ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẦM MÁU BẰNG TIÊM CẦM MÁU QUA NỘI SOI KẾT HỢP RABELOC (RABEPRAZOL ) TĨNH MẠCH LIỀU CAO Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA CẤP TÍNH DO LOÉT DẠ DÀY HÀNH TÁ TRÀNG SAU 72 GIỜ VÀ SAU 30 NGÀY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Đánh giá kết quả cầm máu bằng tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp rabeloc (rabeprazol ) tĩnh mạch liều cao ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa cấp tính do loét dạ dày hành tá tràng sau 72 giờ và sau 30 ngày":

đánh giá kết quả tiêm cầm máu bằng adrenalin qua nội soi kết hợp rabeprazol (rabeloc) tĩnh mạch liều cao ở bệnh nhân xuất huyết do loét hành tá tràng

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TIÊM CẦM MÁU BẰNG ADRENALIN QUA NỘI SOI KẾT HỢP RABEPRAZOL (RABELOC) TĨNH MẠCH LIỀU CAO Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT DO LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG

bào biểu mô của hệ tiêu hoá, làm tình trạng loét nặng hơn [7],[20],[33]. 1.2.4. Vai trò của Helicobacter Pylori H.P đợc tìm thấy 90-95% bệnh nhân loét HTT, 60-80% bệnh nhân loét DD và khoảng 10% những khỏe mạnh dới 30 tuổi [6],[11],[16]. Ngay cả khi loét HTT đ liền sẹo, H.P vẫn còn tìm thấy trong 63% [20]. Tuy nhiên, trong những trờng hợp nhiễm H.P tỷ lệ mắc mới loét HTT chỉ chiếm 1% và khoảng 10-15% xuất hiện triệu chứng một thời điểm nào đó trong cuộc đời [16],[20]. H.P sống đợc trong môi trờng acid mạnh của dạ dày (pH 1-2) và sản sinh ra một lợng lớn urease trong môi trờng acid. Urease phân hủy ure trong thành dạ dày thành ammoniac và acid cacbonic, chính ammoniac cùng với các sản phẩm khác sẽ phân hủy chất nhầy dạ dày. H.P còn sản xuất ra độc tố làm hoạt hóa bạch cầu đa nhân, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào giải phóng ra các chất hóa học trung gian nh Interleukin (IL1, IL6, IL8) và các yếu tố hoại tử khối u làm cho quá trình viêm nặng hơn, tế bào biểu mô phù nề hoại tử, long tróc và cùng với sự tác động của acid chlorhydric và pepsin gây trợt rồi tạo thành ổ loét [6],[11]. 1.2.5. Vai trò của các yếu tố nguy cơ trong loét hành tá tràng 1.2.5.1. Vai trò của yếu tố di truyền Khoảng 20% BN loét HTT có tiền sử gia đình có ngời bị loét HTT [20]. Theo Hoàng Gia Lợi, nhóm máu O có tần suất loét tá tràng cao hơn, khoảng 67,56%. Tác giả này không gặp những trờng hợp nào có nhóm máu AB trong loét DD HTT [9]. 1.2.5.2. Thuốc lá 7 Thuốc lá có liên quan đến loét HTT. Thuốc lá không làm tăng chế tiết acid, nhng nicotin có thể ức chế tiết bicarbonat tuỵ. Ngoài ra, thuốc lá làm giảm đáp ứng đối với điều trị và tăng nguy cơ tái phát những ngời có nhiễm H.P [20]. 1.2.5.3. Bệnh kết hợp: Loét HTT thờng hay kết hợp với các bệnh lý khác nh: suy thận mạn, xơ
Xem thêm

95 Đọc thêm

Xuất huyết tiêu hóa (Kỳ 2) ppt

XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA KỲ 2 3

Xuất huyết tiêu hóa (Kỳ 2) 3. Chẩn đoán xuất huyết tiêu hoá. 3.1. Chẩn đoán xác định: * Trường hợp dễ: Nhìn được chất nôn có máu hoặc phân là máu của bệnh nhân. * Trường hợp khó: Nếu không chứng kiến, dựa vào hỏi bệnh: + Hỏi kỹ các chất nôn và phân. + Hỏi tiền triệu. + Hỏi tiền sử có bệnh dạ dày, có dùng thuốc NSAIDs, corticoid… + Khám da, niêm mạc nhợt, mạch nhanh nhỏ khó bắt. Đo huyết áp: huyết áp tối đa thấp 100-90-80mmHg. + Xét nghiệm: hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, hematocrit giảm, hồng cầu lưới tăng. + Nội soi dạ dày-thực quản: thấy vị trí mức độ chảy máu. + Xét nghiệm phân: Weber- Meyer (+). 3.2. Chẩn đoán mức độ xuất huyết tiêu hoá: 3.2.1. Ý nghĩa của chẩn đoán mức độ xuất huyết tiêu hoá: + Chẩn đoán đúng mức độ có phác đồ điều trị phù hợp, kết quả cầm máu nhanh, bệnh nhân hồi phục nhanh. + Để tiên lượng, có phương pháp điều trị hợp lý, hiệu quả (phẫu thuật, tiêm cầm máu qua nội soi…). 3 2.2. Bảng phân loại mức độ xuất huyết tiêu hoá: Chỉ tiêu/Mức độ Nặng Vừa Nhẹ Mạch quay (nhịp/phút) >120 100-200 <100 Huy
Xem thêm

6 Đọc thêm

ASPÉGIC (Kỳ 2) ppt

ASPÉGIC (KỲ 2) PPT

rong huyết / băng huyết, bệnh do virus trẻ em dưới 12 tuổi (có thể gây hội chứng Reye). Không nên dùng trong bệnh thống phong. Khi dùng liều cao trong các bệnh thấp khớp, cần theo dõi các dấu hiệu như ù tai, giảm thính lực hay chóng mặt : nếu xảy ra các triệu chứng này, phải lập tức giảm liều. LÚC CÓ THAI động vật : aspirine đã được ghi nhận có tác dụng gây quái thai. người nữ : dựa trên rất nhiều khảo sát, người ta thấy rằng không có một tác dụng gây quái thai nào được ghi nhận nếu dùng thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ. 3 tháng cuối của thai kỳ, acide acétylsalicylique cũng như tất cả các thuốc ức chế tổng hợp prostaglandine khác, có thể gây độc tính trên thận và tim phổi của thai nhi (tăng áp lực phổi với sự đóng sớm ống động mạch) và nếu dùng thuốc cuối thai kỳ sẽ có nguy cơ kéo dài thời gian máu chảy mẹ và trẻ. Do đó, một điều trị ngắn hạn bằng acide acétylsalicylique với liều < 150 mg/ngày trong 5 tháng đầu của thai kỳ dường như không có ảnh hưởng gì cả. Ngược lại, chống chỉ định tuyệt đối thuốc kể từ tháng thứ 6 của thai kỳ. LÚC NUÔI CON BÚ Aspirine hiện diện trong sữa mẹ, do đó không nên cho con bú khi đang dùng aspirine. TƯƠNG TÁC THUỐC Chống chỉ định phối hợp : - Méthotrexate liều >= 15 mg/tuần : tăng độc tính trên máu của méthotrexate (do thuốc kháng viêm làm giảm thanh thải của méthotrexate thận, ngoài ra nhóm salicylate còn cắt liên kết của méthotrexate với protéine huyết tương). - Salicylate liều cao (>= 3 g/ngày người lớn) với các thuốc uống chống đông máu : tăng nguy cơ xuất huyết do ức chế chức năng của tiểu cầu, tấn công lên niêm mạc dạ dày-tá tràng và cắt liên kết của thuốc uống chống đông máu với protéine huyết tương.
Xem thêm

5 Đọc thêm

CÁC RỐI LOẠN DẠ DÀY, RUỘT VÀ MẤT NƯỚC Ở TRẺ EM ppsx

CÁC RỐI LOẠN DẠ DÀY RUỘT VÀ MẤT NƯỚC Ở TRẺ EM PPSX

12/ LÀM SAO LẤY MỘT VẬT LẠ CỦA ĐƯỜNG DẠ DÀY - RUỘT ? Bất cứ vật lạ nào gây triệu chứng cần được lấy đi. Các vật lạ cũng nên được lấy đi nếu chúng có vẻ bị kẹt trong thực quản. Vài nhà lâm sàng chủ trương theo dõi đồng tiền được nuốt vào trong 24 giờ với hy vọng chúng sẽ đi qua một cách ngẫu nhiên, miễn là bệnh nhân thật sự không có triệu chứng. Một thái độ bảo thủ là quy tắc chung khi khi các di vật đã vượt qua được thực quản, và sự đi qua đường tiêu hóa ra ngoài có thể đòi hỏi nhiều ngày đến tuần . Theo dõi là quan trọng, và bố mẹ nên được chỉ thị trở lại nếu lo lắng, đau bụng, sốt, mua, và mửa ra máu hay đại tiện máu đen. Việc lấy các đĩa pin (disc batteries) hiện gây tranh cãi. Trong quá khứ , việc lấy đi thường quy được chủ trương bởi vì khả năng chất kiềm rò ra và gây thương tổn niêm mạc. Bây giờ vài thầy thuốc chuyễn khoa tiêu hóa thích theo dõi sát các đĩa pin (disc batteries) được nuốt vào nếu nhỏ hơn 15 đến 20 mm. Nên hội chẩn chuyên khoa tiêu hóa để xác định thái độ điều trị thích đáng. 13/ MÔ TẢ NHỮNG DẤU HIỆU ĐIỂN HÌNH CỦA RUỘT THỪA VIÊM. Triệu chứng cổ điển là đau bụng quặn quanh rốn, chuyển dần vào hố chậu phải trong 4 đến 12 giờ. Sau sự khởi đầu của cơn đau, các triệu chứng liên kết gồm có nôn, mửa, ăn không ngon, và sốt nhẹ. Bệnh nhân có thể thích nằm nghiêng mình hơn và gấp đùi lên háng. Khám vật lý cho thấy nhu động ruột bị giảm, nhạy cảm đau cực đại điểm Mc Burney (nằm cách mào chậu 4-6 cm trên một đường được kẽ giữa mào chậu và rốn), và những dấu hiệu psoas và obturator dương tính. Phân tích xét nghiệm có thể phát hiện đếm bạch cầu tăng cao. Những trẻ nhỏ tuổi hơn thường có viêm thủng ruột thừa hơn (khoảng 100% các bệnh nhân dưới 1 tuổi). Ruột thừa viêm có thể là một chẩn đoán khó nơi trẻ nhỏ và nhũ nhi bởi vì các triệu chứng và dấu hiệu cổ điển thường không hiện
Xem thêm

17 Đọc thêm

206 Bài thuốc Nhật Bản part 2 pdf

206 BÀI THUỐC NHẬT BẢN PART 2 PDF

trộm những người cơ thể suy nhược, dễ mệt mỏi. Giải thích: Đây là một bài thuốc gia truyền của gia đình Hanaoka Seishu, một danh y nổi tiếng của Nhật Bản (1760-1835). Khi bệnh nhân quá yếu thì dùng thêm Giao di. Theo Chẩn liệu y điển: Chữa trẻ em suy nhược, những người suy nhược sau khi ốm nặng, trĩ lậu và các loại trĩ, viêm tai giữa mạn tính, bệnh mục xương (caries), lở loét mạn tính và các loại mụn nhọt có mủ khác. Dùng như Hoàng kỳ kiến trung thang. Theo Thực tế ứng dụng: Tiểu kiến trung thang thêm Hoàng kỳ thì thành Hoàng kỳ kiến trung thang, do đó có thể nói đây là bài Hoàng kỳ kiến trung thang được thêm Đương quy. Vì vậy, bài thuốc này được dùng cho những người bệnh trạng nặng hơn trong bài Hoàng kỳ kiến trung thang. Theo Đông y đó đây: Thuốc dùng cho những người tâm tì hư, mặt nhợt nhạt, bụng và mạch đều mềm yếu, nguyên khí suy, sức khỏe suy giảm, luôn cảm thấy mệt mỏi, thiếu máu và suy nhược do xuất huyết trong ruột, xuất huyết tử cung, đái ra máu ít nhiều kèm theo các chứng bệnh về thần kinh, những người mắc bệnh hay quên, mất ngủ v.v Ngoài ra, thuốc này cũng được ứng dụng để trị các chứng đánh trống ngực dồn dập do thần kinh, ǎn uống kém ngon miệng, kinh nguyệt thất thường, hysteria, suy nhược thần kinh, di tinh, lậu mạn tính, tràng nhạc, v.v Theo các tài liệu tham khảo khác: Thuốc còn trị bệnh ưu uất, trị các chứng mất trương lực dạ dày, suy nhược thần kinh, sưng tuyến vòm miệng, thổ huyết, xuất huyết hậu môn, di tinh. Bài 35: QUY Tỳ THANG (thiếu máu,suy nhược) Thành phần và phân lượng:Nhân sâm 2-3g, Bạch truật 2-3g, Phục linh 2-3g, Toan táo nhân 2-3g, Long nhãn nhục 2-3g, Hoàng kỳ 2-3g, Đương quy 2,0g, Viễn chí 1-2g, Cam thảo 1,0g, Mộc hương 1,0g, Đại táo 1-2g, Can sinh khương 1-1,5g. Cách dùng và lượng dùng:Thang. Công dụng:Trị các chứng thiếu máu, mất ngủ những người thể chất hư nhược, huyết sắc kém. Giải thích:
Xem thêm

16 Đọc thêm

Lưu ý khi dùng thuốc cầm máu trong xuất huyết tiêu hóa cao doc

LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC CẦM MÁU TRONG XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA CAO

sandostatin và một số octreotide khác như terlipressin. Khi áp lực dòng máu qua gan, dạ dày, tĩnh mạch cửa giảm xuống sẽ làm giảm chảy máu và giúp hình thành nút cầm máu tốt hơn. Vì thế, sandostatin có hiệu quả tốt nhất trong XHTH cao do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản bệnh nhân có hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Về nguyên tắc, có thể phối hợp được các loại thuốc cầm máu nói trên trong việc điều trị XHTH cao. Ví dụ như cho thuốc co mạch hoặc transamin với vitamin K vì giai đoạn đầu vitamin K chưa có tác dụng. Thứ hai là việc sử dụng thuốc nào tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể như vị trí, nguyên nhân, mức độ chảy máu cũng như cân nhắc tác dụng phụ của loại thuốc sẽ được dùng cho bệnh nhân. Cuối cùng, cần hết sức lưu ý rằng các thuốc cầm máu chỉ có tác dụng hỗ trợ trong việc điều trị XHTH cao, hiệu quả trên bệnh nhân của các loại thuốc này là rất khó theo dõi. Nên trước một trường hợp bị XHTH cao, các biện pháp tích cực, chủ động như nội soi can thiệp, phẫu thuật cấp cứu và theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân vẫn được ưu tiên hàng đầu.
Xem thêm

4 Đọc thêm

EPREX (Kỳ 3) ppsx

EPREX (KỲ 3) PPSX

mỗi tuần các khoảng thời gian ít nhất 4 tuần. Nếu bệnh nhân đã không có được sự đáp ứng đầy đủ với Eprex liều 300 IU/kg, 3 tuần mỗi lần, thì thường họ cũng không có được sự đáp ứng liều cao hơn. Giai đoạn duy trì : Sau khi đã đạt được sự đáp ứng như mong muốn, liều dùng nên được điều chỉnh để duy trì hematocrit giữa 30-35%, dựa trên các yếu tố như các liều zidovudine khác nhau, sự hiện diện của nhiễm trùng gian phát hoặc các giai đoạn viêm. Nếu hematocrit vượt quá 40%, nên tạm ngưng điều trị cho tới khi hematocrit giảm đến 36%. Khi việc điều trị có thể bắt đầu lại, liều dùng nên được giảm khoảng 25% và rồi điều chỉnh lại liều để duy trì mức hematocrit mong muốn. Tình trạng sắt nên được đánh giá cho tất cả bệnh nhân trước và trong khi điều trị và việc bổ sung sắt nên được thực hiện khi cần thiết. Các nguyên khác gây thiếu máu nên được loại trừ trước khi bắt đầu liệu pháp Eprex (xem phần Thận trọng lúc dùng). Bệnh nhân phẫu thuật người lớn trong chương trình tiền hiến máu tự thân : Tất cả những chống chỉ định trong chương trình hiến máu tự thân nên được tuân thủ những bệnh nhân đang được điều trị bổ sung Eprex. Eprex nên được tiêm 2 lần mỗi tuần trong 3 tuần trước khi phẫu thuật nếu khoảng thời gian tiền hiến máu tiền phẫu thuật cho phép. mỗi lần bệnh nhân hiến máu, 1 đơn vị máu được lấy ra và dự trữ cho việc truyền máu tự thân nếu bệnh nhân có hematocrit >= 33% và/hoặc hemoglobin >= 11g/dl. Liều điều trị được khuyến cáo là 600 IU/kg, tiêm tĩnh mạch 2 lần mỗi tuần. Đối với những bệnh nhân có nhu cầu kích thích tạo máu mức độ ít hơn, liều điều trị 150-300 IU/kg, tiêm tĩnh mạch 2 lần mỗi tuần đã cho thấy làm tăng hiệu quả tiền hiến máu tự thân và làm giảm sự sụt giảm hematocrit sau lấy máu. Tình trạng sắt nên được đánh giá trên tất cả bệnh nhân trước khi điều trị bằng Eprex. Nếu có tình trạng thiếu sắt xảy ra, bệnh nhân nên được điều trị bổ sung sắt trước khi được cho phép tham gia chương trình hiến máu tự thân. những bệnh nhân thiếu máu, nguyên nhân gây ra thiếu máu nên được tìm ra trước khi bắt đầu liệu pháp Eprex. Việc bổ sung sắt đầy đủ (ví dụ : ít nhất 200 mg sắt nguyên tố uống mỗi ngày) được đòi hỏi bắt đầu ngay khi có thể và nên tiếp tục trong suốt quá trình điều trị.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Thuốc cầm máu trong xuất huyết tiêu hóa

THUỐC CẦM MÁU TRONG XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

trong xuất huyết tiêu hoá bệnh nhân có rối loạn đông máu. Truyền máu tươi cùng nhóm. Liều truyền đầu tiên ít nhất 300ml mới có hiệu lực cầm máu. Có thể truyền máu dự trữ hoặc truyền trực tiếp (người cho - người nhận) qua máy. Chú ý: Không dùng long não (vì làm giãn mao mạch); cafein (vì tăng tiết toan dạ dày), noradrenalin (vì cung lượng tim trong xuất huyết tiêu hoá giảm, sẽ làm giảm mạch trung ương (mạch vành...) thuốc làm co mạch ngoại vi máu không về trung ương sẽ gây nguy hiểm. Ngoài các biện pháp chung như trên, tùy theo nguyên nhân, điều kiện trang bị và trình độ nhân viên y tế mà có thể sử dụng các biện pháp cầm máu khác để điều trị như đặt sonde Blakemore (trong chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản), các can thiệp cầm máu qua nội soi... Chỉ xem xét điều trị ngoại khoa khi nội soi thấy máu chảy thành tia, hoặc khi điều trị cơ bản trong vòng 72 giờ không cầm được máu, hoặc khi chảy máu nặng tái diễn nhiều lần.
Xem thêm

5 Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA SANDOSTATIN TRONG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TRÊN DO VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN DÃN

VAI TRÒ CỦA SANDOSTATIN TRONG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TRÊN DO VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN DÃN

VAI TRÒ CỦA SANDOSTATIN TRONG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TRÊN DO VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN DÃN I. Đặt vấn đề: – Xuất huyết tiêu hoá do vỡ tĩnh mạch thực quản dãn là: biến chứng thường gặp bệnh nhân xơ gan, tỉ lệ tử vong rất cao 30-40% lần đầu tiên. – Can thiệp thủ thuật nội soi cấp cứu khó khăn do: + Trạng thái bệnh lý nặng. + Kỹ năng nội soi của bác sĩ. – Gần đây có nhiều thuốc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa gián tiếp được dùng trong điều trị cấp cứu xuất huyết tiêu hoá do vỡ dãn tĩnh mạch thực quản có hiệu quả. II. Lịch sử về Somatostatin và Octreotide acetate (Sandostatin): – Somatostatin là một kích thích tố được Guillemin tìm ra năm 1973 (năm 1978 Guillemin được giải Nobel). Mới đầu người ta tưởng Somatostatin chỉ có não và chỉ ức chế kích thích tố tăng trưởng nhưng dần dần các tác giả nhận thấy Somatostatin hiện diện khắp nơi trong cơ thể người và có nhiều tác dụng trên hệ tiêu hoá. – Somatostatin được tìm thấy: + Trong tế bào D các đảo tụy (Pancreatic islets) + Trong tế bào D dạ dày và ruột. + Trong hệ thần kinh trung ương (từ vùng dưới đồi não bộ), tim, mắt, tuyến giáp, tuyến hung và da. – 1978 Tyden là người đầu tiên dùng Somatostatin tự nhiên để điều trị xuất huyết tiêu hoá do vỡ tĩnh mạch thực quản dãn. – 1980 Bories chứng minh được rằng Somatostatin làm giảm áp lực tĩnh mạch gan và hệ cửa. – 1985 Jenkins lần đầu tiên so sánh tác dụng giữa Vasopressin và Somatostatin trong xuất huyết tiêu hoá do xơ gan. – Vì thời gian bán huỷ của Somatostatin ngắn nên có nhiều hạn chế trong khi sử dung nên các nhà khoa học đã tổng hợp Octreotide có cùng tác dụng nhưng
Xem thêm

9 Đọc thêm

Giáo trình bệnh học 2 (Phần 8) pot

GIÁO TRÌNH BỆNH HỌC 2 PHẦN 8 POT

qụy não) thì lựa chọn một trong những số thuốc chống tăng huyết áp dạng viên để uống duy trì. 7. Điều trị tăng huyết áp. 7.1. Nguyên tắc: 199- Loại trừ các yếu tố tác động (nguy cơ). - Điều trị nguyên nhân gây tăng huyết áp. - Tăng huyết áp vô căn phải điều trị kéo dài suốt đời vì bệnh không khỏi đợc, dùng thuốc chống tăng huyết áp theo bậc thang điều trị của Tổ chức Y tế thế giới để duy trì mức huyết áp trong khoảng 120-135/80-85 mmHg, kết hợp với các phơng pháp có hiệu quả khác. - Kết hợp điều trị biến chứng do tăng huyết áp gây ra. - Tuyên truyền, quản lý, theo dõi định kỳ để điều chỉnh phác đồ điều trị thích hợp riêng cho từng bệnh nhân. 7.2. Những nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp hiện nay: + Lợi tiểu: có nhiều nhóm thuốc lợi tiểu khác nhau, nhng để điều trị tăng huyết áp chỉ cần sử dụng những nhóm thuốc sau đây: - Thuốc lợi tiểu thải muối nhóm thiazide: Hypothiazide 25-50mg/ngày, thuốc gây giảm kali máu, vì vậy phải định kỳ bổ sung kali. Một số biệt dợc mới ví dụ: fludex 2,5mg ì 1v/ngày, hoặc natrilix thuốc này tuy xếp vào nhóm thuốc lợi tiểu nhng ít có tác dụng lợi tiểu mà có tác dụng giãn mạch là chủ yếu. - Thuốc lợi tiểu quai: Thuốc uống furosemide 40mg ì 1-2v/ngày; thuốc tiêm lasix 20mg ì 1-2 ống/ngày, tiêm bắp thịt hoặc tĩnh mạch. Đây là những thuốc lợi tiểu có tác dụng nhanh, mạnh nên chỉ dùng khi có tăng huyết áp nặng và khi cấp cứu, sau đó chuyển thuốc khác để tránh những tác dụng phụ do thuốc gây ra. - Thuốc lợi tiểu không gây mất kali: Ví dụ: aldacton, spironolacton, triamteren, diamox tác dụng lợi tiểu kém hơn, không cần phải bổ sung kali, đặc biệt có giá trị đối với một số tăng huyết áp do hội chứng Conn (cờng aldosteron) hoặc tăng huyết áp có kèm theo bệnh tâm-phế mạn tính ). + Nhóm thuốc có tác dụng trên hệ giao cảm: - Hng phấn thụ cảm thể anpha 2 trung ơng.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Chảy máu do loét dạ dày tá tràng docx

CHẢY MÁU DO LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG DOCX

nội soi: chảy máu nhẹ, chảy máu vừa, chảy máu nặng. 4. Chẩn đoán tình trạng vết loét. 5. Chẩn đoán phân biệt: 1) Chảy máu do viêm dạ dày: - có 3 loại: + Viêm chợt: là những vết loét chợt nông, kích thước to nhỏ khác nhau, đường kính thong thường dưới 5mm. + Viêm do các loại thốc kháng viêm không steoroid như aspirin, voltaren + Viêm dạ dày chảy máu, trong đó có một loại thương tổn đặc biệt là viêm toàn bộ dạ dày chảy máu (Dieulafoi). - Khi thăm khám có thể có 2 hoàn cảnh: + Chảy máu sau khi uống thuốc: thương tổn có thể là viêm nhưng cũng có thể là chảy máu từ ổ loét dạ dày tá tràng. + Chảy máu sau chấn thương tinh thần, sau uống rượu, sau loại phẫu thuật, sau khi bỏng. - Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi thực quản – dạ dày – tá tràng. Thương tổn là các vết loét chợt nông, to nhỏ không đều rải rác toàn bộ niêm mạc dạ dày hay khu trú hang vị, tá tràng. Có khi thấy toàn bộ niêm mạc dạ dày viêm, các nếp niêm mạc thô, có nhiều đám xuất huyết rải rác. Tuy nhiên những trường hợp nội soi sau 48 – 72h không xác định được thương tổn vì lúc đó các vết loét đã liền sẹo. 2) Vỡ các búi tĩnh mạch thực quản và dạ dày: - Tình trạng chảy máu dữ dội: Nôn máu đỏ tươi, ỉa phân đen lẫn máu nhiều lần. - Toàn thân: Shock do mất máu nặng. - Thực thể: Cổ chướng, gan to, tuần hoàn bàng hệ, lách to… - Nội soi: + Máu chảy thành tia hay ào ạt, có trường hợp không xác định được đâu là thương tổn. + tĩnh mạch thực quản vỡ chảy máu thường đoạn 2/3 dưới thực quản, trường hợp vỡ thân vị khó xác định vỡ búi nào vì có nhiều máu cục ứ đọng trong dạ dày + Ngoài ra cần phải soi từ dạ dày đến tá tràng để tìm những thương tổn phối hợp như:
Xem thêm

15 Đọc thêm

LOẠN NHỊP TIM ( DYSRHYTHMIAS IN ICU ) PHẦN II pdf

LOẠN NHỊP TIM DYSRHYTHMIAS IN ICU PHẦN II PDF

540 mg trong 18 giờ được gợi ý. SOTALOL phong bế không chọn lọc các thụ thể bêta-adrenergic. Nó cũng kéo dài thời gian điện thế động và làm gia tăng thời kỳ trơ của hầu hết các mô tim. SOTALOL có dưới dạng thuốc uống Hoa Kỳ và được cho bằng đường tĩnh mạch trong các nước, đây một liều tấn công 1-1,5 mg/kg, được tiếp theo sau đó bởi tiêm truyền với tốc độ 10mg/phút. 30/ THEO ACLS (ADVANCED CARDIAC LIFE SUPPORT), THUỐC NÀO ĐƯỢC KHUYÊN ĐỂ ĐIỀU TRỊ VT/VF KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI KHỬ RUNG ? Vasopressin, 40 mg, hay epinephrine, 1mg tiêm tĩnh mạch, được khuyến nghị như là thuốc co mạch được cho trước khi thực hiện một khử rung khác. Các thuốc chống loạn nhịp nên được cho tiếp theo gồm có AMIODARONE, LIDOCAINE, magnesium sulfate, và PROCAINAMIDE. Bretylium đã được lấy ra khỏi guideline bởi vì thường xảy ra những tác dụng phụ. 31/ VASOPRESSIN LÀ GÌ ? Vasopressin là một hormone chống tiết niệu (antidiuretic hormone) có trong tự nhiên, tác dụng như thuốc co mạch ngoại biên nonadrenergic, bằng cách kích thích trực tiếp các thụ thể V1 cơ trơn. Vasopressin có thời gian bán phân hủy dài hơn epinephrine (10-20 phút so với 2-3 phút). Trong hồi sức tim-phổi (cardiopulmonary resuscitation), vasopressin gây nên co mạch da, cơ vân, ruột, mỡ, và mạng huyết quản động mạch vành và thận. Vasopressin cũng đưa đến giãn mạch của hệ mạch máu não. Bằng cớ sơ khởi chỉ cho thấy rằng vasopressin làm gia tăng tuần hoàn trở về nơi người với rung thất ngoài bệnh viện.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Điều trị SuyTim Mất Bù cấp tính bằng Lợi Tiểu tác dụng trên Quai Henlé potx

ĐIỀU TRỊ SUYTIM MẤT BÙ CẤP TÍNH BẰNG LỢI TIỂU TÁC DỤNG TRÊN QUAI HENLÉ POTX

Điều trị SuyTim Mất Bù cấp tính bằng Lợi Tiểu tác dụng trên Quai Henlé Lợi tiểu tác dụng trên quai Henlé mà tiêu biểu là furosemide đã được dùng từ nhiều năm để điều trị suy tim mất bù cấp tính tuy nhiên liều lượng và cách thực hiện tùy thuộc vào kinh nghiệm của thầy thuốc. người bình thường tác dụng lợi tiểu bắt đầu với liều nhỏ 10 mg furosemide, tăng đến tối đa liều 40 mg truyền tĩnh mạch, vượt quá liều này không tăng tác dụng lợi tiểu mà lại tăng tác dụng phụ. Theo một nghiên cứu, truyền tĩnh mạch liên tục làm cho bệnh nhân tiểu được nhiều hơn nhưng cũng chỉ thêm được 271 ml trong 24 giờ. Trong điều trị suy tim cấp ta chọn đường tĩnh mạchliều cao vì sự phù nề của niêm mạc ruột và giảm tưới máu mô làm giảm sự hấp thu bằng đường tiêu hóa và giảm nồng độ thuốc thận. Nhiều người truyền tĩnh mạch để đạt hiệu quả tối ưu. Tuy nhiên cần xem xét hậu quả của việc điều trị lợi tiểu tích cực vì lấy đi khỏi cơ thể một lượng dịch lớn làm giảm cung lượng tim lại giảm tưới máu mô, gây ra phản ứng của hệ thống rennin-angiotensin cũng như các rối loạn về điện giải và giảm chức năng thận. Felker G.M. và csv báo cáo kết quả một nghiên cứu tiền cứu dựa trên 308 bệnh nhân điều trị bằng furosemide liều cao so với liều thấp và bằng cách tiêm tĩnh mạch mỗi 12 giờ so với truyền tĩnh mạch liên tục. Liều thấp là liều bệnh nhân uống trước khi nhập viện, liều cao bằng 2.5 lần liều uống. Kết quả chung cuộc của nghiên cứu là sự lượng giá của bệnh nhân về triệu chứng suy tim và sự thay đổi nồng độ creatinine trong huyết thanh sau 72 giờ so với nồng độ trước khi điều trị. Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa tiêm TM và truyền TM trong sự cải thiện triệu chứng suy tim cũng như trong sự thay đổi của nồng độ creatinine. Bệnh nhân được điều trị bằng liều cao có khuynh hướng giảm khó thở nhanh hơn và tiểu được nhiều hơn tuy có giảm chức năng thận nhẹ và thoáng qua, không có ý nghĩa về thống kê. Kết quả chung không khác nhau về thời gian điều trị và số bệnh nhân ra viện.
Xem thêm

3 Đọc thêm

VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN (Kỳ 4) pot

VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN KỲ 4

VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN (Kỳ 4) V. Điều trị A. Nguyên tắc điều trị 1. Kháng sinh cần đợc cho sớm ngay sau khi cấy máu kết thúc. Trong lúc chờ kết quả cấy máu thì cho kháng sinh theo quy ớc: thờng dùng quy ớc là Ampicilin 2g tiêm tĩnh mạch (TM) mỗi 4 giờ kết hợp với Gentamycin 1,0 mg/kg cân nặng TM mỗi 8 giờ. Có thể thay thế bằng Nafcillin 1,5 g tiêm TM mỗi 4 giờ hoặc Vancomycin 1 g tiêm TM mỗi 12 giờ. 2. Khi có kháng sinh đồ cần điều chỉnh kháng sinh theo chế độ chuẩn (trình bày kỹ phần sau). 3. Chú ý kiểm tra và theo dõi các chức năng thận, gan để chọn kháng sinh và liều thích hợp. 4. Không nên dùng chống đông để ngăn ngừa tắc mạch trong VNTMNK. 5. Điều trị VNTMNK do nấm thờng phải kết hợp điều trị nội ngoại khoa. 6. Chỉ định điều trị ngoại khoa can thiệp thờng khó khăn nhng cũng rất cần thiết trong những hoàn cảnh nhất định. 7. Việc phòng ngừa VNTMNK những bệnh nhân có nguy cơ là việc hết sức cần đợc chú ý đến. B. Điều trị cụ thể 1. Điều trị nội khoa: a. Chế độ dùng kháng sinh cho các loại cầu khuẩn (Bảng 16-3). b. Chế độ dùng kháng sinh cho Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) và các vi khuẩn gram âm khác. - Nên dùng loại Penicillin có phổ rộng (Penicillin mới): Ticarcillin hoặc Piperacillin), hoặc Cephalosporin thế hệ 3, hoặc Imipenem - Phối hợp với Aminoglycoside. Bảng 16-3. Lựa chọn kháng sinh cho các loại cầu khuẩn. Loại vi khuẩn
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu và hiệu quả điều trị thiếu máu bằng erythropoietin bêta kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THIẾU MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU BẰNG ERYTHROPOIETIN BÊTA KẾT HỢP BỔ SUNG SẮT TRUYỀN TĨNH MẠCH Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN LỌC MÁU BẰNG THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ

Erythropoietin gọi tắc là rHuEPO) được sử dụng đầu tiên Châu Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước để điều trị thiếu máu trong suy thận mạn [11], cùng với sự tiến bộ vượt bậc về trang thiết bị, thuốc tạo máu và kỹ thuật thận nhân tạo chu kỳ, đã cải thiện đáng kể tình trạng thiếu máu, giảm chỉ định và biến chứng truyền máu. Tuy vậy, hiệu quả điều trị thiếu máu bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ thì còn tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý suy thận mạn, nhiểm trùng, nguồn nước, liều chạy thận, tình trạng dinh dưỡng, đặc biệt là tình trạng thiếu sắt trong quá trình điều trị tạo máu bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ thận[59]. Việc sử dụng rHuEPO, nguy cơ thiếu sắt đã trở thành vấn đề thực tế và phổ biến [98]. Chỉ một nửa các bệnh nhân chạy thận tại Hoa Kỳ có thể đạt đến hematocrit 30%, nguyên nhân quan trọng nhất là do thiếu sắt, tỉ lệ thiếu sắt được ước tính khoảng 43- 90% bệnh nhân điều trị rHuEPO [52]. Rõ ràng, thiếu máu là một vấn đề lâm sàng thách thức nhất bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Mục tiêu điều trị thiếu máu trên bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ hiện nay là làm sao duy trì cung cấp đầy đủ sắt cho tác dụng hiệu quả của thuốc tạo máu và quyết định liều rHuEPO, mức hematocrit, hemoglobin tối ưu cho bệnh nhân,[52],[99]. Chi phí cho điều trị và chăm sóc bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ rất tốn kém. Thống kê Mỹ (2005), bảo hiểm y tế đã chi trả 7,9 tỉ Đô la cho lọc máu, bao
Xem thêm

119 Đọc thêm

Tài liệu Trị viêm loét đại trực tràng chảy máu - Thuốc gì? docx

TÀI LIỆU TRỊ VIÊM LOÉT ĐẠI TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU - THUỐC GÌ? DOCX

Một số thuốc khác Azathioprin (imuran): Có hiệu quả trong một số trường hợp nặng, khi dùng thuốc cần chú ý bạch cầu hạt, khi lượng bạch cầu hạt trong máu ngoại vi < 1,5 G/L thì không dùng. Thuốc chống chỉ định đối với bệnh nhân có tổn thương gan, người có tiền sử bệnh gan và phụ nữ có thai. Cyclosporin: Mới được đưa vào sử dụng với hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên, khi dùng cần chú ý đến tác dụng phụ của thuốc như tăng huyết áp, rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng gan, rối loạn tiêu hoá, đôi khi có nhức đầu, ban dị ứng, thiếu máu nhẹ. Ngoài việc sử dụng thuốc cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm lý, trong trường hợp thiếu hụt men lactase thì không cho bệnh nhân dùng sữa, trong đợt tiến triển khẩu phần ăn cần hạn chế chất xơ. Không dùng các chế phẩm của thuốc phiện, thuốc chống tiêu chảy và thuốc kháng cholin vì có thể gây ra phình đại tràng, đặc biệt trong trường hợp có biến chứng phình đại tràng nhiễm độc bệnh nhân phải được theo dõi và điều trị trong trung tâm hồi sức tích cực. Viêm loét đại trực tràng cháy máu cần được theo dõi thường xuyên 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết nhiều mảnh đại tràng và đại tràng sigma để kịp thời phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Trị viêm loét đại trực tràng chảy máu - Thuốc gì? pdf

TRỊ VIÊM LOÉT ĐẠI TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU THUỐC GÌ

cần chú ý đến tác dụng phụ của thuốc như tăng huyết áp, rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng gan, rối loạn tiêu hoá, đôi khi có nhức đầu, ban dị ứng, thiếu máu nhẹ. Ngoài việc sử dụng thuốc cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm lý, trong trường hợp thiếu hụt men lactase thì không cho bệnh nhân dùng sữa, trong đợt tiến triển khẩu phần ăn cần hạn chế chất xơ. Không dùng các chế phẩm của thuốc phiện, thuốc chống tiêu chảy và thuốc kháng cholin vì có thể gây ra phình đại tràng, đặc biệt trong trường hợp có biến chứng phình đại tràng nhiễm độc bệnh nhân phải được theo dõi và điều trị trong trung tâm hồi sức tích cực. Viêm loét đại trực tràng cháy máu cần được theo dõi thường xuyên 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết nhiều mảnh đại tràng và đại tràng sigma để kịp thời phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, bệnh nhân có dùng thêm acid folic với liều 2g/ngày khi sử dụng salicylazo - sulfapyridin sẽ làm giảm tỷ lệ loạn sản đại tràng, từ đó làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng. ThS. Nguyễn Bạch
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thuốc điều chỉnh rối loạn tiêu hoá (Kỳ 4) docx

THUỐC ĐIỀU CHỈNH RỐI LOẠN TIÊU HOÁ (KỲ 4) DOCX

với nước (không nhai, nghiền) và uống cách xa bữa ăn (tr ước khi ăn sáng, trước khi đi ngủ tối). 1.4. Các thuốc khác 1.4.1. Các muối bismuth Được dùng dưới dạng keo subcitrat (trikalium dicitrato), subsalicylat Các muối bismuth có tác dụng: - Bảo vệ tế bào niêm mạc dạ dày do làm tăng tiết dịch nhày và bicarbon at, ức chế hoạt tính của pepsin. - Bao phủ chọn lọc lên đáy ổ loét, tạo chelat với protein, làm thành hàng rào bảo vệ ổ loét chống lại sự tấn công của acid và pepsin. - Diệt Helicobacter pylori . Khi dùng riêng, các muối bismuth chỉ diệt được H.pylori khoảng 20% người bệnh, nhưng khi phối hợp với kháng sinh và thuốc ức chế bơm proton, có thể tới 95% người bệnh tiệt trừ được H.pylori. Vì thế bismuth được coi là thành phần quan trọng trong công thức phối hợp thuốc. Bismuth dạng keo ít hấp thu qua đường uống (chỉ khoảng 1%) nên ít gây độc với liều thông thường. Nếu dùng liều cao hoặc dùng kéo dài có thể gây bệnh não. Chống chỉ định: quá mẫn với thuốc, suy thận nặng, phụ nữ có thai. Tác dụng không mong muốn: buồn nôn, nôn, đen miệng, đen lưỡi, đen phân (thận tr ọng người có tiền sử chảy máu đường tiêu hóa, vì dễ nhầm với đại tiện phân đen). Chế phẩm: Bismuth subcitrat viên nén 120 mg Uống mỗi lần 1 viên, ngày 4 lần vào 30 phút trước các bữa ăn và 2 giờ sau bữa ăn tối, hoặc mỗi lần uống 2 viên, ngày 2 lần vào 30 phút trước bữa ăn sáng và tối. Điều trị trong 4- 8 tuần. Không dùng để điều trị duy trì, nhưng có thể điều trị nhắc lại sau 1 tháng. * Chế phẩm phối hợp ranitidin và muối bismuth: ranitidin bismuth citrat dạ dày ranitidin bismuth citrat được phân ly t hành ranitidin và bismuth, do đó có cả hai tác dụng của hợp chất bismuth và của ranitidin.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu và hiệu quả điều trị thiếu máu bằng Beta Erythropoietin kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ.

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THIẾU MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU BẰNG BETA ERYTHROPOIETIN KẾT HỢP BỔ SUNG SẮT TRUYỀN TĨNH MẠCH Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN LỌC MÁU BẰNG THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ.

ĐẶT VẤN ĐỀ Thiếu máu trong suy thận mạn là một biến chứng thường xuyên và nghiêm trọng, [31], [34], [54], [98], chủ yếu do tổn thương chức năng nội tiết của thận làm giảm sản xuất Erythropoietin kích thích tủy xương sinh hồng cầu [14],[48]. Thiếu máu làm giảm vận chuyển Oxy đến mô, gây tổn thương đa cơ quan, gánh nặng bù trừ của tim, nặng thêm suy thận, tăng tỉ lệ biến chứng và tử vong. Điều trị thiếu máu trong suy thận mạn là một trong những mục tiêu quan trọng nhất ở bất kỳ giai đoạn nào của suy thận, nhất là trong điều trị lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Từ khi Erythropoietin người tái tổ hợp (recombinant Human Erythropoietin gọi tắc là rHuEPO) được sử dụng đầu tiên ở Châu Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước để điều trị thiếu máu trong suy thận mạn [11], cùng với sự tiến bộ vượt bậc về trang thiết bị, thuốc tạo máu và kỹ thuật thận nhân tạo chu kỳ, đã cải thiện đáng kể tình trạng thiếu máu, giảm chỉ định và biến chứng truyền máu. Tuy vậy, hiệu quả điều trị thiếu máu ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ thì còn tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý suy thận mạn, nhiểm trùng, nguồn nước, liều chạy thận, tình trạng dinh dưỡng,.. đặc biệt là tình trạng thiếu sắt trong quá trình điều trị tạo máu ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ thận[59]. Việc sử dụng rHuEPO, nguy cơ thiếu sắt đã trở thành vấn đề thực tế và phổ biến [98]. Chỉ một nửa các bệnh nhân chạy thận tại Hoa Kỳ có thể đạt đến hematocrit 30%, nguyên nhân quan trọng nhất là do thiếu sắt, tỉ lệ thiếu sắt được ước tính khoảng 43- 90% bệnh nhân điều trị rHuEPO [52]. Rõ ràng, thiếu máu là một vấn đề lâm sàng thách thức nhất ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Mục tiêu điều trị thiếu máu trên bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ hiện nay là làm sao duy trì cung cấp đầy đủ sắt cho tác dụng hiệu quả của thuốc tạo máu và quyết định liều rHuEPO, mức hematocrit, hemoglobin tối ưu cho bệnh nhân,[52],[99]. Chi phí cho điều trị và chăm sóc bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ rất tốn kém. Thống kê ở Mỹ (2005), bảo hiểm y tế đã chi trả 7,9 tỉ Đô la cho lọc máu, bao gồm 2 tỉ Đô la cho thuốc tạo máu rHuEPO [96]. Tại Việt Nam, điều trị thiếu máu bằng rHuEPO vẫn là gánh nặng cho Bảo hiểm y tế và bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Bổ sung sắt đầy đủ và hợp lý sẽ giảm liều rHuEPO và giảm chi phí cho điều trị. Bổ sung sắt bằng đường uống có lợi ích là đơn giản, chi phí thấp, an toàn, nhưng hiệu quả của nó ở những bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ thì rất hạn chế do tác dụng phụ lên tiêu hóa [50] như khó tiêu, táo bón, đầy hơi, tiêu lỏng và khó tuân thủ do phải bù sắt lượng lớn ( theo NKF- K/DOKI # 200mg nguyên tố sắt/ngày [54]). Hiệu quả của bù sắt đường tĩnh mạch (sắt dextran, sucrose và gluconate) ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ đã được nghiên cứu rộng rãi và một nền tảng y văn đáng kể đã chứng minh cho mức độ đáp ứng tăng hemoglobin cao hơn hoặc giảm liều yêu cầu EPO, hoặc cả hai.[30],[36], [44], [51], [50], [58], [60], [76], [79], [84], [99], [100]. Ở Việt Nam, sự quan tâm đến việc bù sắt trong điều trị thiếu máu bằng rHuEPO ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ còn chưa đúng mức, các công trình nghiên cứu để đánh giá về hiệu quả điều trị bù sắt ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ còn rất ít. Vì vậy, nghiên cứu việc điều trị bổ sung sắt truyền tĩnh mạch trong quá trình điều trị thiếu máu bằng rHuEPO ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ đã trở thành mục tiêu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị thiếu máu, giảm chi phí điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân, giảm tỉ lệ tử vong. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu và hiệu quả điều trị thiếu máu bằng Erythropoietin bêta kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. Nhằm các mục tiêu sau: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ. 2. Đánh giá hiệu quả điều trị thiếu máu bằng Erythropoietin beta kết hợp bổ sung sắt truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ.
Xem thêm

111 Đọc thêm

Thuốc cầm máu trong xuất huyết tiêu hóa doc

THUỐC CẦM MÁU TRONG XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA DOC

noradrenalin (vì cung lượng tim trong xuất huyết tiêu hoá giảm, sẽ làm giảm mạch trung ương (mạch vành ) thuốc làm co mạch ngoại vi máu không về trung ương sẽ gây nguy hiểm. Ngoài các biện pháp chung như trên, tùy theo nguyên nhân, điều kiện trang bị và trình độ nhân viên y tế mà có thể sử dụng các biện pháp cầm máu khác để điều trị như đặt sonde Blakemore (trong chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản), các can thiệp cầm máu qua nội soi Chỉ xem xét điều trị ngoại khoa khi nội soi thấy máu chảy thành tia, hoặc khi điều trị cơ bản trong vòng 72 giờ không cầm được máu, hoặc khi chảy máu nặng tái diễn nhiều lần. BS. Nguyễn Bạch Đằng
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề