ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI BỂ THẬN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI NGOÀI PHÚC MẠC TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2006-2010

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc tại bệnh viện việt đức giai đoạn 2006-2010":

Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản qua nội soi niệu quản tán sỏi bằng laser với ống soi 2 kênh thao tác

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN QUA NỘI SOI NIỆU QUẢN TÁN SỎI BẰNG LASER VỚI ỐNG SOI 2 KÊNH THAO TÁC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC HỒ SĨ NHẬT QUANG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN QUA NỘI SOI NIỆU QUẢN TÁN SỎI BẰNG LASER VỚI ỐNG SOI 2 KÊNH THAO TÁC LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC CỦA BÁC SỸ NỘI TRÚ Huế - 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC HỒ SĨ NHẬT QUANG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN QUA NỘI SOI NIỆU QUẢN TÁN SỎI BẰNG LASER VỚI ỐNG SOI 2 KÊNH THAO TÁC Chuyên ngành: Ngoại khoa Mã số: NT 62 72 07 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC CỦA BÁC SỸ NỘI TRÚ Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN KHOA HÙNG Huế - 2013 LỜI CẢM ƠN Với tất cả tình cảm, sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn: - Ban Giám hiệu trường Đại học Y Dược Huế. - Ban Giám đốc Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế. - Ban Chủ nhiệm và quý thầy cô Bộ môn Ngoại trường Đại học Y Dược Huế. - Ban Chủ nhiệm, các bác sĩ và nhân viên khoa Ngoại Tổng hợp và Đơn vị tán sỏi Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế. - Thư viện trường Đại học Y Dược Huế. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. BS. Nguyễn Khoa Hùng - người thầy mẫu mực, đáng kính đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này. Xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Lê Đình Khánh, PGS. TS. Nguyễn Trường An, ThS. BS. Lê Đình Đạm đã giúp đỡ, đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thành luận văn này. Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, anh chị em trong gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập. Huế, tháng 10 năm 2013 Bác sĩ Hồ Sĩ Nhật Quang LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Hồ Sĩ Nhật Quang BẢNG CHỮ VIẾT TẮT EHL : Electrohydraulic Lithotripsy (Tán sỏi bằng điện thủy lực) Fr : Frenchscale KUB : Kidney – Ureter – Bladder (Chụp hệ tiết niệu
Xem thêm

94 Đọc thêm

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

Luận văn tốt nghiệp BSCK2 Nguyễn Văn Thưởng T62015 Bệnh Viện Việt Đức ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong các loại ung thư phổ biến trên thế giới 1, với hơn 90% là ung thư biểu mô (UTBM). Trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc UTDD thuộc hàng cao. Tại bệnh viện Việt Đức, trong nhiều năm qua, số bệnh nhân (BN) được phẫu thuật do UTDD đứng hàng đầu trong số các loại ung thư đường tiêu hóa. Cho tới nay, phương pháp điều trị UTDD bằng phẫu thuật vẫn là lựa chọn hàng đầu khi khối u vẫn còn khả năng cắt bỏ. Các biện pháp khác như hóa chất, miễn dịch, xạ trị… chỉ được coi là những phương pháp điều trị hỗ trợ tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân và giai đoạn bệnh. Trên thế giới, trong những năm gần đây, với việc ứng dụng phương pháp phẫu thuật nội soi (PTNS) trong điều trị UTDD đã có những tiến bộ vượt bậc với những ưu điểm của loại hình phẫu thuật này là không thể phủ nhận 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16. Tại Việt Nam, PTNS điều trị UTDD cũng đã được thực hiện từ năm 2004 và cho tới nay đã đạt được số lượng BN được PTNS cũng như kết quả rất đáng khích lệ. Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố về loại hình phẫu thuật này 17, 18, 19, 20, 21, 22… Do đa số bệnh nhân UTDD ở nước ta đến viện khám thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, số BN được phát hiện UTDD ở giai đoạn sớm còn rất hạn chế. Vì vậy, vấn đề đặt ra là tính khả thi của PTNS liệu có thể áp dụng cho tất cả những trường hợp UTDD từ giai đoạn sớm đến giai đoạn tiến triển đã có di căn hay chỉ áp dụng cho một số trường hợp nhất định. PTNS để điều trị UTDD đến giai đoạn nào là đảm bảo an toàn và triệt căn? kết quả điều trị thực tế ra sao? Cho đến nay, vẫn còn một số ý kiến quan ngại rằng, loại hình phẫu thuật này không đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của phẫu thuật ung thư, đặc biệt là khả năng nạo vét hạch rộng rãi và lấy bỏ khối u nguyên vẹn. Thêm vào đó, thời gian mổ bằng nội soi thường kéo dài hơn so với mổ mở, phẫu thuật viên (PTV) phải là người có kinh nghiệm mổ nội soi mới có thể thực hiện tốt được loại hình phẫu thuật này. Trên cơ sở thực tế đó, với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ tính khả thi của PTNS để điều trị UTDD ở giai đoạn tiến triển, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức với mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu. 2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn từ tháng 062010 đến tháng 62014.
Xem thêm

132 Đọc thêm

đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1-3 trên bằng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc tại bệnh viện việt đức giai đoạn 2007 - 2009

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN 1-3 TRÊN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI NGOÀI PHÚC MẠC TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2007 - 2009

ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi tiết niệu là một bệnh lý thường gặp với tỷ lệ bệnh vào khoảng 2 - 3% dân số và thay đổi tuỳ theo từng vùng. Tần suất bệnh sỏi tiết niệu thay đổi theo tuổi, giới, chủng tộc và cao hơn ở những cộng đồng sống ở vùng núi cao, sa mạc và nhiệt đới. Ở Mỹ tỷ lệ sỏi tiết niệu ở đàn ông là 12%, phụ nữ 6%. T ỷ lệ sỏi có chiều hướng tăng cao do sự tiến bộ của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán bệnh sớm hơn và rộng hơn. Các nước như Nhật Bản và Đức tỷ lệ này cũng tăng lên trong những năm gần đây. Việt Nam là một nước nằm trên bản đồ vùng sỏi của Humberger và Higgins [20]. Tỷ lệ bệnh nhân sỏi tiết niệ u chiếm khoảng 1 - 3% dân số và chiếm 30 - 40% bệnh lý tiết niệu nói chung [18], [40], [43], [87]. Tại khoa tiết niệu bệnh viện Việt Đức, trong 10 năm (1982 - 1991) tỷ lệ bệnh nhân đến khám vì sỏi tiết niệu chiếm 38% so với tổng số bệnh nhân đến khám bệnh tiết niệu nói chung. Số bệnh nhân điều trị sỏi tiết niệu chiếm 50% so với tổng số các bệnh tiết niệu được điều trị tại khoa [27]. Phần lớn sỏi NQ là do sỏi thận rơi xuống (khoảng 80%), còn lại là do sỏi sinh ra tại chỗ do dị dạng, hẹp NQ [2], [43]. Hiện nay tỷ lệ sỏi NQ có xu hướng tăng lên tương đối do các can thiệp ít sang chấn điều trị sỏi thận làm sỏi vỡ thành các mảnh nhỏ di chuyển xuống. Sỏi NQ tuy chiếm tỷ lệ ít hơn so với sỏi thận như ng gây ra những biến chứng nguy hiểm cho thận sớm hơn (ứ nước, ứ mủ đài bể thận...) khi sỏi gây bít tắc NQ và có kèm theo biến chứng nhiễm khuẩn niệu [18], [31], [42]. Có nhiều phương pháp điều trị sỏi tiết niệu: Điều trị nội khoa, TSNCT, TSNS, tán sỏi qua da, phẫu thuật mở và PTNS lấy sỏi trong và ngoài phúc mạc. Lựa chọn phương pháp nào là tuỳ thuộc vào vị trí, tính chất, số lượng sỏi, tình trạng chức năng thận, trang thiết bị và kinh nghiệm của phẫu thuật viên...Cho đến nay can thiệp ngoại khoa vẫn là lựa chọn quan trọng trong điều trị sỏi NQ. Hiện nay các phương pháp điều trị ít xâm lấn ngày càng được ưa chuộng vì tính hiệu quả, an toàn và tính thẫm mỹ cao. Phẫu thuật nội soi lấy sỏi là một trong các phương pháp ít xâm lấn đã được áp dụng phổ biế n tại nhiều Bệnh viện trên phạm vi cả nước, và đạt được nhiều kết quả tốt. Qua đó cũng thể hiện rõ được những lợi thế của phương pháp được xem là thay thế cho phẫu thuật mở trong những trường hợp thất bại sau tán sỏi ngược dòng, lấy sỏi qua da... Tại bệnh viện Việt Đức phẫu thuật nội soi lấy sỏi niệ u quản được thực hiện từ năm 2004. Hiện nay phẫu thuật nội soi lấy sỏi niệu quản ngoài phúc mạc được thực hiện thường qui tại nhiều bệnh viện và dần thay thế phẫu thuật mổ mở vì những ưu điểm vượt trội của nó. Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về kết quả của phương pháp phẫu thu ật này, do vậy chúng tôi thực hiện đề tài : “ Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2007 - 2009” nhằm hai mục đích: 1. Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc. 2. Nhận xét kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc trong điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên.
Xem thêm

121 Đọc thêm

đánh giá kết quả điều trị cắt chỏm nang đơn thận bằng phương pháp phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tại bệnh viện hữu nghị việt đức

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CẮT CHỎM NANG ĐƠN THẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

nghiên cứu thấy một số thuốc và dược liệu có thể gây nang thận ñơn thuần trên thực nghiệm như: Lithium cloride, Alloxan, Corticosteroide, Diphenilamine. • Các nguyên nhân khác: Gần ñây một số tác giả như Moskwitz (1994), Okuda (1995) thấy trong dịch nang có chứa yếu tố phát triển biểu mô 14 và yếu tố phát triển giống Insulin có thể gây thoái hóa ống thận và hình thành nang thận. 1.3. Tiến triển bệnh nang ñơn thận: Bệnh nang ñơn thận tiến triển âm thầm, nhịp ñộ chậm, phần lớn ở vỏ thận và ít gây biến chứng ( < 3% )[5]. - Chảy máu trong nang: Thường sau một chấn thương vùng thắt lưng. Nhiều trường hợp chảy máu âm thầm và chỉ phát hiện ñược khi chọc hút nang. - Vỡ nang: Khi nang quá to hoặc sau một chấn thương nang bị vỡ. Nếu nang vỡ ra ngoài ổ thận, bệnh nhân ñau dữ dội, siêu âm có thể thấy ổ nang thận bị vỡ và dịch thoát ra ngoài thận. Nếu nang vỡ vào ñài bể thận, có thể gây ñái ra máu. Chụp niệu ñồ tĩnh mạch hay chụp bể thận - niệu quản ngược dòng, thuốc cản quang có thể vào ổ nang. - Nhiễm khuẩn niệu: Có thể dưới hai hình thức: + Nhiễm khuẩn kết hợp ở ngoài nang như viêm thận - bể thận. + Nhiễm khuẩn ñơn thuần ở nang thận. Trong trường hợp này nhiều khi chẩn ñoán khó, mặc dù hội chứng nhiễm trùng biểu hiện rõ như sốt cao rét run, bạch cầu tăng, máu lắng tăng… nhưng khi nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu lại âm tính. Siêu âm thấy dịch không thuần nhất, có thể thấy lắng cặn, âm không ñều, chọc húy dịch nang thấy dịch ñục, nuôi cấy có vi khuẩn. - Ung thư nang thận: Hiếm gặp, chiếm khoảng 1% các trường hợp. - Đa hồng cầu: Một số nang thận có thể kích thích thận bài tiết erythropoietin phát triển thành bệnh ña hồng cầu.
Xem thêm

102 Đọc thêm

Đánh giá kết quả điều trị sỏi sót, sỏi kẹt tại niệu quản sau tán sỏi ngoài cơ thể bằng nội soi niệu quản

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI SÓT, SỎI KẸT TẠI NIỆU QUẢN SAU TÁN SỎI NGOÀI CƠ THỂ BẰNG NỘI SOI NIỆU QUẢN

Sỏi tiết niệu là bệnh lý hay gặp, phổ biến nhất trong các bệnh về tiết niệu, tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới dao động 2 – 12%, và ở Việt Nam chiếm 30 – 40% số bệnh nhân bị bệnh tiết niệu 4, 8, 19, 29. Bệnh sỏi tiết niệu nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như nhiễm khuẩn niệu, suy thận…thậm chí tử vong.

91 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ HẸP KHÚC NỐI BỂ THẬN NIỆU QUẢN TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2011 2015

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ HẸP KHÚC NỐI BỂ THẬN NIỆU QUẢN TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2011 2015

1.5.4. Siêu âm Doppler ,Siêu âm Doppler là một kỹ thuật không xâm lấn có thể đánh giá đượctình trạng cấp máu của thận, mạch máu bên trong thận khi có ứ nước trong bể,đài thận dẫn đến tăng áp lực trong khoang thận cấp tính gây co động mạchtiểu cầu thận, làm biến đổi độ bền mạch máu bên trong thận. Đánh giá dựavào chỉ số sức cản (IR) hay chỉ số của Pourcelot. IR bình thường: 0,5- 0,7(0,58 ± 0,05). Chỉ số này cũng khác nhau giữa thận phải và trái, IR thận phải0,7. Có thể kết hợp uống thuốc lợi tiểu để làm tăng thể tích và áp lực bêntrong thận do tắc nghẽn gây nên nhất là trong trường hợp do nguyên nhânmạch máu bất thường cực dưới để chẩn đoán.1.5.5. Chụp cắt lớp vi tínhChụp cắt lớp vi tính (CLVT) thu được hình ảnh các lớp cắt ngang theotrục cơ thể, khả năng phân giải không gian của CLVT không bằng chụp Xquang thông thường nhưng sự phân biệt về tỷ trọng thì tốt hơn nhiều. Nó chỉcó giá trị đánh giá hình thái thận, độ dày nhu mô thận, mức độ giãn bể đàithận trên các lát cắt ngang. Nhưng để thấy được hình ảnh chiều dài khúc nốivà mức độ tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn thì lại phải dựa vào đậm độthuốc trong lòng niệu quản ở lớp cắt muộn.Chụp cắt lớp vi tính có giá trị cao trong trường hợp có chấn thươngthận trên thận bệnh lý hẹp khúc nối kín đáo tồn tại từ trước.Chụp cắt lớp vi tính 64 dãy dựng hình: Có lợi ích lớn hơn chụp cắt lớp vitính thông thường ở chỗ thời gian chụp ngắn hơn, cho hình ảnh chất lượng hơnvà ít có nhiễu hình hơn. Phương pháp tái tạo hình ảnh 3 chiều (3D), tái tạo nhiều12tầng (MPR), tia chiếu phóng đại (MIP) cho biết hình ảnh giải phẫu tương đốichính xác về hệ thống đài bể thận và hình ảnh tồn tại mạch máu cực dưới đi
Xem thêm

Đọc thêm

nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương cột sống đoạn bản lề lưng-thắt lưng có liệt tủy không hoàn toàn

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG ĐOẠN BẢN LỀ LƯNG-THẮT LƯNG CÓ LIỆT TỦY KHÔNG HOÀN TOÀN

nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương cột sống đoạn bản lề lưng-thắt lưng có liệt tủy không hoàn toàn tại bệnh viện việt đức

76 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật ung thư đường mật có sỏi đường mật kèm theo tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT CÓ SỎI ĐƯỜNG MẬT KÈM THEO TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

bệnh nhân tử vong trong vòng 6 tháng đến 1 năm nếu không thể phẫu thuật cắt bỏ được khối u. Đặc điểm của bệnh là tiến triển âm thầm, lặng lẽ nên thường chẩn đoán muộn. Do vậy, việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ phẫu thuật cắt được u và tỷ lệ phẫu thuật triệt căn còn thấp [40], [44]. Đa số các trường hợp UTĐM không tìm thấy yếu tố bệnh nguyên [48]. Tuy nhiên một số yếu tố nguy cơ đã được xác nhận như: xơ hoá đường mật nguyên phát, nang ống mật chủ, nhiều u nhú trong đường mật, sán lá gan, sỏi mật, bệnh Caroli, viêm gan C…[43], [44], [45], [50], [51]. Trong đó, sỏi mật là yếu tố nguy cơ rất lớn của UTĐM. Trên thế giới, tỷ lệ bệnh nhân UTĐM có sỏi mật từ 1,5 - 9,4% [15], [55], [57], [58], [73], [76], [77], [84], [91]. Ở nước ta, tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2002 -2005, UTĐMTG có sỏi mật kèm theo là 28,5%, UTĐMNG có sỏi mật kèm theo là 15,5% [15], [28], [37]. Liên quan giữa UTĐM và sỏi mật đã được nhiều tác giả nghiên cứu kể từ sau thông báo của Sane và Mac Callum năm 1942. Jan .J.J thì cho rằng sự tiếp xúc lâu dài của đường mật với dịch mật nhiễm trùng cùng với các sản phẩm chuyển hoá của vi khuẩn trong đường mật, sự kích thích cơ học của sỏi, sự mất ổn định của đường mật (trào ngược, ứ mật, ) là những yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh của UTĐM [67]. Đến nay Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về UTĐM. Tại bệnh viện Việt Đức, năm 1987 Đỗ Kim Sơn đã báo cáo 3 trường hợp được phẫu thuật u bóng Vater. Năm 2004, Đoàn Thanh Tùng và cộng sự đã nghiên cứu UTĐM trong gan [42]. Năm 2005 2Nguyễn Tiến Quyết và cộng sự nghiên cứu UTĐM ngoài gan [29]. Năm 2006 Đoàn Thanh Tùng và cộng sự báo cáo tình hình UTĐM tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2001–2005 [44] Trong thực tế, UTĐM trên bệnh nhân có sỏi mật dễ bị bỏ sót, do lâm sàng của bệnh cảnh sỏi mật thường điển hình hơn và yếu tố sỏi che khuất tổn thương ung thư trên chẩn đoán hình ảnh. Tới nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu UTĐM có sỏi mật kèm theo. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,
Xem thêm

92 Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG pptx

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG PPTX

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG Nguyễn Thanh Xuân, Phạm Như Hiệp, Hồ Hữu Thiện, Phạm Anh Vũ, Phan Hải Thanh,Lê Đình Khánh, Văn tiến Nhân, Trần Nghiêm Trung,Phạm Trung vỹ, Phạm Xuân Đông, Phạm Minh Đức, Mai Trung Hiếu, Đào Lê Minh Châu.TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nang ống mật chủ là bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp của đường mật. Một số tác giả trong nước và trên thế giới đã báo cáo một số kinh nghiệm và kết quả cắt nang ống mật chủ nội soi. Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế đã triển khai cắt nang ống mật chủ nội soi từ năm 2006. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm "Đánh giá kết quả điều trị bệnh u nang ống mật chủ hoàn toàn bằng phẫu thuật nội soi".Đối tương và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 1/2010 đến tháng 4/2013 có 27 trường hợp được phẫu thuật hoàn toàn bằng nội soi cắt nang ống mật chủ tại Bệnh Viện Trung Ương Huế. Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc có tái khám. Kết quả: 27 trường hợp chúng tôi thực hiện việc tái lập lưu thông mật ruột hoàn toàn bằng nội soi ổ bụng với thời gian mổ trung bình 189,2 ± 8,23 phút, 3 bệnh nhân là người lớn và 24 bệnh nhân trẻ em, lớn nhất là 45 tuổi và nhỏ nhất là 4 tháng. Tỷ lệ nữ/nam là 3,5/1.Tuổi trung bình của bệnh nhân là 5,48 ± 4,02 tuổi, Không có trường hợp cần mổ lại hay tử vong, Thời gian hậu phẫu 7 ± 2,5 ngày. Kết luận: Phẫu thuật nội soi bóc nang ống mật chủ là phương pháp an toàn, hiệu quả và khả thi ở các trung tâm y tế lớn.TREATMENT OF CHOLEDOCHAL CYST BY TOTALY LAPAROSCOPYNguyen Thanh Xuan, Pham Nhu Hiep, Ho Huu Thien, Pham Anh Vu, Phan Hai Thanh, Le Dinh Khanh, Van Tien Nhan, Tran Nghiem Trung, Pham Trung Vy, Pham Xuan Dong,Pham Minh Duc, Mai Trung Hieu, Dao Le Minh Chau.ABSTRACT:Introdution: Evaluating the results in applying laparoscopic treatment of choledochal cyst in Hue Central HospitalMaterials and methods: 27 patients with choledochal cyst were treated by totaly laparoscopy from 1/2010 to 4/2013 in Hue Central Hospital.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Vai trò của chụp cắt lớp vi tính 64 dãy trong chẩn đoán trước mổ nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp bể thận - niệu quản tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Vai trò của chụp cắt lớp vi tính 64 dãy trong chẩn đoán trước mổ nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp bể thận - niệu quản tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Bài viết nhằm đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của cắt lớp vi tính 64 dãy trong chẩn đoán hẹp khúc nối bể thận - niệu quản ở bệnh nhân được phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 2012 - 2017.

Đọc thêm

Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dưới màng nhện do vỡ túi phồng động mạch não potx

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẢY MÁU DƯỚI MÀNG NHỆN DO VỠ TÚI PHỒNG ĐỘNG MẠCH NÃO POTX

TCNCYH 34 (2) - 2005 86 Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật chảy máu dới màng nhện do vỡ túi phồng động mạch não Nguyễn Thế Hào, Dơng Chạm Uyên Khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện Việt-Đức, Hà Nội Mục đích: Nghiên cứu chẩn đoán chảy máu dới màng nhện (CMDMN) do vỡ túi phồng hệ động mạch cảnh trong. Chỉ định, phơng pháp và thời điểm mổ. Đánh giá kết quả điều trị. Phơng pháp: Nghiên cứu mô tả, trên 73 bệnh nhân vỡ túi phồng hệ động mạch cảnh trong, tại khoa phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Việt-Đức, từ tháng 1/1998 đến 8/2004, trong đó 21 bệnh nhân hồi cứu và 52 bệnh nhân tiến cứu. Kết quả đợc đánh giá ở thời điểm xa sau mổ. Kết quả: gồm 37 nữ và 36 nam, tuổi trung bình 44,5 (thay đổi từ 13-68). Dấu hiệu CMDMN gồm đau đầu đột ngột, dữ dội 83,5%, hội chứng màng não: 57,5%, suy giảm tri giác 46,6%. Động kinh 12,3%, và 8,2% bệnh nhân không điển hình. Độ nhạy chung của CLVT trong chẩn đoán CMDMN là 89%. 21 bệnh nhân có chọc dò DNT, có kết quả dơng tính. Chụp ĐMN chẩn đoán túi phồng ĐMN ở 100% và độ nhạy chẩn đoán vị trí túi phồng vỡ là 94,3%. 11 bệnh nhân mổ cấp cứu. 5 bệnh nhân mổ sớm trong 4 ngày đầu, 87,6% mổ chậm sau 10 ngày. Kết luận: Lâm sàng của CMDMN thờng điển hình, chỉ 8,2% không điển hình, khó chẩn đoán. Chụp CLVT là phơng pháp chủ yếu để chẩn đoán CMDMN với độ nhạy đạt 89%. Chụp ĐMN là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán túi phồng ĐMN vỡ. Chỉ định mổ cấp cứu khi : giãn não thất, khối máu tụ trong sọ. Mổ can thiệp loại bỏ túi phồng cần thực hiện sớm trong vòng 3 ngày, khi bệnh nhân có tình trạng lâm sàng tốt. Vi phẫu thuật kẹp cổ túi phồng bằng clip là phơng pháp điều trị hiệu quả và triệt để, thực hiện đợc ở 94,5% bệnh nhân, kết quả lâm sàng tốt đạt 86,1%. I. Đặt vấn đề Túi phồng động mạch não (ĐMN) là một loại thơng tổn thờng gặp của hệ thống ĐMN, chiếm khoảng 1 8% dân
Xem thêm

7 Đọc thêm

Nghiên cứu phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong điều trị viêm túi mật cấp do sỏi (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TÚI MẬT CẤP DO SỎI (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm túi mật cấp là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính của túi mật, nguyên nhân thường gặp là do sỏi túi mật, ngoài ra còn do nhiều nguyên nhân khác như thiếu máu cục bộ, rối loạn vận động của túi mật và ống túi mật, tổn thương hóa học trực tiếp, nhiễm trùng hay ký sinh trùng... [82]. 90%-95% các trường hợp viêm túi mật cấp có sự hiện diện của sỏi, 5%-10% còn lại là viêm túi mật cấp không do sỏi [17], [22], [36], [82], [93], [114], [127]. Bệnh lý sỏi đường mật rất phổ biến ở Việt Nam, về vị trí sỏi: trước đây sỏi túi mật có tỷ lệ thấp 10%, sỏi ống mật chủ rất cao 80% và sỏi đường mật trong gan khá cao 30-50%. Các tỷ lệ này hiện nay đang thay đổi với ưu thế là bệnh lý sỏi túi mật [17] và người ta cũng nhận thấy tỷ lệ viêm túi mật cấp do sỏi ngày càng tăng [82]. Jean-Louis Petit là người đề xuất ra phẫu thuật túi mật vào năm 1733 đã đề nghị lấy sỏi mật và dẫn lưu túi mật. Sau đó John Stough Bobbs năm 1867 đề nghị mổ lấy sỏi túi mật mà không dẫn lưu túi mật. Năm 1882, Carl Langenburch một phẫu thuật viên người Đức đã tiến hành thành công trường hợp cắt túi mật mở đầu tiên để điều trị bệnh lý sỏi túi mật và trong 100 năm sau đó cắt túi mật mở đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý sỏi túi mật [119]. Với sự ra đời của phẫu thuật nội soi, năm 1985 tại Đức, Erich Muhe đã mổ thành công trường hợp cắt túi mật nội soi đầu tiên trên thế giới [92], [100], và năm 1987 tại Lyon (Pháp), Philip Mouret đã tiến hành thành công trường hợp cắt túi mật nội soi đầu tiên của mình [102]. Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều ưu điểm cho bệnh nhân so với phẫu thuật mở như: ít đau sau mổ, ít nhiễm trùng vết mổ, nhanh trung tiện trở lại, thời gian nằm viện ngắn, sớm quay trở lại lao động, tính thẩm mỹ cao... nên nó nhanh chóng được chấp nhận và trở thành tiêu chuẩn vàng mới trong điều trị các bệnh lý của túi mật cũng như dược áp dụng trên rất nhiều loại bệnh lý khác [8], [10], [11], [12], [16]. Tại Việt Nam, phẫu thuật cắt túi mật nội soi được thực hiện lần đầu tiên bởi Nguyễn Tấn Cường vào năm 1992 tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là Bệnh viện Việt Đức (1993), Bệnh viện Quân Y 103 - Học Viện Quân Y (1996) và Bệnh viện Trung ương Huế (1999),… Ngày nay nó đã được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cắt túi mật nội soi trên thế giới cũng như Việt Nam [12], [16], [28]. Điều trị viêm túi mật cấp do sỏi bao gồm các phương pháp nội khoa và ngoại khoa. Điều trị nội khoa được ưu tiên cho các trường hợp không có chỉ định mổ như các bệnh nhân trong tình trạng quá nặng, có các bệnh lý kết hợp khác không đảm bảo an toàn cho cuộc mổ và để điều trị chuẩn bị trước phẫu thuật. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi là một phương pháp điều trị ngoại khoa của bệnh lý này mà đã là “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị bệnh lý túi mật chưa biến chứng.. Trong thời kỳ đầu triển khai phẫu thuật nội soi, các phẫu thuật viên thường e ngại khi phải mổ nội soi cho các trường hợp viêm túi mật cấp vì tình trạng toàn thân và tại chỗ của bệnh nhân. Về toàn thân là hội chứng nhiễm trùng rầm rộ, nguy cơ gây ra các biến chứng nặng nề như nhiễm trùng máu hay sốc nhiễm trùng. Tại chỗ là sự viêm nhiễm của túi mật làm biến đổi của các cấu trúc giải phẫu dẫn đến khó khăn cho việc phẫu tích và làm gia tăng nguy cơ gây ra những tai biến nghiêm trọng cũng như làm gia tăng tỷ lệ chuyển mổ mở nên trong giai đoạn đầu của phẫu thuật nội soi viêm túi mật cấp do sỏi được xem là một chống chỉ định. Viêm túi mật cấp do sỏi được điều trị nội khoa và cắt túi mật nội soi được tiến hành sau 6 – 8 tuần khi tình trạng viêm nhiễm đã ổn định [55], [68], [84], [85], [88]. Cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật, trang thiết bị, máy móc và kinh nghiệm của phẫu thuật viên, cắt túi mật nội soi ngày càng được áp dụng để điều trị bệnh lý viêm túi mật cấp do sỏi [10], [39], [47], [56] tuy nhiên đây vẫn là một phẫu thuật khó, tỷ lệ tai biến và chuyển mổ mở còn cao đòi hỏi phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm và các thay đổi kỹ thuật cần thiết. Chính vì vậy, việc nghiên cứu phẫu thuật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi là một vấn đề cấp thiết. Vấn đề là: mổ vào thời điểm nào sẽ đưa lại kết quả tốt nhất, các yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả và dẫn đến phải thay đổi kỹ thuật mổ thông thường là vấn đề cần nghiên cứu do đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong điều trị viêm túi mật cấp do sỏi” nhằm các mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu thời điểm phẫu thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật mổ cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi. 2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi và một số yếu tố liên quan đến kết quả.
Xem thêm

152 Đọc thêm

đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI LẤY SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

đặt vấn đề Sỏi đường mật là bệnh lý thường gặp ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. ở các nước phương Tây, phần lớn là sỏi cholesterol được hình thành do rối loạn chuyển hoá, thường gặp ở túi mật, còn sỏi OMC thường là thứ phát do sỏi túi mật di chuyển xuống, sỏi trong gan chiếm một tỷ lệ rất thấp [75]. Tại Mỹ một đánh giá tổng thể vào năm 1968 cho thấy có hơn 7% dân số mắc bệnh sỏi mật, tại Pháp sỏi mật là nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong các trường hợp nhập viện sau thoát vị bẹn và viêm ruột thừa [74], [75] ở các nước nhiệt đới nói chung và Việt Nam nói riêng, sỏi mật được hình thành trong đường mật do nguyên nhân nhiễm khuẩn là chủ yếu. Sỏi thường gặp ở nhiều vị trí khác nhau trong hệ thống đường mật [1], [3], [4], [5], [7], [11], [12], nên việc điều trị triệt để gặp nhiều khó khăn, đặc biệt sỏi OMC phối hợp với sỏi trong gan chiếm tỷ lệ cao từ 73-91% [27], [28], [39]. Khoảng gần hai mươi năm nay, nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ cao được áp dụng trong chẩn đoán và điều trị như: áp dụng của siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán bệnh sỏi mật, nội soi đường mật trong mổ, siêu âm trong mổ, tán sỏi điện thuỷ lực, lấy sỏi theo đường xuyên gan qua da, nội soi can thiệp, phẫu thuật nội soi ổ bụng… ở nước ta đã có những tiến bộ đáng kể. Đặc biệt trong điều trị sỏi đường mật chính, do sử dụng kỹ thuật công nghệ cao mà các kỹ thuật ít sang chấn ngày càng được áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả điều trị cao như: lấy sỏi ngược dòng qua nội soi đường mật, phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính ngoài gan… Bên cạnh đó, các biến chứng và tai biến của các phương pháp cũng đ ược đề cập tới như: chảy máu, nhiễm trùng đường mật ngược dòng, thủng tá tràng, viêm tụy và tử vong … [2]. Phẫu thuật nội soi đường mật chính để lấy sỏi đã được thực hiện từ 17 năm nay trên thế giới [26], và ở Việt Nam phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính được áp dụng từ năm 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh và tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội năm 1999 có ưu điểm nổi bật là kỹ thuật ít sang chấn, tôn trọng cấu trúc giải phẫu đường mật, chống nhiễm khuẩn ngược dòng, đồng thời với việc lấy sỏi. Đã có một số báo cáo khoa học về phẫu thuật sỏi đường mật chính bằng nội soi [1], [4], [15]. Để góp phần nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật lấy sỏi đường mật chính có hoặc không cắt túi mật qua phẫu thuật nội soi ổ bụng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tổng kết để rút ra được những chỉ định cụ thể, những số liệu về kết quả phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật chính với đề tài: "Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính" nhằm hai mục tiêu: 1. Nhận xét về ứng dụng phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính. 2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Việt Đức từ năm 2003 đến tháng 10 năm 2008.
Xem thêm

107 Đọc thêm

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ 296 TRƯỜNG HỢP THOÁT VỊ CƠ HOÀNH BẨM SINH BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ 296 TRƯỜNG HỢP THOÁT VỊ CƠ HOÀNH BẨM SINH BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC

Bài viết Kết quả phẫu thuật điều trị 296 trường hợp thoát vị cơ hoành bẩm sinh bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị thoát vị cơ hoành bẩm sinh bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực. Nghiên cứu hồi cứu các bệnh án của tất cả bệnh nhân đã được mổ thoát vị cơ hoành bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực từ năm 2001 - 2012 tại bệnh viện Nhi Trung ương,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Đọc thêm

Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Đại học y Hà Nội

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi túi mật là bệnh lý khá phổ biến trên thế giới đặc biệt ở các nước Âu-Mỹ, tỷ lệ sỏi túi mật ở Mỹ là 10% [6], [30]. Ở Việt Nam bệnh lý sỏi chủ yếu ở đường mật và sỏi trong gan. Trong vài thập kỷ trở lại đây cùng với sự phát triển của siêu âm chẩn đoán, và sự thay đổi trong khẩu phần ăn (tăng chất béo, protein..), tỷ lệ s ỏi túi mật cũng như các bệnh lý túi mật được chẩn đoán và điều trị có chiều hướng tăng cao [3], [27], [31], [56], [57], [66]. Cắt túi mật là phương pháp điều trị bệnh lý túi mật đã được thực hiện từ trước thập kỷ 80 và được coi là phương pháp kinh điển trong điều trị ngoại khoa bệnh lý túi mật. Phẫu thuật nội soi (PTNS) từ khi ra đời đã cho thấy nhữ ng ưu điểm vượt trội và đã dần thay thế phương pháp cắt túi mật kinh điển. Phương pháp này được công nhận khi Mühe thực hiện cắt túi mật nội soi lần đầu tiên ở Đức năm 1985 [1], [3], và sau công bố ca cắt túi mật nội soi thành công của Philippe Mouret tại Lyon, Pháp (năm 1987). Từ đó tới nay phẫu thuật cắt túi mật nội soi đã trở thành phương pháp điều trị ngoại khoa thường qui cho những bệnh lý về TM. Ở Việt Nam phẫu thuật cắt túi mật nội soi được tiến hành lần đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 1992, Bệnh viện Việt Đức năm 1993 và nhanh chóng được áp dụng ở các trung tâm ngoại khoa khác trên toàn quốc. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi hiện nay đã được thừa nhận với các ưu điểm ít đau, thời gian nằm viện ngắn, phục hồi sức khỏe nhanh và đạt yêu cầu về thẩm mỹ… [1], [58], [59]. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (ĐHYHN) đã triển khai phẫu thuật nội soi ngay từ những ngày đầu khi Bệnh vi ện bắt đầu hoạt động( 8/2008). Để điều trị các bệnh Ngoại khoa Tiêu hóa và Tiết niệu, PT cắt túi mật nội soi là một trong những phẫu thuật thường qui tại bệnh viện. Từ đó đến nay chưa có nghiên cứu nào có hệ thống đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng cũng như kết quả PT cắt túi mật nội soi tại cơ sở này. Xuất phát từ những vấn đề trên đây, để đánh giá kết quả PT cắt túi mật nội soi tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt túi mật nội soi tạ i Bệnh viện Đại học Y Hà Nội” giai đoạn từ tháng 8/2008 đến tháng 8/2011 với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng các bệnh lý túi mật do sỏi và không do sỏi được phẫu thuật cắt túi mật nội soi. 2. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi và kết quả điều trị chảy máu do tăng áp lực tĩnh mạch cửa tại bệnh viện Việt Đức (2006-2010)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẢY MÁU DO TĂNG ÁP LỰC TĨNH MẠCH CỬA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC (2006-2010)

ĐẶT VẤN ĐỀ Chảy máu tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản là một biến chứng thường gặp và trầm trọng của hội chứng TALTMC- hậu quả của nhiều nguyên nhân nhưng thường gặp do xơ gan. Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 50% ( 30-90%) bệnh nhân xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản. Tỷ lệ chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản xảy ra ở 30-40% số bệnh nhân này [1],[2],[8],[15]. Khi vỡ các búi giãn TMTQ gây ra các hậu quả nặng nề: mất máu khối lượng lớn dẫn đến rối loạn huyết động, rối loạn chức năng gan vốn đã suy yếu ở bệnh nhân xơ gan. Điều trị các trường hợp này thường khó khăn, nguy cơ tử vong cao, tỷ lệ tử vong trong chảy máu lần đầu tới 50% nếu không được điều trị kịp thời [2],[8],[15]. Ở Việt Nam, tỷ lệ chảy máu do giãn vỡ TMTQ vào cấp cứu ngày càng tăng [12,13]. Theo thống kê của bệnh viện Việt Đức giai đoạn 1992-1996 : có 12-26% XHTH là do giãn vỡ TMTQ. Giai đoạn 2001-2005 là 24-30%[19]. Tại bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ này là 30% [15]. Từ những số liệu trên cho thấy, việc điều trị chảy máu và dự phòng chảy máu tái phát do giãn vỡ TMTQ do xơ gan TALTMC vẫn là một vấn đề lớn, mang tính thời sự, cần tiếp tục được nghiên cứu. Có nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã được áp dụng, phương pháp điều trị không phẫu thuật bao gồm điều trị nội khoa và các thủ thuật nội soi như tiêm xơ, thắt vòng cao su các búi giãn tĩnh mạch…là các phương pháp ít xâm hại đang được áp dụng rộng rãi, kết quả cầm máu tốt (80-90%), nhưng tỉ lệ chảy máu tái phát còn cao (20-30% xuất huyết tái diễn hoặc tái phát sớm).Song song với điều trị nội khoa, người ta đồng thời nghiên cứu áp dụng các phương pháp phẫu thuật, tạo ra đường phân lưu cửa-chủ làm giảm áp lực TMC vừa có tác dụng cầm máu, vừa điều trị dự phòng chảy máu tái phát, tuy nhiên đây là can thiệp nặng nề, tỷ lệ bệnh não gan sau phẫu thuật còn cao. Thời gian gần đây, bệnh viện Việt Đức đã thực hiện kỹ thuật can thiệp nội mạch phân lưu cửa chủ trong gan qua đường TM cảnh (TIPS) để điều trị các biến chứng của xơ gan TALTMC. Kỹ thuật nhằm tạo ra một cầu nối trong nhu mô gan giữa 1 nhánh TMC với TM gan, dẫn lưu máu trực tiếp từ TMC về TM chủ, không qua gan, làm giảm áp lực TMC, hạn chế XHTH và ngăn ngừa tái phát. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài : “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi và kết quả điều trị chảy máu do tăng áp lực tĩnh mạch cửa tại bệnh viện Việt Đức (2006-2010)” nhằm hai mục tiêu: 1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân chảy máu tiêu hóa do TALTMC được điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ năm 2006-2010. 2. Đánh giá kết quả điều trị chảy máu tiêu hóa do TALTMC ở những bệnh nhân này.
Xem thêm

87 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ HẸP KHÚC NỐI BỂ THẬN NIỆU QUẢN Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI (TT)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ HẸP KHÚC NỐI BỂ THẬN NIỆU QUẢN Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI (TT)

tắc nghẽn tại khúc nối, chức năng thận bị ảnh hưởng.- Tình trạng ứ nước thận không cải thiện hoặc nặng hơn.1.4.2. Các kỹ thuật tạo hình khúc nối bể thận niệu quản1.4.2.1.Các kỹ thuật tạo hình không cắt rời: tạo hình Y-V (Foley),dùng vạt xoay của bể thận (Culp và De Weerd).1.4.2.2.Các kỹ thuật tạo hình cắt rời: Phẫu thuật Anderson-Hynes,dựa trên nguyên tắc cắt nhỏ bể thận, cắt bỏ khúc nối bị bệnh, tạo hìnhkhúc nối mới.1.4.2.3. Lựa chọn kỹ thuật tạo hình: Phẫu thuật Anderson-Hynesđược ưu tiên lựa chọn do tỷ lệ thành công cao.1.4.3. Các đường tiếp cận sử dụng trong phẫu thuật tạo hình điềutrị hẹp khúc nối bể thận niệu quản1.4.3.1. Phẫu thuật mổ mở: đường ngang dưới sườn, đường sau lưng,đường sườn lưng.1.4.3.2. Phẫu thuật nội soi: ưu điểm về tính chất ít xâm hại “miniinvasive”. Có thể sử dụng phẫu thuật nội soi qua phúc mạc hoặc sauphúc mạc. Kết quả tương đương. Tuy nhiên, thời gian mổ kéo dài, khókhăn ở trẻ nhỏ.51.4.3.3. Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc 1 trocar: chỉ đặt 1 trocar có2 kênh, sử dụng nội soi sau phúc mạc để phẫu tích rồi đưa khúc nối rangoài thành bụng qua chỗ đặt trocar để khâu nối. Ưu điểm rút ngắnđược thời gian mổ, phù hợp ở trẻ nhỏ.1.4.3.4. Phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối bể thận niệu quản vớisự giúp đỡ của Robot: kỹ thuật chuyên sâu, đắt tiền, chưa được ápdụng rộng rãi.1.4.4. Nội soi tiết niệu can thiệp: chỉ định hạn chế ở trẻ em, kết quả điều trịthấp hơn phẫu thuật tạo hình.1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC:
Xem thêm

29 Đọc thêm

Triển khai thí điểm chương trình kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại bệnh viện đại học y hà nội

TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH KHÁNG SINH DỰ PHÒNG TRONG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Triển khai thí điểm chương trình kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội với mục tiêu khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh ở khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội; đánh giá hiệu quả sử dụng kháng sinh dự phòng bằng cefuroxime trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội

95 Đọc thêm

Luận văn Thạc sỹ Y học: Nghiên cứu kết quả ứng dụng phẫu thuật Longo điều trị bệnh trĩ vòng tại Bệnh viện 19 - 8

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC: NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT LONGO ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ VÒNG TẠI BỆNH VIỆN 19 - 8

Luận văn Thạc sỹ Y học: Nghiên cứu kết quả ứng dụng phẫu thuật Longo điều trị bệnh trĩ vòng tại Bệnh viện 198 do học viên Trần Trọng Dương thực hiện nhằm mục tiêu nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh trĩ vòng được điều trị bằng phẫu thuật Longo; đánh giá kết quả điều trị sớm ngoại khoa trĩ vòng bằng phương pháp Longo.

102 Đọc thêm

Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng dạ dày - hành tá tràng tại Bệnh viện Quân y 4 - Quân đoàn 4

Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng dạ dày - hành tá tràng tại Bệnh viện Quân y 4 - Quân đoàn 4

Bài viết trình bày việc đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng dạ dày – hành tá tràng và nhận xét tai biến biến chứng tại bệnh viện Quân y 4 - Quân đoàn 4.

Đọc thêm

Cùng chủ đề