SỰ PHÂN GÂN CỦA LÁ

Tìm thấy 7,417 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Sự phân gân của lá":

BÁO CÁO PHẦN PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH

BÁO CÁO PHẦN PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH

BÁO CÁO PHẦN PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH CỦA CÂY RAU ĐẮNG ĐẤT,
Cây rau đắng đất là loài thân cỏ, sống lâu năm, mọc bò lan. Thân có nhiều lông, tiết diện tròn, thân non màu xanh, thân già cứng, màu nâu đỏ, mấu phình to và màu nâu đỏ. Cây có vị rất đắng. Lá đơn, mọc vòng 35 lá không đều nhau, lá lớn nhất dài 1,21,6 cm, rộng 0,40,6 cm, lá nhỏ nhất dài 0,40,5 cm, rộng 0,150,2 cm. Lá hình thon ngược, mũi có răng nhọn, gốc hình chót buồm, mép lá có răng cưa thưa và cạn, có đường viền nâu đỏ, mặt trên lá màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn, có vị rất đắng, có lông. Cuống lá ngắn 0,20,3 cm, màu nâu đỏ, không lông. 1 gân chính, gân phụ không rõ. Cụm hoa: chụm 37 hoa ở nách lá. Hoa lưỡng tính, mẫu 5, vô cánh. Cuống hoa hình sợi, màu xanh, có lông, dài 0,91,2 cm. Lá đài 5, đều, hình thuyền, 3 gân, lông ở mép, kích thước 4 x 1 mm, tiền khai năm. Nhị 5, đều, đính xen kẽ lá đài, chỉ nhị dạng sợi, màu trắng, dài 2 mm. Bao phấn 2 ô, rời, xếp song song cạnh nhau, hướng trong, đính đáy. Hạt phấn rời, màu trắng, hình bầu dục hay hình tròn, kích thước 2,5 m. Lá noãn 3, dính nhau, bầu trên 3 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trung trụ. Vòi nhụy 3, ngắn, màu vàng nhạt. Quả nang, 3 ô. Hạt nhỏ, nhiều, hình thận, màu nâu đỏ, vách có u lồi, có phụ bộ ở tễ.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Lá mơ lông chữa bệnh

LÁ MƠ LÔNG CHỮA BỆNH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Lá mơ lông còn có các tên khác như: ngưu bì đống, mơ tròn, dây mơ lông, mơ tam thể, mẫu cầu đằng, ngũ hương đằng, thanh phong đằng, mao hồ lô, người Tày gọi là khau tất ma, người Thái gọi là co tốt ma,.... Là một loại cây leo mọc hoang hoặc được trồng làm hàng rào nhiều nơi ở nước ta để làm rau gia vị. Thân dây leo, lá to, phiến xanh mọc đối, mặt dưới ửng tím đỏ, có lông mịn, gân phụ, gân lá rõ ở mặt trên, lá kèm rộng, thường xẻ đôi hình tam giác. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu ngọn, phân nhánh nhiều và tỏa rộng, hoa màu trắng điểm tím nhạt, không cuống, có miệng tím, đài hình chuông, có lông, nhị 5. Quả hình cầu, dẹt, nhẵn, mầu nâu bóng, có đài màu vàng. Toàn cây có lông mềm, nhất là thân, cành và lá non. Lá vò nát có mùi khó ngửi. Mùa hoa, quả: từ tháng 8 đến tháng 10. Lá mơ thường được dùng như một loại rau sống ăn kèm với một số món thịt, nem thính, cá rán... Ngoài công dụng như một loại gia vị, mơ lông còn có tác dụng chữa bệnh. Theo y học cổ truyền, bộ phận dùng làm thuốc là lá mơ thường dùng tươi. Dược liệu có đắng, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, giải nhiệt, mạnh tỳ vị, tiêu thực, sát khuẩn, chữa phong tê thấp, tẩy giun, giải độc... nhưng thông dụng nhất vẫn là chữa các bệnh về đường tiêu hóa.   Ngoài công dụng như một loại gia vị, mơ lông còn có tác dụng chữa bệnh (Ảnh: Internet) Một số bài thuốc theo kinh nghiệm: Bài 1: Chữa tiêu chảy do nhiệt: Với biểu hiện bụng quặn đau, đầy hơi, đại tiện mùi phân khẳm, nước tiểu vàng: Lá mơ 16g, nụ sim 8g, rửa sạch các vị thuốc cho vào ấm đổ với 500 ml, sắc còn 200 ml. Uống trong ngày mỗi lần 100 ml, dùng liền 5 ngày. Bài 2: Chữa chứng bí tiểu tiện do nóng, có thể áp dụng cho cả trường hợp bệnh sỏi thận dẫn đến bí tiểu tiện: Lấy 1 nắm lá mơ lông, rửa sạch sắc uống ngày 2 - 3 lần rất hiệu nghiệm. Bài 3: Chữa ăn khó tiêu, sôi bụng do thức ăn sống lạnh: Lấy một nắm lá mơ tươi, rửa sạch giã nát lấy nước uống hoặc có thể ăn cùng với thức ăn. Ăn liền 2 - 3 ngày. Bài 4: Chữa kiết lỵ: Kinh nghiệm là thường dùng lá mơ tươi trộn đều với trứng gà sống. Sau đó, bọc hỗn hợp này bằng lá chuối, đem nướng chín hoặc dùng chảo (không dầu) đun vàng hai mặt. Lấy ra ăn ngày 3 lần, liên tục vài ngày. Ngoài ra có thể sử dụng một trong các bài thuốc sau: - Lấy một nắm lá mơ, một nắm lá phèn đen rửa sạch, nhúng qua nước sôi, vảy khô, giã nát, vắt lấy nước cốt uống, ngày 2 - 3 lần. - Lá mơ lông, lá trâu cổ, mỗi vị 20g, lá lốt, nụ sim mỗi vị 10g.Tất cả cho vào ấm đổ 700ml nước sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. - Lá mơ lông 30g, thổ phục linh, bạch thược mỗi vị 5g, hạt cau khô, vỏ măng cụt mỗi vị 10 g, cỏ sữa 25g, rau sam 20g.  Sắc uống ngày 1 thang. Tất cả cho vào ấm đổ 750ml nước sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thuyết minh về chiếc nón lá

THUYẾT MINH VỀ CHIẾC NÓN LÁ

MB:

Cách 1:

- Chiếc nón lá rất thân thuộc với dân tộc ta

- Đi cùng tà áo dài, chiếc nón lá làm tăng thêm vẻ dịu dàng, duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam. Cách 2: “Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên Bàn tay xây lá, tay xuyên nón Mười sáu vành, mười sáu trăng lên” ( Bài thơ đan nón – Nguyễn Khoa Điềm) Đã từ lâu chiếc nón lá đã đi vào nhiều bài thơ, bài ca Việt Nam và trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ thanh mảnh, nhẹ nhàng của chiếc nón bài thơ, cùng với tá áo dài bay trong gió đã làm tôn lên vẻ đẹp của người con gái. Cách 3: “Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ Tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay Nón bài thơ e lệ trong tay Thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng” Ai đã từng qua miền Trung nắng lửa không thể không biết đến nón bài thơ xứ Huế. Chiếc nón lá ấy đã trở thành biểu tượng văn hóa của một vùng đất nhiều truyền thống. Và cũng từ lâu, chiếc nón lá trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với chiếc nón lá nhẹ nhàng và tà áo dài tha thướt đã đi vào thơ ca, nhạc họa của biết bao thế hệ. TB: 1/ Nguồn gốc: Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịch vào khoảng 2500 – 3000 năm trước công nguyên.   Từ xa xưa, nón lá đã hiện diện trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam trong cuộc chiến đấu giữ nước, qua nhiều chuyện kể và tiểu thuyết. Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nghề chằm nón vẫn được duy trì và tồn tại đến ngày nay. Ở Huế hiện nay có một số làng nghề chằm nón truyền thống như làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy) đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế),..Những làng nghề này đã tạo ra các sản phẩm công phu cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch. 2/ Nguyên vật liệu, cách làm: a/ Chọn lá, sấy lá, ủi lá: Để làm được một chiếc nón lá đẹp, người làm nón phải tỉ mỉ từ khâu chọn lá, phơi lá, chọn chỉ đến độ tinh xảo trong từng đường kim mũi chỉ. Lá có thể dùng lá dừa hoặc lá cọ. - Lá dừa: để có được lá dừa làm nón phải mua từ trong Nam. Lá chuyển về chỉ là lá thô. Để lá có độ bền về thời gian cũng như màu sắc phải chọn lọc, phân loại lá và đem xử lí qua lưu huỳnh. Dẫu chọn lá có công phu nhưng nón làm bằng lá dừa vẫn không thể tinh xảo và đẹp bằng nón làm bằng lá cọ. - Lá cọ: làm nón bằng lá cọ phải công phu hơn, lá phải non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá phải trắng xanh. Nếu lá trắng và gân lá cũng trắng thì lá đã già làm nón không đẹp. Một chiếc nón đạt tiêu chuẩn phải có màu trắng xanh với những gân lá vẫn còn màu xanh nhẹ, mặt lá phải bóng, khi nón đan lên phải nổi những gân lá màu xanh đẹp mắt. Để đạt được tiêu chuẩn ấy thì phải tuân thủ đúng qui trình. Sấy khô phải đúng kĩ thuật, sấy trên bếp than (không phơi nắng). Sau đó lại phải phơi sương tiếp từ 2 đến 4 giờ cho lá mềm. Rồi dùng một búi vải và một miếng gang đặt trên bếp than có độ nóng vừa phải để ủi sao cho từng chiếc lá được phẳng. Mỗi chiếc lá đều được chọn lựa kĩ càng và cắt với cùng độ dài là 50cm (lá cọ). b/ Chuốc vành, lên khung lá, xếp nón: Với cây mác sắt, người thợ làm nón (thường là đàn ông làm ở khâu này) chuốt từng nan tre sao cho tròn đều và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ nhỉnh hơn đường kính que tăm một chút. Sau đó uốn những nan tre này thành những vòng tròn thật tròn đều và bóng bẩy từ nhỏ đến lớn. Mỗi cái nón sẽ cần 16 nan tre uốn thành vòng tròn này đặt từ nhỏ đến lớn vào một cái khung bằng gỗ có hình chóp. Sau đó người thợ sẽ xếp lá lên khung,   người xếp lá phải khéo và đều tay không để các phiến lá chồng lên nhau hay xô lệch. Kể về quá trình làm nón lá mà không kể đến nón bài thơ xứ Huế là một thiếu xót. Đặc biệt nón bài thơ của xứ Huế rất mỏng vì chỉ có hai lớp: lớp lá trong gồm 20 lá, lớp lá ngoài cùng gồm 30 lá và lớp bài thơ được đặt nằm ở giữa. Khi xây lá lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp hay xô lệch để nón đạt được sự thanh và mỏng. Khi soi lên ánh nắng, ta đọc được bài thơ, nhìn thấy rõ hình cầu Tràng Tiền hay chùa Thiên Mụ. Chính những chi tiết này đã tạo nên nét đặc trưng cho nón bài thơ xứ Huế. c/ Chằm nón: Sau khi xếp lá cho đều và ngay ngắn lên vành, người ta bắt đầu chằm nón. Nón được chằm bằng sợi nilông dẻo, dai, săn chắc và phải có màu trắng trong suốt. Các lá nón không được xộc xệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp. Khi nón đã chằm hoàn tất người ta đính thêm vào chớp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên cho chiếc nón. Sau đó mới phủ lên nón lớp dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Ở vòng tròn lớn bằng nan tre dưới đáy hình chóp, khoảng nan thứ ba và thứ tư, người thợ sẽ dùng chỉ kết đối xứng hai bên để buộc quai. Quai nón thường được làm bằng lụa, the, nhung,…với màu sắc tươi tắn như tím, hồng đào, xanh thiên lí,..càng làm tăng thêm nét duyên cho người đội nón. Chiếc nón đẹp không chỉ ở đường kim, mũi chỉ mà còn ở dáng nón. Chiếc nón còn đẹp bởi đây là sản phẩm đặc trưng mang nét văn hóa truyền thống được tạo nên bởi đôi tay khéo léo của những người thợ ở các làng nghề. 3/ Công dụng: Từ làng Chuông ở Tây Hồ đến Ba Đồn những chiếc nón lá trải đi khắp nẻo đường và trở thành thân quen trong đời sống thường nhật của người phụ nữ. Chiếc nón lá không chỉ là vật dụng thiết thân, người bạn thủy chung với người lao động dùng để đội đầu che mưa, che nắng khi ra đồng, đi chợ, là chiếc quạt xua đi những giọt mồ hôi dưới nắng hè gay gắt mà còn là vật làm duyên, tăng nét nữ tính của người phụ nữ. Buổi tan trường, hình ảnh những cô nữ sinh với tà áo trăng tinh khôi, nghiêng nghiêng dưới vành   nón lá là lúm đồng tiền làm duyên đã làm say lòng, là cảm hứng nghệ thuật của bao văn nhân, nghệ sĩ,… Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện nét dịu dàng, mềm mại kín đáo của người phụ nữ Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện và đều nhận được những tràng pháo tay tán thưởng của khán giả. 4/ Bảo quản: Muốn nón lá được bền lâu chỉ nên đội khi trời nắng, tránh đi mưa. Sau khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng sẽ làm cong vành, lá nón giòn và ố vàng làm làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón. KB: - Chiếc nón lá là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam, là một sản phẩm truyền thống và phổ biến trên khắp mọi miền đất nước. - Nhiều người Việt xa nước, nơi đất khách quê người trông thấy hình ảnh chiếc nón lá họ có cảm giác quê hương đang hiện ra trước mắt. loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

TẢ VƯỜN RAU (HOẶC VƯỜN HOA) NƠI EM Ở BÀI 1

TẢ VƯỜN RAU (HOẶC VƯỜN HOA) NƠI EM Ở BÀI 1

Xung quanh là hàng rào tre cắm xiên hình mắt cáo. Trên đó, dây lá mồng tơi bò phủ lên xanh mướt.    Dàn bài    I.Mở bài                 Vườn rau (vườn hoa) định tả ở đây? Của ai? Trường hợp nào em đến đó.    II.THÂN BÀI    1.Tả bao quát    Đôi nét về vị trí, hình dáng kích thước vườn.    2. Tả từng bộ phận:    -  Đường vào, cách sắp xếp, phân chia luống rãnh, giống. Tả cụ thể từng khu vực với những nét đặc sắc về hình dáng, màu sắc, mùi hương vườn. Cảnh người chăm sóc vườn.    III. KẾT LUẬN    Cảm nghĩ của em về vườn rau (vườn hoa) ấy. Bài làm tham    I. Phía sau nhà tôi là một vườn rau nhỏ nhắn, xanh tươi. Nhờ vào bàn tay cần cù chăm bón của má tôi mà vườn rau này xanh tốt quanh năm, mùa nào thức ấy.    II.Đó là một khoảnh đất mỗi bề dài chừng năm thước rào kín bốn phía chỉ chừa cửa để đi lại.    Xung quanh là hàng rào tre cắm xiên hình mắt cáo. Trên đó, dây lá mồng tơi bò phủ lên xanh mướt. Cuối vườn, mặt giáp ao cũng có cửa tre thông với cầu ao. Vườn phân thành bốn ô với nhiều luống nhỏ ngang dọc. Giữa các ô là lối đi lại.    Trong vườn lúc này, các thứ rau quả đều đang độ non tươi. Từ ngoài vào là những luống cải ngọt vươn cao lá xanh tròn loăn xoăn, bẹ to trắng nõn. Bên cạnh đó là cải bắp lá dầy dặn cồm cộm đường gân ôm chặt lấy nhau, cuộn tròn nhau lại như quả banh nhỏ ngày một lớn ra. Các quả banh ấy mọc đều tăm tắp trông mới thú vị làm sao !    Qua các luống cải là đến các luống hành. Từng cọng hành to như chiếc đũa, mơn mởn một màu xanh, tua tủa đâm thẳng lên trời.    Trong cùng, má em trồng các thứ rau quả làm gia vị: đâu chừng năm bảy bụi gừng, cây lá xanh um, ba bốn cây ớt trái sai chín đỏ nặng trĩu trịt dầy cành. Rồi cả ngò gai, rau quế, rau tần, cần tàu, cần nước mỗi thứ đều có một dáng vẻ riêng nhưng thứ nào cũng tươi tốt xanh non.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÓC VÀNG (LUMNITZERA RACEMOSA WILLD.) Ở XÃ GIAO LẠC GIAO THỦY NAM ĐỊNH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÓC VÀNG (LUMNITZERA RACEMOSA WILLD.) Ở XÃ GIAO LẠC GIAO THỦY NAM ĐỊNH

10Trần Thị Quỳnh TrangTrường Đại học Sư phạm Hà NộiKhoa Sinh họcCHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, KHU VỰC VÀ PHƢƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU2.1. Đối tƣợng nghiên cứuCóc Vàng là một trong ba cây thuộc chi Cóc ( Lumnitzera)Tên khoa học: Lumnitzera racemosa WilldHọ bàng: CombretaceaeHọ sim: MyrtalesLớp Ngọc Lan: MagnoliopsidaCây gỗ nhỡ, cao 3-12m với đường kính khoảng 0,3m, không lông, thân nhiềumấu, nhánh thấp, vỏ ngoài màu nâu, gỗ màu vàngLá đơn, mọc cách, phiến hình muỗng, chân hình nêm, đầu tròn, bìa có răngnhỏ, gân không rõ, dày cứng.Hoa đơn tính, trắng nhỏ, ở nách và ngọn, có 5 cánh hoa, 5 đài hoa, 10 tiểunhị dài bằng nhau, lá bắc rụng sớm. Hoa có đĩa mật, thụ phấn nhờ sâu bọ. Quảtròn, dài, cây ra hoa vào đầu hèLà cây ưa sáng, kém chịu nước mặn và kém chịu ngập nước, mọc trên bùncát chặt. Hệ rễ khỏe, có khả năng đâm sâu vào lớp mùn dày, có tác dụng bảo vệđất. Phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, nhiều nhất ở Sóc Trăng, Bạc Liêu.2.2. Thời gian nghiên cứuChúng tôi tiến hành các thí nghiệm theo dõi từ tháng 8/2013 đến tháng1/2014. Thời gian thu thập số liệu hàng tháng vào các ngày từ 21 đến 28.
Xem thêm

100 Đọc thêm

LỚP 1 LÁ MẦM VÀ LỚP HAI LÁ MẦM BÀI HỘI GIẢNG SINH 6 CẤP TỈNH

LỚP 1 LÁ MẦM VÀ LỚP HAI LÁ MẦM BÀI HỘI GIẢNG SINH 6 CẤP TỈNH

-Kiểu hạt của phôi: hai lá mầm, mộtlá mầmQuan sát hình 42.1Căn cứ vào các đặc điểm của ,rễ, hoa mà em có thể nhận rađược từ hình vẽ, hãy phân biệtcây Hai lá mầm và cây Một lámầm theo mẫu sau:Đặc điểmKiểu rễKiểu gân láSố cánh hoa...................Cây Hai mầmCây Một lá mầm•Hình 42.1A.Cây Hai lá mầm(Cây dừa cạn)B. Cây Một lá mầm

22 Đọc thêm

BÀI 1, 2 , 3 TRANG 85 SGK SINH 6

BÀI 1, 2 , 3 TRANG 85 SGK SINH 6

Câu 1. Sự biến dạng của lá có ý nghĩa gì ? Lá của một sô loại cây xương rồng biến thành gai có ý nghĩa gì ? Câu 2. Có những loại lá biến dạng phổ biến nào ? Chức năng của mỗi loại là gì ? Câu 1.  Sự biến dạng của lá có ý nghĩa gì ? Lá của một sô loại cây xương rồng biến thành gai có ý nghĩa gì ? Trả lời: Chức năng chính của lá là chế tạo chất dinh dưỡng cho cây. Tuy nhiên, một số loại cây có lá biến dạng để thực hiện những chức năng khác giúp cây thích nghi với điều kiện sống của chúng.  Lá một số loại cây như xương rồng lá lại biến thành gai là vì: Chúng thường sống trong những điều kiện khô hạn. khắc nghiệt, nên lá biến thành gai giúp cây giảm bớt sự thoát hơi nước. Câu 2.  Có những loại lá biến dạng phổ biến nào ? Chức năng của mỗi loại là gì ? Trả lời:  *   Lá biến thành cơ quan bắt mồi như lá cây nắp ấm: gân chính của một số lá kéo dài và phát triển thành hình có nắp đậy. Trong bình có chất dịch hấp dẫn sâu bọ, khi sâu bọ chui vào nắp đậy lại, con mồi sẽ chết và bị tiêu hóa bới dịch tiêu hóa. *  Lá biến thành cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng như lá cây hành, tỏi. Phân bẹ lá dày lên trớ thành cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cho cây. *  Lá biến thành gai như lá cây xương rồng, do sống ở những nơi khô cằn thiếu nước, lá biến thành gai để giảm sự thoát hơi nước của cây thì mới tồn tại được. *   Lá biến thành vảy như lá cây dong ta, lá có dạng vảy mỏng che chở cho thân rễ sống ở dưới đất. Câu 3. Kể tên một số cây có lá biến dạng ở địa phương và nêu chức năng của chúng. Trả lời: Ở mỗi địa phương thì chủ yếu có cây dong ta và xương rồng biến dạng lá. *  Lá biến thành gai như lá cây xương rồng, do sống ở những nơi khô cằn thiếu nước, lá biến thành gai để giảm sự thoát hơi nước của cây thì mới tồn tại được. *   Lá biến thành vảy như lá cây dong ta, lá có dạng vảy mỏng che chở cho thân rễ sống ở dưới đất.  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân Lớp Ngọc Lan Và Các Họ, Bộ

PHÂN LỚP NGỌC LAN VÀ CÁC HỌ, BỘ

Những kiến thức cơ bản về phân lớp Ngọc Lan. LỚP NGỌC LAN (MAGNOLIOPSIDA) ĐẶC ĐIỂM Cây mầm: có 2 lá mầm. Rễ: rễ mầm cho ra rễ chính của cây. Rễ này phát triển mạnh hơn các rễ phụ, nên rễ cây lớp Ngọc lan thường thuộc loại rễ trụ và có cấu tạo cấp hai. Thân: thường có nhiều nhánh và có cấu tạo cấp hai. Thân cấp một chỉ có một vòng libe–gỗ, ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt như ở họ Hồ Tiêu (Piperaceae). Lá: Hình dạng của phiến và kiểu gân lá rất biến thiên, nhưng kiểu gân song song hiếm gặp. Lá thường có cuống. Bẹ lá ít phát triển trừ một vài họ như họ Hoa tán (Apiaceae). Hoa: thông thường hoa mẫu 5 hay mẫu 4 với 2 lá bắc con ở hai bên. Hoa mẫu 3 chỉ gặp ở những họ thực vật cổ như họ Na (Annonaceae). PHÂN LOẠI Theo hệ thống của Armen Takhtajan (1997) thì thực vật có hoa được sắp xếp trong 589 họ thuộc 232 bộ. Lớp Ngọc lan được chia làm 11 phân lớp: 1. Phân lớp Ngọc lan (Magnoliidae) 2. Phân lớp Súng (Nymphaeidae) 3. Phân lớp Sen (Nelumboidae) 4. Phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae) 5. Phân lớp Cẩm chướng (Caryophyllidae) 6. Phân lớp Sau sau (Hamamelididae) 7. Phân lớp Sổ (Dilleniidae) 8. Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) 9. Phân lớp Thù du (Cornidae) 10. Phân lớp Cúc (Asteridae) 11. Phân lớp Hoa môi (Lamiidae) PHÂN LỚP NGỌC LAN (MAGNOLIIDAE) GỒM 18 BỘ VÀ 39 HỌ HỌ ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU HỌC CÂY TRONG HỌ GHI CHÚ BỘ NGỌC LAN (Magnoliales) Thân gỗ. Lá mọc so le, đơn, nguyên, có lá kèm hay không. Trong lá và thân thường có tế bào tiết chất thơm. Gỗ không có mạch thông hay có mạch thông với mặt ngăn hình thang hay đơn. Hoa to, mọc riêng lẻ ở kẽ lá hay đầu nhánh, kiểu xoắn, xoắn vòng hay vòng. Hoa lưỡng tính, thường thụ phấn nhờ sâu bọ. Đế hoa dài. Bao hoa đơn hay ít nhiều phân hoá thành đài và tràng. Nhị nhiều, rời nhau, xếp xoắn ốc, thường hình bản, không phân hoá thành chỉ nhị và chung đới. Hạt phấn một rãnh nguyên thủy. Bộ nhụy có nhiều lá noãn rời. Noãn đảo. Hạt có nhiều nội nhũ. Ngọc lan Magnoliaceae Thân: gỗ to hay nhỏ, đứng hoặc leo. Lá: đơn, mọc cách, phiến nguyên hay có răng cưa, có hoặc không có lá kèm. Ở cây Ngọc lan, lá kèm to, hình búp bao bọc chồi, khi rụng thường để lại vết sẹo quanh cành. Hoa: hoa riêng lẻ ở ngọn hay nách lá, to, đều, lưỡng tính. Đế hoa lồi, hình nón. Bao hoa: nhiều phiến gần giống nhau xếp theo một đường xoắn ốc hoặc một số ít phiến đã phân hoá thành đài và tràng, xếp thành vòng mẫu 3. Bộ nhị: nhiều nhị rời xếp theo một đường xoắn ốc. Chỉ nhị ngắn và dẹt. Bao phấn đính đáy, có mũi hay không. Bộ nhụy: nhiều lá noãn rời gắn theo một đường xoắn ốc trên đế hoa lồi, mỗi lá noãn đựng 1 hay nhiều noãn. Đôi khi hoa có cuống nhụy. Vòi nhụy hình chỉ, đôi khi rất ngắn gần như không có. Quả: quả đại hay quả thịt. Tế bào tiết tinh dầu trong tất cả các mô mềm. Dạ hợp nhỏ Magnolia coco (Lour.) DC Ngọc lan trắng: Michelia alba DC. Ngọc lan ngà (Sứ vàng): Michelia champaca L.
Xem thêm

31 Đọc thêm

K LÝ THUYẾT ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN LÁ CỦA MỘT LỚP CÁC MD5 PHÂN LÁ

K LÝ THUYẾT ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN LÁ CỦA MỘT LỚP CÁC MD5 PHÂN LÁ

ứng MDn -nhóm) được gọi là một MDn-đại số (tương ứng MDn -đại số). Rõ rànglớp MD là con của lớp MD. Đến đây, một bài toán lớn được đặt ra là: “Phân loạicác MD-đại số đồng thời đặc trưng C*-đại số của các MD-nhóm tương ứngbằng phương pháp K-hàm tử”.Năm 1984, H. H. Việt ([35]) đã phân loại triệt để các MDn -đại số. Lớpnày chỉ gồm các đại số Lie giao hoán  n , đại số Lie affine thực Lie(Aff  ) vàđại số Lie affine phức Lie(Aff  ). Ngay sau đó, H. H. Việt đã dùng phương pháp() của phủ phổ dụng Aff đối với nhóm affineK-hàm tử để đặc trưng C* Affphức Aff  . Như vậy, cùng với các kết quả có trước của Đ. N. Diệp và J.Rosenberg, việc nghiên cứu lớp con các MD -đại số và MD -nhóm xem như đãđược giải quyết triệt để. Bài toán tương tự đối với các MD-đại số và MD-nhómvẫn còn là bài toán mở.Ngoài ra, cũng do sự phân tầng đơn giản của các K-quỹ đạo đối với lớpcác MD-nhóm mà người ta nhận thấy rằng: đối với mỗi MD-nhóm, họ các K-quỹđạo chiều cực đại của nó tạo thành một phân đo được theo nghĩa của A.Connes ([8]). Các phân này được gọi là các MD-phân liên kết với các MDnhóm đã xét.Đối với một phân (V , F ) tùy ý, một trong những bài toán quan trọngcủa “tôpô phân ” là nghiên cứu không gian các (hay vắn tắt là không gian )của phân đó. Tuy nhiên, đáng tiếc là không gian các V9
Xem thêm

20 Đọc thêm

K LÝ THUYẾT ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN LÁ CỦA MỘT LỚP CÁC MD5 PHÂN LÁ

K LÝ THUYẾT ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN LÁ CỦA MỘT LỚP CÁC MD5 PHÂN LÁ

• Vấn đề 2: Đi tìm và khảo sát lớp rộng hơn các C ∗ -đại số hoặc lớp các(1)Xem Phụ lục B67nhóm Lie mà C ∗ -đại số của chúng có khả năng đặc trưng được bằngcác K-hàm tử mở rộng.Năm 1980, G. G. Kasparov ([14]) đã nghiên cứu vấn đề thứ nhất và thành côngtrong việc tổng quát hóa các K-hàm tử BDF thành các K-song hàm tử toán tử (còngọi là các KK-hàm tử ) vừa đồng điều vừa đối đồng điều. Như một áp dụng đầu tiên,Kasparov đã sử dụng các KK-hàm tử để đặc trưng thành công C ∗ -đại số C ∗ (H3 ) củanhóm Heisenberg H3 .Đối với hướng nghiên cứu thứ hai, cần lưu ý rằng phương pháp K-hàm tử thườngthích hợp với các C ∗ -đại số có cấu trúc phổ (tức là không gian các lớp tương đươngunita của các biểu diễn bất khả quy với tôpô được cảm sinh từ tôpô Jacobson) khôngquá phức tạp. Đối với C ∗ -đại số nhóm, phổ của nó có thể đồng nhất với đối ngẫu unitacủa nhóm (tức là không gian các lớp tương đương unita của các biểu diễn unita bấtkhả quy của nhóm).Đặc biệt đối với nhóm Lie, phương pháp quỹ đạo Kirillov cho thấy rằng tập đốingẫu unita của nhóm có liên hệ trực tiếp với không gian các K-quỹ đạo của nó. Do đó,việc chọn lớp các nhóm Lie có không gian các K-quỹ đạo khá đơn giản cho phép tađặc trưng các C ∗ -đại số nhóm của chúng bằng phương pháp K-hàm tử.Dựa trên ý tưởng đó, năm 1980, Đ. N. Diệp đã đề nghị xét lớp C ∗ -đại số của cácMD-nhóm. Lớp này rất đơn giản về phương diện phân tầng các K-quỹ đạo nên nóichung C ∗ -đại số của chúng có thể đặc trưng được nhờ các KK-hàm tử.Giả sử G là một nhóm Lie thực, giải được n chiều (n là một số nguyên dương). G
Xem thêm

88 Đọc thêm

BÀI 20. CẤU TẠO TRONG CỦA PHIẾN LÁ

BÀI 20. CẤU TẠO TRONG CỦA PHIẾN LÁ

có chúc năng chế tạo chất hữu cơ2…3.Thịt láC. Bộ phận gồm các bó mạch có chứcnăng vận chuyển các chất nuôi câyB3…4.Gân láD. Bộ phận giúp trao đổi khí và hơinướcC4…BÀI TẬP VỀ NHÀ- Học bài và trả lời câu hỏi cuối bài- Đọc mục em có biết?- Ôn lại kiến thức đã học ở tiểu học để trả lời được câu hỏi:+ Chức năng chính của là gì?+ Chất khí nào của không khí có vai trò duy trì sự cháy?- Đọc và tìm hiểu các thí nghiệm ở bài sau.CHÚC CÁC EM HỌC TỐT !!
Xem thêm

25 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂNVÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT GIA THANH HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂNVÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT GIA THANH HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

1.1.2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón qua lá1.1.2.1. Biện pháp sử dụng phân bón qua láNhiều kết quả nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năngsuất cây trồng cho thấy: thường sau khi hoa nở rộ hoặc hoa đã tàn lúc này câyđang ở tình trạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng [23], [30]. Ở thời điểm này bộrễ ở dưới đất phát triển yếu vì bị ức chế do hoa nở rộ, nếu bón phân vào đất rễcũng chưa có điều kiện hấp thu được ngay. Nguyễn Ngọc Nông (1997) [14].Do vậy, phải kịp thời phun dinh dưỡng lên cây để bổ sung dinh dưỡng và làmbớt rụng quả sinh lý. Trần Văn Uyển (1995) [30]. là một bộ phận quan trọng của cây trồng, nhiệm vụ của là quanghợp hấp thu dinh dưỡng cho cây. Tất cả quá trình này được diễn ra trên cơquan ở mặt đó là lỗ khí khổng. Tuy nhiên sự hấp thu các nguyên tố khoángdưới dạng ion từ dung dịch gặp phải khó khăn hơn vì tầng cultin ở lớp ngoàicùng của , tầng cultin này có thể dày hay mỏng thuỳ theo từng loại câytrồng và tuổi của cây.Lỗ khí khổng có kích thước trung bình 100µm2 (dài 7-10µm, rộng 312µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích . Lỗ khí khổngphân bố ở cả mặt trên và mặt dưới của . Số lượng lỗ khí khổng của từngloại cây rất khác nhau như: số lượng lỗ khí khổng/1mm2 ngô là 120; ởlá cà chua là 142; đặc biệt ở những cây thân gỗ số lượng lỗ khí khổng rất lớntừ 300 - 400. Điều đáng chú ý là muốn cho phân bón qua mang lại hiệu quảcao nhất thì nó phải được phun lên bề mặt có nhiều lỗ khí khổng. Phươngpháp dinh dưỡng qua đặc biệt có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinhdưỡng và sự hấp thụ dinh dưỡng của cây ở đất bị hạn chế. Do vậy, việc ápdụng bón phân qua từ 2 - 3 lần ở những thời điểm thích hợp là hoàn toàn8có thể đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng.Horst (1993) [46].
Xem thêm

107 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ VI SINH VẬT ĐẤT TRONG ĐIỀU KIỆN SINH THÁI TẠI TIỂU KHU 64 CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ VI SINH VẬT ĐẤT TRONG ĐIỀU KIỆN SINH THÁI TẠI TIỂU KHU 64 CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

12- Nghiên cứu sản xuất chế phẩm hữu cơ vi sinh từ than bùn vàcác chủng VSV tuyển chọn.- Thử nghiệm ứng dụng chế phẩm phân HCVS nghiên cứu ñốivới cây keo tràm. Xác ñịnh một số chỉ tiêu sinh trưởng sau:+ Xác ñịnh chiều cao cây bằng cách ño.+ Xác ñịnh sinh khối tươi và sinh khối khô bằng cách cân.+ Đếm số nốt sần ở rễ cây2.3.3. Phương pháp xử lý số liệuCác kết quả phân tích ñược xử lý bằng phương pháp thống kêsinh học.giữ nước kém, hay bị khô hạn, ñất chua (pH: 4,8 – 5,8), ñộ ẩm thấp(28 – 42%) nên có thành phần và số lượng VKTSHK, NMTS, XKTSñạt giá trị thấp nhất, có trung bình VKTSHK (58 – 434)x105 CFU/g,NMTS (09 – 411)x103 CFU/g ; XKTS (02 – 43)x103 CFU/g ñất.Bảng 3.1. Thành phần và số lượng VSV trong một số mẫu ñấtchính tại các ñịa ñiểm thuộc Tiểu khu 64 của khu BTTN Sơn Trà- TP Đà Nẵng (tháng 11/2011)CHƯƠNG 3KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN3.1. SỰ PHÂN BỐ CỦA HỆ VI SINH VẬT ĐẤT THEO THÀNHPHẦN CƠ GIỚIKết quả chính về sự phân bố của hệ VSV ñất theo thành phầncơ giới ở tiểu khu 64, khu BTTN Sơn Trà như sau:+ Đất thịt trung bình, thịt trung bình pha sỏi có hàm lượngnitơ cao (0,34 - 0,38%), ñộ ẩm vừa phải (50 - 60%), pH thích hợp
Xem thêm

13 Đọc thêm

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG (CÔNG NGHỆ 8) “TRỒNG CÀ CHUA NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG”

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG (CÔNG NGHỆ 8) “TRỒNG CÀ CHUA NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG”

Khi cây ra chùm hoa thứ nhất cần phải làm giàn. Mỗi cây cà chua vươn tớiđâu thì buộc thân cây vào cọc giàn tới đó. Để cây sinh trưởng tốt cần bón đủvà đúng lượng phân cho cà chua. Lượng phân bón: (Sử dụng cho 1.000m2trồng cà chua)- Phân hữu cơ khoảng 20 tấn/ha, nếu không có phân hữu cơ có thể dùngphân vi sinh tương đương 200kg/ha.- Phân hoá học: Urê: 30 kg + NPK 16-16-8: 25 Kg + Super Lân: 40 kg vàSulfat, Kali: 30 kg/1000m2Cách bón phân:- Bón lót : toàn bộ phân hữu cơ + toàn bộ super Lân+ 5 kg NPK 16-16-8. - Bón thúc: 4 lần bón thúc+ Thúc lần 1: (10 - 15 ngày sau khi trồng): 7 kg Urê + 7 kg Kali + 5kgNPK.+ Thúc lần 2 : (22 - 25 ngày sau khi trồng, lúc hoa bắt đầu có nụ): 7 kg Urê+ 7 kg Kali + 5kg NPK. Có thể kết hợp phun thêmphân bón đ ể thúc càchua tạo mầm hoa, 7 ngày /1 lần.+ Thúc lần 3: (lúc hoa rộ): 7 kg Urê + 7 kg Kali + 5kg NPK.+ Thúc lần 4: (sau lần thu hoạch trái đầu tiên): 7 kg Urê + 7 kg Kali + 5kgNPK.Cà chua cần được bón thúc thêm sau mỗi lần thu hoạch quả. Bấm ngọn tỉacành để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả. Có hai cách bấm ngọn tỉa cành,tùy thuộc vào đặc điểmcủa từng giống cây thì dùng cách khác nhau. Với càchua sinh trưởng hữu hạn: Tiến hành bấm cành nhưng vẫn để lại một cành từthân chính dưới nách cọng phía dưới chùm hoa thứ nhất. (Tất cả chồi nonvà cành khỏe cắt hết). Bấm ngọn khi cây đó ra được 4 - 5 chùm quả. Tính từchùm quả cuối cùng lên chừa lại hai , phần ngọn phía trên bấm đi. Vàocuối thời kỳ sinh trưởng của cây, cà chua có những già vàng cần phải tỉabỏ để làm thoáng ruộng cho cây phát triển tốt.Để ngăn ngừa hiện tượng rụng hoa, quả ta sử dụng chất kích thích sinh
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tóm tắt lí thuyết môn công nghệ 9

TÓM TẮT LÍ THUYẾT MÔN CÔNG NGHỆ 9

đề cương ôn tập1. Nêu giá trị dinh dưỡng của quả xoài ? Giá trị dinh dưỡng của quả xoài: Chứa các chất dinh dưỡng như: đường, vitamin A, B, C, chất khoáng K, Ca, P, S, axit hữu cơ. Quả xoài dùng để ăn tươi, làm mức quả, đồ hộp, làm thuốc (hoa)2. Cho biết nguyên nhân, triệu chứng, điều kiện, cách gây hại và phòng trừ của bệnh vàng lá hại cây ăn quả có múi ? Nguyên nhân: Do virut hoặc vi khuẩn gây nên Triệu chứng : Lá có đốm vàng, thịt lá vàng, ven gan lá xanh lục, lá nhỏ, cong, rụng sớm, quả nhỏ, méo mó Điều kiện phát sinh: Nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu, độ ẫm cao Phòng trừ : Quét vôi gốc cây, trồng giống kháng bệnh, bón phân hợp lí,…
Xem thêm

2 Đọc thêm

SOẠN BÀI MẶT TRỜI XANH CỦA TÔI

SOẠN BÀI MẶT TRỜI XANH CỦA TÔI

Câu 1. Tiếng mưa trong rừng cọ được so sánh với các âm thanh nào ?Câu 2. Về mùa hè, rừng cọ có gì thú vị ?Câu 3. Vì sao lá cọ giống mặt trời ?Câu 4. Em có thích gọi lá cọ là mặt trời xanh không ? Vì sao ? Câu 1. Tiếng mưa trong rừng cọ được so sánh với các âm thanh nào ? Trả lời . Tiếng mưa trong rừng cọ so sánh với tiếng thác nước đổ về, tiếng gió thổi ào ào. Câu 2. Về mùa hè, rừng cọ có gì thú vị ? Trả lời : Về mùa hè, nằm dưới rừng cọ nhìn lên, tác giả thấy trời xanh qua từng kẽ lá. Câu 3. Vì sao lá cọ giống mặt trời ? Trả lời : Tác giả thấy lá cọ giống mặt trời vì lá cọ hình quạt cũng có nhiều gân lá, phiến lá xoè ra như các tia sáng của mặt trời. Câu 4. Em có thích gọi lá cọ là mặt trời xanh không ? Vì sao ? Trả lời : Em thấy cách gọi lá cọ là mặt trời xanh rất thú vị vì đó là một sự so sánh rất sáng tạo của tác giả bài thơ. Nội dung: vẻ đẹp đa dạng của rừng đã làm tác giả thấy yêu quê hương tha thiết.
Xem thêm

1 Đọc thêm

tác dụng của cây thương lục

TÁC DỤNG CỦA CÂY THƯƠNG LỤC

Cây thương lục sống nhiều năm, cao tới 1,5m. Rễ củ mập. Thân hình trụ nhẵn, màu xanh lục, ít phân nhánh. Lá mọc so le, phiến xoan ngược to, dài 1225cm, rộng 510cm; cuống lá 3cm, đầu nhọn tù, gốc nhọn. Chùm hoa đối diện với lá song không gắn trước lá, cao 1520cm; 5 lá đài trắng, nhị 8, lá noãn 810. Quả mọng, hình cầu dẹt có 810 quả đại với vòi nhuỵ tồn tại, khi chín có màu tía đen, hạt đen, đẹp, hình thận hay tròn.

1 Đọc thêm

SO SÁNH QUY TRÌNH TRỒNG RAU hữu cơ và RAU hóa học

SO SÁNH QUY TRÌNH TRỒNG RAU HỮU CƠ VÀ RAU HÓA HỌC

Mô hình sản xuất tại nông nghiệp công nghệ cao sử dụng sinh học
Giống cây rau phải là thế hệ F1, vốn chất lượng cao nhất trong các thế hệ lai ghép giống của các đơn vị sản xuất giống uy tín trong và ngoài nước. Các khâu diệt trừ sâu bọ hại cây đến phân bón bổ sung sức sống cho cây đều được làm từ thực vật. Đơn cử như thuốc phòng trừ các loại sâu đo, bọ rầy, muội, xoắn lá... được làm từ củ riềng, cau, tỏi, ớt...; còn phân để cải tạo đất, bón gốc, bón lá... thì bằng vỏ tôm, thóc, rong biển, phân trâu, phân dê, giun quế, cá biển... cán bộ kỹ thuật của trang trại cho biết: Riềng, cau, tỏi, ớt... sau khi được ủ với các chế phẩm sinh học phù hợp sẽ trở thành hỗn hợp mà khi phun vào cây sẽ có tác dụng làm cho trứng sâu bị nóng, ung đi, không sinh nở được. Còn vỏ tôm, thóc, rong biển khi được nghiền nhỏ và ủ với chế phẩm sinh học lại trở thành vi lượng hữu cơ rất có ích cho sức sống của gốc cây. Để cải tạo đất, chúng tôi dùng phân trâu, phân dê được nuôi thả tự do với nguồn thức ăn hoàn toàn tự nhiên .Còn con giun quế, cá biển thì lại được chế biến theo kiểu thuỷ phân để trở thành loại phân kích thích sự sinh trưởng và phát triển của lá cây... Như vậy có thể nói tất cả các nguyên liệu để trồng, chăm sóc cây rau hữu cơ đều từ thực vật tự nhiên, hoàn toàn không sử dụng phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, đây chính là khác biệt căn bản với các loại rau được gieo trồng theo phương pháp khác, kể cả rau sạch, rau an toàn hiện nay.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Tự làm phá lấu bao tử bò cho cả nhà

TỰ LÀM PHÁ LẤU BAO TỬ BÒ CHO CẢ NHÀ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Phá lấu là món ăn khá nổi tiếng của xứ Cảng Thơm (Hồng Kông) và là món ăn quen thuộc của người dân Nam Bộ. Ở Hà Nội, phá lấu được làm từ hai nguyên liệu chính đó là sách và dạ dày bò. còn người Sài Gòn, phá lấu được làm từ thịt lợn, hay các gan, lá xách, phèo non, tổ ong, trái khế, lá mía. Nhưng cách chế biến nào cũng rất ngon và hấp dẫn. Bạn có thể tham khảo cách nấu pha lấu tại đây nhé! Nguyên liệu: - 300 thịt bò gân - 1 cái bao tử bò (dạ dày) - 1 hộp đậu hủ chiên - 1 củ gừng thái lát to - 1 muỗng canh gừng băm - 5 tép tỏi băm - 1 củ hành tây - 1 muỗng cà phê tiêu - 1 muỗng canh đường - 2 muỗng canh rượu trắng - 1 muỗng canh tương ớt - 1 muỗng cà phê bột nêm - 1 chút xíu muối   Thực hiện: Bước 1: Bao tử bò dùng lưỡi dao cạo sạch và rửa qua nước lạnh. Bỏ gân thái miếng vừa ăn, đậu hủ thái miếng vừa ăn.   Bước 2: Cho nước lạnh và nồi cùng gừng thái lát, 1/2 muỗng cà phê muối, 1 muỗng canh rượu, hành tây bắt lên bếp nấu sôi, thì cho bao tử và bò gân vào luộc khoảng 10 phút thì vớt bò gân ra. Còn bao tử bò thì luộc thêm 30 phút nữa.   Bước 3: Sau khi luộc bao tử xong, vớt ra rửa qua nước lạnh và thái miếng vừa ăn. Bước 4: Bắc nồi/ chảo lên bếp, cho vào 2 muỗng canh dầu, dầu hơi nóng cho tỏi và gừng băm vào xào thơm, sau đó cho tương ớt vào xào 30 giây.   Bước 5: Tiếp theo cho bao tử và bò gân vào xào 2 phút.   Bước 6: Cuối cùng cho1 lít nước, rượu, muối, đường, bột nêm, muối vào đậy nắp, hầm 40 phút cho bao tử và thịt mềm.   Bây giờ bạn mới cho đậu hũ vào hầm thêm 20 phút nữa là tắt bếp. Nhớ là trước khi tắt bếp thì phải nếm nếm lại nhé.   Múc phá lấu bao tử bò ra tô, rắc tiêu và trang trí ngò cho thơm.       Chúc các bạn thành công và ngon miệng với phá lấu bao tử bò cho cả gia đình!
Xem thêm

5 Đọc thêm

QUANG HỢP VÀ NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG

QUANG HỢP VÀ NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG

Quang hợp quyết định năng suất cây trồng. Quang hợp tạo ra 90 - 95% chất khô trong cây. I. KIẾN THỨC CƠ BẢN -       Quang hợp quyết định năng suất cây trồng. Quang hợp tạo ra 90 - 95% chất khô trong cây. -       Tăng năng suất cây trồng bằng cách: + Tăng diện tích bộ lá, tăng cường độ quang hợp và tăng hiệu suất quang hợp của cây trồng bằng cách áp dụng các biện pháp kĩ thuật như chăm sóc, bón phân, cung cấp nước hợp lí tùy thuộc vào giống, vào cây trồng. + Tuyển chọn và tạo mới các giống, loài cây trồng có cường độ và hiệu suất quang hợp cao. + Tăng hệ số kinh tế cùa cây trồng bằng biện pháp chọn giống và bón phân. II. GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA                          PHẦN TÌM HIỂU VÀ THẢO LUẬN ♦     Tại sao tăng diện tích lá làm tăng năng suất cây trồng? Trả lời: Lá là cơ quan quang hợp (bài số 8 mục II). Trong lá có lục lạp với hệ sắc tố quang hợp hấp thụ nắng lượng ánh sáng và truyền năng lượng đã được hấp thụ đến pha cố định C02 tạo vật chất hữu cơ cho cây. Do vậy, tăng diện lích lá hấp thụ ánh sáng là tăng cường độ quang hợp dẫn đến tăng tích lũy chất hữu cơ trong cây. tăng năng suất cây trồng.
Xem thêm

1 Đọc thêm