NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA RESTASIS TRÊN BỆNH NHÂN KHÔ MẮT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nghiên cứu kết quả điều trị của restasis trên bệnh nhân khô mắt":

Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị tăng nhãn áp trên mắt có hội chứng nội mô giác mạc-mống mắt

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG NHÃN ÁP TRÊN MẮT CÓ HỘI CHỨNG NỘI MÔ GIÁC MẠC-MỐNG MẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng nội mô giác mạc-mống mắt (Iridocorneal Endothelial syndrome-ICE) được đề cập lần đầu tiên bởi Harms [23] năm 1903. Đây là một tình trạng bệnh lý hiếm gặp, thường được biểu hiện ở một bên mắt. Trong hội chứng này, các tế bào nội mô giác mạc biến đổi bất thường sinh sản và di cư vào các mô lân cận, lan rộng đến góc tiền phòng và trên bề mặt của mống mắt, làm tăng nhãn áp dẫn đến tổn hại thị thần kinh và thị trường. Căn nguyên gây bệnh còn chưa được biết rõ, nhưng có thể có liên quan với nhiễm virus như virus Herpes simplex hoặc virus Epstein-Barr. Trên lâm sàng bệnh được biểu hiện dưới 3 hình thái: - Hội chứng Chandler - Hội chứng Cogan-Reese - Teo mống mắt tiến triển Do các triệu chứng chủ quan thường kín đáo, bệnh tiến triển âm ỉ nên hầu hết các bệnh nhân đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn rất muộn với nhãn áp (NA) cao, góc tiền phòng đã dính nhiều, tổn thương đĩa thị và thị trường (TT) nặng. Do chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh nên việc điều trị tăng nhãn áp trên mắt có hội chứng ICE còn gặp nhiều khó khăn. Cho đến nay, phẫu thuật cắt bè củng giác mạc vẫn đang là lựa chọn đầu tiên được các bác sỹ nhãn khoa sử dụng để điều chỉnh nhãn áp trong hội chứng ICE Tuy nhiên, phương pháp này cũng chỉ có hiệu quả trong một thời gian do màng tế bào bất thường vẫn tiếp tục phát triển gây bít lấp miệng trong lỗ rò. Những năm gần đây một số nhà nhãn khoa trên thế giới đã điều trị hạ NA bằng phương pháp đặt van dẫn lưu trong tiền phòng. Mặc dù kết quả chức năng vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng kết quả hạ nhãn áp lâu dài của phương pháp là rất khả quan (tới 71% các trường hợp có NA điều chỉnh sau 1 năm trong nghiên cứu của Leon WH.- 2009)[38]. Dù tiên lượng bệnh còn khá hạn chế nhưng các phương pháp này đã giúp cho chúng ta có thêm lựa chọn trong quá trình điều trị, kéo dài hơn thời gian ổn định chức năng mắt của bệnh nhân. Ở Việt Nam bệnh cảnh lâm sàng, phương pháp điều trị cũng như tiên lượng bệnh của hội chứng ICE chưa thật sự được hiểu hết rộng rãi bởi các bác sỹ nhãn khoa. Vấn đề điều trị và kết quả sau điều trị hạ nhãn áp còn gặp nhiều khó khăn. Một số trường hợp đã được điều trị bằng phương pháp cắt bè củng giác mạc hoặc đặt van dẫn lưu trong tiền phòng kết quả sau mổ còn khá hạn chế. Với mong muốn đóng góp thêm một số dữ liệu về bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng nội mô giác mạc-mống mắt ở Việt Nam cũng như sơ bộ khảo sát kết quả điều trị tăng nhãn áp trên những mắt có hội chứng ICE, chúng tôi tiến hành đề tài“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị tăng nhãn áp trên mắt có hội chứng nội mô giác mạc-mống mắt’’với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng trên mắt có hội chứng ICE 2. Nhận xét kết quả điều trị tăng nhãn áp trên mắt có hội chứng ICE
Xem thêm

115 Đọc thêm

Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)Nghiên cứu phân lập, bảo quản, hoạt hóa và đánh giá hiệu quả điều trị của tế bào gốc mô mỡ tự thân đối với bệnh nhân thoái hoá khớp gối (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)Nghiên cứu kết quả điều trị của Peginterferon alpha2a kết hợp Ribavirin và xác định độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn tính (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨUHIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG TĂNG ÁP LỰC TĨNH MẠCH CỬA Ở BỆNH NHÂN XƠ GANBẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO SHUNT CỬA – CHỦ TRONG GAN

NGHIÊN CỨUHIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG TĂNG ÁP LỰC TĨNH MẠCH CỬA Ở BỆNH NHÂN XƠ GANBẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO SHUNT CỬA – CHỦ TRONG GAN

nội soi, thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su qua nội soi, đã mang lạihiệu quả điều trị tương đối tốt. Tuy nhiên tỉ lệ chảy máu tiêu hóa tái phát củacác phương pháp này còn khá cao.Các phương pháp can thiệp nội mạch điều trị biến chứng CMTH cũng2như các biến chứng khác của hội chứng tăng ALTMC cũng rất phát triển. Cácphương pháp can thiệp nội mạch bao gồm: kỹ thuật tạo shunt cửa-chủ tronggan qua đường tĩnh mạch cảnh (Transjugular Intrahepatic PortosystemicShunt, viết tắt là TIPS), kỹ thuật gây xơ búi giãn TMDD ngược dòng có sửdụng bóng chèn (BRTO - Balloon-occluded Retrograde TransvenousObliteration), kỹ thuật gây tắc búi giãn TMDD có hỗ trợ của dụng cụ đóngmạch máu (PARTO - Plug Assisted Retrograde Transvenous Obliretation) kỹthuật gây tắc búi giãn TM qua da (PTVO – Percutaneous TranshepaticVariceal Obliteration). Tuy nhiên, trong các kỹ thuật này, mới chỉ có kỹ thuậtTIPS đã được triển khai tại nước ta.Trên thế giới, kỹ thuật TIPS điều trị tăng áp lực tĩnh mạch cửa đượcnghiên cứu và áp dụng trên thế giới từ những năm 1980 [42]. Đây là mộtphương pháp được đánh giá là có hiệu quả cao trong cấp cứu cũng như dựphòng CMTH tái phát do vỡ giãn TMTQ, TMDD.Tại Việt Nam, kỹ thuật TIPS đã được ứng dụng tại một số bệnh viện lớn.Bệnh viện TƯQĐ 108 cũng đã triển khai kỹ thuật TIPS từ năm 2009 và đếnnay kỹ thuật này đã được tiến hành một cách thường quy. Để đánh giá hiệuquả và tính an toàn của kỹ thuật TIPS, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứuhiệu quả điều trị hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở bệnh nhân xơ ganbằng phương pháp tạo shunt cửa – chủ trong gan” nhằm các mục tiêu sau:- Nghiên cứu hiệu quả của phương pháp tạo shunt cửa-chủ trong ganqua tĩnh mạch cảnh (TIPS) trong điều trị tăng áp lực tĩnh mạch cửa
Xem thêm

170 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG TRÊN BỆNH NHÂN THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG TRÊN BỆNH NHÂN THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG

Nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượngNghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượngNghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượngNghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượngNghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượngNghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng trên bệnh nhân thiếu máu và một số yếu tố tiên lượng
Xem thêm

Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CHỈ GIÁC MẠC LÀM GIẢM ĐỘ LOẠN THỊ SAU GHÉP GIÁC MẠC XUYÊN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CHỈ GIÁC MẠC LÀM GIẢM ĐỘ LOẠN THỊ SAU GHÉP GIÁC MẠC XUYÊN

lý đáy mắt khác. Trước đây mù lòa do sẹo giác mạc là nỗi trăn trở, là động lựcđể các nhà nhãn khoa tìm cách nghiên cứu và khắc phục. Để đem lại ánh sángcho những bệnh nhân mù do bệnh lý giác mạc, phương pháp duy nhất có hiệuquả là ghép giác mạc với mục đích thay thế giác mạc bệnh lý bằng mô giácmạc lành.Ngày nay, đã có nhiều phương pháp ghép giác mạc được áp dụng.Ghépgiác mạc lớp (ghép giác mạc lớp, ghép giác mạc lớp trước sâu, ghép nội môvà màng Descemet) với mục đích thay thế từng lớp giác mạc bị tổn thương vàghép giác mạc xuyên (thay thế toàn bộ các lớp của giác mạc bệnh lý bằnggiác mạc lành). Ghép giác mạc là một trong những phẫu thuật ghép mô đượctiến hành sớm nhất. Các nước châu Âu đã thực hiện những ca ghép giác mạcxuyên đầu tiên vào những năm cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, phải đến nhữngnăm cuối thế kỷ XX, nhờ sự tiến bộ của vi phẫu, miễn dịch học và sự ra đờicủa ngân hàng mắt, ghép giác mạc mới có những bước phát triển vượt bậc, trởthành một trong những phương pháp hiệu quả điều trị một số bệnh lý giácmạc ở nước ta [4],[5],[6],[7].Ghép giác mạc xuyên với mục đích thay thế tất cả các lớp của giác mạcbệnh lý bằng giác mạc lành là phương pháp ghép giác mạc phổ biến nhất vớitỷ lệ thành công cao, đặc biệt là với nhóm ghép giác mạc quang học tỷ lệthành công có thể lên đến 90% [8]. Tuy nhiên với những thành công về mặt19giải phẫu thì trong một số mắt thị lực bệnh nhân sau mổ không được cải thiệnnhiều. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do biến đổi khúc xạ củagiác mạc ghép sau mổ mà cụ thể sự biến đổi đó chính là loạn thị. Có nhiềunguyên nhân gây loạn thị giác mạc sau ghép xuyên như kỹ thuật khoan tạonền ghép, mảnh ghép và kỹ thuật khâu mảnh ghép.Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về ghép giác mạc xuyên vàtình trạng khúc xạ sau ghép giác mạc xuyên ở nước ta nhưng chưa có đề tài
Xem thêm

Đọc thêm

khả năng điều trị virus viêm gan siêu vi C (tt) doc

KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ VIRUS VIÊM GAN SIÊU VI C TT 5

điều trị. Mới đây Afdhal và cộng sự đã công bố kết quả của thử nghiệm lâm sàng dùng Epoetin alfa trong trường hợp thiếu máu do dùng ribavirin. Khi dùng Epoetin alfa không cần giảm liều ribavirin khi Hb< 12g/dl, bệnh nhân cảm thấy thoải mái , dễ chịu và khỏe hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa nói rõ ảnh hưởng của Epoetin alfa đối với đáp ứng điều trị sau cùng. Vì vậy, khi dùng Epoetin phải nghiên cứu kỹ hơn, chọn bệnh nhân để điều trị cho thích hợp, trước khi đưa vào sử dụng thường qui cho tất cả bệnh nhân thiếu máu. Thông tin về những nhóm bệnh nhân đặc biệt: Bệnh nhân viêm gan siêu vi C với đặc điểm địa lý khác nhau, đặc điểm bệnh khác nhau, yếu tố di truyền …… thì đáp ứng điều trị khác nhau. Đáp ứng điều trị rất khác ở những nhóm bệnh nhân đặc biệt: đồng nhiễm HIV, người Mỹ gốc Ph, bệnh nhân lọc thận………cần có những nghiên cứu kỹ hơn mới biết rõ đáp ứng đặc biệt ở những nhóm bệnh nhân này. Đáp ứng điều trị ở nhóm bệnh
Xem thêm

12 Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG

Bảng 3.24. Mối liên hệ giữa số loại thuốc điều trị và mức độ tuân thủ dùng thuốc ....45Bảng 3.25. Mối liên hệ giữa biến cố bất lợi và mức độ tuân thủ dùng thuốc..............46Bảng 3.26. Thái độ, niềm tin với thuốc và mức độ tuân thủ dùng thuốc ......................46DANH MỤC HÌNH VẼ & ĐỒ THỊHình 2.1. Các bước tiến hành thu thập số liệu .............................................................24Đồ thị 3.1. Tỷ lệ bệnh nhân tái khám ............................................................................33Đồ thị 3.2. Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc............................................................................42ĐẶT VẤN ĐỀĐái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạntính và cũng là một trong bốn bệnh không lây nhiễm dẫn đến tử vong nhiều nhấttrên thế giới. Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2014, toàn cầucó khoảng 9% dân số mắc bệnh đái tháo đường, trong đó số bệnh nhân không đượcchẩn đoán đái tháo đường chiếm 46,3%. Dự đoán đến năm 2035, trên thế giới sẽ cóthêm 205 triệu người mắc đái tháo đường. Năm 2014 có khoảng 4,9 triệu người chếtcó nguyên nhân trực tiếp là đái tháo đường [62]. Ở Việt Nam, Đái tháo đường đangcó xu hướng gia tăng theo mức độ đô thị hóa. Theo thống kê của Liên đoàn Đáitháo đường quốc tế (IDF) năm 2014, Việt Nam có 5,71% dân số mắc đái tháođường mà chủ yếu là đái tháo đường týp 2 [40].Hiện nay chưa có loại thuốc nào điều trị khỏi hoàn toàn bệnh đái tháo đườngmà thuốc chỉ có tác dụng hạ glucose máu. Cùng với sự phát triển của ngành côngnghiệp dược, thuốc điều trị đái tháo đường phong phú, đa dạng về hoạt chất, dạngbào chế, bao bì và giá cả. Do đó, quá trình điều trị đái tháo đường có nhiều thuận lợinhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức trong việc lựa chọn và sử dụng thuốcmột cách hợp lý đảm bảo: hiệu quả - an toàn – kinh tế - tiện dụng [35], [10].Hầu hết các bệnh nhân sau khi được chẩn đoán đái tháo đường được điều trịngoại trú bằng thuốc kết hợp với chế độ ăn và luyện tập phù hợp trong thời gian dài
Xem thêm

88 Đọc thêm

Tài liệu Điều trị ngộ độc cấp Ôpi bằng Naloxon và hồi sức hô hấp pptx

TÀI LIỆU ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CẤP ÔPI BẰNG NALOXON VÀ HỒI SỨC HÔ HẤP PPTX

TCNCYH 19 (3) - 2002 Điều trị ngộ độc cấp ôpi bằng naloxon và hồi sức hô hấp Hà Trần Hng, Nguyễn Thị Dụ, Phạm Duệ Bộ môn Hồi sức cấp cứu -Đại học Y Hà Nội 62 bệnh nhân ngộ độc cấp ôpi đợc điều trị bằng naloxon và hồi sức hô hấp theo phác đồ thống nhất. Do sử dụng tích cực naloxon, tỷ lệ bệnh nhân cần phải đặt nội khí quản và thông khí nhân tạo giảm xuống đáng kể, tơng ứng là 29% và 17,7%, so với 60%-40% trong các nghiên cứu trớc đây. Các biểu hiện ngộ độc ôpi hồi phục rất nhanh và điều trị thành công ở hầu hết bệnh nhân (95,5%). Tác dụng phụ của naloxon không đáng kể. Chỉ có 2 bệnh nhân xuất hiện nôn sau khi tiêm tĩnh mạch naloxon, có lẽ là biểu hiện của hội chứng thiếu thuốc nhẹ. Bóp bóng ambu với ôxi 100% là biện pháp hồi sức chủ yếu và cũng chỉ trong thời gian ngắn. Thở máy chỉ định trong những trờng hợp suy hô hấp nguy kịch. Phù phổi cấp do heroin chiếm 82% các chỉ định thở máy. Có 7 bệnh nhân cần dùng PEEP, tuy nhiên cũng chỉ cần mức PEEP thấp, trung bình là 5,3 1,3 cmH2O. Phác đồ điều trị thành công ở 95,5% các trờng hợp và 100% ở các bệnh nhân khi tới viện cha có ngừng thở, ngừng tim. I. Đặt vấn đề Tệ nạn ma túy trong những năm gần đây gia tăng ở mức báo động. Tại khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC) A9 và đơn vị cấp cứu của khoa Khám bệnh bệnh viện Bạch Mai số bệnh nhân ngộ độc cấp (NĐC) ôpi cũng ngày một tăng: 1996 có 6 bệnh nhân (BN), 1998 có 23 BN, 8 tháng đầu năm 2000 đã có 26 BN. Ngộ độc cấp ôpi có thể gây tử vong tức khắc hoặc trong vài giờ nếu không cấp cứu đúng và kịp thời. Nguyên nhân tử vong chủ yếu là do suy hô hấp cấp. Hồi sức hô hấp (HSHH) và thuốc giải độc đặc hiệu naloxon có ý nghĩa
Xem thêm

6 Đọc thêm

Chữa tật khúc xạ: LASEK hay LASIK? pptx

CHỮA TẬT KHÚC XẠ: LASEK HAY LASIK? PPTX

Một nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 90% bệnh nhân sau mổ LASEK đạt thị lực > 5/10 mà không cần phải đeo kính. Với thị lực này, người bệnh đã có thể làm công việc hằng ngày một cách thoải mái như lái xe, đọc báo, chơi thể thao . LASEK an toàn hơn LASIK, vậy vì lý do gì mà một thời gian dài, kỹ thuật này không được đa số các cơ sở điều trị lựa chọn? - Trước khi có kỹ thuật LASIK và LASEK thì từ năm 1995 đã có kỹ thuật PRK nhưng vì lúc đó sau mổ, bệnh nhân bị đau, thị lực phục hồi lâu, không mổ được mộtlúc hai mắt nên gây phiền toái cho bệnh nhân. Kỹ thuật LASIK ra đời khoảng năm 1998 thay cho PRK. Tuy nhiên, sau một thời gian mổ LASIK lại thấy có những khuyết điểm, chủ yếu biến chứng về vạt như đã nêu ở trên. Do đó, bây giờ trong điều trị người ta lại có khuynh hướng trở lại kỹ thuật PRK hay LASEK vì nó đã khắc phục được những khuyết điểm chính, tức mổ được cùng lúc hai mắt, không đau, thị lực phục hồi nhanh (gần như LASIK) và rất ít biến chứng. Khám mắt tại Trung tâm Khúc x
Xem thêm

9 Đọc thêm

Nghiên cứu phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh đục trên mắt đã mổ bong võng mạc có dầu silicon nội nhãn

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT TÁN NHUYỄN THỂ THỦY TINH ĐỤC TRÊN MẮT ĐÃ MỔ BONG VÕNG MẠC CÓ DẦU SILICON NỘI NHÃN

ĐẶT VẤN ĐỀ Bong võng mạc (BVM) là một bệnh nặng trong nhãn khoa, theo số liệu năm 1987 tỉ lệ bệnh nhân bong võng mạc điều trị tại Bệnh Viện Mắt Trung Ương chiếm từ 1,7% đến 2,1% tổng số bệnh nhân nằm viện. Số ca phẫu thuật BVM chiếm 6,27% số ca đại phẫu. Phẫu thuật bong võng mạc là một phẫu thuật phức tạp, trước đây tỉ lệ thành công còn hạn chế. Từ khi có sự ra đời của phẫu thuật cắt dịch kính (CDK) có sử dụng dầu silicon nội nhãn thì kết quả điều trị bong võng mạc đã được cải thiện rõ rệt. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, với sự phát triển của đội ngũ các bác sỹ phẫu thuật, cùng với sự đầu tư nhiều trang thiết bị y tế hiện đại, kỹ thuật mổ cắt dịch kính điều trị bong võng mạc ngày càng hoàn thiện, chỉ định phẫu thuật CDK để điều trị BVM cũng được mở rộng, với số lượng bệnh nhân được phẫu thuật bong võng mạc ngày càng nhiều. Đi kèm theo đó, tỉ lệ bệnh nhân tiến triển đục thể thủy tinh cần được phẫu thuật cũng tăng theo. Theo các tác giả nước ngoài và Việt Nam, sau phẫu thuật bong võng mạc, có khoảng trên 70% các trường hợp bị đục thể thuỷ tinh sau một năm [5], [38], [42]. Khi phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh bằng siêu âm (phacoemulsification) mới ra đời, nhiều tác giả cho rằng phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh trên mắt đã mổ BVM có dầu silicon nội nhãn là một trong những chống chỉ định tương đối của phương pháp phẫu thuật này do gặp nhiều khó khăn và biến chứng. Ngày nay cùng với sự phát triển rộng rãi của phương pháp phẫu thuật tán nhuyễn TTT, các kỹ thuật phẫu thuật ngày càng hoàn thiện hơn, nhiều cải tiến kỹ thuật nhằm khắc phục những khó khăn gây ra do dây treo TTT yếu , đồng tử giãn kém, tiền phòng không ổn định …đã được áp dụng. Nhờ có phương pháp phẫu thuật tiên tiến này, các phẫu thuật viên đã thu được những kết quả rất thành công trong lĩnh vực phẫu thuật TTT, đặt thể thuỷ tinh nhân tạo(IOL) [6], [11], [14]. Nhiều tác giả trên thế giới đã tiến hành phẫu thuật phaco trên mắt đã mổ bong võng mạc và cho kết quả khá tốt. Thị lực sau mổ phục hồi nhanh, ổn định, độ loạn thị không đáng kể do vết mổ nhỏ, các biến chứng trong và sau phẫu thuật cũng hạn chế hơn khi thực hiện phẫu thuật lấy TTT ngoài bao.Tuy nhiên, trên mắt đã phẫu thuật CDK có bơm dầu silicon nội nhãn để điều trị BVM có những đặc điểm riêng, mắt không còn dịch kính, cấu trúc giải phẫu bị biến đổi, vì thế phẫu thuật phaco trở nên khó khăn, dễ xảy ra biến chứng [7], [20], [21], [31]. Ngày nay, với những ưu thế lớn của phương pháp mổ tán nhuyễn thể thuỷ tinh bằng siêu âm, các phẫu thuật viên nhãn khoa Việt Nam đã tiến hành phẫu thuật phaco trên mắt đã mổ CDK có dầu silicon nội nhãn để điều trị BVM và mang lại kết quả tốt, phục hồi thị lực, góp phần giải phóng mù loà. Tuy vậy, thực sự chưa có một nghiên cứu nào báo cáo một cách đầy đủ về những khó khăn và kết quả của phẫu thuật này. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh đục trên mắt đã mổ bong võng mạc có dầu silicon nội nhãn” Với hai mục tiêu : 1. Đánh giá kết quả của phẫu thuật phaco trên mắt có dầu silicon nội nhãn. 2. Mô tả các đặc điểm về kỹ thuật của phẫu thuật phaco, đặt thể thuỷ tinh nhân tạo trên mắt có dầu silicon nội nhãn.
Xem thêm

109 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU TRỊ TRÚNG ĐÍCH UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ

NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU TRỊ TRÚNG ĐÍCH UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ

Một nghiên cứu của Lê Thượng Vũ về áp dụng điều trị trúng đích trong bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ. Nghiên cứu tính khả thi, hiệu quả và an tòan của bevacizumab và erlotinib trên các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa. Kết quả cho thấy Tỷ lệ đáp ứng tốt hơn hoặc tương đương với y văn ở cả hai nhóm bệnh nhân. 3 trường hợp đáp ứng khá ngoạn mục được báo cáo. Không tác dụng phụ nghiêm trọng. Tài chính là nhân tố quan trọng trong khởi đầu và tiếp tục điều trị.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHẼN MẠCH PHỐI (PULMONARY EMBOLISM) Phần 2 potx

NGHẼN MẠCH PHỐI (PULMONARY EMBOLISM) PHẦN 2 POTX

- Cần tiến hành điều trị nghẽn mạch phổi ngay một khi chẩn đoán được xác định. Bắt đầu điều trị chống đông (anticoaguation) với hoặc là unfractionated heparin (UFH) tiêm tĩnh mạch hoặc với héparine trọng lượng phân tử thấp (LMWH). Cần bắt đầu điều trị bằng héparine những bệnh nhân có những triệu chứng nghẽn mạch phổi rất đáng nghi ngờ nhưng không có chống chỉ định với điều trị chống đông , trong khi chờ đợi kết quả của những xét nghiệm chẩn đoán -Điều trị chống đông máu bằng sự kết hợp héparine và warfarin là nền tảng chính của điều trị đối với hầu hết các trường hợp nghẽn mạch phổi. - Điều trị với héparine có tác dụng cản thrombin và ngăn chặn sự lan rộng của cục nghẽn mạch (thrombus) - Héparinothérapie được chỉ định trong trường hợp nghẽn mạch phổi thể ít nghiêm trọng hoặc trường hợp chẩn đoán nghi ngờ và trong trường hợp chống chỉ định sử dụng thuốc làm tan huyết khối (thrombolyse). - Phải điều trị chống đông ở phòng cấp cứu với unfractionated heparin hay LMWH (low-molecular-weight heparin). - Liều lượng của unfractionated heparin phải được căn cứ trên thể trọng. Liều lượng khởi đầu là 80 U/kg tiêm tĩnh mạch trực tiếp.Liều lượng tiếp theo là 18 U/kg/h. - LMWH đã được chứng tỏ là an toàn và hiệu quả trong điều trị nghẽn mạch phổi. Enoxaparin (Clexane) 1 mg/kg tiêm dưới da là liều lượng khởi đầu được cho ở phòng cấp cứu. - Điều trị với warfarin được chỉ định để chống đông máu trong thời gian dài đối với những bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi .Tuy nhiên, bởi vì có một tình trạng tăng đông máu tạm thời do sự thiếu hụt protein C trong những ngày đầu điều trị với warfarin nên trước khi điều trị với warfarin luôn luôn phải điều trị chống đông máu bằng héparine - Các bệnh nhân với huyết khối tĩnh mạch sâu của phần gần của chi và có các yếu tố nguy cơ tạm thời, có thể được điều trị chống đông bằng héparine và warfarin trong vòng 3 tháng, còn những bệnh nhân với huyết
Xem thêm

13 Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA SANDOSTATIN TRONG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TRÊN DO VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN DÃN

VAI TRÒ CỦA SANDOSTATIN TRONG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TRÊN DO VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN DÃN

– Tất cả tác dụng này làm giảm lượng máu đến cung cấp cho các búi tĩnh mạch thực quản nhờ vậy áp lực trong các cấu trúc nói trên hạ xuống. Ngoài ra, qua tác dụng ức chế bài tiết dịch vị nên cục máu đông tạo ra ở vị trí vỡ không bị tan sớm vì thế hiện tượng cầm máu tự nhiên dễ tiến hành. – Thuốc không làm thay đổi mạch, huyết áp và cung lượng tim nghĩa là không tác dụng toàn thân đáng kể nên thuốc dễ dung nạp và có thể dùng an toàn cho bệnh nhân. – Các nghiên cứu đầu tiên đã mở đường cho các nghiên cứu tiếp sau, cùng chủ đề. Năm 1993 có 13 báo cáo tại nhiều trung tâm cho thấy tỉ lệ thành công của Somatostatin và Octreotide lên đến 70%. Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy Somatostatin và Octreotide có tác dụng cầm máu tương đương chích xơ nhưng ít biến chứng hơn. – Một ưu điểm của Somatostatin và Octreotide so với ống thông Blakemore là ít có tai biến và nhất là dễ dùng. Octreotide dược dùng tiêm tĩnh mạch lúc đầu với liều 0.1 mg sau đó là truyền tĩnh mạch liên tục 0.025mg/giờ pha trong dung dịch ngọt mặn đẳng trương trong 24 giờ (hoặc 48 giờ) trước khi chuyển sang chích xơ hoặc các biện pháp phòng ngừa xuất huyết tái phát khác. V. Phản ứng phụ và độc tính: – Các phản ứng phụ được nêu trong y văn gồm: buồn nôn (8%), đau bụng (9%), tiêu chảy (7%). Ngoài ra còn các phản ứng phụ hiếm khi thấy là: táo bón, đầy bụng, vàng da và tăng men chuyển hoá. Phản ứng tại chổ sau chích thuốc là: đau chổ chích (7.5%), viêm tại chổ (1%). – Tác dụng phụ trên hệ tim mạch hiếm thấy như: huyết áp tăng, tụt huyết áp khi thay đổi tư thế, đánh trống ngực, suy tim. – Tác dụng phụ trên hệ thần kinh cũng rất hiếm và thường là nhẹ như lo âu, chán ăn, suy nhược thần kinh, giảm ham muốn tình dục, cáu gắt, mất ngủ, rung tay. – Tác dung phụ trên hệ nội tiết cũng hiếm thấy: Tăng hay giảm đường huyết (1-2%), tăng tiết sữa, thiểu giáp. – Nói chung, các phản ứng phụ rất ít xãy ra và trong nghiên cứu các tác
Xem thêm

9 Đọc thêm

TÊN ĐỀ TÀI

TÊN ĐỀ TÀI

TRANG 1 TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ FERRITIN, FE HUYẾT THANH VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN B,C TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ Mục tiêu: 1.. Xác định [r]

1 Đọc thêm

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân lao phổi được điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân lao phổi được điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương

Mục tiêu của luận án là Đánh giá sự thay đổi các chỉ số huyết học ở bệnh nhân nghiên cứu trước và sau điều trị thuốc chống lao. Nghiên cứu một số đặc điểm xét nghiệm máu và tủy xương ở bệnh nhân lao phổi không kháng thuốc được điều trị tại bệnh viện Phổi Trung ương từ 2015 đến 2017.

Đọc thêm

Lucentis Trị Bệnh Mắt Điểm Vàng Thoái Hóa pps

LUCENTIS TRỊ BỆNH MẮT ĐIỂM VÀNG THOÁI HÓA

vision at 12 months. In a single study carried out for 24 months, these findings have been maintained with continued monthly dosing. The most commonly reported adverse events included conjunctival hemorrhage, eye pain, floaters, increased eye pressure and inflammation of the eye. Serious adverse events were rare and often related to the injection procedure including endophthalmitis (severe inflammation of the interior of the eye), intraocular inflammation, retinal detachment, retinal tear, increased eye pressure and traumatic cataract. Lucentis is manufactured by Genentech, Inc. in South San Francisco, California. Thuốc Mới Macugen và Lucentis Điều Trị Bệnh Thoái Hóa Điểm Vàng Trong Võng Mạc Bs Carmen Puliafito tại Trung Tâm Nghiên Cứu Bệnh Mắt Bascom Palmer cho biết kết quả thử nghiệm chích thuốc vào mắt cho bệnh nhân bị thoái hóa điểm vàng trong mắt do già nua có kết quả khả quan hơn khoảng 27% khi so sánh với bệnh nhân không chích Macugen. Mục đích chính của Macugen là ngăn chặn một bạch đản tên là yếu tố tăng trưởng biểu mô của mạch máu (Vascular endothelial growth factor, VEGF), tức là chất đã làm tăng trưởng mạch máu trong mắt quá mức. VEGF là yếu tố quan trọng nhất khiến mạch máu tăng trưởng. Nhưng khi chích Macugen thẳng vào mắt 6 tuần lễ một lần có kết quả tốt khoảng 33%, so với 23% không chích thuốc. Nghiên cứu theo dõi 1,168 bệnh nhân trong 54 tuần lễ. 75% bệnh nhân đạt được kết quả chỉ nhìn thấy một phần, như chỉ thấy 3 vạch trong bảng thử mắt, so với 55% người không chích thuốc. Tưởng cũng nên nhắc lại là có một thuốc khác trước đây đã được phép dùng tên là Visudyne của một hãng thuốc ở Gia Nã Đại QLT, Inc và Novartis, nhưng thuốc này chỉ có hiệu quả 30%. Và một thứ thuốc khác nữa tên là Lucentis cũng ngăn chặn VEGF do Genetech sáng chế.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tài liệu Đau mắt đỏ - Đừng chủ quan! ppt

TÀI LIỆU ĐAU MẮT ĐỎ - ĐỪNG CHỦ QUAN! PPT

nóng, sốt rét, đau mình mẩy, đau họng thì thấy mắt đỏ cũng khiến nhiều bệnh nhân đến khám tại cơ sở chuyên khoa mắt. Xoang răng là những bộ phận lân cận với mắt. Do vậy khi các bộ phận này bị viêm nhiễm thì mắt cũng đỏ lên nhiều, có khi hình thành viêm kết mạc thực thụ. Nếu ta rơi vào trường hợp này thì nên điều trị nguyên nhân, đừng chú tâm nhiều về mắt. Viêm kết mạc do vi khuẩn: Ai đấy được chứng kiến dù chỉ một lần thì cũng không thể quên hình ảnh viêm kết mạc do lậu cầu. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở nhũ nhi do lây nhiễm lậu cầu từ âm đạo của mẹ. Đó là một đôi mắt sưng nề dữ dội, tắm mình trong mủ đặc màu vàng. Mặc dù lau mắt thường xuyên nhưng mủ vẫn ứa ra đều đều. Lòng đen có thể bị loét thủng nếu việc điều trị bị chậm trễ hoặc không tương thích. May thay là kháng sinh chống lậu cầu hiện không còn là vấn đề khó khăn nữa nên nhìn chung việc điều trị mang kết quả khả quan, bệnh giảm rất nhanh chóng. Trên trẻ em thì viêm kết mạc có giả mạc cũng là bệnh thường gặp. Trẻ thường có ho, sốt, viêm long hô hấp trên. Lòng trắng đỏ ngầu, mắt ra dỉ nhiều đôi khi ứa nước hồng như máu làm các bậc cha mẹ rất hoảng sợ. Khi lật mi lên người ta thấy có một lớp màng trắng bao phủ. Khi cố bóc lớp này đi sẽ gây chảy máu tại chỗ. Nguyên nhân thường do cầu khuẩn, virut. Bạch hầu cũng có thể gây ra những biểu hiện tương tự nhưng tính chất giả mạc có khác biệt và thực sự hiếm gặp do chương trình tiêm chủng mở rộng đã rất thành công ở nước ta từ nhiều thập kỷ nay. Viêm kết mạc do chlamydia ngoài việc gây ra mắt hột ở người lớn còn gây viêm kết mạc bể bơi ở thiếu niên, gây viêm kết mạc mủ ở trẻ em. Tần suất gặp các bệnh nhân loại này cũng ngày càng hiếm do việc dùng kháng sinh sớm và chương trình thanh toán mắt hột rất bền bỉ của ngành mắt. Viêm kết mạc do virut: Năm ngoái chúng ta đã có dịch đau mắt doadenovirus tại phần lớn các tỉnh thành ở miền Bắc trong suốt mùa hè đến tận tháng 10. Đây là căn bệnh không nguy hiểm, chẩn đoán dễ dàng nhưng lại gây khó chịu cho biết bao nhiêu người, hao tốn tiền của, ảnh hưởng rất nhiều đến công việc. Mỗi người bị bệnh mất khoảng 10 ngày cùng với khoảng 100.000 đồng tiền
Xem thêm

6 Đọc thêm

Xác định đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc trong điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ

XÁC ĐỊNH ĐỘT BIẾN GEN EGFR VÀ GEN KRAS QUYẾT ĐỊNH TÍNH ĐÁP ỨNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ

2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài “Xác định đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc trong điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ” được thực hiện với các mục tiêu sau : 1. Xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc điều trị đích trên bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn. 2. Bước đầu đánh giá hiệu quả điều trị đích bước 1 bằng erlotinib trên các bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR. 3. TÍNH CẤP THIẾT, Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN LPĐTTĐ đã được chứng minh có hiệu quả tốt cho bệnh nhân Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), đặc biệt là những bệnh nhân có đột biến gen EGFR và không có đột biến gen KRAS. Tháng 062009, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã chính thức đưa ra thông báo rằng bệnh nhân trước khi được chỉ định dùng thuốc ức chế EGFR cần phải làm xét nghiệm tình trạng gen EGFR. Tại Việt Nam, nhu cầu LPĐTTĐ cho bệnh nhân UTPKTBN ngày càng tăng, nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát đột biến gen EGFR và KRAS trên số lượng lớn bệnh nhân cũng như chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả điều trị đích dựa trên tình trạng đột biến hai gen này của người bệnh. Do đó, nghiên cứu về tần suất đột biến gen EGFR và KRAS trong bệnh UTPKTBN cũng như hiệu quả điều trị đích trên nhóm bệnh nhân có đột biến gen EGFR là hướng nghiên cứu đang rất được quan tâm. 4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Tình trạng đột biến gen EGFR và KRAS được xác định bằng hai kỹ thuật tiên tiến, giúp giảm tỷ lệ âm tính giả, cho kết quả chính xác và tin cậy. Nghiên cứu cung cấp những cơ sở ban đầu về tần suất đột biến gen EGFR và KRAS trong bệnh UTPKTBN giai đoạn muộn, cũng như hiệu quả điều trị erlotinib
Xem thêm

24 Đọc thêm

Cùng chủ đề