ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ Ở TRẺ EM BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẮT NANG VÀ NỐI MẬT RUỘT KIỂU ROUX EN Y

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Đánh giá kết quả điều trị u nang ống mật chủ ở trẻ em bằng phương pháp cắt nang và nối mật ruột kiểu roux en y":

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG pptx

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG PPTX

mật, nhiễm trùng đường mật, tuy nhiên sau đợt điều trị nội khoa bệnh nhân hoàn toàn được hồi phục. Không có trường hợp nào bị mổ lại.4. BÀN LUẬN:Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thể hiện phương pháp cắt nang ống mật chủ nội soi là một phương pháp mang lại cho bệnh nhân kết quả điều trị tốt nhất. Ưu điểm của phương pháp mổ nội soi là phẫu thuật ít gây sang chấn, bệnh nhân đỡ đau sau mổ, thời gian hồi phục nhanh (ăn đường miệng, đi lại, nằm viện) ngắn hơn so với mổ mở. Ưu điểm tiếp theo đó là tính thẩm mĩ, Nếu như mổ mở trẻ phải chịu một sạo mổ dài dưới sườn phải hoặc đường giữa trên rốn thì mổ nội soi hầu như không có sẹo mổ. Hơn thế nữa nang OMC phần lớn gặp trẻ nữ, hầu hết các nghiên cứu tỉ lệ trẻ nữ cao gấp 3,5-4 lần trẻ nam [6]. Do vậy tính thẩm mĩ cho nữ giới càng trở nên quí giá.Thời gian phẫu thuật luôn là một thách thức lớn với tất cả các PTV đặc biệt là trẻ nhỏ khi mà phẫu trường thao tác chật hẹp. Nếu thời gian phẫu thuật quá dài sẽ ảnh hưởng đến vấn đề hồi sức trong cũng như sau mổ. Để rút ngắn thời gian mổ cần đến nhiều yếu tố, quan trọng nhất là trình độ của phẫu thuật viên, bác sĩ phụ mổ, y tá dụng cụ và phối hợp ăn ý với nhóm gây mê. Ngoài ra đòi hỏi phương tiện dụng cụ phải đồng bộ, phù hợp, tuổi bệnh nhân được phẫu thuật, kích thước cũng như mức độ viêm dính của nang. Vì vậy thời gian phẫu thuật giai đoạn đầu lúc mới tiến hành phẫu thuật nội soi dài hơn nhiều so với những trường hợp phẫu thuật sau này. Thời gian mổ trung bình của chúng tôi là 189,2 ± 8,23 phút. Thời gian này tương đương với thời gian mổ của các tác giả khác trong nước và thế giới [10], [11], [12].Khi phẫu thuật viên có kinh nghiệm mổ nội soi, việc thực hiện cắt nang, miệng nối mật ruột chính xác hơn so với mổ mở. Trong mổ mở việc thực hiện các thao tác phẫu thuật đôi khi rất khó khăn do trẻ nhỏ, phẫu trường sâu, hẹp thì với phẫu thuật nội soi do gan được treo lên thành bụng một cách khoa học (như kỹ thuật mô tả trên), cùng với độ phóng đại của camera, việc thao tác phẫu thuật trở nên rất thuận lợi. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ biến chứng trong mổ (chảy máu, thủng đường tiêu hoá), hoặc tỉ lệ bục, xì, rò hoặc hẹp miệng nối mật ruột trong mổ nội soi đều thấp, không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở, tỉ lệ nhiễm trùng đường mật ngược dòng nghiên cứu
Xem thêm

8 Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT Ở PHỤ NỮ potx

ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT Ở PHỤ NỮ POTX

TRANG 1 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT Ở PHỤ NỮ BẰNG BĂNG NÂNG NIỆU ĐẠO KIỂU TVT TÓM TẮT MỤC TIÊU: Đánh giá kết quả ban đầu áp dụng phẫu thuật đặt băng nâng niệu [r]

13 Đọc thêm

Tài liệu ĐỀ CƯƠNG NỘI TIÊU HÓA-PHẦN TRIỆU CHỨNG(tt) pdf

TÀI LIỆU ĐỀ CƯƠNG NỘI TIÊU HÓA-PHẦN TRIỆU CHỨNG(TT) PDF

Các acid mật nguyên phát: A.cholic và A.Deoxycholic; các acid này được liên hợp với taurin và glycin tại tế bào gan tạo thành các muối mật . Các acid mật xuống ruột được chuyển thành các acid mật thứ phát: a.deoxycholic và a.lithocholic - Chán ăn, sợ mỡ, đầy bụng do thiếu mật nên lipid và một số vitamin không được hấp thu . Đau tức HSP do tắc mật gây tăng áp lực đường mật gây đau - Nước tiểu vàng : tuỳ nguyên nhân gây vàng da mà nước tiểu vàng mức độ khác nhau + Trong viêm gan virus: nước tiểu vàng sậm như nước vối: Urobilinogen nước tiểu khi ra ngoài không khí bị oxy hoá thành bilirubin có màu vàng làm nước tiểu có màu vàng. Trong viêm gan virus do tế bào gan bị tổn thương nên quá trình sử dụng urobilinogen từ chu trình ruột - gan kém hiệu quả dẫn đến tăng nồng độ urobilinogen trong máu, chất này qua được thận làm tăng nồng độ của nó trong nước tiểu. Và do đó nước tiểu có màu vàng sậm như nước vối + Huyết tán: hồng cầu huỷ nhiều làm tăng lượng bilirubin cả gián tiếp và trực tiếp, lượng urobilinogen tăng làm nước tiểu vàng hơn - Phân lỏng, sống phân, phân bạc màu: bình thường phân có màu vàng do stercobilin có trong phân. Khi bị tấc mật lượng stercobilin trong phân giảm làm phân bạc màu, tắc hoàn toàn phân có thể trắng như phân cò. Phân lỏng và sống phân do thiếu mật nên các chất mỡ không được tiêu hoá * Thực thể: - Da, niêm mạc vàng: nhìn dưới ánh sáng tự nhiên, nhìn các vùng da mỏng( mặt trong cẳng tay cánh tay, mặt trong đùi, ..củng mạc mắt(lòng trắng)) - Nhiều vết xước trên da do gãi ngứa gây nhiễm khuẩn - Ít gặp:u vàng, mảng vàng do ứ đọng cholesterol - Mạch chậm < 50ck/p do tình trạng ứ mật gây ngấm vào tổ chức các cơ quan trong đó có cơ tim gây , các muối mật và acid mật gây nhịp tim chậm - Gan to, chắc, bờ tù , bề mặt gan nhẵn ấn tức - Túi mật to, đau ( do ứ mật) 3.2 Cận lâm sàng: * XN máu:
Xem thêm

9 Đọc thêm

Viêm đường mật cấp pps

VIÊM ĐƯỜNG MẬT CẤP PPS

Viêm đường mật cấp 1. Đại cương: 1) Viêm đường mật cấp thường gặp trong các trường hợp túi mật không hoàn toàn. Đường mật giãn và ứ trệ mật sau một vài ngày, vi khuẩn phát triển tong đường mật gây nên. 2) Cơ chế: vi khuẩn xâm nhập đường mật theo các con đường sau: - Vi khuẩn di chuyển từ đường ruột lên: + Theo giun đũa. + Theo cơ chế như một cái bơm hút vi khuẩn: sỏi mật di chuyển phần thấp ống mật chủ + sự co rút của đường mật (bơm). - vi khuẩn theo đường bạch huyết từ ruột lênvà khu trú tại đường mật. 3) Vi khuẩn đường mật thường gặp là: - E. Coli. - Klebsiella. - Enterobacter. - Entero coccus. - Vi khuẩn kị khí (Clostridium và Bacterocide fragillis). 2) Viêm đường mật cấp cấp nếu điều trị không triệt để sẽ gây nên viêm mủ và áp xe đường mật. từ đường mật vi khuẩn sẽ tràn vào máu gây nhiễm khuẩn huyết. 1. Lâm sàng: 1) Cơ năng: - Cơn đau bụng gan. - Rối loạn tiêu hoá: nôn, buồn nôn. 2) Toàn thân: - Tình trạng nhiễm khuẩn: Sốt: sốt nóng, sốt rét 39 - 40C, thường gặp hơn về buổi chiều. - Mệt mỏi. - Vàng da ngày càng đậm (tiến triển cùng với các cơn đau bụng gan), da sạm.
Xem thêm

6 Đọc thêm

đánh giá kết quả phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể, đặt thuỷ tinh thể nhân tạo ở trẻ em từ 3 - 15 tuổi

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TÁN NHUYỄN THỦY TINH THỂ, ĐẶT THUỶ TINH THỂ NHÂN TẠO Ở TRẺ EM TỪ 3 - 15 TUỔI

1 đặt vấn đề Đục thể thuỷ tinh (TTT) ở trẻ em là một bệnh lý phức tạp và khá phổ biến, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù loà hoặc làm giảm thị lực đáng kể ở lứa tuổi này. Trên thế giới, tỷ lệ trẻ em mù do đục TTT chiếm khoảng 15 - 20% ở các nước đang phát triển và chiếm từ 10-38% trong các trường hợp mù. Trong đó, tỷ lệ trẻ em mù do đục TTT bẩm sinh chiếm khoảng 10% [ 11], [14]. Điều trị đục TTT ở trẻ em đã có được những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây và việc sử dụng thể thuỷ tinh nhân tạo để chỉnh quang cho trẻ mổ đục TTT đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới [ 16], [21], [27]. Tuy nhiên, sau phẫu thuật, tỷ lệ đục bao sau thứ phát cao 50-100%. Đục bao sau có thể xảy ra rất sớm sau phẫu thuật, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhược thị. Vì vậy, phẫu thuật cắt bao sau, dịch kính trước đã được coi như một thì trong phẫu thuật TTT ở trẻ em, đặc biệt ở trẻ dưới 5 tuổi [ 16], [20]. Ngoài ra còn một số biến chứng khác như VMBĐ tăng NA, fibrin trên TTTNT, bán lệch TTTNT hay xảy ra sau mổ. Việc điều trị bằng thuốc gây tốn kém và mất nhiều thời gian cho bệnh nhân. Hiện nay với phương pháp tán nhuyễn TTT qua đường rạch nhỏ và đặt TTT nhân tạo mềm đang được áp dụng ở Việt Nam và trên thế giới. Nhờ phương pháp này các nhà nhãn khoa đã thu được những kết quả rất thành công, giảm thiểu được rất nhiều biến chứng sau mổ [ 8], [15]. Gần đây một số tác giả trên thế giới đã công bố kết quả của phương pháp tán nhuyễn TTT trên mắt đục TTT ở trẻ em đặt TTT nhân tạo có kèm theo cắt bao sau và dịch kính trước đạt kết quả tốt [ 37], [54]. Hiện nay tại khoa Mắt trẻ em Bệnh viện Mắt Trung Ương đã bắt đầu áp dụng phương pháp này, nhưng chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về kết quả của phương pháp. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá kết quả phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể, đặt thuỷ tinh thể nhân tạo ở trẻ em từ 3 - 15 tuổi". Với hai mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể, đặt thuỷ tinh thể nhân tạo ở trẻ em từ 3 - 15 tuổi. 2. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật.
Xem thêm

99 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng miệng nối Roux-en-y cải tiến sau cắt đoạn dạ dày cực dưới để điều trị loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MIỆNG NỐI ROUX EN Y CẢI TIẾN SAU CẮT ĐOẠN DẠ DÀY CỰC DƯỚI ĐỂ ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG VÀ UNG THƯ DẠ DÀY

Cắt đoạn dạ dày là một trong những phương pháp ngoại khoa điều trị triệt để bệnh ung thư dạ dày và loét dạ dày tá tràng. Phẫu thuật cắt đoạn dạ dày được thực hiện lần đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ XX và cho đến nay đã trở thành phẫu thuật thường quy trong thực hành chuyên ngành phẫu thuật bụng. Tái lập lưu thông tiêu hoá dạ dày-ruột sau phẫu thuật cắt đoạn dạ dày được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như Billroth I (Pean hay Von Haberer), Billroth II (Polya hay Finsterer), hoặc Roux-en-Y. Do tính chất đơn giản và dễ áp dụng của các phương pháp Billroth I, II nên trong hơn một thế kỷ qua, phần lớn phẫu thuật viên đều lựa chọn một trong hai phương pháp này để tái lập lưu thông tiêu hoá sau phẫu thuật cắt đoạn dạ dày. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng các phương pháp tái lập lưu thông dạ dày-ruột này mang lại không ít các rối loạn hay di chứng sau mổ ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân. Năm 1897, Cesar Roux đề xuất phương pháp tái lập lưu thông tiêu hoá sau cắt đoạn dạ dày bằng cách đưa một quai ruột lên nối với mỏm dạ dày còn lại và ông cho rằng phương pháp này cho phép giảm hay tránh được các di chứng hay nhược điểm mà các phương pháp trước đây gặp phải. Phẫu thuật Roux-en-Y đã giải quyết những tồn tại của phương pháp Billroth II để lại như hội chứng quai tới, viêm niêm mạc dạ dày hay ung thư mỏm cắt do trào ngược dịch mật. Mặt khác, trong phẫu thuật điều trị ung thư dạ dày và loét dạ dày mong muốn chung của các phẫu thuật viên là không chỉ an toàn, giảm thiểu tai biến, biến chứng, kéo dài cuộc sống mà còn một yêu cầu rất quan trọng là làm sao mang lại chất lượng sống tốt nhất cho
Xem thêm

12 Đọc thêm

Y học- điều bạn cần biết trong cuộc sống

Y HỌC- ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT TRONG CUỘC SỐNG

bàng hệ, xuất huyết tiêu hóa. Xét nghiệm chức năng gan bị suy giảm.Tắc mật do sỏi ống mật chính: Bệnh nhân có cơn đau quặn gan rất dữ dội. Đau hạ sườn phải, lên ngực và vai. Sốt rét run, da vàng nhiều. Tam chứng: Đau bụng, sốt, vàng da bị tái đi tái lại nhiều lần. Xét nghiệm máu có tăng sắc tố mật và muối mật, hủy tế bào gan.U đầu tụy: Thường là ung thư. Vàng da xuất hiện âm thầm, ngày càng tăng. Phân bạc màu, trắng như phân cò. Sốt ít hay không sốt. Gan to, túi mật to, không có cơn đau quặn gan. Siêu âm thấy u đầu tụy.Sốt rét: Gặp vùng núi. Sốt từng cơn, có rét run, ngoài cơn lại bình thường. Da vàng nhẹ, lách to. Xét nghiệm máu tìm thấy ký sinh trùng sốt rét.Sốt xoắn khuẩn Leptospira: Da vàng, niêm mạc mắt sung huyết, có màu vàng đỏ. Sốt cao, rét run. Đau cơ, chảy máu dưới da, mê sảng. Xét nghiệm máu urê, creatinin tăng cao, men gan tăng. Xét nghiệm nước tiểu có thể thấy xoắn khuẩn Leptospira.Nhiễm khuẩn huyết: Do E. coli, tụ cầu… Sốt cao, kéo dài, vàng da, gan to ít, không đau, túi mật không to. Cấy máu có vi khuẩn dương tính. Công thức máu: Bạch cầu tăng cao.Viêm gan do nhiễm độc: Xảy ra do gây mê bằng clorofoc hoặc uống các thuốc clopromazin, atophan, thuốc chống lao, thuốc tránh thai, rắn cắn.Bệnh hanot giai đoạn đầu: Có vàng da mạn tính, gan to, lách to. Nhưng không có suy gan, tắc mật và cổ trướng.Ung thư gan: Vàng da ngày càng tăng. Nước cổ trướng màu vàng xanh như mật, có thể là nước máu do ung thư di căn đến màng bụng. Gan to, phát triển nhanh, mặt gồ ghề, mật độ chắc. Siêu âm thấy hình ảnh khối u rõ.Ngoài ra vàng da còn do nhiều nguyên nhân khác ít gặp như hội chứng Gilbert, bệnh thiếu hụt men chuyển hóa bilirubin, viêm phổi thùy, thương hàn, viêm ruột thừa, sốt hồi quy.Theo thứ tự thường gặp thì sắp xếp như sau: Viêm gan siêu vi, sỏi mật, xơ gan, viêm gan do nhiễm khuẩn, sốt rét, huyết tán, u đầu tụy.Điều trị:Nói chung, phải điều trị theo nguyên nhân gây bệnh, nhưng phần lớn vàng da do tắc nghẽn đường dẫn mật thì điều trị bằng ngoại khoa; còn vàng da
Xem thêm

14 Đọc thêm

Triệu chứng và cách phòng - chữa bệnh sỏi mật pdf

TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH PHÒNG - CHỮA BỆNH SỎI MẬT PDF

Thuốc chữa biến chứng: Sỏi mật thường có một số biến chứng: viêm nhiễm khuẩn đường mật, túi mật cấp, hoại tử túi mật, thấm mật vào phủ tạng, rất nguy hiểm, để lại hậu quả nặng nề phải can thiệp bằng ngoại khoa. Rò đường mật (sỏi làm thủng đường dẫn mật làm cho mật chảy vào các tạng bên trong ổ bụng. Ứ nước túi mật (do sỏi mật làm tắc ống túi mật mạn tính). Xơ gan do ứ mật: (do ứ mật lâu ngày kèm viêm nhiễm làm tổn thương nhu mô gan.) Thuốc điều trị các biến chứng bao gồm: - Kháng khuẩn thường dùng là aminogycosid và quinolon. - Lợi mật thường dùng là hoá dược hay là các thảo dược (actichaut). Sỏi đường mật thường gây nên những biến chứng rất nguy hiểm ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, người bệnh cần khám tại nơi có đủ điều kiện để xác định có bị sỏi mật hay không, thuộc loại nào, mức độ nào thầy thuốc mới cho dùng thuốc hay can thiệp ngoại khoa. Tránh chậm trễ, dùng thuốc tuỳ tiện.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bệnh nang thận nguyên nhân và điều trị potx

BỆNH NANG THẬN NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ POTX

Biến chứng của nang thận có thể dẫn đến nang nhiễm trùng, tụ mủ; sỏi trong nang; nang hóa ác; nang quá to gây chèn ép hay vỡ nang. Điều trị Nang thận đơn độc được phát hiện dễ dàng qua siêu âm hoặc CT-Scan, đặc biệt phương pháp CT-Scan giúp tầm soát chính xác cao. Nếu nang nhỏ (dưới 6cm), không biến chứng thì không cần can thiệp. Nang thận có kích thước lớn (hơn 6cm) nên mổ vì nó gây đè ép chủ mô thận, dần dần ảnh hưởng đến chức năng thận. Ảnh minh họa.Đối với những nang nhỏ hơn nhưng gây biến chứng nhiễm trùng nang, xuất huyết trong nang gây đau nhiều mà qua điều trị nội khoa không đỡ, tái phát nhiều lần nên xét đến can thiệp ngoại khoa. Điều trị nang thận đơn độc và thận nhiều nang có nhiều phương pháp như:• Chọc hút nang thận và bơm chất làm xơ hóa dưới hướng dẫn của siêu âm. Phương pháp này có tỷ lệ tái phát cao (trên 70% sau 3 tháng). • Mổ hở cắt chóp nang: Phương pháp này gây đau nhiều, thời gian nằm viện dài, có sẹo mổ, bệnh nhân hồi phục sức khỏe chậm. • Phẫu thuật nội soi cắt chóp nang: Đây là lọai phẫu thuật có nhiều ưu điểm: số ngày nằm viện ngắn, vết mổ nhỏ, ít đau, người bệnh hồi phục sức khỏe nhanh. Hiện nay phương pháp này được xem là phẫu thuật an toàn và hiệu quả nhất. Với thận đa nang: thường do di truyền, cần được theo dõi mỗi 6 tháng siêu âm một lần. Nếu chúng gây đau, nhiễm trùng thì phải có sự can thiệp của các bác sĩ chuyên khoa niệu. Nang lớn hơn 6cm thì phải mổ vì nó sẽ đè ép các đơn vị thận bên cạnh làm cho những đơn vị này không “làm việc” được. Phòng bệnh Không có dự phòng đặc hiệu cho bệnh nang thận. Do đó, khi phát hiện bị nang thận, người bệnh không nên quá lo lắng, vì tùy theo kết luận của bác sĩ
Xem thêm

5 Đọc thêm

UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT NGOÀI GAN – Phần 1 potx

UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT NGOÀI GAN – PHẦN 1 POTX

UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT NGOÀI GAN – Phần 1 1-Đại cương: Ung thư đường mật là bệnh lý ác tính hiếm gặp, chiếm khoảng 2% tổng số các trường hợp ung thư. Tuy nhiên, ung thư đường mật là bệnh lý ác tính phổ biến thứ nhì của gan mật, chỉ đứng sau ung thư tế bào gan. 90% ung thư đường mật nguyên phát là ung thư đường mật ngoài gan, trong đó 60-80% là ung thư ngã ba ống gan (khối u Klatskin), 25% là ung thư đoạn cuối ống mật chủ (bao gồm ung thư bóng Vater). Nam giới và nữ giới có nguy cơ bị ung thư đường mật ngang nhau. Độ tuổi càng cao, nguy cơ bị ung thư đường mật càng lớn. 90% ung thư đường mật là ung thư ống tuyến (ductal adenocarcinoma). Phân loại ung thư ngã ba ống gan theo Bismuth (hình 1): o Týp I: khối u giới hạn ống gan chung o Týp II: khối u xân lấn vào ngã ba ống gan o Týp IIIa và IIIb: khối u xân lấn vào ống gan phải hay ống gan trái đoạn trong gan  Týp IV: khối u xân lấn vào ống gan phải và ống gan trái đoạn trong gan   Hình 1- Phân loại ung thư ngã ba ống gan theo Bismuth Các trường hợp bệnh lý gây viêm hay kích thích đường mật kéo dài được xem là nguyên nhân của ung thư đường mật. BN bị viêm đường mật xơ hoá nguyên phát, một bệnh lý viêm không rõ nguyên nhân của đường mật, có nguy cơ bị ung thư đường mật 40%. 25% BN bị nang đường mật bẩm sinh sẽ bị ung thư đường mật sau này. Nhiễm ký sinh trùng mãn tính đường mật (Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini) cũng là yếu tố nguy cơ của ung thư đường mật (bảng 1). Viêm đường mật xơ hoá nguyên phát Nang đường mật bẩm sinh Nhiễm ký sinh trùng đường mật Sỏi túi mật, sỏi gan
Xem thêm

8 Đọc thêm

Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Đại học y Hà Nội

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi túi mật là bệnh lý khá phổ biến trên thế giới đặc biệt ở các nước Âu-Mỹ, tỷ lệ sỏi túi mật ở Mỹ là 10% [6], [30]. Ở Việt Nam bệnh lý sỏi chủ yếu ở đường mật và sỏi trong gan. Trong vài thập kỷ trở lại đây cùng với sự phát triển của siêu âm chẩn đoán, và sự thay đổi trong khẩu phần ăn (tăng chất béo, protein..), tỷ lệ s ỏi túi mật cũng như các bệnh lý túi mật được chẩn đoán và điều trị có chiều hướng tăng cao [3], [27], [31], [56], [57], [66]. Cắt túi mật là phương pháp điều trị bệnh lý túi mật đã được thực hiện từ trước thập kỷ 80 và được coi là phương pháp kinh điển trong điều trị ngoại khoa bệnh lý túi mật. Phẫu thuật nội soi (PTNS) từ khi ra đời đã cho thấy nhữ ng ưu điểm vượt trội và đã dần thay thế phương pháp cắt túi mật kinh điển. Phương pháp này được công nhận khi Mühe thực hiện cắt túi mật nội soi lần đầu tiên ở Đức năm 1985 [1], [3], và sau công bố ca cắt túi mật nội soi thành công của Philippe Mouret tại Lyon, Pháp (năm 1987). Từ đó tới nay phẫu thuật cắt túi mật nội soi đã trở thành phương pháp điều trị ngoại khoa thường qui cho những bệnh lý về TM. Ở Việt Nam phẫu thuật cắt túi mật nội soi được tiến hành lần đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 1992, Bệnh viện Việt Đức năm 1993 và nhanh chóng được áp dụng ở các trung tâm ngoại khoa khác trên toàn quốc. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi hiện nay đã được thừa nhận với các ưu điểm ít đau, thời gian nằm viện ngắn, phục hồi sức khỏe nhanh và đạt yêu cầu về thẩm mỹ… [1], [58], [59]. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (ĐHYHN) đã triển khai phẫu thuật nội soi ngay từ những ngày đầu khi Bệnh vi ện bắt đầu hoạt động( 8/2008). Để điều trị các bệnh Ngoại khoa Tiêu hóa và Tiết niệu, PT cắt túi mật nội soi là một trong những phẫu thuật thường qui tại bệnh viện. Từ đó đến nay chưa có nghiên cứu nào có hệ thống đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng cũng như kết quả PT cắt túi mật nội soi tại cơ sở này. Xuất phát từ những vấn đề trên đây, để đánh giá kết quả PT cắt túi mật nội soi tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt túi mật nội soi tạ i Bệnh viện Đại học Y Hà Nội” giai đoạn từ tháng 8/2008 đến tháng 8/2011 với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng các bệnh lý túi mật do sỏi và không do sỏi được phẫu thuật cắt túi mật nội soi. 2. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán u vùng bóng Vater

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN U VÙNG BÓNG VATER

các thế hệ mới của chụp CLVT liên tiếp ra đời, thế hệ sau được cải tiến hơn thế hệ trước và đặc biệt hiện nay với thế hệ máy đa dãy đầu dò (từ 4 – 320 dãy) đã đóng một vai trò quan trọng trong chẩn đoán. Việt Nam, năm 1991 chiếc máy chụp CLVT đầu tiên bắt đầu hoạt động tại Bệnh viện Việt – Xô (nay là bệnh viện Hữu Nghị), ngày nay máy chụp CLVT đã trở nên phổ biến, được trang bị ngay các tuyến cơ sở [9]. 1.2. DỊCH TỄ HỌC: Ung thư vùng bóng Vater có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, ít gặp hơn ung thư tụy nhưng nhiều gấp 2-3 lần ung thư tá tràng [28]. Pháp: năm 1973 tại bệnh viện Saint Antoine trong 10 năm có 52 trường hợp u bóng Vater, bệnh viện Lille trong 17 năm có 26 trường hợp mắc bệnh, đến năm 1979 có 736 trường hợp mắc u vùng bóng Vater. Tỷ lệ mắc tương tự tại Anh và Mỹ, gặp 75% bệnh nhân trên 60 tuổi [15]. Tại Việt Nam, trước đây u bóng Vater ít được nghiên cứu, chỉ có thông báo ca lâm sàng, năm 1978 Nguyễn Đức Ninh đã báo cáo 5 trường hợp u bóng Vater [13], năm 1993 Đỗ Kim Sơn thông báo 2 trường hợp cắt khối tá tụy, 2 trường hợp mở tá tràng lấy u bóng Vater [19]. Gần đây, từ năm 1997 – 2001 tại bệnh viện Việt Đức, theo Đỗ Trường Sơn trong 73 trường hợp mổ 4cắt khối tá tụy điều trị ung thư tụy ngoại tiết có 56 trường hợp được xác nhận trên vi thể là Adenocarcinoma của bóng Vater [20], tuổi mắc bệnh tại Việt Nam hay gặp từ 50-60 tuổi [5], [10]. Có các bệnh hay phối hợp với ung thư bóng Vater là sỏi mật, u lành tính bóng Vater, hội chứng Gardner và hội chứng Peutz – Jeghers [15], [31]. Gần đây có nhiều tác giả đã nghiên cứu kỹ về mối liên quan của ung thư bóng Vater với tuổi, giới tính, màu da, tôn giáo, nơi sống, tập quán ăn uống, uống rượu, hút thuốc, tiền sử bệnh, môi trường và nghề nghiệp Tất cả
Xem thêm

81 Đọc thêm

Ung thư đại tràng - biến chứng viêm loét đại tràng mạn tính docx

UNG THƯ ĐẠI TRÀNG - BIẾN CHỨNG VIÊM LOÉT ĐẠI TRÀNG MẠN TÍNH DOCX

Các biến chứng khác bao gồm: nhiễm trùng khối u, áp xe, viêm phúc mạc, rò ra ngoài thành bụng hay sang các tạng lân cận. Điều trị Đối với ung thư đại tràng chưa biến chứng, phương pháp điều trị triệt để là cắt đại tràng. Đôi khi còn phải cắt bỏ toàn bộ một hay nhiều tạng bị ung thư xâm lấn hay di căn. Trường hợp ung thư di căn không thể cắt triệt để thì cắt bỏ đoạn ruột có khối u hoặc làm hậu môn nhân tạo, để đề phòng các biến chứng. Trong trường hợp tắc ruột, phương pháp điều trịcắt đại tràng kèm khối u hoặc làm hậu môn nhân tạo hoặc nối tắt nếu không cắt u được. Nếu khối u đã vỡ gây viêm phúc mạc thì phải cắt đại tràng có u và đưa hai đầu ruột ra ngoài. Ngoài điều trị bằng phẫu thuật, người ta còn sử dụng hóa trị và miễn dịch liệu pháp 5 fluoro-uracil thường được dùng để điều trị bổ túc sau mổ hoặc kết hợp với levamisol, hay acid folinic cho các trường hợp có di căn xâm lấn. Không dùng xạ trị cho ung thư đại tràng vì dễ gây viêm nhiễm xạ cho các tạng trong ổ bụng. Tử vong sau mổ ung thư đại tràng là khoảng 3 - 5% nếu chưa biến chứng và 20 - 30% nếu đã có biến chứng. Tiên lượng sống sau 5 năm tùy theo giai đoạn ung thư đại tràng (A: 70 - 85%; B: 50 - 60%; C: 25 - 45%; D: 0 - 6%).
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tài liệu Bài thuốc chữa sỏi mật doc

TÀI LIỆU BÀI THUỐC CHỮA SỎI MẬT DOC

Bài thuốc chữa sỏi mật Sỏi mật là một bệnh của đường tiêu hóa do có sỏi trong đường mật, có thể phát sinh các ống dẫn mật trong gan, ống mật chủ hoặc túi mật, bởi sự xuất hiện sỏi cholesterol hoặc sỏi sắc tố mật. Bệnh sỏi mật có thể gặp mọi lứa tuổi, nhưng phần lớn tuổi 20-50, càng nhiều tuổi càng dễ bị sỏi mật. Bệnh gặp phụ nữ cao hơn gấp 4-6 lần so với nam giới. Sỏi mật y học cổ truyền gọi là chứng thạch đởm. Đông y cho rằng, thạch đởm là do can uất khí trệ, ăn uống không điều độ hoặc do ngoại cảm thấp nhiệt mà thành bệnh. Xin giới thiệu bài thuốc trị sỏi mật: quả sung khô 50g, nhân trần 10g, hoa actisô 10g, lá vọng cách 10g, diệp hạ châu 8g, râu ngô 8g, kê nội kim (màng mề gà) 10g, nghệ vàng 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 20g, thổ phục linh 10g, cam thảo 8g. Sắc với 5 bát nước, thêm vào 5 lát gừng tươi, đun còn 2 bát, chắt ra. Đun thêm 2 lần, mỗi lần lấy 1 bát. Trộn chung cả 3 lần, cô lại còn 2 bát, chia đều uống trong ngày. Uống liên tục 25 - 30 thang, sau đó kiểm tra lại sỏi mật bằng siêu âm. Nếu đã hết sỏi, nghỉ một tháng lại uống thêm 5 thang để củng cố kết quả. Bài thuốc trên có 3 tác dụng chính là làm tan sỏi (chủ yếu là quả sung, kê nội kim và nghệ vàng), lợi mật, tống sỏi ra ngoài (chủ yếu là râu ngô, nhân trần, diệp hạ châu, vọng cách và ý dĩ), bổ can, kiện tỳ để nâng chức năng gan giúp không hình thành sỏi mới (chủ yếu là nhân trần, actisô, bạch truật ). Sử dụng hoa actisô chữa bệnh sỏi mật. Lời khuyên của thầy thuốc Chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt có ảnh hưởng rất nhiều đến bệnh sỏi mật. Muốn không bị sỏi mật cần hạn chế ăn thức ăn có hàm lượng cholesterol cao, các chất béo động vật, hạn chế đẻ nhiều, năng vận động để không bị béo phì, chữa các bệnh có nguy cơ sỏi mật, tránh giảm cân quá nhanh, tránh nhịn đói triền miên, chữa kịp thời các bệnh nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa Ăn nhiều rau, hoa quả, ăn cân đối khẩu phần, không nên ăn một loại thức ăn nhiều quá, cũng không nên quá kiêng khem. Khi bị bệnh sỏi mật cần đi khám và điều trị kịp thời.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Giáo án khoa điều dưỡng - XƠ GAN ppsx

GIÁO ÁN KHOA ĐIỀU DƯỠNG - XƠ GAN PPSX

chức chính (MHC) tìm thấy trên biểu mô đường mật gợi ý rằng những tế bào này như những tế bào trình diện kháng nguyên. Các lymphocyte tập trung khoảng cửa và bao quanh ống mật bị tổn thương. Những phát hiện này giống như bệnh ghép chống chủ sau khi ghép tuỷ xương gợi ý rằng tổn thương ống mật có thể qua trung gian miễn dịch. 3.1.2. Giải phẫu bệnh Xơ đường mật tiên phát được chia làm 4 giai đoạn dựa trên hình thái học. - Giai đoạn I: gọi là viêm đường mật tổn thương không sinh mủ mạn tính, đó là quá trình viêm khoảng cửa, đặc trưng bởi sự phá huỷ ống mật nhỏ và trung bình, sự xâm nhập các tế bào viêm cấp và mạn, xơ nhẹ, đôi khi ứ mật. Các u hạt quanh ống và các nang lympho gần ống mật bị tổn thương - Giai đoạn II: quá trình viêm giảm, số lượng ống mật giảm, xuất hiện các ống mật nhỏ hơn - Giai đoạn III: Bệnh tiến triển nhiều tháng, nhiều năm dẫn đến giảm các ống mật liên thuỳ, giảm tế bào gan, tăng tổ chức xơ quanh khoảng cửa thành mạng lưới các sẹo tổ chức liên kết - Giai đoạn IV: Xơ gan có thể nốt nhỏ hoặc nốt lớn 3.1.3. Lâm sàng 3.1.3.1. Triệu chứng Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng. Bệnh được phát hiện dựa trên men phosphatase kiềm tăng khi khám sức khoẻ. Với những bệnh nhân có triệu chứng, 90% là phụ nữ 35-60 tuổi. Triệu chứng sớm là ngứa toàn thân hoặc lúc đầu là lòng bàn tay và bàn chân. Mệt mỏi cũng thường là dấu hiệu sớm. Sau nhiều tháng hoặc nhiều năm, vàng da và sạm da vùng da hở. Những biểu hiện sớm khác phản ánh sự giảm tiết mật: ỉa phân mỡ và giảm các vitamin tan trong mỡ, lipid máu tăng đặc biệt cholesterol dẫn đến lắng đọng mỡ dưới da quanh mắt ( xanthelasma), trên khớp và gân xanthoma. Cuối cùng suy tế bào gan, tăng áp lực cửa và cổ chướng xuất hiện. Thực thể: Triệu chứng thực thể giai đoạn sớm có thể bình thường. Muộn hơn có thể có vàng da, sạm da, u vàng, gan to, lách to, ngón tay dùi trống, đau xương,
Xem thêm

16 Đọc thêm

PHẪU THUẬT CẮT U ĐƯỜNG MẬT RỐN GAN

PHẪU THUẬT CẮT U ĐƯỜNG MẬT RỐN GAN

Phẫu thuật cắt u đường mật rốn gan Trước khi tiến hành phẫu thuật, cần phải tìm kiếm các di căn trong xoang phúc mạc và khả năng cắt bỏ được của khối u. Để đánh giá mức độ xâm lấn của khối u vào gan, có thể sử dụng siêu âm trong lúc mổ. Các hạnh vùng được xem xét cẩn thận. Có thể sinh thiết lạnh bất kỳ vùng nghi ngờ nào bên ngoài giới hạn cắt bỏ của khối u. Nếu kết quả dương tính, các thủ thuật đặt stent hay nối tắc được thực hiện thay cho việc cắt bỏ khối u. Việc đánh giá mối liên quan của khối u với các mạch máu lân cận tương đối khó khăn. Để cho việc đánh giá này được thuận tiện, túi mật có thể được sử dụng như là một phương tiện lôi kéo ống mật chủ trong lúc mổ.Trước tiên, tách túi mật ra khỏi giường gan. Chú ý vẫn bảo tồn ống túi mật và động mạch túi mật. Sự di động của túi mật sẽ làm cho quá trình bóc tách dễ dàng hơn.Việc bóc tách bắt đầu từ dưới lên. Tìm ống gan chung và tĩnh mạch cửa ngay trên cổ tuỵ. Bóc tách động mạch gan và tĩnh mạch cửa ra khỏi lớp mô liên kết lỏng lẽo chung quanh. Như vậy phần được cắt bỏ cuống gan sẽ bao gồm ống mật chủ, mô liên kết lỏng lẽo, thần kinh và các hạch.H01 H02 Kẹp cắt ống mật chủ ngay tại vị trí sát với đầu tuỵ. Dùng kẹp kẹp đầu gần, nhấc ống mật chủ lên. Kéo động mạch gan sang trái, kẹp cắt động mạch túi mật. “Lột trần” động mạch gan phải và trái lên tới vị trí trên vị trí cắt khối u tối thiểu 1 cm. Tiếp tục bóc tách tĩnh mạch cửa lên tới nơi phân đôi.H03 Giới hạn cắt đầu gần khối u phụ thuộc vào mức độ an lan lên trên của khối u. Đối với khối u cách ngả ba ống gan tối thiểu 1 cm, vị trí cắt sát ngả ba ống gan. Trong trường hợp khối u đã xâm lấn tới ngả ba ống gan, hai ống gan được cắt gần sát các nhánh chính của nó.
Xem thêm

5 Đọc thêm

SỎI ĐƯỜNG MẬT pdf

SỎI ĐƯỜNG MẬT 1

o Mục đích:  Điều trị ứ đọng dịch mật, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc hình thành sỏi đường mật  Lấy sỏi đường mật (đối với phẫu thuật tạo hình Oddi) o Chỉ định:  Ống mật chủ có nhiều sỏi (≥ 6 mm)  Sỏi ống mật chủ tái phát trên BN trước đó đã được mở ống mật chủ  Sỏi ống mật chủ nguyên phát  Hẹp hay rối loạn vận động cơ vòng Oddi o Tạo hình Oddi (hình 4): ngoài các chỉ định chung của phẫu thuật dẫn lưu đường mật, lấy sỏi qua ngả Oddi qua ngả trước được chỉ định trong trường hợp ống mật chủ có kích thước nhỏ (≤ 6 mm). Kỹ thuật: di động tá tràng (thủ thuật Kocher). Nếu đã mở ống túi mật hay ống mật chủ, luồn một thông nhỏ xuống tá tràng, ngang qua cơ vòng Oddi để làm đường dẫn và nâng cơ vòng Oddi lên. Mở một đường ngang nhỏ trên thành trước tá tràng, ngay trên vị trí của Oddi. Xẻ một đường dài khoảng 1 cm (tính từ lỗ mở của bóng vater), vị trí 11 giờ, xuyên qua thành tá tràng và thành đường mật. Khâu hai mép đường xẻ bằng chỉ tan. Rút Fogarty. Nếu lấy sỏi ống mật chủ qua ngả này, cách thức tiến hành giống như qua ngả nội soi (ERCP). Kết thúc thủ thuật bằng việc đóng lại chỗ mở tá tràng theo chiều ngang o Phẫu thuật nối ống mật chủ-tá tràng: có thể nối theo kiểu bên-bên hay tận-bên. Điều kiện để có thể nối ống mật chủ với tá tràng (hay với hỗng tràng) là ống mật chủ phải dãn đáng kể (đường kính ≥ 2 cm). Phương pháp nối bên-bên có thể làm cho các mảnh vụn thức ăn trào ngược lên từ tá tràng lắng đọng túi cùng ống mật chủ, lâu ngày tạo thành sỏi và có thể gây viêm đường mật hay viêm tuỵ (hội chứng “hố đựng chất thải”, sump syndrome). Để tránh hội chứng này, miệng nối nên đủ rộng (≥ 1,5 cm). o Phẫu thuật nối ống mật chủ-hỗng tràng (hình 5): trong phẫu thuật này, một quai hỗng tràng được đưa lên (sau đại tràng ngang) nối với ống mật chủ theo phương
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tìm hiểu tình hình và các yếu tố liên quan bệnh U nang buồng trứng tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Trung Ương Huế

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN BỆNH U NANG BUỒNG TRỨNG TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

).3.2.2. Sủ dụng thuốc tránh thaiBảng 3.5. Tỷ lệ dùng thuốc tránh thaiThuốc tránh thai n =35 Tỷ lệ %Thuốc tiêm 1 2,86Que cấy 0 0,00Viên uống đơn thuần 3 8,57Viên uống kết hợp 1 2,86Tổng 5 14,29Trong 5 bệnh nhân (14,29%) dùng thuốc tránh thai có 3 bệnh nhân uốngthuốc đơn thuần (8,57%), thuốc tiêm 2,86% và uống viên kết hợp 2,86%.3.2.3. Tình hình sinh đẻ với UNBT13Biểu đồ 3.2. Tình hình sinh đẻ với UNBTCác đối tượng nghiên cứu bị UNBT có 1-2 con chiếm tỷ lệ cao nhất 57,14%.3.2.3. Triệu chứng hiện tạiBảng 3.6. Triệu chứng hiện tạiTriệu chứng hiện tại n Tỷ lệ %Tức nặng bụng dưới2468,57Tiểu khó1645,71Táo bón1234,29Khác925,71Bệnh nhân UNBT có dấu hiệu tức năng bụng dưới chiếm tỷ lệ 68,57%; tiểukhó (45,71%), táo bón (34,29%).3.2.4. Biến chứng 14Bảng 3.7. Biến chứng hiện tạiBiến chứng hiện tại n Tỷ lệ %Đau bụng nhiều hoặc âm ỉ 5 14,29Ra máu âm đạo 3 8,57Không có dấu hiệu trên 31 88,57Biểu đồ 3.4. Triệu chứng hiện tạiBệnh nhân không có dấu hiệu các biến chứng chiếm tỷ lệ cao nhất 88,57%.,đau bụng âm ỉ (14,29%), ra máu âm đạo (8,57%).3.2.5. Ngoại hình bệnh nhânBảng 3.8. Ngoại hình bệnh nhânNgoại hình bệnh nhân n Tỷ lệ %Béo phì 0 0,00Cân đối 3 8,57Gầy yếu 32 91,43Tổng 35 100,00Có 32 bệnh nhân UNBT gầy yếu chiếm 91,43%.Chương 4BÀN LUẬN15Tỷ lệ %BiếnchứngQua khảo sát, nghiên cứu 35 bệnh nhân UNBT tại Khoa sản – Bệnh việntrung ương Huế, chúng tôi có nhận xét như sau:4.1. TÌNH HÌNH BỆNH U NANG BUỒNG TRỨNGQua bảng 3.1, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, bệnh nhân bị UNBT vàoviện khám và điều trị chủ yếu tuổi sinh sản, đặc biệt tuổi 18 - 35 chiếm tỷ lệcao nhất (33,7%), nhóm 36-45 tuổi chiếm 28,57%. Bệnh nhân < 18 tuổi ít gặpUNBT(5,71 %). Kết quả này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của các tác giảkhác. Một số tác giả Nam Mỹ nhận thấy: u nang buồng trứng có thể gặp mọi lứatuổi, nhưng tuổi sinh sản khả năng bị UNBT nhiều hơn. Khoảng 2/3 các u nangbuồng trứng phát hiện được phụ nữ tuổi sinh sản, 5% u buồng trứng thấy trẻ em[9]. Việt Nam, theo Đinh Thế Mỹ 88,7% u nang
Xem thêm

22 Đọc thêm

Kết quả ban đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Kết quả ban đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Bài viết trình bày đánh giá kết quả ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em.

Đọc thêm

KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT

KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT

5. Lê Quan Anh Tuấn, Nguyễn Hòang Bắc, Ung Văn Việt (2004). “Lấy sỏi qua đường hầm Kehr”. Kỷ yếu tóm tắt các đề tài khoa học Đại hội Hội ngoại khoa Việt Nam lần thứ XI, Hà Nội: 81-82. 6. Lê Văn Đương, Lê Minh Châu và cộng sự (1991). “Phẫu thuật cấp cứu viêm đường mật”. Áp xe gan amip và sỏi đường mật. Tr. 189-200. 7. Mehmood A., Wani M.S. (2005). “Primary closure of the common duct over endonasobiliary Drainage Tubes”. World J. Surg., 19: 865-868. 8. Nguyễn Khắc Đức và cs (2006). “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật chính tại bệnh viện Việt Đức”. Y học Việt Nam, 319: 157-162. 9. Nguyễn Đình Song Huy, Nguyễn Đình Tam, Lê Công Khánh, (1999). “Phẫu thuật lấy sỏi đường mật chính qua phẫu thuật nội soi nâng thành bụng”. Báo cáo khoa học Hội ngoại khoa Việt Nam lần thứ X. tr. 113-117. 10. Petelin (2003). “Laparoscopic common bile duct exploration, lessons learned from >12 years’ experience”. Surg Endosc, 17: 1705-1715. 11. Phạm Hà Bắc, Phan Vũ Nhân và cộng sự (1991). “Nhận xét 51 ca tắc mật được mổ tại bệnh viện Phú Yên”. Áp xe gan amip và sỏi đường mật, tr. 179-182. 12. Phương Tiến Lương, Lê Hòang Anh, Dương Tính Phúc (1991). “Sỏi mật và biến chứng tại bệnh viện DakLak”. Áp xe gan amip và sỏi đường mật, tr. 173-178. 13. Văn Tần, Hồ Huỳnh Long, Nguyễn Cao Cương, Lê Hữu Phước (1999). “Mở ống mật chủ không đặt ống dẫn lưu”. Báo cáo khoa học Hội ngoại khoa Việt Nam lần thứ X, tr. 56-62.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cùng chủ đề