8,5% tổng số các trường hợp ung thư mới được phát hiện trong năm [56]. Theo Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế (UICC), hàng năm trên thế giới có khoảng một triệu bệnh nhân (BN) UTĐTT mới được chẩn đoán và khoảng 500.000 người chết vì bệnh này. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong không giống nhau giữa các khu vực và quốc gia trên thế giới, và ngay trong một nước, tỷ lệ mắc bệnh ở các vùng miền cũng có thể khác nhau: tỷ lệ này thường cao ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, trung bình ở khu vực Đông và Nam Âu, thấp nhất là ở Châu Phi, một số vùng của Châu Mỹ La Tinh và Châu Á... Tuy nhiên, hiện nay ở các nước này bệnh lại đang có xu hướng gia tăng. Ở Việt Nam, đây cũng là một trong những bệnh hay gặp, đứng hàng thứ 5 sau ung thư phế quản, dạ dày, gan, vú (ở phụ nữ) và hiện đang có xu hướng tăng lên. Theo số liệu ghi nhận ung thư tại Hà Nội, tỷ lệ mắc UTĐTT chuẩn theo tuổi / 100.000 dân vào năm 1991 là 4,3 chung cho cả 2 giới; tỷ lệ này vào những năm 1995 - 1996 là 8,9 đối với nam và 6,0 đối với nữ, và đến năm 1999 đã tăng lên 13,3 [1], [2]. Mặc dù có khá nhiều phương pháp thăm khám và chẩn đoán UTĐTT đã và đang được áp dụng như: chụp X-quang khung đại tràng (ĐT), chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, nội soi ĐTT ống mềm, nội soi nhuộm màu, siêu âm nội soi... Tuy nhiên, do triệu chứng lâm sàng của UTĐTT thường nghèo nàn và thầm lặng nên việc chẩn đoán bệnh sớm vẫn rất khó khăn, đến khi các triệu chứng lâm sàng tương đối rõ thì bệnh thường đã ở vào giai đoạn muộn, khối u đã khá lớn, xâm lấn sâu và thường đã có di căn, vì thế, việc điều trị khó khăn và tiên lượng xấu. Về điều trị UTĐTT, tốt nhất vẫn là phẫu thuật triệt căn và khi đã có di căn thì ngoài việc cắt bỏ khối u còn phải vét hạch rộng rãi, nếu có thể thì lấy bỏ cả khối di căn. Sau phẫu thuật, có thể phối hợp với xạ trị, hóa chất và các thuốc tăng cường miễn dịch.... Để có thể đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về khối u như: hình thái đại thể, týp mô bệnh học (MBH), độ mô học, độ ác tính, mức độ xâm lấn, tình trạng di căn hạch cũng như di căn xa và giai đoạn bệnh..., qua đó giúp lựa chọn biện pháp điều trị hỗ trợ phù hợp và tiên lượng bệnh tốt hơn, cần phải xét nghiệm MBH cẩn thận, kết hợp các kỹ thuật nhuộm thường quy với hóa mô miễn dịch (HMMD). Nhờ có HMMD, người ta đã phát hiện thêm được một số trường hợp có di căn kín đáo (vi di căn) mà trên các tiêu bản nhuộm thường quy không phát hiện được [62]. Điều này góp phần giải thích tại sao có nhiều trường hợp mặc dù trước đó “không thấy di căn” nhưng vẫn “tái phát” và thời gian sống thêm không như dự kiến. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, việc phẫu thuật một cách triệt để, đồng thời vét hạch rộng rãi trong điều trị UTĐTT cũng như kỹ thuật xét nghiệm HMMD mới chỉ có thể áp dụng ở một số cơ sở lớn nên hầu như chưa thấy có nghiên cứu nào sử dụng HMMD trong nghiên cứu tình trạng di căn hạch, đặc biệt là vi di căn, và mối liên quan của nó với các đặc điểm hình thái bệnh học của UTĐTT. Trong UTĐTT thì ung thư biểu mô (UTBM) chiếm hơn 97% [11], [14]... Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái học hạch di căn trong ung thư biểu mô đại trực tràng” nhằm 2 mục tiêu chính sau: 1. Xác định tỷ lệ và một số đặc điểm hình thái học hạch di căn trong ung thư biểu mô đại trực tràng. 2. Tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng di căn hạch vùng với các đặc điểm hình thái học của các u nêu trên.
Xem thêm

103 Đọc thêm

Nghiên cứu nạo vét hạch theo bản đồ trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I, II, IIIA (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU NẠO VÉT HẠCH THEO BẢN ĐỒ TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I, II, IIIA (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi nguyên phát (UTPNP) là một bệnh thường gặp đứng đầu trong các ung thư ở nam giới và đứng thứ ba ở nữ giới, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư ở người lớn. Tỷ lệ mắc cho đến nay vẫn tiếp tục gia tăng ở phần lớn các nước trên thế giới. Năm 2008 thế giới có khoảng 1,6 triệu người mới mắc và gần 1,4 người chết, đến năm 2012 con số này là 1,82 triệu và 1,59 triệu tương ứng. Ở châu Âu mỗi năm có khoảng 375.000 người mới mắc, so với tất cả các loại ung thư thì UTPNP chiếm tỷ lệ 13% nhưng gây tử vong cao đến 28% [1],[2],[3]. Phân loại của WHO chia UTP thành hai nhóm chính dựa vào đặc điểm mô bệnh học, UTP không tế bào nhỏ chiếm khoảng 80 - 85%, UTP loại tế bào nhỏ chiếm khoảng 10 - 15%. Nhìn chung bệnh có tiên lượng xấu, tỷ lệ sống thêm 5 năm còn thấp dưới 25% [4],[5]. Các triệu chứng của bệnh thường nghèo nàn và không đặc hiệu, vì vậy rất khó khăn cho việc chẩn đoán và điều trị sớm. Điều trị UTP không tế bào nhỏ (UTPKTBN) là đa mô thức phối hợp giữa phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích tùy thuộc vào type mô bệnh học, giai đoạn bệnh và thể trạng bệnh nhân. Trong đó phẫu thuật đóng vai trò then chốt và cơ bản ở giai đoạn sớm, hóa trị và xạ trị có vai trò bổ trợ, khoảng 25 - 30% số bệnh nhân đến sớm còn chỉ định phẫu thuật [6],[7]. Phẫu thuật điều trị UTPKTBN đến nay đã phát triển mạnh mẽ với những phương pháp mới đạt kết quả đáng khích lệ, phẫu thuật đạt triệt căn thì ngoài việc cắt bỏ thùy phổi giải quyết khối u nguyên phát cần phải nạo vét hạch vùng lấy hết tổn thương. Đánh giá di căn hạch vùng chủ yếu dựa vào chẩn đoán hình ảnh như CLVT, MRI, PET/CT… và mang tính định hướng trước phẫu thuật. Còn để xác định chính xác hạch di căn vẫn phải dựa vào chẩn đoán mô bệnh học mà bệnh phẩm lấy được chủ yếu là từ phẫu thuật. Bản đồ hạch của phổi được sắp xếp gồm 14 nhóm, tỷ lệ di căn vào mỗi nhóm hạch là khác nhau, khả năng nạo vét triệt để ở mỗi nhóm có những khó khăn riêng do vị trí giải phẫu vì vậy tiên lượng bệnh khác nhau. Nạo vét hạch vùng vừa mang tính điều trị triệt căn, vừa lấy bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh học để xác định chính xác sự di căn của từng nhóm hạch, từ đó đánh giá đúng giai đoạn và tiên lượng bệnh. Đây là loại phẫu thuật nặng nề vì can thiệp liên quan trực tiếp đến hai chức năng sống là hô hấp và tuần hoàn. Ginsberg cho rằng có 2,4 - 6,2% bệnh nhân tử vong do phẫu thuật, vì vậy việc nhận định các nhóm hạch nào thường bị di căn là vô cùng quan trọng, nhằm lấy hết những hạch bị tổn thương giảm nguy cơ tái phát cải thiện thời gian sống thêm, tránh nạo vét hạch mở rộng không cần thiết gây nguy hiểm và có thể xảy ra tai biến [8],[9]. Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về UTPKTBN đã được thực hiện khá nhiều, tuy nhiên nghiên cứu đánh giá chi tiết về phẫu thuật nạo vét hạch vùng hệ thống theo bản đồ thì chưa được thực hiện. Đây là yêu cầu bức thiết mà nghiên cứu này thực hiện nhằm mục tiêu: 1. Xác định di căn hạch vùng và phương pháp nạo vét hạch theo bản đồ trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. 2. Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I, II, IIIA được phẫu thuật nạo vét hạch theo bản đồ tại Bệnh Viện K.
Xem thêm

192 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi và tỷ lệ nhiễm Human papilloma virus trong u nhú thanh quản người lớn

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI VÀ TỶ LỆ NHIỄM HUMAN PAPILLOMA VIRUS TRONG U NHÚ THANH QUẢN NGƯỜI LỚN

ĐẶT VẤN ĐỀ U nhú thanh quản (UNTQ) hay Papilloma thanh quản (TQ) là loại u lành tính, do sự quá sản của các tế bào vảy, hình thành các nhú nhô lên bề mặt biểu mô [7],[11]. Đặc điểm lâm sàng của loại u này là có xu hướng lan rộng và dễ tái phát sau phẫu thuật. Bệnh có thể gặp ở cả người lớn và trẻ em; tỷ lệ gặp UNTQ của trẻ em ở Mỹ là 4.3/ 100.000 dân, của người lớn là 1.8/ 100.000 dân [7],[21] và biểu hiện bệnh của hai thể này là hoàn toàn khác nhau. Ở trẻ em u nhú có xu h ướng lan rộng gây khó thở và tái phát sau phẫu thuật nhưng đến tuổi dậy thì u thoái triển, ít có khả năng trở thành ác tính. Ở người lớn u phát triển thường có tính khu trú nhưng không có xu hướng thoái triển và ngược lại có thể bị ung thư hóa [7],[10],[23]. Được mô tả lần đầu vào thế kỷ XVII bởi Marcellus Donalus, UNTQ đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà lâm sàng và giải phẫu bệnh trên khắp thế giới [25],[57]. Cùng với sự phát triển củ a ngành sinh học phân tử và hóa mô miễn dịch, nguồn gốc bệnh sinh của UNTQ do HPV (Human Papilloma Virus) đã được xác định, trong đó typ 6 và typ 11 được coi là những typ phổ biến nhất [8],[17],[28]. U nhú thanh quản là một bệnh không khó trong chẩn đoán đặc biệt với sự phát triển của nội soi; nhưng điều trị còn nhiều khó khăn với diễn biến dai dẳng và dễ tái phát. Bệnh sinh liên quan nhiều đến HPV, nghiên cứu về HPV trong u nhú thanh quản là bướ c đầu giúp cho việc tìm ra một phương pháp điều trị hiệu quả, triệt để. Tại Việt Nam, UNTQ cũng đã được các nhà lâm sàng Tai Mũi Họng quan tâm và đã được nghiên cứu khá nhiều. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào UNTQ ở trẻ em, trong khi các trường hợp UNTQ ở người lớn ít được đề cập [6],[10]. Các công trình nghiên cứu đều tập trung vào đặc điểm lâm sàng, diễn tiến của bệnh, phương pháp điều trị UNTQ [6],[9],[14]. Những nguyên nhân gây UNTQ cũng đã được đề cập tớ i trong một số công trình nghiên cứ, song chưa có công trình nghiên cứu nào khẳng định sự hiện diện của HPV trong UNTQ người lớn cũng như mối liên quan của nó với lâm sàng và mô bệnh học. Chính vì lí do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi trong u nhú thanh quản người lớn. 2. Xác định tỷ lệ nhiễm HPV trong các mô sinh thiết. Đối chiếu kết quả nhiễm HPV với đặ c điểm lâm sàng và kết quả mô bệnh học trong u nhú thanh quản người lớn.
Xem thêm

98 Đọc thêm

Mô bệnh học, hoá mô miễn dịch, đột biến gen BRAF V600E trong ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hoá tái phát, di căn (TT)

Mô bệnh học, hoá mô miễn dịch, đột biến gen BRAF V600E trong ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hoá tái phát, di căn (TT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hoá (UTBMTGBH) bắt nguồn từ tế bào biểu mô nang tuyến giáp, gồm thể nhú và thể nang. Bệnh đang có xu hướng gia tăng trên toàn cầu, đứng thứ 1 trong tổng số bệnh ung thư ở Hàn Quốc, xếp hàng thứ 9 ở Mỹ và Việt Nam. Bệnh có tiên lượng tốt nhưng có 4 - 30% trường hợp tái phát, di căn, diễn biến bệnh tiến triển và xâm lấn, đặc biệt ở nhóm tái phát không đáp ứng với điều trị I 131 . Mô bệnh học (MBH) là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán ung thư và các nhà GPB có thể dễ dàng xác định thể bệnh UTBMTGBH dựa trên hình thái cắt nhuộm HE. Nhưng nhiều thường hợp khó, các nhà GPB phải dựa vào kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch (HMMD) dựa trên nguyên lý phản ứng kháng nguyên - kháng thể để khẳng định sự tái phát, di căn, xác định thể MBH, mức độ ác tính, sự xâm nhập. Trong nhiều năm gần đây, các nghiên cứu nói đến vai trò đột biến BRAF V600E liên quan đến nguyên nhân sinh bệnh, nguy cơ cao về bệnh tiến triển và cơ chế kháng I 131 và đang mở ra hướng nghiên cứu điều trị đích cho nhóm bệnh nhân (BN) này. Với mong muốn cung cấp thêm thông tin về đặc điểm bệnh học và tình trạng đột biến gen BRAF V600E trong nhóm BN UTBMTGBH tái phát, di căn để giúp cho các nhà lâm sàng lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu và tiên lượng bệnh được tốt hơn, chúng tôi tiến hành đề tài với mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch trong bệnh ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa tái phát, di căn. 2. Xác định tỷ lệ đột biến gen BRAF V600E và tìm hiểu mối liên quan giữa đột biến gen BRAF V600E với một số đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học. Tính cấp thiết của luận án UTBMTGBH là bệnh phổ biến nhất của hệ thống nội tiết và đang có xu hướng gia tăng trên toàn cầu. Nhờ có những tiến bộ trong phẫu thuật tuyến giáp và điều trị I 131 bệnh có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, có 4 - 30% trường hợp bệnh tái phát, di căn và đặc biệt nhóm không đáp ứng với điều trị i-ốt bệnh có tiên lượng xấu. MBH là tiêu chuẩn vàng và HMMD giúp khẳng định tình trạng ác tính, mức độ tiến triển và tình trạng xâm lấn của bệnh. Đột biến gen BRAF V600E liên quan đến nguyên nhân bệnh sinh, mức độ tiến triển bệnh và mở ra hướng điều trị đích đối với những trường hợp tái phát, di căn đặc biệt nhóm không đáp ứng với điều trị I 131 . Việc tìm hiểu về đặc điểm bệnh học và xác định đột biến BRAF V600E là cần thiết để các nhà lâm sàng, Y học hạt nhân quyết định lựa chọn liệu pháp điều trị thích hợp, theo dõi, quản lý và tiên lượng BN được tốt hơn. Những đóng góp mới của luận án - Luận án đã góp phần cung cấp thông tin về đặc điểm MBH những thể bệnh hay gặp trong nhóm tái phát, di căn là UTBMTG nhú thông thường, thể nhú biến thể tế bào cao. Biểu hiện các dấu ấn Ki67, Galectin-3, Thyroglobulin có giá trị trong phân biệt chẩn đoán các biến thể nhú tiến triển và biến thể nhú trung gian. Tỷ lệ đột biến BRAF V600E cao (70,2%) và hay gặp hơn trong nhóm kháng I 131 ,
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá kết quả điều trị ung thư bàng quang giai đoạn II bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần tại bệnh viện K

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BÀNG QUANG GIAI ĐOẠN II BẰNG PHẪU THUẬT CẮT BÀNG QUANG BÁN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN K

từ 60 tới 70 và tỷ lệ nam/nữ là 2,5/1[2], [3]. Ở Việt Nam theo ghi nhận ung thư Hà Nội (2000 – 2001), tỷ lệ mắc ung thư bàng quang là 2,2/100 000 dân, đứng sau các bệnh ung thư phổi, dạ dày, gan, vú và vòm mũi họng. Bệnh hay gặp ở nam giới hơn nữ giới, đứng vị trí thứ 4 trong các bệnh ung thư ở nam giới và thứ 9 ở nữ giới [4], [5]. Triệu chứng lâm sàng ung thư bàng quang nghèo nàn, bệnh nhân thường vào viện vì đái máu. Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi bàng quang, sinh thiết u và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.Nội soi bàng quang có giá trị xác định vị trí, hình dáng, kích thước u, qua nội soi sinh thiết u để chẩn đoán bệnh học. Tuy nhiên để xác định mức độ xâm lấn của u tại thành bàng quang hoặc ra tổ chức xung quanh và tình trạng hạch vùng thì CT và MRI có vai trò quan trọng với độ chính xác cao [6], [7]. Về bệnh học, loại ung thư tế bào chuyển tiếp là loại hay gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng 90%, ung thư biểu mô vảy, ung thư biểu mô tuyến ít gặp. Trong ung thư bàng quang, 75% là ung thư bàng quang nông, phương pháp điều trị chủ yếu là cắt u qua nội soi kết hợp với bơm hóa chất tại chỗ hoặc BCG, phương pháp này được áp dụng phổ biến trên thế giới và Việt Nam đã làm giảm tái phát u[8], [9]. Ung thư bàng quang xâm lấn cơ chiếm 20 – 25%, phương pháp điều trị chủ yếu của giai đoạn này là cắt bàng quang toàn bộ, vét hạch chậu bịt hai bên, tuy nhiênviệc mất đi bàng quang sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sống của người bệnh, đặc biệt khi họ phải mang túi thu nước tiểu hai bên mạng sườn. Để hạn chế việc phải mang túi nước tiểu do cắt bàng quang toàn bộ và bảo tồn được chức năng bàng quang, kiểm soát việc đi tiểu, trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu phẫu thuật cắt bàng quang bán phần đối với ung thư bàng quang xâm lấn cơ mà vẫn đảm bảo nguyên tắc điều trị ung thư [10], [11]. Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về ung thư bàng quang nói chung, tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở nhóm ung thư bàng quang nông và phẫu thuật cắt bàng quang
Xem thêm

106 Đọc thêm

UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG BS. Đặng Thanh (ĐH Y Huế)MỤC TIÊU BÀI GIẢNG : 1. Nêu lên được các đặc điểm chính của ung thư vòm.2. Vẽ và đánh dấu nơi khối u thường xuất phát.3. Kể được các triệu chứng lâm sàng thường gặp của u vòm Việt nam.4. Biết cách chẩn đoán K vòm theo giai đoạn và có thể nêu lên được phát đồ điều trị thích hợp.5. Hiểu biết và phổ biến được các biện pháp dự phòng của bệnh ung thư vòm I.ĐẠI CƯƠNG Trong các loại ung thư đường hô hấp trên,K vòm là loại đáng nghi ngại nhất, vì các đặc điểm:Chẩn đoán muộn: 80% ở giai đoạn 3 hoặc giai đoạn 4 vì các U nằm sâu khó quan sát trực tiếp. Khi phát hiện được bệnh đã tiến triển được và ba tháng, u đã lớn, xâm lấn rộng, tiên lượng xấu.Triệu chứng mượn: bệnh biểu hiện ra ngoài bằng các dấu mượn của các cơ quan lân cận, vì thế dễ làm sai lạc hường chẩn đoán ngay từ đầu.Tiến triển âm thâm, kín đáo: nhiều khi u đã xâm lấn vào nền sọ mà bệnh tích ở vòm vẫn chưa phát hiện được dù đã được thăm khám bàng ống nội soi mềm phóng đại.Vòm mũi họng là phần cao sau của mũi họng. Ung thư vòm còn gọi là NPC (Nasopharyngeal Carcinoma) vì đại số K vòmung thư biểu mô và đại bộ phận là không biệt hóa. Sự phân bố của bệnh rất khác biệt ở những vùng khác nhau trên thế giới.Về nguyên nhân sinh bệnh, K vòm có dặc trưng là liên quan chặt chẽ với sự nhiễm Epstein Barr Virus. Và nhiều tác giả cho rằng K vòm là một loại K biểu mô duy nhất có liên quan đến virus.II.DỊCH TỂ: Ở Việt Nam, K vòm đứng hàng đầu trong các ung thư Tai Mũi Họng và Đầu Mặt Cổ, đứng hàng thứ 7 trong các K toàn thân (7,1%). Theo UICC, K vòm chiếm 1% dân số thế giới.1. Sự phân bố theo địa dư và chủng tộc: 1.1 Trên thế giới: Vùng có nguy cơ cao nhất là miền Nam Trung Quốc và phần lớn các nước Đông Nam Á
Xem thêm

10 Đọc thêm

LUÂN ÁN CK II- NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

LUÂN ÁN CK II- NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

So với các loại ung thư khác thì ung thư đại trực tràng tiên lượng tốt hơn, tỷ lệ sống sót 5 năm sau điều trị nếu ở giai đoạn Dukes A là 90 - 95%, ở Dukes C tỷ lệ còn 49%, nhưng đã ở giai đoạn Dukes D thì chỉ là 12% [46]. Do tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng gia tăng cùng với thực tế việc chẩn đoán sớm và điều trị có hiệu quả, nên bệnh này đã được nhiều nước khuyến cáo nên được sàng lọc sẽ mang lại kết quả điều trị tốt. Như vậy vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định tới kết quả điều trị là chẩn đoán sớm và chính xác [14], [60], [77]. Trước đây đã có nhiều phương pháp để chẩn đoán các tổn thương của đại trực tràng như tìm máu ẩn trong phân, chụp đại tràng baryte, chụp đại tràng đối quang kép. Từ thập niên 70 đến nay kỹ thuật tin học không ngừng phát triển và ứng dụng vào Y học, nhiều phương pháp chẩn đoán như siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ ra đời giúp cho việc chẩn đoán ung thư đại trực tràng ngày càng chính xác hơn [64], [76], [85], [86]. Ở nước ta trong những năm gần đây siêu âm, cắt lớp vi tính, nội soi đang trở thành phương tiện chẩn đoán được trang bị phổ cập dần đến tuyến Tỉnh, tuyến Huyện. Nhưng một thực tế đáng lo ngại là đa số bệnh nhân ung thư đại trực tràng đến các tuyến điều trị đều ở giai đoạn muộn. Một trong những lý do của tình trạng trên là sự đa dạng của các phương tiện chẩn đoán hiện nay chưa có sự lựa chọn thích hợp và thiếu tính phối hợp giữa các phương tiện của các Bác sỹ chuyên khoa [3], [19], [31]. Nội soi sinh thiết là phương tiện được lựa chọn để chẩn đoán ung thư đại trực tràng. Cắt lớp vi tính không những chẩn đoán có u, vị trí và kích thước u mà còn giúp đánh giá múc độ xâm lấn trong thành ruột, sự lan rộng ra xung quanh, tầm soát sự di căn các tạng, hạch, mạch máu và huyết khối trong lòng mạch trước phẫu thuật. Điều này rất cần thiết cho Bác sỹ ngoại khoa có thái độ đúng đắn xử lý trước, trong, sau phẫu thuật [52], [53], [82]. Tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế hàng năm đã điều trị cho hàng chục bệnh nhân ung thư đại trực tràng và có nhiều nghiên cứu về các đặc điểm bệnh học, nội soi, cũng như nhận xét về phương pháp điều trị [6], [30], [32]. Để góp phần chẩn đoán ung thư đại trực tràng, đánh giá tổn thương trong thành ruột cũng như sự xâm lấn, di căn của tổn thương u, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình ảnh cắt lớp vi tính và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng” nhằm 2 mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính của ung thư đại trực tràng. 2. Xác định giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán, đánh giá xâm lấn và di căn so với kết quả phẫu thuật.
Xem thêm

107 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chất chỉ điểm U CEA và sự bộc lộ P53, HER-2_NEU của ung thư trực tràng điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện K

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CHẤT CHỈ ĐIỂM U CEA VÀ SỰ BỘC LỘ P53, HER-2_NEU CỦA UNG THƯ TRỰC TRÀNG ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN K

Đặt vấn đề Ung thư đại trực tràng (trong đó trên 50% là ung thư trực tràng) là bệnh phổ biến, trên thế giới hàng năm có khoảng 572.000 ca mới mắc và gần một nửa trong số đó chết vì căn bệnh này [40]. Tại Mỹ năm 2005 có 106.000 ca mới mắc ung thư đại trực tràng trong đó ung thư trực tràng là 41.000 ca, tử vong do ung thư đại trực tràng khoảng 57.000 ca mỗi năm, chiếm gần 11% tổng số ca tử vong do ung thư [35]. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng đứng thứ ba trong các ung thư tiêu hoá sau ung thư gan và ung thư dạ dày, tỷ lệ mắc đang tăng lên . Theo ghi nhận ung thư Hà Nội tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ung thư đại trực tràng giai đoạn 2001 – 2004 ở Hà Nội 7,5/100000 dân, TPHCM 9,0/100.000 [1]. Có nhiều yếu tố nguy cơ gây ưng thư trực tràng như thói quen ăn uống, các tổn thương tiền ung thư, polyp, viêm loét trực tràng mạn tính, polypose và các thay đổi di truyền như đột biến gen p53 là nguyên nhân của gần 50% các loại ung thư, trong đó có ung thư đại trực tràng [41]. Để điều trị ung thư trực tràng có hiệu quả, người ta phải dựa vào các yếu tố tiên lượng, bên cạnh các yếu tố kinh điển như kích thước u, giai đoạn bệnh, loại mô học, ngày nay các nhà khoa học còn nghiên cứu ở mức độ bệnh học phân tử và gen để tìm ra những mối liên quan của những biến đổi này với kết quả lâm sàng [16]. Chất chỉ điểm u CEA là một kháng nguyên bào thai được xem là có giá trị đánh giá đáp ứng điều trị, tiên lượng cũng như theo dõi tái phát và di căn của ung thư trực tràng [6]. Nhờ tiến bộ về kỹ thuật hóa mô miễn dịch người ta đy phát hiện được các sản phẩm đột biến của gen p53 và bộc lộ quá mức yếu tố phát triển biêu mô Her-2/neu của nhiều loại ung thư trong đó có ung thư trực tràng. Những bệnh nhân ung thư nói chung và ung thư trực tràng nói riêng nếu có p53 và Her-2/neu dương tính thường liên quan với kết quả điều trị và tiên lượng xấu hơn so với những bệnh nhân âm tính với yếu tố này [41]. Tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về ung thư trực tràng nhưng chủ yếu tập trung vào các khía cạnh dịch tễ học, lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị. Các nghiên cứu về hóa mô miễn dịch tìm sự bộc lộ p53, Her-2/neu và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng còn rất ít. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này nhằm hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học ung thư trực tràng được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện K từ 6/2004 đến 6/2007. 2. Tìm mối liên quan giữa nồng độ CEA huyết tương, sự bộc lộ dấu ấn miễn dịch p53, Her-2/neu với một số đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh và sự tái phát, di căn sau điều trị ung thư trực tràng.
Xem thêm

111 Đọc thêm

đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát ống tiêu hóa tại bệnh viện việt đức

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U LYMPHO NGUYÊN PHÁT ỐNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ U lympho (ULP) là một nhóm không đồng nhất những tổn thương ác tính xuất phát từ tổ chức lympho, các khối u này chiếm 3% các ung thư trên thế giới. Hầu hết ULP có nguồn gốc từ tế bào B, một phần nhỏ từ tế bào T. ULP chia làm 2 loại lớn là ULP Hodgkin (HL) và ULP không Hodgkin (NHL) [43]. Hầu hết ULP phát triển từ mô lympho nằm trong hạch bạch huyết. Khoảng 20-40% ULP phát triển từ mô lympho ngoài hạch. ULP ống tiêu hóa (ÔTH) chiếm 1/3 ULP ngoài hạch và 30 năm gần đây tỷ lệ loại u này tăng dần trên thế giới nhưng nguyên nhân chưa rõ ràng [56], [99]. Ung thư ÔTH chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến, ULP nằm trong tỷ lệ nhỏ nhóm các ung thư không biểu mô [1]. ULP nguyên phát ÔTH có thể gặp ở tất cả các đoạn của ống tiêu hóa. Khối u này chiếm khoảng 2-8 % trong các tổn thương ác tính ở dạ dày [27]; 20% ở ruột non [90], [54]; 0.2-1.2% ở đại tràng và 0.1-0.6 ở trực tràng [91], [94]. ULP nguyên phát ở thực quản hiếm gặp nhất, chỉ chiếm nhỏ hơn 1% tổng số các ULP nguyên phát ÔTH [10]. Điều trị là sự kết hợp giữa phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Giai đoạn IIIE và IVE thường được điều trị bằng hóa chất đơn thuần, phẫu thuật rất ít được đặt ra và thường chỉ được chỉ định trong những biến chứng của u. Tuy nhiên ở giai đoạn sớm của bệnh phương pháp điều trị hiệu quả nhất vẫn còn được tranh cãi. Hóa trị, phẫu thuật và kết hợp của 2 phương pháp này đã được nghiên cứu và so sánh cho kết quả tương tự nhau với tỷ lệ sống 70-90%. Xạ trị cũng đã được thử nghiệm và cho kết quả tốt [20]. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về ULP nguyên phát ÔTH. Các thể mô bệnh học, hệ thống phân loại giai đoạn bệnh ngày càng rõ ràng và hợp lý hơn cho chỉ định điều trị. Các phương pháp điều trị với hiệu quả và chỉ định của chúng còn nhiều tranh cãi nhưng cũng đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ. Tại Việt Nam, trước năm 2000 ULP ÔTH chỉ được nhận xét trong nghiên cứu cùng với các thể ung thư khác của ÔTH. Năm 2000 Trịnh Hồng Sơn và cộng sự nghiên cứu tổng kết 13 trường hợp ULP ruột non trong vòng 10 năm ở bệnh viện Việt Đức trên các khía cạnh lâm sàng, mô bệnh học và điều trị. Những năm gần đây đã có thêm nhiều nghiên cứu về ULP ngoài hạch nói chung và ULP ÔTH nói riêng nhưng chủ yếu dừng lại ở khía cạnh mô bệnh học. Gần đây nhất năm 2005 tác giả Phạm Văn Thái nghiên cứu ULP ÔTH trên các khía cạnh đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị với đối tượng nghiên cứu là tất cả bệnh nhân được chẩn đoán qua soi và phẫu thuật. Chưa có nghiên cứu nào sâu về bệnh lý này trên khía cạnh phẫu thuật [8], [10], [13], [17], [4]. Mặc dù chiếm tỷ lệ rất ít so với ung thư biểu mô tuyến và điều trị chủ yếu bằng hóa chất tuy nhiên trên lâm sàng chúng ta vẫn gặp những trường hợp có biến chứng nặng (thủng, xuất huyết tiêu hóa, tắc ruột) cần phẫu thuật cấp cứu và nhiều trường hợp không chẩn đoán được trước phẫu thuật đòi hỏi phẫu thuật viên cũng phải có hiểu biết về loại ung thư này. Trên cơ sở giúp thầy thuốc tăng tỷ lệ chẩn đoán trước mổ, có chỉ định phẫu thuật và kế hoạch điều trị sau phẫu thuật đúng đắn nhằm hạn chế biến chứng và kéo dài tối đa thời gian sống cho bệnh nhân. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u lympho nguyên phát ống tiêu hóa được phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2010 . 2. Đánh giá kết quả sớm điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát ống tiêu hóa.
Xem thêm

129 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học một số khối u lành tính của dây thanh

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC MỘT SỐ KHỐI U LÀNH TÍNH CỦA DÂY THANH

ĐẶT VẤN ĐỀ U lành tính dây thanh là những khối u xuất phát từ dây thanh có xét nghiệm mô bệnh học lành tính. Đây là nhóm bệnh lý rất hay gặp và chiếm tỷ lệ khá cao. Theo thống kê của viện Tai Mũi Họng Trung Ương hàng năm có khoảng 1000 ca đến khám và điều trị. U lành tính dây thanh thường gây khàn tiếng, ảnh hưởng đến sự giao tiếp của cá nhân trong đời sống xã hội, đặc biệt đối với những người phải sử dụng giọng nhiều như ca sĩ, phát thanh viên, giáo viên, mậu dịch viên, tiếp thị viên… do đó ảnh hưởng đến chất lượng công việc và chất lượng cuộc sống. Khi khối u dây thanh có kích thước lớn có thể che lấp vào đường thở gây nên triệu chứng khó thở. Một số u lành tính ở dây thanh như bạch sản dây thanh, papilloma thanh quản có thể tiến triển ác tính hoá. Để điều trị hiệu quả cũng như hạn chế các biến chứng do u lành tính dây thanh gây ra thì việc chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời là điều hết sức cần thiết. Muốn vậy, việc hiểu rõ đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học các khối u lành tính ở dây thanh là rất quan trọng. Từ trước tới nay, có nhiều phương pháp được sử dụng để đánh giá các khối u lành tính ở dây thanh bao gồm: Phương pháp soi thanh quản gián tiếp qua gương, phương pháp soi thanh quản bằng ống nội soi cứng có phóng đại trên màn hình. Gần đây, với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, ống soi mềm đã được ứng dụng để chẩn đoán các khối u lành tính ở thanh quản. Với nhiều ưu điểm như dễ sử dụng, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, quan sát bệnh tích rõ ràng…ống soi mềm ngày càng được sử dụng rộng rãi trong chuyên ngành Tai Mũi Họng. Cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có báo cáo nào về việc sử dụng phương pháp nội soi ống mềm để đánh giá các khối u lành tính ở dây thanh. Do vậy, đề tài này được thực hiện nhằm hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi ống mềm và mô bệnh học một số khối u lành tính dây thanh. 2. Đối chiếu hình ảnh nội soi ống mềm với mô bệnh học một số khối u lành tính ở dây thanh.
Xem thêm

89 Đọc thêm

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát ống tiêu hóa tại bệnh viện Việt Đức

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U LYMPHO NGUYÊN PHÁT ỐNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ U lympho (ULP) là một nhóm không đồng nhất những tổn thương ác tính xuất phát từ tổ chức lympho, các khối u này chiếm 3% các ung thư trên thế giới. Hầu hết ULP có nguồn gốc từ tế bào B, một phần nhỏ từ tế bào T. ULP chia làm 2 loại lớn là ULP Hodgkin (HL) và ULP không Hodgkin (NHL) [43]. Hầu hết ULP phát triển từ mô lympho nằm trong hạch bạch huyết. Khoảng 20-40% ULP phát triển từ mô lympho ngoài hạch. ULP ống tiêu hóa (ÔTH) chiếm 1/3 ULP ngoài hạch và 30 năm gần đây tỷ lệ loại u này tăng dần trên thế giới nhưng nguyên nhân chưa rõ ràng [56], [99]. Ung thư ÔTH chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến, ULP nằm trong tỷ lệ nhỏ nhóm các ung thư không biểu mô [1]. ULP nguyên phát ÔTH có thể gặp ở tất cả các đoạn của ống tiêu hóa. Khối u này chiếm khoảng 2-8 % trong các tổn thương ác tính ở dạ dày [27]; 20% ở ruột non [90], [54]; 0.2-1.2% ở đại tràng và 0.1-0.6 ở trực tràng [91], [94]. ULP nguyên phát ở thực quản hiếm gặp nhất, chỉ chiếm nhỏ hơn 1% tổng số các ULP nguyên phát ÔTH [10]. Điều trị là sự kết hợp giữa phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Giai đoạn IIIE và IVE thường được điều trị bằng hóa chất đơn thuần, phẫu thuật rất ít được đặt ra và thường chỉ được chỉ định trong những biến chứng của u. Tuy nhiên ở giai đoạn sớm của bệnh phương pháp điều trị hiệu quả nhất vẫn còn được tranh cãi. Hóa trị, phẫu thuật và kết hợp của 2 phương pháp này đã được nghiên cứu và so sánh cho kết quả tương tự nhau với tỷ lệ sống 70-90%. Xạ trị cũng đã được thử nghiệm và cho kết quả tốt [20]. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về ULP nguyên phát ÔTH. Các thể mô bệnh học, hệ thống phân loại giai đoạn bệnh ngày càng rõ ràng và hợp lý hơn cho chỉ định điều trị. Các phương pháp điều trị với hiệu quả và chỉ định của chúng còn nhiều tranh cãi nhưng cũng đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ. Tại Việt Nam, trước năm 2000 ULP ÔTH chỉ được nhận xét trong nghiên cứu cùng với các thể ung thư khác của ÔTH. Năm 2000 Trịnh Hồng Sơn và cộng sự nghiên cứu tổng kết 13 trường hợp ULP ruột non trong vòng 10 năm ở bệnh viện Việt Đức trên các khía cạnh lâm sàng, mô bệnh học và điều trị. Những năm gần đây đã có thêm nhiều nghiên cứu về ULP ngoài hạch nói chung và ULP ÔTH nói riêng nhưng chủ yếu dừng lại ở khía cạnh mô bệnh học. Gần đây nhất năm 2005 tác giả Phạm Văn Thái nghiên cứu ULP ÔTH trên các khía cạnh đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị với đối tượng nghiên cứu là tất cả bệnh nhân được chẩn đoán qua soi và phẫu thuật. Chưa có nghiên cứu nào sâu về bệnh lý này trên khía cạnh phẫu thuật [8], [10], [13], [17], [4]. Mặc dù chiếm tỷ lệ rất ít so với ung thư biểu mô tuyến và điều trị chủ yếu bằng hóa chất tuy nhiên trên lâm sàng chúng ta vẫn gặp những trường hợp có biến chứng nặng (thủng, xuất huyết tiêu hóa, tắc ruột) cần phẫu thuật cấp cứu và nhiều trường hợp không chẩn đoán được trước phẫu thuật đòi hỏi phẫu thuật viên cũng phải có hiểu biết về loại ung thư này. Trên cơ sở giúp thầy thuốc tăng tỷ lệ chẩn đoán trước mổ, có chỉ định phẫu thuật và kế hoạch điều trị sau phẫu thuật đúng đắn nhằm hạn chế biến chứng và kéo dài tối đa thời gian sống cho bệnh nhân. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u lympho nguyên phát ống tiêu hóa được phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2010 . 2. Đánh giá kết quả sớm điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát ống tiêu hóa.
Xem thêm

129 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DI CĂN HẠCH GÁC BẰNG DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ LÀM CƠ SỞ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN I, IIA.

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DI CĂN HẠCH GÁC BẰNG DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ LÀM CƠ SỞ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN I, IIA.

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vú là ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ và là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư đối với phụ nữ tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành trong nhiều năm, tỷ lệ mắc ung thư vú theo tuổi năm 2000 là 17,4/100.000 dân [6]. Sau đó đã nhanh chóng tăng lên 29,9/100.000 vào năm 2010 [8]. Tỷ lệ mắc mới ung thư vú bắt đầu tăng nhanh từ độ tuổi 30 - 34 tuổi. Tỷ lệ ung thư vú ghi nhận được ở giai đoạn sớm (giai đoạn I và II) chiếm 35,8% [9]. Điều trị ung thư vú bao gồm nhiều mô thức: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết và điều trị đích. Trong đó điều trị phẫu thuật được coi là phương pháp điều trị ban đầu và quan trọng của căn bệnh này. Nạo vét hạch nách là chỉ định kinh điển trong điều trị phẫu thuật ung thư vú. Việc nạo vét hạch triệt căn gây nguy cơ phù bạch huyết cánh tay cao, nguy cơ này tăng tỷ lệ thuận với mức độ vét hạch và có tia xạ kèm theo. Những biến chứng khác cũng hay gặp khi nạo vét hạch nách bao gồm: hội chứng thần kinh cảm giác, giảm hoặc mất vận động cánh tay vét hạch. Để làm giảm các biến chứng do phẫu thuật vét hạch nách triệt căn gây nên, việc nghiên cứu xem xét lại chỉ định vét hạch nách đối với ung thư vú giai đoạn sớm là cần thiết. Như vậy sẽ có khoảng 65% bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm không cần vét hạch nách nếu biết được hạch nách không di căn, đây là điều trăn trở của các nhà ung thư để nghiên cứu hạch gác ra đời. Khái niệm hạch gác nhận được sự đồng thuận cao là: “Hạch gác là một hoặc một số hạch đầu tiên tiếp nhận dẫn lưu bạch huyết hoặc di căn ung thư từ khối u vú đến”. Khoảng gần 20 năm trở lại đây, nhiều tác giả như Giuliano, Krag, Veronesi đã nghiên cứu sinh thiết hạch gác làm căn cứ để đánh giá tình trạng di căn hạch nách và đề ra chỉ định vét hạch nách phù hợp đối với ung thư vú giai đoạn sớm [84], [128]. Albertini (1996), Veronesi (1997) và Solorzano (2001) đã tiến hành tiêm dược chất phóng xạ 99mTc, chụp hình hạch gác đánh dấu vị trí trên da và sử dụng đầu dò gamma probe trong mổ để phát hiện hạch gác qua đo độ tập trung dược chất phóng xạ (điểm nóng phóng xạ) và sinh thiết hạch [25], [119], [128]. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm sinh thiết tức thì hạch gác để đưa ra chỉ định can thiệp đối với hạch nách: nếu hạch gác di căn thì chỉ định vét hạch nách triệt căn, nếu hạch gác chưa di căn thì chỉ cắt tuyến vú đơn thuần, không vét hạch nách. Kết quả nghiên cứu đã làm giảm hẳn các biến chứng do vét hạch nách gây ra trong khi thời gian sống thêm không bệnh, thời gian sống thêm toàn bộ không thay đổi. Hội nghị ung thư vú Saint Gallen 2003 đã đồng thuận thông qua kĩ thuật này [68]. Tại Việt Nam, Trần Văn Thiệp sử dụng xanh methylene xác định hạch gác, Lê Hồng Quang (2012) dùng phối hợp xanh methylene và đồng vị phóng xạ cũng cho những kết quả khả quan. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn lâm sàng, để nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ngoại khoa đối với ung thư vú giai đoạn sớm, giảm thiểu tối đa các biến chứng do phẫu thuật vét hạch nách gây ra, nâng cao chất lượng sống cả về chức năng và thẩm mỹ đối với các bệnh nhân bị ung thư vú giai đoạn sớm, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình trạng di căn hạch gác bằng dược chất phóng xạ làm cơ sở xác định phương pháp phẫu thuật ung thư vú giai đoạn I, IIa”. Nhằm các mục tiêu sau: 1.Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mô bệnh học ung thư vú giai đoạn sớm (I, IIa). 2.Nghiên cứu vai trò và đánh giá kết quả xác định hạch gác bằng dược chất phóng xạ 99mTc trong phẫu thuật điều trị ung thư vú giai đoạn sớm (I, IIa) tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội.
Xem thêm

136 Đọc thêm

Cùng chủ đề