ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LOÉT BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BẰNG YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG BIỂU BÌ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "đánh giá hiệu quả điều trị loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường bằng yếu tố tăng trưởng biểu bì":

đánh giá hiệu quả điều trị loét bàn ch¬ân trên bệnh nhân đái tháo đường bằng chế phẩm “dầu mù u inopilo”

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LOÉT BÀN CH¬ÂN TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BẰNG CHẾ PHẨM “DẦU MÙ U INOPILO”

biến miền Nam Việt Nam và được dân gian dùng điều trị bệnh khá rộng rãi. Dầu mù u được chiết xuất từ hạt cây mù u từ lâu đã được các dân tộc vùng Nam châu Á, Châu Úc, châu Phi, Pháp dùng để điều trị bỏng, các bệnh ngoài da, giảm đau, làm lành vết thương, tái sinh biểu bì [42], [45], [69]. Việt Nam, dầu mù u được dùng với tác dụng sát khuẩn vết thương thông thường. Từ năm 1985, Nguyễn Quang Long bệnh viện Chợ Rẫy đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh được tác dụng giảm đau, chống viêm, kháng khuẩn, kích thích mọc mô hạt, tái sinh biểu bì của dầu mù u trong điều trị vết thương phần mềm, viêm xương trên lâm sàng [20], [18]. Theo báo cáo tại hội nghị điều dưỡng các bệnh viện khu vực phía Nam năm 2009, khoa Nội tiết - bệnh viện An Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng phác đồ dùng thuốc YHHĐ kết hợp với dầu mù u để điều trị tại chỗ những vết LBC bệnh nhân ĐTĐ, cho kết quả khả quan [8]. Song đó mới chỉ là các kinh nghiệm của các thầy thuốc chứ chưa có một nghiên cứu chính thống nào chứng minh hiệu quả thực sự của thuốc này. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá tác dụng của chế phẩm dầu mù u trong điều trị vết loét bàn chân trên bệnh nhân đái tháo đường” nhằm tìm ra một loại thuốc rẻ tiền mà có hiệu quả với hai mục tiêu:1. Đánh giá hiệu quả điều trị loét bàn chân trên bệnh nhân đái tháo đường bằng chế phẩm “Dầu mù u Inopilo”.2. Khảo sát tác dụng không mong muốn của chế phẩm “ Dầu mù u Inopilo”.3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1. TỔNG QUAN VỀ LOÉT BÀN CHÂN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG1.1.1. Quan điểm theo Y học hiện đại1.1.1.1. Tổng quan về đái tháo đường và các biến chứnga. Định nghĩa ĐTĐ: ĐTĐ là tình trạng tăng đường máu mạn tính được đặc trưng bởi rối loạn glucid, lipid, protid kết hợp với giảm tuyệt đối hoặc tương
Xem thêm

122 Đọc thêm

CHĂM SÓC BÀN CHÂN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (ĐTĐ) pot

CHĂM SÓC BÀN CHÂN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐTĐ

7. Đánh giá khả năng tự chăm sóc. Khám thần kinh: Dùng Monofilament Giày dép cho bệnh nhân ĐTĐ: Nên và không nên Đánh giá nhu cầu cần giáo dục: Bệnh nhân có biết được những ảnh hưởng của ĐTĐ trên bàn chân không. Bệnh nhân có biết cách chăm sóc chân thích hợp không. Bàn chân của bệnh nhân có được chăm sóc đầy đủ không. Đánh giá khả năng tự chăm sóc. Bệnh nhân có giảm thị lực không. Bệnh nhân có thể với tới chân để tự chăm sóc an toàn không. Có những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc chân hay không. Nguyên tắc điều trị nhiễm trùng bàn chân : Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời Kiểm soát đường huyết tốt . Vùng tổn thương phải được nghỉ ngơi hoàn toàn. Cắt lọc và rạch tháo mủ ngay khi có chỉ định và đúng cách. Sử dụng kháng sinh thích hợp. Chăm sóc và thay băng đúng cách hằng ngày. Tái hồi lưu thông mạch máu. Những công cụ hỗ trợ chân và những giày dép chuyên biệt. Giáo dục và tư vấn cho bệnh nhân khi về nhà. V. Điều trị vết loét bàn chân Chăm sóc vết thuong Ngâm chân Cắt gọt da cứng, chai Chai quanh ổ loét Làm sạch vết thương Điều trị bảo tồn với bó bột tiếp xúc toàn bộ: Vết loét 45x45mm
Xem thêm

14 Đọc thêm

Tài liệu CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG docx

TÀI LIỆU CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG DOCX

bệnh tiểu đường. Thật ra không phải vậy, dù bạn ăn ngọt nhiều đến đâu chăng nữa, cơ thểbạn có một cơ chế điều hòa rất hữu hiệu: bài tiết thêm insuline từ tụy tạng nhằm giảm lượngđường máu và để dành lượng dư thừa gan dưới dạng glycogen. Khi nào cơ thể thiếuđường như nhịn ăn, chạy bộ, chơi thể thao cơ thể sẽ lấy glycogen từ gan đổi lại thànhglucose để lượng đường trong máu lúc nào cũng không đổi là 1g/l. người bệnh tiểu đường, cơ chế này không còn hiệu quả nữa: bài tiết insuline không đủhoặc có đề kháng với insuline, khiến đường máu lên quá cao. Điều bí ẩn y học hiện nay chưagiải thích được là tại sao tụy tạng người bị tiểu đường không hề hư hại gì. Người ta phân biệt2 loại bệnh tiểu đường:- Loại 1, có lệ thuộc insuline hay IDDM, phát bệnh vào lúc trẻ, người bệnh gầy ốm.- Loại 2, không lệ thuộc insuline hay NIDDM, phát bệnh tuổi 40 trở lên, thường là ngườimập. Những triệu chứng khiến ghi ngờ mắc bệnh tiểu đường là ăn nhiều: mỗi bữa 5-6 chén,uống nước rất nhiều và tiểu nhiều nhưng người bệnh gầy ốm: người mập trước đây, sẽ cảmthấy giảm cân. Dân gian nói tiểu có kiến bu là tiểu đường. Chúng ta phải thử đường máu lúcđói và đường nước tiểu. Nếu có đường trong nước tiểu, là mắc tiểu đường nhưng đườngmáu phải tăng cao, lúc đói trên 1,4g/l. Bệnh tiểu đường ít khi nào gây tử vong ngay mà ngườibệnh chỉ chết vì những biến chứng nhiều năm sau: về tim mạch như xơ vữa động mạch, suymạch vành, cao huyết áp, về mắt: mờ do đục thủy tinh thể hoặc hư võng mô. Ngoài ra cònnhiều biến chứng nữa về thận, khớp, thần kinh, dễ nhiễm trùng, vết thương lâu lành, laophổi Điều trị bệnh tiểu đường bao gồm chế độ ăn và biện pháp dùng thuốc. Về chế độ ăn chongười bệnh tiểu đường hiện nay, Hiệp hội Tiểu đường Hoa Kỳ (ADA) đã thay đổi quan điểm,không còn bắt ăn kiêng nghiêm ngặt như trước đây.Người bệnh có thể ăn hơi lố một, hai bữa không sao nhưng nên kiêng lại bữa sau. Như vậy,người bệnh tiểu đường không bị ràng buộc quá, ăn kiêng được lâu dài mới cho kết quả tốt.Mục đích của chế độ ăn là duy trì đường máu mức ổn định: cân bằng với lượng thức ănvào, thuốc và hoạt động hàng ngày nhằm ngăn các biến chứng.Lượng kcalo tốt nhất là từ 34-36 kcalo/kg/ngày, khoảng 1.700 kcalo/ngày nếu cân nặng 50kg,so với người thường là 40-42 kcalo/kg/ngày. Cần thiết phải giảm cân những bệnh nhânmập phì.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tài liệu Biến chứng bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường docx

TÀI LIỆU BIẾN CHỨNG BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG DOCX

Biến chứng bàn chân bệnh nhân đái tháo đường Các nguyên nhân thuận lợi gây loét bàn chân Biến chứng thần kinh: Biến chứng thần kinh, gặp khoảng 40% BN ĐTĐ, làm giảm khả năng cảm nhận đau, nóng hay lạnh, đồng nghĩa với việc bạn sẽ không thể cảm nhận được chân đã bị tổn thương. Bạn có thể dẫm lên 1 cái đinh hoặc 1 hòn sỏi nhưng vẫn đi suốt cả ngày mà không hề hay biết, tương tự chân bạn cũng có thể bị 1 vết xước hoặc vết rách nhưng không biết nên không được điều trị kịp thời và chỉ khi chân bạn sưng to lên hoặc có nhiễm trùng nặng thì bạn mới biết, khi đó là đã giai đoạn muộn, điều trị thường không đạt kết quả tốt. Mạch máu: Các BN ĐTĐ dễ bị xơ vữa động mạch, các mạch máu bị hẹp hoặc tắc sẽ làm giảm lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể. Theo các nghiên cứu, có khoảng 20% BN ĐTĐ có hẹp hoặc tắc các động mạch chân. Hiện tượng kém nuôi dưỡng do máu đến ít sẽ hạn chế khả năng điều trị khỏi nhiễm trùng và lành các vết loét. Trường hợp bị tắc hoàn toàn động mạch, bàn chân và các ngón chân có thể bị hoại tử toàn bộ. Nhiễm trùng: Các BN ĐTĐ dễ bị nhiễm trùng hơn người bình thường, lý do là đường máu cao và tuần hoàn máu kém làm cho các phản ứng bảo vệ chống nhiễm trùng các BN này diễn ra chậm hơn và kém hiệu quả hơn. Đa số các BN ĐTĐ Việt Nam là những người sản xuất trực tiếp tại các cánh đồng hoặc nhà máy, họ tiếp xúc trực tiếp với các nguồn vi khuẩn rất lớn, vì vậy nếu có bất kỳ một vết loét nào thì nguy cơ bị nhiễm trùng cũng như nguy cơ ổ nhiễm trùng lan rộng là rất lớn. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như béo phì (làm tăng áp lực lên bàn chân), giảm thị lực (gây dễ ngã hoặc chấn thương bàn chân, khó phát hiện các tổn thương bàn chân), bị bệnh ĐTĐ đã lâu, kiểm soát đường máu kém (khó liền vết
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tài liệu Biến chứng bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường pdf

TÀI LIỆU BIẾN CHỨNG BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG PDF

Biến chứng bàn chân bệnh nhân đái tháo đường Các nguyên nhân thuận lợi gây loét bàn chân Biến chứng thần kinh: Biến chứng thần kinh, gặp khoảng 40% BN ĐTĐ, làm giảm khả năng cảm nhận đau, nóng hay lạnh, đồng nghĩa với việc bạn sẽ không thể cảm nhận được chân đã bị tổn thương. Bạn có thể dẫm lên 1 cái đinh hoặc 1 hòn sỏi nhưng vẫn đi suốt cả ngày mà không hề hay biết, tương tự chân bạn cũng có thể bị 1 vết xước hoặc vết rách nhưng không biết nên không được điều trị kịp thời và chỉ khi chân bạn sưng to lên hoặc có nhiễm trùng nặng thì bạn mới biết, khi đó là đã giai đoạn muộn, điều trị thường không đạt kết quả tốt. Mạch máu: Các BN ĐTĐ dễ bị xơ vữa động mạch, các mạch máu bị hẹp hoặc tắc sẽ làm giảm lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể. Theo các nghiên cứu, có khoảng 20% BN ĐTĐ có hẹp hoặc tắc các động mạch chân. Hiện tượng kém nuôi dưỡng do máu đến ít sẽ hạn chế khả năng điều trị khỏi nhiễm trùng và lành các vết loét. Trường hợp bị tắc hoàn toàn động mạch, bàn chân và các ngón chân có thể bị hoại tử toàn bộ. Nhiễm trùng: Các BN ĐTĐ dễ bị nhiễm trùng hơn người bình thường, lý do là đường máu cao và tuần hoàn máu kém làm cho các phản ứng bảo vệ chống nhiễm trùng các BN này diễn ra chậm hơn và kém hiệu quả hơn. Đa số các BN ĐTĐ Việt Nam là những người sản xuất trực tiếp tại các cánh đồng hoặc nhà máy, họ tiếp xúc trực tiếp với các nguồn vi khuẩn rất lớn, vì vậy nếu có bất kỳ một vết loét nào thì nguy cơ bị nhiễm trùng cũng như nguy cơ ổ nhiễm trùng lan rộng là rất lớn. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như béo phì (làm tăng áp lực lên bàn chân), giảm thị lực (gây dễ ngã hoặc chấn thương bàn chân, khó phát hiện các tổn thương bàn chân), bị bệnh ĐTĐ đã lâu, kiểm soát đường máu kém (khó liền vết
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu hiệu quả điều trị bằng thay đổi lối sống và Metformin trên bệnh nhân tiền đái tháo đường

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG THAY ĐỔI LỐI SỐNG VÀ METFORMIN TRÊN BỆNH NHÂN TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh lý ngày càng phổ biến, gây nhiều biến chứng trầm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân. Trên 85% bệnh nhân đái tháo đường là týp 2 béo, mà béo phì nhất là béo dạng nam là nguy cơ cao gây đề kháng insuline, mà đề kháng insuline sẽ phát triển tiền đái tháo đường và đái tháo đường týp 2 và bệnh tim mạch [7]. Thật vậy, khi vòng bụng càng tăng, thì mỡ tạng nhiều, hậu quả gây tiết nhiều hormone kháng insuline, bên cạnh đó còn có nhiều hormone gây viêm gây chết tế bào theo chương trình làm xấu thêm tình trạng tăng glucose máu, tăng lipid máu và gây xơ vữa sớm Có từ 20-40% bệnh nhân đái tháo đường týp 2 khi mới phát hiện đã có biến chứng nhất là biến chứng xơ vữa động mạch lớn [2]; điều này gợi ý là các rối loạn viêm và xơ vữa đã có ngay trong giai đoạn tiền lâm sàng hoặc giai đoạn tiền đái tháo đường. Tiền đái tháo đường được chẩn đoán khi có mức glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa vượt quá mức của chẩn đoán đái tháo đường, mức này còn được gọi là rối loạn glucose máu đói hay tổn thương dung nạp glucose. Tại Mỹ năm 2007, theo thống kê đã có 57 triệu người có tiền đái tháo đường. Khoảng 40-50% những người tiền đái tháo đường có nguy cơ phát triển thành đái tháo đường týp 2 trong vòng 10 năm; và tiền đái tháo đường cũng tăng nguy cơ bệnh tim mạch làm tăng bệnh suất và tử suất [17]. Theo Chương trình Phòng bệnh đái tháo đường (Diabetes Prevention Program/DPP) và nhiều nghiên cứu lớn cho rằng người tiền đái tháo đường có thể điều trị được, và ngăn chặn được tiền đái tháo đường chuyển qua đái tháo đường týp 2. Do vậy để ngăn ngừa đái tháo đường týp 2 cũng như các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thì phải ngăn ngừa ngay từ giai đoạn tiền đái tháo đường bằng cách thay đổi lối sống, tránh tĩnh tại, tránh béo phì; bằng cách tập luyện thể dục kèm tiết thực nhằm giảm cân, ví dụ theo DPP, đi bộ 30 phút mỗi ngày, và 5 ngày trong tuần, thì giảm từ 5 đến 7% trọng lượng cơ thể, ngăn được tiền đái tháo đường hay ngăn chuyển qua ĐTĐ gần 60%; thậm chí phải dùng thuốc cải thiện tính đề kháng insuline. DPP cũng chứng minh rằng dùng Metformin giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 đến 31%. Bên cạnh đó còn phải điều chỉnh huyết áp tốt cũng như lipid máu theo mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới. Tiền đái tháo đường và tăng insuline máu thường không có biểu hiện lâm sàng; tuy nhiên có vài bệnh nhân có ít dấu chỉ điểm lâm sàng gợi ý như chứng gai đen, dấu sừng hóa hay da đen vài vị trí như ở vòng cổ (còn gọi là Acanthosis Nigricans), khủy tay, đầu gối, vùng nách...mà các dấu này chỉ có bác sĩ chuyên khoa mới biết được. Do vậy phát hiện sớm tiền đái tháo đường là một việc làm hết sức quan trọng trong phòng chống đái tháo đường, cũng như thăm dò sớm các rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và đề kháng insulin trên bệnh nhân tiền đái tháo đường nhằm điều trị sớm, góp phần hạn chế tiến triển đến đái tháo đường týp 2. Vì vậy, Tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả điều trị bằng thay đổi lối sống và Metformin trên bệnh nhân tiền đái tháo đường” với hai mục tiêu: 1. Xác định sự rối loạn lipid máu, glucose, HbA1c, vòng bụng, BMI ở bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau điều trị bằng thay đổi lối sống và Metformin trong thời gian 3 tháng. 2. Đánh giá mối liên quan và tương quan giữa glucose máu, HbA1c trước và sau điều trị Metformin với các yếu tố nguy cơ (tiền sử gia đình, tuổi bệnh nhân, BMI, vòng bụng, huyết áp, rối loạn lipid máu).
Xem thêm

111 Đọc thêm

Tài liệu Chăm sóc bàn chân ở người đái tháo đường pptx

TÀI LIỆU CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG PPTX

Chăm sóc bàn chân người đái tháo đường Biến chứng mạch máu là bệnh khó tránh khỏi bệnh nhân đái tháo đường. Nếu như biến chứng động mạch vành và tai biến mạch máu não có thể dẫn đến đột tử thì biến chứng mạch máu ngoại vi bàn chân cũng là một bệnh thường gặp và gây ra không ít nguy hiểm, thậm chí nhiều người bệnh phải cắt cụt chi do hoại tử. Do vậy vấn đề cần thiết là có biện pháp chăm sóc bàn chân đúng cách cho người đái tháo đường. Những bệnh hay gặp bàn chân người đái tháo đường Bệnh thần kinh ngoại vi: Đường huyết cao làm hủy hoại lớp áo ngoài của các dây thần kinh, là nơi tiếp nhận cảm giác. Vì thế, người bệnh có thể không cảm thấy đau, nóng hay lạnh bàn chân và cẳng chân của mình, khi dẫm phải đinh hay các vật sắc nhọn hoặc khi bị bỏng mà không biết. Người ta gọi đó là hiện tượng "mất các cảm giác bảo vệ". Vì vậy, một vết thương dù nhỏ cũng có thể bị loét rộng ra và trở thành trầm trọng. Các biểu hiện sớm thường gặp là: cảm giác lạnh hai chân, ngứa hoặc tê bì; bứt rứt khó chịu, hoặc nóng ran hai bàn chân. Bệnh mạch máu ngoại vi: Thường xảy ra các mạch máu nhỏ và hẹp, làm giảm dòng máu tới chân.Việc kém máu nuôi làm cho da chân trở nên khô, nứt nẻ, dễ bị loét và nhiễm khuẩn. Biểu hiện này thường kín đáo, khó nhận biết như: thay đổi màu sắc da, lạnh hoặc tê bì hai chân, đau chân lúc nghỉ ngơi... Tổn thương mạch máu ngoại vi, nếu phối hợp với bệnh thần kinh ngoại vi, sẽ làm vết thương lâu lành. Mặt khác, đường huyết cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì thế, vết thương có thể bị loét, nhiễm khuẩn, có thể tiến triển thành hoại tử nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Khi đó nguy cơ cắt cụt chi rất cao. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến loét bàn chân là: Nam giới; mắc bệnh đái tháo đường trên 10 năm hoặc tuổi trên 60; kiểm soát đường huyết kém; có biến dạng bàn chân, chai chân, phồng rộp da chân...; đã từng bị loét bàn chân; có các biểu hiện của tổn thương thần kinh ngoại vi và/hoặc tổn thương mạch máu ngoại vi; giảm thị lực; có biến chứng thận; đi giày dép không phù hợp với bàn chân... Loét
Xem thêm

5 Đọc thêm

BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG pptx

BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG PPTX

với người bình thường. Người ta vẫn chưa biết (theo đánh giá hiện nay) sự can thiệp điều trị giai đoạn này (kiểm soát tốt tăng đường máu, điều trị tăng huyết áp) có cho phép làm chậm tiến triển hay không ; nhưng dù sao đi nữa thì microalbumin niệu cũng giảm một cách đáng kể. - Giai đoạn 4: Là giai đoạn bệnh thận đái tháo đường đã xác lập với protein niệu thường xuyên trên 0,5g/24giờ, tăng huyết áp động mạch là hằng định. Hội chứng thận hư thường xuất hiện. Những biến chứng khác ngoài bệnh thận đái tháo đường cũng thường gặp, đặc biệt là bệnh võng mạc (thường gây mù) bệnh thần kinh ngoại vi và hoặc thần kinh tự động. Mức lọc cầu thận giảm trung bình 1ml/tháng ; điều trị tăng huyết áp hiệu quả có thể làm chậm sự tiến triển này. Ngược lại, người ta vẫn chưa chắc chắn rằng sự kiểm soát đường máu nghiêm ngặt có tác động đến tiến triển của suy thận hay không. Tổn thương cầu thận là đặc trưng: tồn tại xơ hoá cầu thận lan toả, gồm dày màng đáy tiến triển và tăng chất nền gian mạch, trong 10-20% trường hợp tồn tại những nốt bắt màu bởi chất PAS (+) tích tụ gian mạch lân cận các cầu thận gọi là xơ hoá cầu thận dạng nốt của Kimmelstiel và Wilson. - Giai đoạn 5: Là giai đoạn suy thận giai đoạn cuối. Những bệnh nhân này chiếm một phần quan trọng trong số bệnh nhân được điều trị những trung tâm lọc máu ngoài thận và ghép thận. Khi mắc bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin (thường gặp cao hơn 10 lần so với nhóm khác), bệnh thận cũng là một biến chứng thường gặp, xuất hiện trong 20 - 40% của những bệnh đái tháo đường typ này ; 3-8% tiến triển đến suy thận mạn giai đoạn cuối. Trong bệnh thận đái tháo đường này, không có sự tăng lọc cầu thận. 3. Chẩn đoán gián biệt - những bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc Insulin trong thực hành không cần sinh thiết thận để khẳng định chẩn đoán nếu thời gian đái tháo đường đã hơn trên 10 năm và có bệnh lý võng mạc do đái tháo đường. Ngược lại, sinh thiết thận là cần thiết nếu 2 yếu tố này là không hội đủ và hoặc bệnh cảnh lâm sàng làm định hướng đến một bệnh nguyên khác.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Loét chân trên bệnh nhân Đái tháo đường doc

LOÉT CHÂN TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

 Nếu có bất cứ triệu chứng nào sau đây, bạn nên khám bác sỹ :  Vết thương, loét, hoặc bóng nước trên bàn chân hoặc bàn chân.  Đau  Đi bộ khó khăn  Đổi màu da chân: đen, xanh, hoặc đỏ  Lạnh chân  Sưng phồng chân hoặc mắt cá  Sốt, đỏ da hoặc sưng, hoặc các dấu hiệu khác của nhiễm trùng Chẩn đoán Bác sỹ sẽ cần làm một số xét nghiệm để đánh giá mức độ trầm trọng của vết thương :  Cấy vết thương để xác định xem có hiện diện của nhiễm trùng hay không  Chụp X-quang để xác định nhiễm trùng xương hay không,  Siêu âm Doppler mạch máu hoặc chụp động mạch để đánh giá lưu lượng máu tới chân có đầy đủ hay không.  Xét nghiệm đường huyết và HbA1C  Công thức máu để xác định xem có bằng chứng của các nhiễm trùng Điều trị Điều trị bao gồm : Thuốc Regranex gel là thuốc được sự chấp thuận của FDA để điều trị loét bàn chân đái tháo đường.Thuốc chứa yếu tố tăng trưởng giúp mau lành vết thương. Nâng cao chân Tránh áp lực lên vết loét chân giúp mau lành vết thương. Đôi khi, bàn chân được đặt trên máng bột để giảm áp lực trên chân. Chăm sóc vết thương Làm sạch vết thương và thay băng thường xuyên để ngăn ngừa nhiễm trùng. Kháng sinh
Xem thêm

7 Đọc thêm

Đái tháo đường dẫn đến loãng xương potx

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG DẪN ĐẾN LOÃNG XƯƠNG POTX

Đái tháo đường dẫn đến loãng xương Loãng xương là một loại bệnh về rối loạn chuyển hoá xương một cách âm thầm, lặng lẽ, không dễ phát hiện giai đoạn sớm. Là một loại bệnh toàn thân mà đặc điểm chính là sự giảm sút mật độ xương, kết cấu các tổ chức xương bị phá vỡ dẫn đến giòn xương, dễ gãy. Loãng xương không chỉ đem lại nỗi đau khổ cho bệnh nhân, mà còn gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng về gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội. Đặc biệt bệnh nhân đái tháo đường thì càng tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, làm cho bệnh nặng lên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, giảm khả năng lao động và có thể dẫn đến tàn tật suốt đời. 1. Đái tháo đường ảnh hưởng đối với chuyển hoá Canxi, Phốt pho và các khoáng chất: Những bệnh nhân đái tháo đường typ I cũng như typ II nếu không được điều trị tốt, đường huyết tăng cao, lượng đường bị đào thải ra ngoài theo nước tiểu nhiều kéo theo lượng Canxi, Phot pho cũng bị đào thải ra nhiều. Những khoáng chất này là thành phần chủ yếu của muối xương, nếu bị mất đi một số lượng lớn sẽ dẫn đến giảm sút mật độ xương gây ra loãng xương. Qua quan sát trên lâm sàng phát hiện thấy đường huyết lúc đói và số lượng đường trong nước tiểu càng tăng cao thì mật độ xương càng thấp, loãng xương càng dễ hình thành. Nếu đường huyết giảm xuống gần với trị số bình thường thì Canxi niệu cũng giảm xuống mức bình thường. 2. Đái tháo đường và chuyển hoá xương: Sự chuyển hoá cơ bản của xương chủ yếu dựa vào việc hình thành và tiêu huỷ xương. Sự hình thành của xương chủ yếu là chức năng của tế bào xương
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đái tháo đường và điều trị

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ ĐIỀU TRỊ

Bệnh tiểu đường hay đái tháo đường đang trở thành căn bệnh thời đại của thế kỷ, đái tháo đường làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống cũng như tính mạng của người bệnh luôn bị dình dập nếu như không phát hiện sớm và điều trị đái tháo đường kịp thời. Chính vì vậy chúng ta phải có cách phòng và điều trị bệnh đái tháo đường hiệu quả để tránh các biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường.

536 Đọc thêm

BÀI GIẢNG VIÊM CƠ NHIỄM KHUẨN

BÀI GIẢNG VIÊM CƠ NHIỄM KHUẨN

VIÊM CƠ NHIỄM KHUẨNNỘI DUNG1. Đại cương.2. Triệu chứng.3. Chẩn đoán .4. Điều trị.MỤC TIÊU1. Nắm được khái niệm về viêm cơ nhiễm khuẩn,các yếu tố nguy cơ của viêm cơ nhiễm khuẩn.2. Biết được các biểu hiện lâm sàng của viêm cơnhiễm khuẩn.1. ĐẠI CƯƠNG1.1. Khái niệmViêm cơ nhiễm khuẩn là các tổn thương cơ do VKgây nên. Các loại VK gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu(đặc biệt là tụ cầu vàng), liên cầu, trực khuẩn mủ xanh.Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ 2 yếutố: có VK gây bệnh và cơ bị tổn thương. Tổn thương cơtạo điều kiện cho VK xâm nhập, làm “tổ”, phát triển vàgây bệnh.1.2. Yếu tố nguy cơ mắc bệnh♦ Viêm cơ nhiễm khuẩn hay gặp những BN bị suygiảm miễn dịch: đái tháo đường, điều trị bằng
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – PHẦN 4 doc

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – PHẦN 4 23

- Tác dụng: tác dụng giống Metformine, viên 150 mg. Liều: 1-3 viên/ngày (tăng dần liều), bắt đầu 1-2, 3 viên/ngày. * ThiazolidineDione - Chỉ định tốt trong ĐTĐ týp 2 không béo có đề kháng insulin. - Tác dụng: Tăng tính nhạy cảm insulin, Giảm glucose, TG, tăng HDL. * Các nhóm thuốc mới: Glitazones tác dụng lên thụ thể, giảm được tính đề kháng insulin một cách trực tiếp mô đích, giảm glucose máu, nhưng dễ tăng cân. Gồm Rosiglitazone (Avandia) và Pyoglitazone bắt đầu dùng tại Pháp năm 2000. Avandia (Rosiglitazone maleate): liều 4mg/ngày, sau 12 tuần nếu cần kiểm soát đường huyết tốt hơn, có thể tăng 8 mg/ngày. Dùng lúc đói hoặc no. Chỉ định: - ĐTĐ týp 2 không kiểm soát đường huyết tốt sau tiết thực và tập thể dục. - Phối hợp với SU hoặc metformine khi ĐTĐ2 được điều trị bằng tiết chế và thuốc SU hoặc metformine mà chưa ổn định glucose máu tốt CCĐ trong suy tim độ 3-4 (NYHA), suy gan hoặc bệnh gan có ALT >2,5 lần BT. Tác dụng phụ: phù do giữ muối, nước, thiếu máu, rụng trứng trở lại trong giai đoạn tiền mãn kinh 2.3.4. Điều trị insulin trong ĐTĐ týp 2. * Điều trị insulin tạm thời (còn gọi là đái tháo đường týp 2 cần insulin hoặc viện đến insulin (insulino-nécessitant, insulinorequérant): Điều trị insulin bệnh nhân ĐTĐ týp 2 khi: - Triệu chứng nặng ra, mặc dù được điều trị tiết thực và thuốc uống hạ glucose máu. + Dấu 4 nhiều: khát, tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và gầy rõ. + Có cétone niệu (+++) + Tăng glucose máu nhiều và trường diễn (>3g/l), (HbA1c >7% mặc dù điều trị thuốc uống tối đa (gây tăng độc tính đường). - Đau nhiều chi dưới. - Các tình huống cần insulin: - Các bệnh nhiễm trùng
Xem thêm

19 Đọc thêm

Tài liệu Đề tài: “Khảo sát các chỉ số lưu huyết não trên bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế” ppt

TÀI LIỆU ĐỀ TÀI: “KHẢO SÁT CÁC CHỈ SỐ LƯU HUYẾT NÃO TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ” PPT

1. Xác định các thông số lưu huyết não bệnh nhân đái tháo đường (typ 2). 2. Tìm hiểu mối liên quan giữa các thông số lưu huyết với một số yếu tố nguy cơ (béo phì, trị số huyết áp, lipid máu) bệnh nhân đái tháo đường. 1II.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1. Đối tượng nghiên cứu2.1.1. Chọn bệnh nhân Chúng tôi chọn 40 bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định ĐTĐ typ 2. Tuổi bệnh nhân từ 40 trở lên. Khám và điều trị tại khoa Nội - Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Thời gian chọn mẫu nghiên cứu từ tháng 05/2007 đến tháng 04/2008.2.1.2. Chọn nhóm so sánh Số lượng: 40 người. Về độ tuổi: tương đương nhóm bệnh. Về giới: chọn số lượng giữa nam và nữ tương đương với nhóm bệnh. Tiêu chuẩn: là những người đến kiểm tra sức khoẻ tại bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và chưa phát hiện bất thường về lâm sàng và cận lâm sàng tại thời điểm khám. 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ Chúng tôi không đưa vào nghiên cứu những trường hợp sau: bệnh nhân không hợp tác, đang trong giai đoạn cấp, có bệnh nặng phối hợp.2.2. Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu ngang 2.2.1 Biến nghiên cứu chủ yếu:- Thông số lưu huyết não: - Hình dạng sóng lưu huyết não - Các thông số đánh giá cường độ dòng máu - Các thông số đánh giá trương lực mạch máu não- Béo phì- Huyết áp- Các thông số lipid máu:
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tổng quan về bệnh Đái tháo đường ( tiểu đường) ppt

TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ( TIỂU ĐƯỜNG) PPT

gây bệnh thận giai đoạn cuối, suy thận .Điều trị cần chạy thận nhân tạo hay thẩm phân phúc mạc để duy trì cuộc sống. Biến chứng thần kinh: Biến chứng thần kinh ngoại biên do Đái tháo đường gây mất cảm giác chân, tay hay dị cảm, tê, gây đau nhức…là nguy cơ của nhiễm trùng chân đưa đến đoạn chi. Sống chung với bệnh Đái tháo đường : Quản lý Đái tháo đường có nghĩa là thay đổi cách sống để giúp bạn sống khỏe mạnh cùng với bệnh Đái tháo đường. Nói chuyện với bác sĩ của bạn để được giúp đở . Chế độ ăn uống khỏe mạnh. Giúp ổn định đường huyết, giảm cân. Là một phần không thể thiếu trong việc điều trị Đái tháo đường. Tránh kiêng khem quá mức dể dẩn tới suy dinh dưỡng. Hạn chế thức ăn nhiều tinh bột., dầu mỡ không tốt…Nên ăn nhiều rau tươi, trái cây… Tập luyện thể lực . Giúp giảm cân, hạ đường huyết, giảm đề kháng insulin, hạ huyết áp, tăng sức cơ…Mỗi ngày nên đi bộ ít nhất 30 phút, 5 ngày trong một tuần. Uống thuốc hay tiêm Insulin theo toa của bác sĩ. Khi tập thể dục, chế độ ăn không hạ được đường huyết, bạn cần uống thuốc hay tiêm insulin theo chỉ định của Bác sỹ. Bỏ hút thuốc lá. Theo dỏi điều trị: Kiểm tra lượng đường trong máu của bạn thường xuyên. Nhờ bác sỹ kiểm tra Hb A1c (xét nghiệm giúp kiểm tra đường huyết trung bình của bạn) mỗi 2-3 tháng. Xét nghiệm mỡ trong máu, chức năng gan, thận mỗi 6 tháng Kiểm tra huyết áp mỗi lần khám bệnh. Khám mắt định kỳ hàng năm. Tự khám chân hàng ngày. Tham gia câu lạc bộ đái tháo đường
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Mục đích của luận án nhằm Phân tích một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Bước đầu nhận xét điều trị trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Đọc thêm

Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ enzyme myeloperoxidase huyết tương với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

NGHIÊN CỨU SỰ LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ ENZYME MYELOPEROXIDASE HUYẾT TƯƠNG VỚI BỀ DÀY LỚP NỘI TRUNG MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đái tháo đường là một bệnh lý nội tiết chuyển hóa phổ biến, ngày càng có khuynh hướng gia tăng trên khắp thế giới cũng như ở nước ta và đang trở thành một thách thức chính trong Thế kỷ XXI [4], [42], [171]. Đây là một nhóm bệnh chuyển hóa với đặc trưng là tăng glucose máu do thiếu hụt tương đối hay tuyệt đối về tiết và hay là tác dụng của insulin trên tế bào đích. Khi nói đến bệnh đái tháo đường nhất là đái tháo đường týp 2 người ta thường liên tưởng đến biến chứng tim mạch trong đó là tổn thương mạch máu lớn thường gặp như bệnh lý mạch máu não, động mạch vành và động mạch hai chi dưới. Biến chứng mạch máu lớn trong đái tháo đường thực chất là một thể xơ vữa động mạch vì đái tháo đường liên quan tới rối loạn chuyển hóa bao gồm tăng glucose máu, tăng huyết áp, rối loạn lipid và đề kháng insulin [86]. Xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 xảy ra sớm hơn, nặng hơn, lan rộng hơn so với người không bị bệnh đái tháo đường và ảnh hưởng không những đến các động mạch gần mà còn ở vị trí xa gốc. Các biến chứng mạch máu lớn làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não cao gấp 2 – 4 lần ở người đái tháo đường so với người không bị đái tháo đường [45]. Biến cố mạch vành là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên bệnh nhân đái tháo đường (hơn 65%) và tổn thương động mạch hai chi dưới đã và đang trở thành nguyên nhân chính gây cắt cụt chi ở bệnh nhân đái tháo đường [36]. Bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống gây xơ vữa động mạch như béo phì, tăng huyết áp, tăng glucose máu mạn tính, rối loạn lipid máu… đã gây những bất thường ở thành mạch, rối loạn chức năng nội mạc mạch máu, tăng ngưng tập tiểu cầu và tăng đông máu dẫn đến nguy cơ tổn thương mạch máu lớn. Gần đây vai trò của các yếu tố nguy cơ không truyền thống đã được đề cập như chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1, protein phản ứng C, microalbumin niệu...[86] và nhất là myeloperoxidase được nghiên cứu ghi nhận có liên quan đến xơ vữa động mạch ở những đối tượng có nguy cơ cao trong đó có bệnh đái tháo đường [106]. Viêm và stress oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong tiến trình xơ vữa động mạch [88]. Myeloperoxidase là enzyme được tiết ra từ bạch cầu, hoạt động như yếu tố viêm và stress oxy hóa. Myeloperoxidase có vai trò quan trọng trong tiến triển xơ vữa động mạch. Cơ chế gây xơ vữa động mạch của myeloperoxidase thể hiện bằng nhiều con đường bao gồm myeloperoxidase hoạt động như chất xúc tác làm tăng LDL oxy hóa, kết quả làm tăng thu nhận LDL vào lớp nội mạc, góp phần hình thành và phát triển tế bào bọt, hình thành mảng bám; làm rối loạn chức năng bảo vệ nội mạc của HDL đưa đến rối loạn chức năng nội mạc; Myeloperoxidase trực tiếp quét dọn nitric oxide, hạn chế sinh khả dụng của NO dẫn đến co mạch và thúc đẩy tổn thương nội mạc mạch. Rối loạn chức năng nội mạc phát triển sớm trong giai đoạn sớm của đái tháo đường trước khi biểu hiện lâm sàng bằng xơ vữa động mạch. Giảm nitric oxide và tăng stress oxy hóa là những yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của biến chứng đái tháo đường. Các mẫu oxy hóa phản ứng đóng vai trò quan trọng trong rối loạn chức năng nội mạc qua trung gian tăng đường huyết và biến chứng mạch máu. Myeloproxidase là dấu chỉ điểm cho rối loạn chức năng nội mạc và là chất tạo ra các mẫu oxy hóa phản ứng tăng trong đái tháo đường. Nồng độ myeloperoxidase tăng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đã được ghi nhận. Biến chứng tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người bị đái tháo đường. Vì vậy việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà chuyên môn. Do đó làm thế nào để phát hiện sớm và điều chỉnh kịp thời các yếu tố nguy cơ tim mạch là điều rất quan trọng vì nó giúp người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Song song với việc phát hiện yếu tố nguy cơ, nhiều phương pháp để đánh giá xơ vữa động mạch giai đoạn sớm như đo độ dày lớp trung nội mạc ở động mạch cảnh qua siêu âm là phương pháp không xâm nhập, có độ nhạy cao cũng được ứng dụng trên lâm sàng. Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã chấp thuận đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh để đánh giá nguy cơ tim mạch [45]. Liên quan giữa nồng độ myeloperoxidase huyết tương và bất thường cấu trúc nội mạc mạch máu ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại Việt Nam chưa thấy đề cập. Xuất phát lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1. Xác định một số yếu tố nguy cơ tim mạch, bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và nồng độ myeloperoxidase huyết tương trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2. 2.2. Đánh giá mối liên quan và tương quan giữa nồng độ myeloperoxidase huyết tương với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và một số yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống (tuổi, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu) và không truyền thống (HbA1C, CRP, fibrinogen huyết tương, bạch cầu..) trên những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 này. 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3.1. Ý nghĩa khoa học Nồng độ myeloperoxidase là dấu chỉ điểm sớm của xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 liên quan đến viêm và stress oxy hóa đưa đến rối loạn chức năng mạch máu. Đánh giá tổn thương động mạch cảnh bằng phương pháp đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là kỹ thuật không xâm nhập, dễ thực hiện, có độ tin cậy cao, hữu ích để đánh giá xơ vữa động mạch và nguy cơ tim mạch. Phương pháp nghiên cứu có thể giúp đánh giá cũng như tiên lượng sớm ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có sự thay đổi nồng độ myeloperoxidase huyết tương và tổn thương động mạch. Đề tài nhằm góp phần phát hiện yếu tố nguy cơ mới trong mục tiêu điều trị tích cực, nâng cao chất lượng sống bệnh nhân một cách khoa học dựa trên y học chứng cứ. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn Đo nồng độ myeloperoxidase và đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là hai phương pháp đơn giản, có thể được ứng dụng trong lâm sàng nhằm: - Phát hiện các đối tượng đái tháo đường týp 2 có nguy cơ cao về biến chứng mạch máu ở giai đoạn sớm của xơ vữa động mạch để đưa ra các biện pháp giải quyết tích cực. - Kết quả nghiên cứu có thêm chứng cứ ứng dụng nhằm làm cải thiện rối loạn chức năng nội mạc và cấu trúc bất thường trong thành động mạch góp phần làm chậm biến chứng tim mạch, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2. 4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Là luận án đầu tiên trong nước nghiên cứu nồng độ enzyme myeloperoxidase trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và mối liên quan giữa nồng độ chất chỉ điểm sinh học này của xơ vữa động mạch với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh. Là luận án giúp có một cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của myeloperoxidase trong xơ vữa động mạch. Kết quả nghiên cứu gợi mở hướng sử dụng thuốc điều trị để dự phòng xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Xem thêm

170 Đọc thêm

Tài liệu Chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường doc

TÀI LIỆU CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG DOC

Chăm sóc bàn chân bệnh nhân đái tháo đường Tổn thương bàn chân hay gặp trong bệnh ĐTĐ. Một trong những biến chứng hay gặp và có thể dẫn đến tàn phế là biến chứng trên bàn chân người đái tháo đường (ĐTĐ). Việc chăm sóc kỹ bàn chân người ĐTĐ rất quan trọng. một người ĐTĐ sẽ dễ tổn thương bàn chân, do bệnh làm tổn thương dây thần kinh ngoại biên và giảm lượng máu nuôi đến bàn chân. Hội ĐTĐ Hoa Kỳ ước tính có khoảng 1/5 người ĐTĐ phải vào bệnh viện vì vấn đề bàn chân. Chăm sóc đúng cách sẽ ngăn ngừa được các vấn đề này. Biểu hiện của bệnh ĐTĐ ĐTĐ là một bệnh mãn tính, đặc trưng bởi sự tăng đường huyết quá mức bình thường. Như chúng ta biết, trong các thức ăn chúng ta ăn vào phần lớn được biến thành một chất đường được gọi là glucose. Glucose là chất cung cấp năng lượng cho tế bào hoạt động. Trên bề mặt tế bào, có một loại thụ thể tiếp nhận một chất đặc biệt là insulin, sau đó sẽ kích hoạt sự vận chuyển glucose vào sử dụng trong tế bào. Insulin là một chất nội tiết được tiết ra bởi tế bào bêta tuyến tụy, gen sản xuất insulin nằm nhánh ngắn của nhiễm sắc thể 11. Insulin là một protein có 51 acid amin phân làm 2 chuỗi peptid (chuỗi A gồm 21 acid amin, chuỗi B gồm 30 acid amin nối với nhau bởi cầu S-S). Insulin của heo và bò chỉ khác với insulin người một chút, cho nên được sử dụng trong điều trị bệnh ĐTĐ. Vì một lý do nào đó tuyến tụy không thể tiết đủ lượng insulin thì đường trong máu không được tế bào sử dụng, dẫn đến hậu quả tế bào “đói đường”, đường trong máu tăng cao và nếu lượng đường máu vượt quá ngưỡng chức năng của thận sẽ có mặt đường trong nước tiểu. người bình thường lúc đói đường máu không quá 110mg/dl, khi trên 126 mg/ dl thì được chẩn đoán bệnh ĐTĐ (ít nhất qua 2 lần đo), đây là tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ. Chỉ khi nào đường trong máu vượt trên 180mg/dl thì mới có đường trong nước tiểu, nên thuật ngữ “ĐTĐ” không phản ánh đúng bản chất của bệnh, chắc có lẽ người ta dùng theo thói quen. Nhiều người đã
Xem thêm

7 Đọc thêm

Nghiên cứu bệnh tim đái tháo đường qua chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2

NGHIÊN CỨU BỆNH TIM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG QUA CHỈ SỐ TEI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những căn bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu và cũng là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay (ung thư, bệnh tim mạch và đái tháo đường). Theo Hiệp Hội Đái Tháo Đường Quốc Tế bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển.Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giớivào năm 2013 có khoảng 382 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [53]. Đái tháo đường (ĐTĐ) đặc biệt ĐTĐ type 2 là một bệnh rối loạn về chuyển hóa do sự suy giảm chức năng tế bào beta trên nền đề kháng insulin. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu vả rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong đó sự gia tăng glucose máu lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm của nhiều cơ quan[3]. Vì thế khi nói đến đái tháo đường type 2 người ta thường nghĩ ngay đến biến chứng tim mạch. Đây là các biến chứng có thể đặc hiệu hay không đặc hiệu xảy ra sớm và thường gặp. Đặc điểm biến chứng như bệnh cơ tim đái tháo đường, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim và bệnh lý thần kinh tự động tim thường xảy ra sớm ở phần lớn các trường hợp và cũng thường thầm lặng trong nhiều năm trước khi có biểu hiện lâm sàng cần phải can thiệp. Theo nghiên cứu dịch tễ của Frangminham tỷ lệ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 2 lần ở nam, gấp 5 lần ở nữ so với người không bị ĐTĐ, thậm chí sau khi đã loại trừ bệnh mạch vành, bệnh tim do thấp và các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp (THA), béo phì, rối loạn lipid máu thì tỷ lệ bệnh cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ vẫn cao gấp 4 – 5 lần so với người không bị bệnh này. Bệnh tim đái tháo đường là một bệnh lý liên quan đến vi mạch mạch vành, thường đi kèm tăng huyết áp và xơ vữa động mạch vành (động mạch vành thượng tâm mạc), xảy ra âm thầm và sớm với các biểu hiện của rối loạn chức năng tâm trương, sau đó rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Các biến chứng của đái tháo đường ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống cũng như gây nhiều tốn kém về kinh tế cho người bệnh. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2-3 lần ở nam giới và 3-5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các rối loạn về cấu trúc và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong vấn đề theo dõi, điều trị cũng như phòng bệnh.Việc chọn lựa một phương pháp thăm dò không thâm nhập, hiện đại với tỷ lệ phát hiện cao bệnh lý tim đồng thời khảo sát được cấu trúc và chức năng của tim, có thể nói siêu âm tim là một trong những phương tiện thăm dò ưu việt đối với bệnh nhân đái tháo đường hiện đang được sử dụng tại các trung tâm tim mạch trên thế giới, tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đái tháo đường, tại địa phương chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tương đối phổ biến nhưng chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách đúng mức nhất là lĩnh vực siêu âm Doppler tim [25]. Gần đây nhất một thông số siêu âm Doppler tim mới do Tei và cộng sự đề xuất nhằm đánh giá chức năng toàn bộ thất trái bằng chỉ số chức năng cơ tim hay chỉ số Tei (Tei index), một chỉ số đơn giản, dễ thực hiện, ít bị ảnh hưởng bởi tuổi, huyết áp, tần số tim, tiền gánh so với các chỉ số kinh điển khác. Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số Tei trong đánh giá chức năng thất trái ở các bệnh như nhồi máu cơ tim, thông liên nhĩ, tăng áp phổi, suy tim, tăng huyết áp nguyên phát [61]. Ở Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu về chỉ số Tei ở người bình thường và gần đây nhất là trong đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, tuy nhiên đối với đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường chưa thấy đề cập nhiều trong y văn [10]. Mục tiêu của đề tài: 1. Đặc điểm yếu tố nguy cơ, một số chỉ số đánh gía hình thái và chức năng thất trái qua siêu âm và chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường type 2. 2. Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số Tei và một số thông số hình thái và chức năng thất trái với một số yếu tố nguy cơ liên quan trên những bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Xem thêm

109 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LOÉT CHÂN TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LOÉT CHÂN TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bệnh đái tháo đường thực sự đang là mối lo ngại chung của thế giới bởi sự gia tăng tốc độ rất nhanh, đặc biệt là đái tháo đường týp 2, được xem là dịch bệnh ở các nước công nghiệp phát triển, chiếm 80% 90% tổng số bệnh đái tháo đường 19. Tỷ lệ mới mắc của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng gia tăng song song với sự phát triển kinh tế xã hội. Trên toàn thế giới được ước tính là 171 triệu người (2,8%) năm 2000 tăng lên 366 triệu người (4,4%) năm 2030, trong đó đái tháo đường týp 2 là hơn 90% 8. Tại Việt Nam có 731.653 người mắc bệnh đái tháo đường vào năm 2000 và tăng lên 2.342.879 vào năm 2030. 2.1. Đối tượng nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu Tất cả những bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có loét chân được chỉ định kháng sinh đang điều trị tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ từ 052016 đến tháng 042017. 2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh Bệnh nhân thỏa 2 tiêu chí sau: chẩn đoán đái tháo đường type 2, có vết loét chân và được chỉ định kháng sinh. 2.1.2.1 Chẩn đoán bệnh nhân đái tháo đường type 2 Theo Theo ADA 2014: một BN được chẩn đoán là ĐTĐ nếu có một trong các đặc điểm sau 32:  Đường máu huyết thanh bất kỳ ≥ 11,1mmoll (≥ 200mgdl) có thể có kèm theo các tiệu chứng kinh điển như: đái nhiều, khát, sút cân không giải thích được.  Đường máu huyết thanh lúc đói ≥ 7,0mmoll (≥ 126mgdl) đã nhịn ăn ít nhất 8 giờ.  Đường máu sau nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 11,1mmoll (≥ 200mmoll) nghiệm pháp này phải áp dụng theo tiêu chuẩn WHO (75 gam glucose anhydrous). 2.1.2.2 Bệnh nhân có vết loét chân theo tiêu chuẩn của Wagner – Megite  Độ 0: Không loét, có thể có các yếu tố nguy cơ gây loét như: biến dạng bàn chân, dày sừng, chai chân hoặc có tiền sử loét cũ  Độ 1: loét nông không ảnh hưởng mô dưới da.  Độ 2: loét sâu qua tổ chức dưới da, không phức tạp, gây ảnh hưởng tới gân, khớp, dây chằng nhưng không có viêm xương  Độ 3: Tổn thương sâu phức tạp: viên gân, viêm xương, áp xe, hoặc viêm mô tế bào sâu.  Độ 4: hoại tử một phần của bàn chân.  Độ 5: hoại tử lan rộng toàn bộ bàn chân 19
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề