UNG THƯ NÃO TẾ BÀO HÌNH SAO ASTROCYTOMA NHỨC ĐẦU VÀ BƯỚU NÃO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "UNG THƯ NÃO TẾ BÀO HÌNH SAO ASTROCYTOMA NHỨC ĐẦU VÀ BƯỚU NÃO ":

Ung Thư Não Tế Bào Hình Sao (Astrocytoma) - Nhức Đầu Và Bướu Não pdf

UNG THƯ NÃO TẾ BÀO HÌNH SAO ASTROCYTOMA NHỨC ĐẦU VÀ BƯỚU NÃO

Ung Thư Não Tế Bào Hình Sao (Astrocytoma) - Nhức ĐầuBướu Não Bệnh nhân là một người đàn ông 52 tuổi, nói bị nhức đầu khoảng một năm nay. Bệnh nhân không cho bác sĩ biết và tự chữa lấy bằng Advil. Nhưng gần đây nhức đầu thật nhiều trong 2 tuần lễ, mới tìm gặp bác sĩ. Nhức đầu đến nỗi khoảng 2 giờ sáng bệnh nhân bật mình thức dậy, không ngủ được. Nhức đầu nhiều nhất ở đầu bên phải, chuyền tới vùng xương chẩm (occipital) và đằng sau cổ bên phải. Bệnh nhân có cảm tưởng hơi mờ bên mắt phải, nhưng không bị chảy nước mắt, không nhìn thấy một vật thành hai. Bệnh nhân không bị ói mửa, không sợ ánh sáng, không sợ tiếng động, không thấy suy yếu cảm giác hay cử động. Khi rờ vùng xương đính (parietal) thì thấy hơi đau. Bệnh nhân nói uống Advil cảm thấy bớt nhức đầu, nhưng cứ 3-4 giờ sáng thì lại bị nhức đầu. Sửa soạn chụp hình não MRI và bệnh nhân chuyển sang bác sĩ chuyên khoa thần kinh (neurologist) khám bệnh thì tường trình cho biết bệnh nhân vẫn tỉnh táo, nói năng bình thường. Bs thần kinh khám bệnh dây thần kinh từ thứ I tới XII thì không có gì bất bình thường. Phản xạ +2, cảm giác không có gì thay đổi, điều hợp từ ngón tay tới mũi, từ gót chân tới đầu gối bình thường. Khám cổ cử động bình thường, không bị khựng chỗ nào. Ấn vào bên phải cổ, vùng chẩm thấy hơi đau. Kết quả chụp hình đầu MRI cho thấy có khối bướu (mass), Astrocytoma, nằm vùng trán (frontal) bên phải. Bệnh nhân được chuyển sang bác sĩ chuyên khoa giải phẫu thần kinh đầu và cục bướu đã được lấy đi. Bệnh nhân đang thêm xạ trị (radiation therapy), dưới sự điều khiển của bác sĩ chuyên khoa trị liệu bức xạ (radiotherapist) và hóa học trị liệu (chemotherapy), dưới quyền điều khiển của bác sĩ chuyên khoa về ung thư và máu (Oncology/Hematology). Ung thư não tế bào hình sao (Astrocytoma) là u bướu thành lập từ tế bào não hình sao (astrocytes). Đây là loại ung thư não thấy nhiều nhất ở
Xem thêm

7 Đọc thêm

Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Não Bộ - Phần 1 ppsx

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ UNG THƯ NÃO BỘ - PHẦN 1 PPSX

bào) hoặc nơi khởi thủy của (tế bào) ung thư. Loại bướu não thông thường nhất là gliomas, xuất phát từ glial cells. Glial cells là những tế bào bao bọc mỗi sợi thần kinh và tách rời các thần kinh này. Ở người lớn, những loại ung thư thông thường nhất bao gồm: + Astrocytoma: Ung thư xuất phát từ những glial cells có hình ngôi sao (astrocytes) tìm thấy trong đại não người lớn; trong đại não, tiểu não và brain stem của trẻ em. - Astrocytoma hạng I & II gọi là "hạng thấp" - Astrocytoma hạng III còn gọi là "hạng cao" hay anaplastic astrocytoma. - Astrocytoma hạng IV còn gọi là glioblastoma hoặc "malignant astrocytic glioma". + Meningioma: Xuất phát từ meninges, những màng bọc não bộ và tủy sống, là các ung thư "hạng thấp" như I, II, hoặc III; loại bướu này tăng trưởng rất chậm. + Oligodendroglioma: Loại bướu này xuất phát từ những tế bào, oligodendrocytes, tạo ra màng (chứa) chất béo bao bọc sợi thần kinh, tìm thấy ở đại não của những người trung niên. Bướu tăng trưởng rất chậm và thường không ăn lan ra những tế bào chung quanh, hạng II hoặc III. Trong trẻ em, các loại ung thư não bộ thường thấy bao gồm: + Medulloblastoma: Còn gọi là primitive neuroectodermal tumor, tìm thấy trong tiểu não, là loại bướu hạng IV. + Astrocytoma hạng I & II: xuật hiện nhiều nơi trong não bộ, thường thấy nhất là loại "Juvenile pilocytic astrocytoma, hạng I. +Ependymoma: Loại bướu này xuất phát từ những tế bào lót ventricles (khoang trống trong não bộ và rãnh, central canal, trong cột tủy sống), tìm thấy ở trẻ em và người trong tuổi 20, hạng I, II hoặc III. + Brain stem glioma: Bướu xuất phát từ phần thấp nhất của não bộ, loại bướu này thường tìm thấy ở trẻ em và người trung niên, có thể bướu hạng thấp hoặc cao; loại thường thấy nhất là "diffuse intrinsic pontine
Xem thêm

17 Đọc thêm

Tài liệu Giáo trình Não và các loại u não pptx

TÀI LIỆU GIÁO TRÌNH NÃO VÀ CÁC LOẠI U NÃO PPTX

U não thường được phân theo giai đoạn: từ giai đoạn sớm (giai đoạn I) đến giai đoạn muộn (giai đoạn IV). Giai đoạn của u dựa trên hình ảnh của tế bào quan sát thấy trên kính hiển vi. Tế bào u ở giai đoạn muộn bất thường hơn và tăng trưởng nhanh hơn tế bào u ở giai đoạn sớm. 5. U não nguyên phát là gì? U khởi phát từ tế bào của não được gọi là u não nguyên phát. U não nguyên phát được đặt tên theo type tế bào hoặc vị trí của não. U não nguyên phát thường gặp nhất là các u tế bào đệm (gliomas). Chúng hình thành từ những tế bào đệm (glial cells). Có nhiều typ glioma: - U tế bào hình sao (Astrocytoma): U khởi phát từ những tế bào đệm hình sao còn gọi là tế bào sao (astrocytes). Ở người lớn, astrocytoma thường khởi phát từ não. Ở trẻ em, chúng hình thành từ thân não, não, và tiểu não. - Glioma thân não: U hình thành từ phần thấp nhất của não. Gliom thân não thường gặp ở trẻ em và tuổi trung niên. - U màng não thất (Ependymoma): U hình thành từ các tế bào lót các não thất hoặc kênh trung tâm của tuỷ sống. Thường gặp nhất ở trẻ em và thanh niên. - Oligodendroglioma: U này hiếm gặp và hình thành từ những tế bào tạo thành chất mỡ bao quanh và bảo vệ các sợi thần kinh. U thường khởi phát ở não. U phát triển chậm và thường không lan ra các mô chung quanh. Thường gặp ở tuổi trung niên. Một số typ u não không khởi phát từ tế bào đệm (glial cells). Các u thường gặp nhất là - Medulloblastoma: U thường hình thành từ tiểu não. Đây là loại u não thường gặp nhất ở trẻ em. - U màng não (Meningioma): Khởi phát từ màng não. Thường tăng trưởng chậm. - U tế bào Schwann (Schwannoma): U khởi phát từ tế bào Schwann. Những tế bào này lót cho thần kinh kiểm soát sự cân bằng và thính giác của cơ thể. Thần kinh này ở tai trong. Còn gọi là u thần kinh thính giác. Thường gặp ở người lớn. - U sọ hầu (Craniopharyngioma): U phát triển ở đáy não, gần tuyến yên. U này thường gặp ở trẻ em.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Đánh giá tác dụng điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp của bài thuốc bổ dương hoàn ngũ thang

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP CỦA BÀI THUỐC BỔ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG

+ Tăng huyết áp mạn tính làm tăng sinh tế bào cơ trơn, dày lớp áo giữacủa thành mạch làm hẹp lòng động mạch [16], [26], [42].+ Viêm tắc động mạch trong các trường hợp viêm nút quanh động mạch,viêm động mạch do giang mai, AIDS.+ Các nguyên nhân khác: Bệnh hồng cầu hình liềm, đông máu rải ráctrong lòng mạch, bệnh bạch cầu (Leucemie) cấp và mạn, đa u tuỷ (Kahler), đahồng cầu, khối bệnh lý phát triển nội sọ, ngộ độc khí oxit cacbon (CO), nhiễmđộc chì mạn tính …[50], [61].1.1.3.3. Nguyên nhân của nhồi máu lỗ khuyết. Nhồi máu lỗ khuyết là do tắc một nhánh xuyên nhỏ của động mạch nãolớn, nhất là các nhánh nuôi các hạch nền, đồi thị, bao trong và cầu não.71.1.3.4. Các yếu tố thuận lợi. Nh béo phì, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, đái tháo đường, co thắt mạchlàm cản trở lưu thông máu.… Ngoài ra còn có các nguyên nhân: Dùng thuốctránh thai, dùng thuốc chống đông, bệnh Luput ban đỏ hệ thống … [5], [23],[31], [32], [42], [75].1.1.4. Biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán NMN. 1.1.4.1. Biểu hiện lâm sàng * Đặc điểm chung:+ Tiền sử: Có tăng hoặc giảm huyết áp, rối loạn lipid máu, có những cơnthiếu máu não thoảng qua, thường trên 60 tuổi.+ Tiền triệu: Có thể có cảm giác choáng váng, tê bì chi thể trước khi xảyra đột quỵ từ vài giờ đến vài ngày.+ Đột quỵ thường xảy ra ban đêm hoặc sáng sớm, khởi phát cấp tính độtngột các triệu chứng lâm sàng thường tăng dần từng nấc.+ Ý thức: Tỉnh táo hoặc lú lẫn, Ýt khi có hôn mê trừ khi nhồi máu nãodiện rộng ở bán cầu hoặc khu vực dưới nền tiểu não.+ Tùy vùng tổn thương mà có các biểu hiện bệnh lý khác nhau, tổnthương thần kinh sọ não khác nhau.
Xem thêm

83 Đọc thêm

Tài liệu Những hiểu biết mới về bệnh Alzheimer ppt

TÀI LIỆU NHỮNG HIỂU BIẾT MỚI VỀ BỆNH ALZHEIMER PPT

tụ thành những mảng keo. Ở bệnh nhân Alzheimer, những chất này nằm xung quanh các tế bào thần kinh chết, một loại protein có tên Amyloid precursor (APP) cũng tồn tại ở đây giúp cho hoạt động hủy hoại tế bào thần kinh của beta Amyloid. Sự có mặt quá nhiều của beta Amyloid sẽ làm giảm chất trung gian dẫn truyền thần kinh acetylcholine cần thiết cho trí nhớ. Beta Amyloid cũng ngăn chặn sự vận chuyển ion kali, natri, calcium qua màng tế bào (giúp cho quá trình truyền tín hiệu thần kinh). Ngoài ra còn có vai trò của một số chất protein khác như ERAB (endoplasmic-reticulum associated binding protein), mảng AMY (giống beta Amyloid), Par-4 (prostate apoptosis response - 4). Sự oxy hóa và đáp ứng viêm Nhiều nghiên cứu đã cố gắng đi sâu tìm hiểu tại sao beta Amyloid lại gây tổn thương não trong bệnh Alzheimer và đã phát hiện ra sự xuất hiện của các gốc oxy tự do. Sự xuất hiện nhiều chất này sẽ làm tổn thương tế bào thần kinh. Thật ra sự xuất hiện các chất oxy hóa là sản phẩm của hầu hết những phản ứng hóa học trong cơ thể con người nhưng với một lượng dư thừa sẽ gây hại (chất oxy hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của bệnh mạch vành và ung thư). Ngoài ra chất oxy hóa cũng liên quan với đáp ứng miễn dịch, đó là phản ứng viêm (men cyclooxygenase và prostaglandin làm tổn thương tế bào thần kinh). Yếu tố gene Các gien đóng vai trò gây khởi phát muộn Alzheimer là ApoE2, ApoE3, ApoE4. Còn những đột biến gene PS1, PS2 hoặc gene kiểm soát APP sẽ làm cho bệnh Alzheimer khởi phát sớm hơn. Giảm hormone sinh dục nữ: Sự giảm estrogen sau mãn kinh có liên quan rõ rệt đến giảm trí nhớ và sa sút tâm thần. Yếu tố môi trường: Nhiễm trùng, nhiễm kim loại (người ta phát hiện kẽm, đồng tích tụ trong mô não người bị Alzheimer), môi trường điện từ trường, nhiễm độc Một số yếu tố khác đã được xác định có liên quan Alzheimer là homocystein, sự thiếu hụt vitamin nhóm B, trầm cảm, chấn thương đầu, nhóm người có điều kiện kinh tế kém và học vấn thấp Biểu hiện của bệnh Alzeimer
Xem thêm

6 Đọc thêm

2HRMN Y HỌC

2HRMN Y HỌC

Màng đáyHàng ràomáu nãoTế bào hình saoNãoVi tế bào thần kinhđệmHình 2.3: Hàng rào máu não (hình cắt ngang và cắt dọc phóng đại). Chúngđược tạo thành bởi sự kết dích chặt của các tế bào nội mô lót bên trong lòngmao mạch não, tạo nên hàng rào ngăn cách giữa hệ tuần hoàn vào nhu mônão (tế bào hình sao và vi tế bào thần kinh đệm)[2],[22].2.2.Cơ chế vận chuyển các chất qua hàng rào máu nãoHàng rào máu não có mối liên kết chặt chẽ với sự vận chuyển các hợp chấtcó tính ưa nước đi vào nhu mô não. Chẳng hạn như các hợp chất nội sinh,chất dinh dưỡng đi vào nhu mô não có thể bị hạn chế. Các chất dinh dưỡngthiết yếu được vận chuyển vào nhu mô não bằng các chất chuyên chở và cótính chất chọn lọc. Nhiều hệ thống vận chuyển có đặc tính khác nhau từ sựvận chuyển thụ động (chẳng hạn như khuếch tán) đến vận chuyển chủ độngvà quá trình này đòi hỏi năng lượng.Hình 2.4: Hàng rào máu não và sự vận chuyển các chất vào não[27]Sự khuếch tán của các chất xuyên qua màng tế bào nội mô của hàng ràomáu não lệ thuộc vào đặc tính lý hóa của các hợp chất này, chẳng hạn khảnăng hòa tan của các chất vào mỡ, trọng lượng phân tử, điện thế hoặc mức
Xem thêm

5 Đọc thêm

Não và các loại u não pps

NÃO VÀ CÁC LOẠI U NÃO 1

huyết áp, và các chức năng cơ bản khác của cơ thể. Các phần quan trọng của não bộ: Não, tuyến tùng, tuyến yên, thân não, tiểu não, tuỷ sống2. Ung thư là gì?Ung thư bắt đầu từ các tế bào, đơn vị cơ bản của các mô. Mô tạo ra các cơ quan bộ phận của cơ thể. Bình thường, tế bào tăng trưởng và phân chia thành những tế bào mới tuỳ theo yêu cầu của cơ thể. Khi tế bào già đi, chúng sẽ chết, và những tế bào mới sẽ thay thế chỗ. Đôi khi quy trình này bị rối loạn. Những tế bào mới hình thành khi cơ thể không cần đến chúng, và những tế bào già nua lại không chết đi. Những tế bào dư thừa này tạo ra một khối mô gọi là bướu hoặc u. 3. U não lành tính và u não ác tính là gì?Các u não có thể lành tính hoặc ác tính: a. U não lành tính không chứa tế bào ung thư- Thường các u lành có thể cắt bỏ đi và ít tái phát trở lại. - Ranh giới của u lành thường rõ ràng. Tế bào của u lành không xâm lấn mô xung quanh hoặc di căn đi các nơi khác của cơ thể. Tuy vậy, u lành có thể chèn ép những vùng nhạy cảm của não và gây ra những vấn đề về sức khoẻ nghiêm trọng. - Không giống u lành ở những vị trí khác trên cơ thể, u lành ở não đôi khi có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. - U lành ở não có thể trở thành ác tính, tuy rất hiếm gặp. b. U ác tính ở não chứa tế bào ung thư- U ác tính ở não thường nặng và đe doạ đến tính mạng. - Chúng phát triển rất nhanh và xâm chiếm mô lành chung quanh. - Rất hiếm khi tế bào ác tính trong khối ung thư não tách ra và di chuyển đến các nơi khác của não, đến tuỷ sống, hoặc những phần khác của cơ thể (di căn).
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tài liệu Não và các loại u não (Kỳ 1) docx

TÀI LIỆU NÃO VÀ CÁC LOẠI U NÃO (KỲ 1) DOCX

chức năng cơ bản khác của cơ thể. Các phần quan trọng của não bộ: Não, tuyến tùng, tuyến yên, thân não, tiểu não, tuỷ sống 2. Ung thư là gì? Ung thư bắt đầu từ các tế bào, đơn vị cơ bản của các mô. Mô tạo ra các cơ quan bộ phận của cơ thể. Bình thường, tế bào tăng trưởng và phân chia thành những tế bào mới tuỳ theo yêu cầu của cơ thể. Khi tế bào già đi, chúng sẽ chết, và những tế bào mới sẽ thay thế chỗ. Đôi khi quy trình này bị rối loạn. Những tế bào mới hình thành khi cơ thể không cần đến chúng, và những tế bào già nua lại không chết đi. Những tế bào dư thừa này tạo ra một khối mô gọi là bướu hoặc u. 3. U não lành tính và u não ác tính là gì? Các u não có thể lành tính hoặc ác tính: a. U não lành tính không chứa tế bào ung thư - Thường các u lành có thể cắt bỏ đi và ít tái phát trở lại. - Ranh giới của u lành thường rõ ràng. Tế bào của u lành không xâm lấn mô xung quanh hoặc di căn đi các nơi khác của cơ thể. Tuy vậy, u lành có thể chèn ép những vùng nhạy cảm của não và gây ra những vấn đề về sức khoẻ nghiêm trọng. - Không giống u lành ở những vị trí khác trên cơ thể, u lành ở não đôi khi có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. - U lành ở não có thể trở thành ác tính, tuy rất hiếm gặp. b. U ác tính ở não chứa tế bào ung thư - U ác tính ở não thường nặng và đe doạ đến tính mạng. - Chúng phát triển rất nhanh và xâm chiếm mô lành chung quanh. - Rất hiếm khi tế bào ác tính trong khối ung thư não tách ra và di chuyển đến các nơi khác của não, đến tuỷ sống, hoặc những phần khác của cơ thể (di căn).
Xem thêm

6 Đọc thêm

Bướu não ở trẻ pdf

BƯỚU NÃO Ở TRẺ PDF

não tại Khoa Ung bướu nhi, Bệnh viện Ung bướu TP HCMDấu hiệu để nhận biết trẻ bị bướu não như: - Trẻ nhức đầu tăng dần kèm theo nôn vào buổi sáng- Rối loạn nhân cách (thay đổi tính tình đột ngột, suy giảm trí nhớ)- Có những cơn co giật Khi phát hiện cần đưa trẻ đi chụp cắt lớp đầu đểxác định bệnh.

1 Đọc thêm

Chớ dễ tính với thuốc "bổ não" pdf

CHỚ DỄ TÍNH VỚI THUỐC BỔ NÃO

thuốc tăng trao đổi ôxy giữa máu và phổi, giữa máu và mô, nhằm làm tăng khả năng hấp thụ ôxy của tế bào thần kinh. Các thuốc thường dùng bao gồm: Nhóm cinnarizine (stugeron), vinpocetin (cavinton), flunarizine (sibelium), ginko biloba (tanakan), piracetam (nootropin) và nhóm meclofexonat (lucidril), almitrine (duxil) Tuy nhiên có một điều lưu ý là các thuốc giãn mạch chỉ có tác dụng cải thiện lưu lượng tuần hoàn não khi và chỉ khi tình trạng các mạch máu bình thường. Nghĩa là nếu mạch máu bị xơ cứng trầm trọng thì các thuốc này không hề có tác dụng. Cần lưu ý là các thuốc có tác dụng cải thiện tuần hoàn não không nên được sử dụng quá dễ dãi theo quan niệm không có bệnh thì cũng chẳng sao. Sự thực, cần tuân theo những chỉ định dược lý. Đối với những bệnh nhân thiếu máu não tạm thời thì việc sử dụng thuốc tăng cường tuần hoàn não được coi là chỉ định hàng đầu vì nó sẽ ngăn chặn tế bào bị tổn thương, những tế bào mà khi đã bị tổn thương thì không có khả năng tái tạo. Ngoài những bệnh về thần kinh trung ương thì một số bệnh khác rất cần tới những thuốc này nhằm cải thiện sự hồi phục của tế bào. Chúng bao gồm: nhiễm độc thần kinh ốc tai tiền đình do nhiễm độc kháng sinh trị bệnh lao như streptomycin, hội chứng Meniere, suy nhược thần kinh, bệnh nhân sau đột qụy Tuy nhiên, chúng ta không thể coi chúng như là một phương thức "kê thêm" để bổ sung vào đơn thuốc cho những người đau đầu, mất ngủ chưa rõ nguyên nhân hay cho phòng ngừa. Những chống chỉ định nghiêm ngặt Không thể coi những thuốc làm tăng cường tuần hoàn não là những phương thuốc cứu cánh hay dự phòng. Bởi nó tuy là thuốc bổ, đứng theo phương diện trị bệnh, nhưng ở một khía cạnh nào đó nó cũng có những chống chỉ định nghiêm ngặt. Cinnarizine và flunarizine đều là những hoạt chất ức chế histamin và có tác dụng ức chế canxi. Chính vì thế chúng có tác dụng giãn mạch, đặc biệt là những mạch nhỏ của não. Nhưng nó lại gây ra buồn ngủ không cưỡng được và gây ra triệu chứng rối loạn vận động tự động (như run tay, tăng phản xạ, giật cục ) mà y học gọi là ngoại tháp, gây ra trầm cảm. Vì vậy những thuốc này không được sử dụng ở những người phải điều khiển giao thông, những bệnh nhân có triệu chứng ngoại tháp như bệnh Parkinson, những bệnh nhân bị bệnh tâm thần kiểu trầm cảm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Chớ dễ tính với thuốc “bổ não” pot

CHỚ DỄ TÍNH VỚI THUỐC “BỔ NÃO” POT

(cavinton), flunarizine (sibelium), ginko biloba (tanakan), piracetam (nootropin) và nhóm meclofexonat (lucidril), almitrine (duxil)… Tuy nhiên có một điều lưu ý là các thuốc giãn mạch chỉ có tác dụng cải thiện lưu lượng tuần hoàn não khi và chỉ khi tình trạng các mạch máu bình thường. Nghĩa là nếu mạch máu bị xơ cứng trầm trọng thì các thuốc này không hề có tác dụng. Cần lưu ý là các thuốc có tác dụng cải thiện tuần hoàn não không nên được sử dụng quá dễ dãi theo quan niệm không có bệnh thì cũng chẳng sao. Sự thực, cần tuân theo những chỉ định dược lý. Đối với những bệnh nhân thiếu máu não tạm thời thì việc sử dụng thuốc tăng cường tuần hoàn não được coi là chỉ định hàng đầu vì nó sẽ ngăn chặn tế bào bị tổn thương, những tế bào mà khi đã bị tổn thương thì không có khả năng tái tạo. Ngoài những bệnh về thần kinh trung ương thì một số bệnh khác rất cần tới những thuốc này nhằm cải thiện sự hồi phục của tế bào. Chúng bao gồm: nhiễm độc thần kinh ốc tai tiền đình do nhiễm độc kháng sinh trị bệnh lao như streptomycin, hội chứng Meniere, suy nhược thần kinh, bệnh nhân sau đột qụy… Tuy nhiên, chúng ta không thể coi chúng như là một phương thức “kê thêm” để bổ sung vào đơn thuốc cho những người đau đầu, mất ngủ chưa rõ nguyên nhân hay cho phòng ngừa. Những chống chỉ định nghiêm ngặt Không thể coi những thuốc làm tăng cường tuần hoàn não là những phương thuốc cứu cánh hay dự phòng. Bởi nó tuy là thuốc bổ, đứng theo phương diện trị bệnh, nhưng ở một khía cạnh nào đó nó cũng có những chống chỉ định nghiêm ngặt.
Xem thêm

3 Đọc thêm

lam dung thuoc bo nao - dao hai luoi

LAM DUNG THUOC BO NAO - DAO HAI LUOI

Lạm dụng thuốc bổ não trước kỳ thi: Dao hai lưỡiVào đầu mùa thi, bên cạnh sự tất bật chuẩn bị tài liệu ôn luyện, nhiều sĩ tử không quên chuẩn bị chomình các loại thuốc thuốc bổ não nhằm mục đích tăng cường trí nhớ. Không ít bậc phụ huynh cũng muốn “chia lửa” với con em mình bằng cách lung cho bằng được những loại thuốc được cho là có tác dụng bổ não với hi vọng con em mình sẽ thông minh hơn sau khi uống. Họ đâu biết rằng việc làm của họ nếu không được các bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn thì có thể sẽ là con dao hai lưỡi làmhại chính con em họ. Ma trận thuốc bổ não Đến bất kì hiệu thuốc tư nhân nào khi hỏi mua thuốc bổ não sẽ được nhân viên bán hàng bày ra đủ chủng loại thuốc với nhiều nhãn mác khác nhau, giá thành thì “muôn hình vạn trạng” nhưng cùng chung một mục đích “tăng cường trí nhớ” như theo lời rao bán. Theo như lời tư vấn của nhân viên bán thuốc thì những thuốc thuộc dòng “bổ não, tăng cường trí nhớ” được giới sinh viên ưa chuộng và tiêu thụ nhiều nhất vào những ngày trước và trong mùa thi. Dòng thuốc này đáp ứng, thoả mãn tất cả yêu cầu của khách hàng từ hạng sang tới bình dân. Sinh viên ít tiền thì dùng các loại như glutaminol B6 chỉ trên dưới 10.000 đồng là có, hay tìm đến với hoạt huyết dưỡng não cũng chỉ vài chục ngàn/vỉ. Người có tiền thì tìm mua các loại thuốc đặc chủng như ritalin, piracetam thậm chí cũng được bán mà chẳng cần lưu ý đến chỉ định dùng. Giá của những loại thuốc dòng này giao động từ 4.000 đồng đến 6.000 đồng/viên.Hầu hết những người mua các chủng loại loại thuốc này về dùng chẳng cần qua bác sĩ khám. Họ dùng theotin đồn, hay nghe người trước kể lại hiệu quả sau khi dùng. Đại đa số cho rằng đã là thuốc bổ thì không có tác dụng phụ hay độc tố nên cả phụ huynh lẫn sĩ tử đều đặt niềm tin tuyệt đối vào những dạng thuốc này.Chị Ngô Quảng H. ở L9- Định Công có thể nói là một tín đồ trong việc cho đứa con gái của mình sử dụng thuốc bổ não. Chị tâm sự: con gái mình năm nay dự thi vào Học viện Báo chí tuyên truyền. Thi khối C đòi hỏi phải học thuộc lòng nhiều, lượng kiến thức đồ sộ nên cần phải “tăng cường trí nhớ” bằng giải pháp theochị là đơn giản và hiệu quả là dùng thuốc bổ não. Chị cho tôi xem một đơn thuốc do chị tự kê xuất hiện hàng loạt các loại thuốc mà theo tờ hướng dẫn sử dụng trong từng hộp thuốc thì gồm cả dưỡng não, bổ não, điều trị thần kinh. Thời gian uống cũng do chị quy định là trước giờ học 2 tiếng. Công hiệu ra sao thì chưa biết chắc, chỉ chắc một điều rằng con gái chị lúc nào cũng mang bộ mặt đăm chiêu Các gia đình cần có sự tư vấn, chỉ định của bác sĩ trong việc mua thuốc hỗ trợ sứckhỏe cho con trong kỳ thi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Chọc dò dịch não tủy doc

CHỌC DÒ DỊCH NÃO TỦY

Chọc dò dịch não tủy Đây là một thủ thuật thực hiện nhằm lấy một mẫu dịch não tuỷ để xét nghiệm. Dịch não tuỷ là một chất dịch bao bọc, che chở và bảo vệ bộ não cũng như toàn bộ tuỷ sống của chúng ta. Dịch này lưu thông xuyên qua hộp sọ, đi vào khoang dưới nhện, nằm ngay dưới màng nhện, một màng cũng làm nhiệm vụ bao bọc bộ não. Ảnh minh họa. Thực hiện Chọc dò tuỷ sống là một phương pháp phổ biến nhất để lấy được một mẫu dịch não tuỷ. Bạn nằm nghiêng trên giường, hai chân co lên sao cho hai đầu gối của bạn ép sát vào ngực. Đôi khi, thủ thuật này cũng được thực hiện khi bệnh nhân ngồi gập người ra trước. Vùng da định chọc dò được rửa và sát trùng sạch, rồi được gây tê tại chỗ ngay tại cột sống, kim được chọc dò khi đâm vào thường là vùng gian đốt sống thắt lưng 3 – 4. Khi kim đã vào đến khoang dưới nhện, các kỹ thuật viên sẽ đo áp lực trong dịch não tuỷ, sau đó một lượng dịch sẽ được rút ra để làm xét nghiệm. Sau khi lấy được dịch não tuỷ rồi, kim sẽ rút ra, vùng da được sát trùng một lần nữa, và một miếng băng cá nhân được đặt vào vị trí đó. Bạn sẽ phải nằm ngửa, đầu bằng, trong khoảng 6 – 8 giờ sau khi thủ thuật thực hiện xong. Chuẩn bị Bạn cần phải ký vào một bản cam kết trước khi thực hiện thủ thuật này. Bạn cần chuẩn bị để nằm viện sau khi thực hiện thủ thuật ít nhất 6 – 8 giờ, và tất nhiên là phải nằm ngửa, để đầu bằng với thân. Tư thế nằm sẽ khiến bạn hơi khó chịu, nhất là khi bạn phải nằm yên như vậy để tránh không cho kim chọc dò phạm vào tuỷ sống và gây tổn thương cho
Xem thêm

7 Đọc thêm

bài 21 di truyền y học sinh 12

BÀI 21 DI TRUYỀN Y HỌC SINH 12

3. Cơ chế gây ung thư4. Cách điều trị ĐÁP ÁNSTT Nội dung nghiên cứu Tri thức cần biết1. Khái niệm bệnh ung thư2. Tác nhân gây ung thư- Do tăng sinh không kiểm soát được của một số loại tế bào cơ thể dẫn tới hình thành các khối u ác tính chèn ép các cơ quan bên trong cơ thể hoặc di chuyển vào máu, đến các nơi khác tạo nên nhiều khối u.- Các đột biến gen, đột biến NST tạo ra do tác nhân đột biến vật lí, hóa học, virut gây ung thư. TT Nội dung n/c Tri thức cần biết3. Cơ chế gây ung
Xem thêm

20 Đọc thêm

Cơ thể người - Phần 1 pps

CƠ THỂ NGƯỜI PHẦN 1

Cơ thể người Phần 1 LTS: "Cơ thể người là một trong 12 quyển thuộc bộ sách Mười vạn câu hỏi", được biên soạn bởi đội ngũ đông đảo các nhà khoa học đầu ngành của Trung Quốc. Sách dùng hình thức trả lời câu hỏi để giới thiệu, giải đáp những vấn đề liên quan đến cơ thể con người, từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu. Bằng ngôn ngữ dễ hiểu, sinh động, với cách đặt câu hỏi phù hợp với thắc mắc của đa số thanh thiếu niên, cuốn sách đem đến cho người đọc nhiều điều lý thú, bất ngờ. Sách do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2001". 1. Vì sao nói não càng dùng càng thông minh? Có người nói: "Não nếu được dùng nhiều, các tế bào não sẽ bị chết", "não dùng nhiều sẽ trở nên chậm chạp". Cách nói này không có cơ sở khoa học. Trên thực tế, các bộ phận trong cơ thể người càng được dùng càng phát triển, não cũng vậy. Não người có khoảng 14 tỷ tế bào thần kinh, còn gọi là thần kinh nguyên, dư sức dùng cho cả đời người. Có nhà khoa học tính toán rằng, với một người sống 100 tuổi, số tế bào thần kinh não được sử dụng chỉ trên dưới 1 tỷ; như vậy là còn khoảng 80-90% số tế bào não chưa được sử dụng. "Sự sống là ở sự vận động", đó là quy luật phổ biến của giới sinh vật. Các bộ phận cơ thể người nếu dùng thì nhanh nhạy, không dùng thì suy lão. Ở người hay dùng não, chắc chắn não sẽ nhanh hơn vì mạch máu não thường ở trạng thái hoạt động, tế bào thần kinh não nhờ đó mà được nuôi dưỡng tốt, khiến cho não càng phát triển, tránh được sự suy thoái sớm. Ngược lại, ở những người không quen dùng não để suy nghĩ, vì đại não ít được các thông tin kích thích, thậm chí không được kích thích, nên sẽ suy lão sớm. Giống như một cỗ máy, nếu gác lại không dùng sẽ mau hoen gỉ, hay vận hành thì sẽ trơn tru. Một nghiên cứu ở nước ngoài trên những người 20-70 tuổi cho thấy, những người lao động trí óc trong một thời gian dài thì đến tuổi 60 vẫn duy
Xem thêm

5 Đọc thêm

CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG NGHE KÉM (KỲ 2) ppsx

CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG NGHE KÉM (KỲ 2) PPSX

CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG NGHE KÉM (KỲ 2) Cơ chế sinh lý bệnh - Nghe kém do lão hoá ảnh hưởng gần 1/3 người có tuổi ≥ 65, các bệnh lý tim mạch như xơ cứng động mạch, tiểu đường …gây rối loạn tuần hoàn khiến máu đến các cơ quan, nhất là não và hệ thống thính giác giảm nhiều - Gốc tự do là những phân tử không ổn định do mất electron, vì vậy có khả năng làm tổn thương hoặc phá hủy tế bào khi tiếp xúc với nó. Một số gốc tự do có thể gây nên nhầm lẫn tín hiệu di truyền ở DNA. - Khi gốc tự do bám vào tế bào lành mạnh sẽ làm suy giảm chức năng cuả các tế bào, bản thân cơ thể có thể sản xuất các chất kháng oxy hóa như Superoxide dismutase (SOD), Catalase và Glitathione peroxidase để chống lại tổn thương. Khi các nguồn chống oxy hoá này suy giảm tổn thương tế bào có thể không phục hồi gây nghe kém. Nhiều nghiên cứu cho thấy các gốc tự do chịu trách nhiệm cho hơn 100 bệnh lý ở người kể cả bệnh Alzheimer, ung thư, các cơn đột qụy, viêm khớp cũng như lão hóa - Một nghiên cứu ở đại học Emory cho thấy mỗi tế bào tiếp nhận 10.000 gốc tự do mỗi ngày và sự sản xuất các chất oxy hoá cuả cơ thể giảm nhanh sau tuổi 30, vì vậy phương pháp tốt nhất làm chậm sự lão hóa là cung cấp đầy đủ các chất kháng oxy hóa để chống lại các gốc tự do. Cụ thể cần tăng cường sử dụng các chất kháng oxy hóa qua chế độ dinh dưỡng và nếu cần bằng thuốc Acetyl – cystein - Khoảng 98% năng lượng cơ thể được sản xuất từ ti lạp thể, vì vậy cấu trúc này được xem như nhà máy năng lượng cuả cơ thể. Chức năng ti lạp thể giảm dần theo tuổi khiến người lớn tuổi có cảm giác thiếu năng lượng. Bản thân ti lạp thể cũng có DNA riêng cuả nó khác hẳn với DNA cuả cơ quan khác, vì vậy khi các gốc tự do phá huỷ DNA tế bào, DNA tế bào có thể tự điều chỉnh nhưng DNA cuả ti lạp thể không thể tự phục hồi được. Ti lạp thể có thể suy yếu hoặc chết hẳn khiến các quá trình phục hồi cần thiết chậm hẳn lại. - Lượng Calo cần thiết ≤ 1700 – 1800 /ngày
Xem thêm

5 Đọc thêm

Thế nào là U não nguyên phát và thứ phát? (Kỳ 1) doc

THẾ NÀO LÀ U NÃO NGUYÊN PHÁT VÀ THỨ PHÁT KỲ 1 1

giác đói và khát. Thân não còn kiểm soát nhịp thở, thân nhiệt, huyết áp, và các chức năng cơ bản khác của cơ thể. Các phần quan trọng của não bộ: Não, tuyến tùng, tuyến yên, thân não, tiểu não, tuỷ sống 2. Ung thư là gì? - Ung thư bắt đầu từ các tế bào, đơn vị cơ bản của các mô. Mô tạo ra các cơ quan bộ phận của cơ thể. Bình thường, tế bào tăng trưởng và phân chia thành những tế bào mới tuỳ theo yêu cầu của cơ thể. Khi tế bào già đi, chúng sẽ chết, và những tế bào mới sẽ thay thế chỗ. - Đôi khi quy trình này bị rối loạn. Những tế bào mới hình thành khi cơ thể không cần đến chúng, và những tế bào già nua lại không chết đi. Những tế bào dư thừa này tạo ra một khối mô gọi là bướu hoặc u. 3. U não lành tính và u não ác tính là gì? Các u não có thể lành tính hoặc ác tính: a. U não lành tính không chứa tế bào ung thư - Thường các u lành có thể cắt bỏ đi và ít tái phát trở lại. - Ranh giới của u lành thường rõ ràng. Tế bào của u lành không xâm lấn mô xung quanh hoặc di căn đi các nơi khác của cơ thể. Tuy vậy, u lành có thể chèn ép những vùng nhạy cảm của não và gây ra những vấn đề về sức khoẻ nghiêm trọng. - Không giống u lành ở những vị trí khác trên cơ thể, u lành ở não đôi khi có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. - U lành ở não có thể trở thành ác tính, tuy rất hiếm gặp. b. U ác tính ở não chứa tế bào ung thư - U ác tính ở não thường nặng và đe doạ đến tính mạng. - Chúng phát triển rất nhanh và xâm chiếm mô lành chung quanh. - Rất hiếm khi tế bào ác tính trong khối ung thư não tách ra và di chuyển đến các nơi khác của não, đến tuỷ sống, hoặc những phần khác của cơ thể (di căn).
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu các dị tật hở ống thần kinh ở thai nhi được chẩn đoán bằng siêu âm tại bệnh viện phụ sản trung ương từ năm 2008 đến năm 2011

NGHIÊN CỨU CÁC DỊ TẬT HỞ ỐNG THẦN KINH Ở THAI NHI ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN BẰNG SIÊU ÂM TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2011

Boyd và cộng sự nghiên cứu chẩn đoán trước sinh DTOTK ở các Trung tâm y tế thuộc 11 nước châu Âu thấy 542 trẻ bị dị dạng hở ống thần kinh trên 670.766 đứa trẻ được sinh, trong đó 84% là tổn thương đơn độc (gồm 166 vô sọ, 252 nứt đốt sống, 35 thoát vị não). Các tác giả nước ngoài không chỉ nghiên cứu chẩn đoán trước sinh, mà còn nghiên cứu theo dõi sau sinh. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào địa điểm và đối tượng nghiên cứu [14]. Schmidt và cộng sự đã điều tra ở Đức từ 1975 – 1982 thấy có 42% là khuyết tật ống thần kinh nói chung [50]. Theo MACDP 1996 (Metropolitan Atlanta Congenital Defects Program) thì tỷ lệ các loại dị tật hở ống thần kinh như sau: thai vô sọ 2,2%, thoát vị não 1,7%, thoát vị cột sống 3,4% [66]. Cũng theo nghiên cứu tương tự của CBDMP 1995 (Corolina Birth Defects Monitoring Program) thì các tỷ lệ dị tật hở ống thần kinh như sau: thai vô sọ 2,0%, thoát vị não 8,0%, thoát vị cột sống 3,6% [67]. 23 Theo thông báo gần đây (1999) thống kê tại một vùng Indre, Loin Centre ở Pháp của Body và cộng sự trong số 200 hồ sơ được hội chẩn siêu âm hình thái học thai nhi phát hiện có dị dạng thì thấy tỷ lệ dị tật hở ống thần kinh chiếm 17% [71]. Theo Parks SE (2006) nghiên cứu về DTHOTK ở Texas, Mỹ từ năm 1999 đến 2005 thì tỷ lệ nứt đốt sống là 51,5%, thoát vị não 11.9%. [54]. Theo Poretti A và CS [53] nghiên cứu các DTHOTK ở Thụy điển (năm 2008) thì tỷ lệ thai vô sọ là 70%, thoát vị não 14%. Theo Stoll C, Dott B [55] thì tỷ lệ thoát vị não là 36,8%, khe hở cột sống 23.8%. 1.6.2. Tại Việt nam Ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu riêng và cụ thể về từng loại dị tật hở ống thần kinh ở thai nhi. Tuy nhiên chúng tôi cũng thấy
Xem thêm

80 Đọc thêm

Abcess não – Phần 1 ppsx

ABCESS NÃO – PHẦN 1 PPSX

+ Giai đoạn hóa mủ trong tổ chức não: Trung tâm ổ viêm là tổ chức não hoại tử. Tổ chức não hoại tử cùng với xác bạch cầu tạo nên mủ. Ổ mủ có xu hướng ngày một lan rộng ra xung quanh. + Giai đoạn tạo bao áp xe: Do phản ứng tự vệ của cơ thể (hoặc do dùng kháng sinh sớm), các tế bào thần kinh đệm tăng sinh ở xung quanh ổ viêm, các mạch máu tân tạo đến đó nhiều hơn và bạch cầu được huy động đến bao vây để không cho ổ mủ lan rộng ra xung quanh, chúng tạo nên một vành đai chắc đó chính là bao xơ của bọc áp xe. Bao xơ này sẽ dày lên và ổ mủ được khu trú lại. Nếu chụp CLVT không tiêm thuốc cản quang thì cũng có thể nhìn thấy bao xơ này. Nếu tiêm thuốc cản quang thì bao xơ càng nhìn rõ hơn và phân biệt rõ với tổ chức xung quanh. Bên trong bao xơ là mủ, có tỷ trọng giảm so với mô não lành. Người ta cho rằng: sự hình thành bao xơ diễn ra trong vòng 3 - 4 tuần, nhưng nếu điều trị kháng sinh mạnh và sớm ngay từ đầu thì ổ áp xe sẽ tiêu đi, để lại đó là tổ chức xơ sẹo và các giai đoạn của áp xe não không còn diễn ra trình tự như nói trên.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hướng dẫn chăm sóc người bệnh đột quỵ

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ

Đột quỵ hay tai biến mạch não (TBMN) xảy ra khi cung cấp máu cho một phần của não đột ngột bị ngừng hoặc giảm, các tế bào não sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng. Trong vòng vài phút, các tế bào não bắt đầu chết nên những phần cơ thể tương ứng do nó điều khiển sẽ không hoạt động được, biểu hiện bằng liệt, tê bì và mất cảm giác nửa người, nói khó hoặc hôn mê…. Đột quỵ là một tình trạng cấp cứu, điều trị kịp thời có thể làm giảm thiểu tổn thương não và các biến chứng. Bệnh có thể điều trị và phòng tránh được. Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ của đột quỵ như tăng huyết áp, hút thuốc lá và tăng cholesterol có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh.
Xem thêm

84 Đọc thêm