LÝ LUẬN THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề " Lý luận thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó vào quá trình đổi mới ở VN":

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

+ Dương Văn Thịnh (chủ biên), Một số chuyên đề triết học Mác –Lênin: Dùng cho sinh viên chuyên ngành triết học, Nxb. Đại học quốc gia HàNội, năm1997.3+ Trần Văn Thụy , Triết học – lý luậnvận dụng, Học viện Chính trịquốc gia, Hà Nội. Giới thiệu về triết học và vai trò của triết học trong đờisống xã hội. Trình bày khái lược lịch sử triết học trước Mác và triết học Mác Lênin. Tìm hiểu về chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguyên tắc thống nhất giữalý luận và thực tiễn của triết học Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.+ Trần Viết Quang, Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn trong giảng dạy triết học, Trường Đại học Vinh, http://truongchinhtrina.gov.vn- Về vấn đề đổi mới Việt Nam: vấn đề này đã được nhiều người quantâm, nghiên cứu như:+ Các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước có nhiều tác phẩm và bài viếtvề công cuộc đổi mới như tác phẩm “Đổi mới để tiến lên” của đồng chíNguyễn Văn Linh gồm 2 tập do nhà xuất bản sự thật xuất bản năm 1988 và1989. Tác phẩm đã khẳng định đổi mới là tất yếu nhằm thúc đẩy cách mạngXHCN không ngừng phát triển. Tác phẩm “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vìCNXH” của đồng chí Đỗ Mười, gồm 5 tập do nhà xuất bản Sự thật xuất bảnnăm 1992 và 1993 đã nêu lên đường lối, quan điểm, biện pháp tiến hành côngcuộc đổi mới trong tất cả các lĩnh vực.+ Một loạt đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ do các nhà khoahọc đầu ngành chỉ đạo tập trung nghiên cứu về thời kỳ quá độ lên CNXH ởViệt Nam như đề tài “Con đường đi lên CNXH Việt Nam kinh nghiệm vàlý luận” do PGS,TS Nguyễn Ngọc Long (Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh) làm chủ nhiệm, đề tài cấp bộ, thực hiện năm 1991, đã nghiệmthu tháng 5/1992. Đề tài đã đề cập đến mô hình, con đường đi lên CNXH
Xem thêm

106 Đọc thêm

Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của lý luận đối với thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó trong quá trình đổi mới kinh tế ở việt nam hiện nay

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan hệ đó thì thực tiễn quyết định lý luận, tuy nhiên lý luận cũng có sự tác động mạnh mẽ trở lại thực tiễn: nếu lý luận đúng đắn thì nó sẽ tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển của thực tiễn; trong trường hợp ngược lại, nếu lý luận lạc hậu, sai lầm, không khoa học thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức và vận dụng đúng quan điểm triết học Mác Lênin về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, đặc biệt là vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Trong những năm trước đổi mới, nhất là giai đoạn 19751986, đã có lúc chúng ta đề ra những chủ trương, đường lối không thực sự xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế, do vậy những chủ trương này đã tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Trước thực trạng nền sản xuất trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn,… Đảng ta đã chủ động khắc phục những sai lầm về mặt lý luận, đồng thời đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Có thể khẳng định rằng, chủ trương đổi mới nói chung, đổi mới về kinh tế nói riêng chính là một lý luận khoa học xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với thực tiễn đất nước. Do vậy, lý luận này đã có những tác động rất tích cực đối với thực tiễn nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi to lớn, nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và trở thành một nước có mức thu nhập trung bình, nền sản xuất có bước phát triển quan trọng.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải nhận thức để giải quyết, đặc biệt là trong quan hệ sản xuất vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố không phù hợp đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất; tình trạng yếu kém và ẩn chứa nhiều tiêu cực của khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; nguy cơ bị lệ thuộc về kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,… Tình hình đó đòi hỏi chúng ta cần phải chú trọng việc tổng kết thực tiễn, nhất là những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trên lĩnh vực kinh tế.
Xem thêm

87 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

pháp thường đi theo lối mòn, ít có sự đổi mới mà GV đã trở thành người cảm nhận,truyền thụ tri thức một chiều. GV nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trongquá trình lĩnh hội tri thức Địa lý.Trong thời đại siêu công nghiệp hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhấtlà cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật đã làm gia tăng một lượng tri thức khổng lồcho nhân loại, theo đó nội dung dạy học trong nhà trường cũng phải không ngừngđược cập nhật, đổi mới. Bên cạnh đó, ngày nay, nhu cầu hiểu biết của HS có xuhướng vượt ra ngoài phạm vi nội dung, tri thức, kỹ năng do chương trình quy định.Xu hướng này thể hiện chỗ HS thường chưa thỏa mãn với hệ thống tri thức đượccung cấp trong chương trình sách giáo khoa và các tài liệu học tập được quy định.Các em luôn muốn biết nhiều hơn, hiểu sâu hơn các vấn đề đã học cũng như các trithức xã hội khác. Chính điều đó, đòi hỏi người GV Địa lý cũng phải không ngừngcập nhật những kiến thức mới từ thực tiễn, để tránh lạc hậu, lỗi thời trong giảng dạy.Từ thực tiễn dạy học, tác giả nhận thấy rằng: “phải vận dụng sự thống nhất giữalý luận và thực tiễn để đổi mới phương pháp dạy môn Địa lý phổ thông” mới cóthể đảm bảo được đặc thù của môn học là gắn với thực tiễn và từ đó những lý luậnvề Địa lý học mới phát huy đúng giá trị của nó. Bên cạnh đó, đảm bảo sự thống nhấtgiữa lý luậnthực tiễn cũng sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê của HS, giúpcác em hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong việc học tập môn Địa lý. Đểthực hiện được, người GV cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thứctrọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng họcsinh thành thị, nông thôn …. GV cũng cần quan tâm đến tính cách, sở thích, nănglực của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động của HS, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâusắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn Địa lý.II.NỘI DUNG VẬN DỤNG SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀTHỰC TIỄN VÀO ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝỞ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Xem thêm

25 Đọc thêm

SỰ vận DỤNG lý LUẬN HÌNH THÁI KINH tế xã hội của CHỦ NGHĨA mác LÊNIN TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH đạo CÔNG CUỘC đổi mới của DCSVN

SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA DCSVN

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước để đi lên chủ nghĩa xã hội ,nên việc nghiên cứu và vận dụng lý luận hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa MácLênin vào thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước là rất quan trọng.Mục tiêu của đất nước ta là tới năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp ,bởi vậy việc nghiên cứu và vận dụng lý luận vào thực tiễn càng cần được thúc đẩy và thực hiện tích cực .Hơn nữa việc nghiên cứu lý luận và áp dụng vào thực tiễn giúp chúng ta chứng minh được rằng sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và người anh cả Liên xô không phải là sự đổ hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội ,của lý luận hình tháikinh tế xã hội chủ nghĩa như các thế lực chống xã hội chủ nghĩa đã nói vào những năm cuối của thế kỉ hai mươi.Sự sụp đổ đó chỉ là sự bài trừ bác bỏ mô hình kinh tế tập chung của xã hội chủ nghĩa khi hoàn cảnh lịch sử thay đổi,còn lý luận hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa của MácLênin luôn đúng trong mọi hoàn cảnh lịch sử vấn đề là chúng ta cần áp dụng nó đúng đắn vào từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia .Hiện nay do vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản vẫn chưa hết nên sự đấu tranh và chứng minh tính đúng đắn của lý luận vẫn luôn rất gay gắt giữa các nước theo xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản,có rất nhiều các nhà kinh tế học trên thế giới quan tâm tới vấn đề này và có nhiều dự đoán khác nhau về thời gian mà chủ nghĩa xã hội thành công trên toàn thế giới.Trong nước có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vận dụng lý luận vào thực tiễn nước ta của đảng và nhà nước và tất cả các công trình đều chung một mục đích đó là cung cấp cho chúng ta thêm kiến thức về lý luận sau đó là chúng ta tìm hiểu xem lý luận ấy đã được ứng dụng vào thực tiễn như thế nào và hiệu quả của việc vận dụng đó ra sao.Công trình này của chúng em cũng với một mong muốn và mục đích như vậy,từ việc nghiên cứu đề tài chúng em hiểu thêm được về lý luận và sự vận dụng lý luận vào thực tiễn của đảng ta.Với tư cách là thế hệ tiếp bước tương lai của đất nước,tiếp tục kế thừa và phát huy “tài sản” của Ông cha đã để lại ,chèo lái con thuyền “đất nước” trên hành trình cập bến “xã hội chủ nghĩa” chúng em muốn đóng góp cho đất nước với tất cả lòng nhiệt huyết và kiến thức mà mình có được trong quá trình học tập,tích lũy vì sự phát triển giàu mạnh của tổ quốc.Đề tài nghiên cứu lý luận trong phạm vi sự vận dụng lý luận hình thái kinh tếxã hội của chủ nghĩa MácLênin trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam.Để nghiên cứu làm rõ các khía cạnh của đề tài,thì đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn như:Phương pháp thống kê,phương pháp lịch sử,logic,tổng hợp.Đề tài đóng góp vào làm chứng minh tính đúng đắn của lý luận hình thái kinh tếxã hội chủ nghĩa và sự vận dụng hợp lý có hiệu quả vào thực tiễn của đảng và nhà nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước.Đề tài góp phần bổ trợ thêm cho môn triết học ,từ đó giúp sinh viên hiểu rõ hơn về lý luận hình thái kinh tế xã hội và thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ của mình đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Xem thêm

39 Đọc thêm

Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
Xem thêm

29 Đọc thêm

ĐỀ THI TRIẾT 1,2_VCU

ĐỀ THI TRIẾT 1,2_VCU

ĐỀ THI TRIẾT 1,2_VCU

I. Triết 1
Đề 1:
Câu 1: Nhận thức là gì? Phân tích những nguyên tắc cơ bản của hoạt động nhận thức theo quan điểm duy vật biện chứng? Sự vận dụng lý luận này vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam?
Câu 2: Vì sao nói ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp? Ý nghĩa của vấn đề này đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở VN hiện nay?

Đề 2:
Câu 1: Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức? Ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng vào đời sống thực tiễn hiện nay?
Câu 2: Phân tích khái niệm con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lenin? Ý nghĩa của lý luận này đối với việc xây dựng con người VN nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay?
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn thi triết học và gợi ý trả lời

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI

Câu 1:Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 2: Phân tích cơ sở lý luận của khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Câu3 :Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.Câu 4:Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến.Nguyên tắc toàn diện là gì – các yêu cầu của nguyên tắc toàn diện?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc toàn diện gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 6: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển nguyên lý về sự phát triển.Nguyên tắc phát triểnlà gì – các yêu cầu của nguyên tắcphát triển ?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc phát triểngợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 9: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin. Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nưoc ta hiện nay.Câu10: Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu11: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KTXH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?Câu12:Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người. Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.Câu13:Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?CÂU 14: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin:“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Gợi ý Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học… C. Mác Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hội hình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội; PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung.+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội+ Bản chất con người…+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sửCÂU15: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin:“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Gợi ýGải thích: Luận điểm trên chỉ rõ sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên diễn ra theo các quy luật khách quan mà quy luật cơ bản, quan trọng nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; điều đó có nghĩa, xét tới cùng sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu từ sự phát triển của LLSXKhái niệm HTKT – XH và cấu trúc của HTKT – XHChứng minh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên theo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là được bắt đầu từ sự phát triển của LLSX.CÂU 16: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.Gợi ýGiai cấp là gì?Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt lý luận: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt thực tiễn Dùng thực tế lịch sử để chứng minhCâu 17: Anh ( chị) hãyphân tích quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người và vận dụng các quan điểm này vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.Gợi ýQuan niệm về con người trong triết học Mác:+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội+ Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội+ Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sửVận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay:+ Phải biết quan tâm đến con người bản năng+ Phải biết quan tâm đến lợi ích vật chất của con người+ Phải biết quan tâm đến lợi ích cá nhân,kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể+ Phải biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người trong quá khứ; đồng thời phải biết xây dựng mẫu người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử…Dùng thực tế lịch sử để chứng minhBÀI LÀMCâu 1: Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dung nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Cơ sở lý luận:Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện . Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan. Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải : Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là: Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội...) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.Câu 2: Phân tích cơ sở triết học (lý luận và phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức. Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định . Phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học đời cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của MÁC và Ăngghen .Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức . Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người .Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức, tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất.Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan.Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan .Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như vậy , từ chủ nghĩa MácLênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên.Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước a trãi qua. Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên: Triết học DVBC chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi vạn vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao. Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội:Triết học DVBC chỉ ra rằng, chính lao động và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ . Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn. Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển . Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức. Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó là phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết ... Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ tính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo TGKQ. Ý thức mang bản chất xã hộiKhi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ. Đây là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Liên hệ thực tế: Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 121986). Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn. Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức..” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” một cơ chế gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông. Còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng.Câu 4: AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý‎ luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn?Trả lời: (Tham khảo thêm sách TH P2, trang 70).
Xem thêm

52 Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ - vận DỤNG QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về mối QUAN hệ GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ - VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội. Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị xã hội của đất nước. Do hạn chế về nhận thức, vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cho nên nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải những sai lầm trong quá trình cải tổ, đổi mới. Nước ta, trong thời kỳ đầu việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm triết học Mác Lênin còn ở những mức độ nhất định. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trước thời kỳ đổi mới.
Xem thêm

66 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ CỦA ĐẢNG TA QUA CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ CỦA ĐẢNG TA QUA CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

MỞ ĐẦU

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp là một bộ phận hợp thành hệ thống tư tưởng kinh tế của Người, bao gồm hệ thống những luận điểm lý luận toàn diện và sâu sắc được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những kinh nghiệm, truyền thống đặc sắc của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nền nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu tiến dần lên nền nông nghiệp hiện đại, khoa học – kỹ thuật tiên tiến, có khả năng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp không những có ý nghĩa thực tiễn to lớn, mà còn là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng đã và đang được Đảng và Nhà nước ta vận dụng để xây dựng phát triển nền kinh tế nông nghiệp nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà nó còn có giá trị thực tiễn hết sức sâu sắc. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng nông nghiệp của Hồ Chí Minh để xây dựng thành đường lối phát triển kinh tế nói chung, đường lối phát triển nông nghiệp nói riêng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, tôi lưa chọn tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Sự vận dụng tư tưởng đó vào phát triển kinh tế của Việt Nam
Xem thêm

15 Đọc thêm

Giá trị tư tương Hồ Chí Minh áp dụng tư tưởng HCM

GIÁ TRỊ TƯ TƯƠNG HỒ CHÍ MINH ÁP DỤNG TƯ TƯỞNG HCM

Giá trị tư tương Hồ Chí Minh áp dụng tư tưởng HCM
1. Danh sách nhóm 4: 1.Đỗ Thị Thu Huệ (Nhóm trưởng) 2.Nguyễn Thị Huệ (Thư kí) 3.Vũ Thị Huệ 4.Trần Văn Huy 5.Đinh Thị Huyền 6.Nguyễn Thị Huyền 7.Nguyễn Thị Hương 8.Lê Thị Hương 9.Lê Thị Hương (U2) 10.Phạm Thanh Hương 11.Hà Thế Nhân
2. Đề tài thảo luận: Đề tài 1: Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Cách mạng Việt Nam và Cách mạng thế giới Đề tài 2: Vận dụng những chuẩn mực đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đạo đức lối sống cho sinh viên trường ta hiện nay
3. Đề tài 1: A.Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam I. Giá trị lý luận 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh soisáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam và là ngọn đuốc soi đường thắng lợi cho cách mạnggiải phóng các dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của dân tộc và thời đại, nó trường tồn bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam bởi đó là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Ở luận điểm này, có hai vấn đề cần làm rõ: + Thứ nhất: Tư tưởng HCM bắt nguồn từ chủ nghĩa MácLênin, lấy chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng, nhưng tư tưởng HCM cũng là sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây. + Thứ hai: Tư tưởng HCM là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tính sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ: trung thành với những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin, đồng thời khi nghiên cứu vận dụng những nghuyên lý đó, Hồ Chí Minh mạnh dạn loại bỏ những gì không phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, dám đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đề ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả. Vấn đề này chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh đông”1. Ví dụ như khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lênin một cách sáng tạo, chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn cơ bản của các nước thuộc địa, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc, thực dân thống trị và bè lũ tay sai với toàn thể nhân dân, dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo... Theo Người, ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Đông, do trình độ sản xuất kém phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như ở các nước phương Tây. Từ đó, Người có quan điểm hết sức sáng tạo là gắn chủ nghĩa dân tộc chân chính với chủ nghĩa quốc tế, và nêu lên luận điểm: Chủ
Xem thêm

29 Đọc thêm

tư tưởng hồ chí minh về phương pháp giáo dục và sự vận dụng sáng tạo của đảng ta trong giai đoạn hiện nay tiểu luận cao học

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC VÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

1. Tính cấp thiết của vấn đề
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục đã đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục dân chủ mới cho nước ta. Với hệ thống những luận điểm khoa học rộng lớn, sâu sắc và phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, tư tưởng của Người là một kho tàng những giá trị nhân văn cao cả, tư tưởng đó không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa thiết thực trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục cho quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.
Để giáo dục thực sự trở thành một trong ba khâu “đột phá” của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng là chúng ta phải nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở nước ta nói chung, đổi mới sự nghiệp giáo dục nói riêng. Có như vậy chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta tiến lên một bước mới, xứng đáng với vị trí là “quốc sách hàng đầu”, góp phần quyết định đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tới thành công.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục bao gồm nhiều nội dung, từ các quan điểm về giáo dục toàn diện, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, giáo dục là nền tảng của phát triển kinh tế xã hội… Trong đó nội dung cơ bản nhất của nó nhằm giáo dục đạo lý làm người, đó là xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”, có đức, có tài, có tri thức, sức khỏe, văn hóa, trình độ khoa học – kỹ thuật, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Để chuyển tải nội dung giáo dục có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh, cần thiết phải có phương pháp. Phương pháp giáo dục của Bác đa dạng, phong phú làm cho nội dung giáo dục trở nên vừa sinh động, cụ thể, vừa sâu sắc, dễ thực hiện và dễ đi vào lòng người. Tuy Bác không viết một tác phẩm, một bài nào chuyên về phương pháp, nhưng qua những bài viết ngắn gọn, thiết thực, sinh động và qua quá trình hoạt động cách mạng thực tiễn của người đã toát lên những bài học lớn có ý nghĩa về phương pháp giáo dục. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, theo Hồ Chí Minh: “Muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng.
Hiện nay, trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa Đảng và nhà nước ta đã quán triệt thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng. Thực tiễn, nền giáo dục Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, không mang lại hiệu quả cao trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực. Bởi đã không hiểu rõ và thực hiện một cách nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo về các phương pháp trong giáo dục theo tư tưởng của người. Chính vì vậy, mà tôi đã chọn đề tài: “tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục và sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay”
Tuy nhiên đây là một vấn đề rất rộng lớn mà cá nhân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu nhưng do thời gian và trình độ nghiên cứu của tôi còn hạn hẹp. Vì vậy bài tiểu luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm. Rất mong được nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo cũng như của bạn đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT & KT CHÍNH TRỊ & CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỆ LIÊN THÔNG

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT & KT CHÍNH TRỊ & CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỆ LIÊN THÔNG

Môn Triết Học
Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? ý nghĩa của định nghĩa?
Câu 2: Hãy trình bày nguồn gốc và bản chất của ý thức? Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? ý nghĩa của vấn đề này?
Câu 3 : Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Cho ví dụ? ý nghĩa của quy luật?
Câu 4. Phân tích nội dung quy luật chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại? ý nghĩa của quy luật?
Câu 5. Thực tiễn là gi? Hãy phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? ý nghĩa của vấn đề này?
Câu 6; Trình bày các khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ sản xuất. Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới?
Câu 7: Trình bày khái niệm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Sự vận dụng quy luật này của Đảng ta trong đường lối đổi mới?
Câu 8: Hình thái kinh tế – Xã hội là gì? Tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hộilà một quá trình lịch sử tự nhiên? Vânh dụng vấn đề này trong quá trình xây dưng CNXH ở nước ta?
Câu 9: Hãy trình bày định nghĩa giai cấo của LêNin, các đặc trưng của giai cấp. Tại sao nói đấu tranh giai cấp là một động lực thúc đẩy xã hội có giai cấp phát triển… thực chất của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta ntn?
Câu 10: Trình bày nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, chức năng của nhà nước. Liên hệ với nhà nước XHCN.
Câu 11: Tình bày quan điểm CN Mác-LêNin về bản chất con người.
Câu 12: Trình bày mối quan hệ giưa quần chúng nhân dân và lãnh tụ, vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển lịch sử.
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐÁP ÁN 30 CÂU ÔN TẬP TRIẾT HỌC PHẦN 2

ĐÁP ÁN 30 CÂU ÔN TẬP TRIẾT HỌC PHẦN 2

ĐÁP ÁN 30 CÂU TRIẾT PHẦN 2
Câu 1: Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế gới quan khoa học (TGQKH).
Câu 2: Anh ( chị) hảy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
Câu 3: Đảng ta khẳng định: “mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Anh chị hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó?
Câu 4: Bằng lý luận và thực tiễn, anhchị hãy chứng minh rằng ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo thế giới?
Câu 5: AnhChị hãy phân tích hoàn cảnh xuất hiện, nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng
Câu 8: Nguyên lý? Nguyên tắc? Mối quan hệ giữa chúng. AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Câu 10: Phân tích nội dung quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó.
Câu 11: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phụ định và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận.
Câu 12: Bằng lý luậnvà thực tiễn. Anh chị hãy chứng minh rằng cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới luân là qúa trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ.
Câu 13: Anh Chị hãy giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm”
Câu hỏi 14: Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử cụ thể (LSCT) là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc LSCT.
Câu 15. Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng?
Câu 16: Lý luận? thực tiễn? Anh chị hãy phân tích những yêu cầu cơ bản của
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Câu 18: AnhChị hãy nêu ra những nguyên nhân cơ bản của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải quán triệt nguyên tắc nào trong triết học Mác – Lênin? Phân tích các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc đó.
Câu 19: Anhchị hãy phân tích những tiền đề xuất phát mà Các Mác dựa vào để xây dựng lý luận hình thái kinh tế, xã hội?
Câu 20: Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
CÂU 21: Anh Chị hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến triến thượng tầng (KTTT). Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào vào quá trình xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay.
Câu 22: Anh (chị) hãy phân tích tư tưởng của Mac: “sự phát triển hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên”
Câu 23: Anh(chị) hãy phân tích ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của học thuyết HTKTXH
Câu 24: Phân tích Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Câu 25: AnhChi hay phan tich nhung cong hien to lon cua C.Mac, Ph.Angghen va V.I.Lenin vao su phat trien ly luan ve giai cap va dau tranh giai cap?
CÂU 26: Anhchị hãy trình bày quan điểm mácxít về đấu tranh giai cấp và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay như thế nào?
Câu 27: Anh chị hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nhà nước pháp quyền tư sản?
Câu 28: Phân tích vai trò của Nhà Nước đối với quá trình phát triển kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Câu 29. AnhChị hãy phân tích quan điểm của triết học MacLênin về bản chất con người và về vấn đề giải phóng con người.
Câu 30: Anh chị hãy trình bày mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của việc xây dựng con người Việt Nam đáp ứng giai đoạn cách mạng hiện nay?
Xem thêm

45 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH HỆ QUẢ CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA NƯỚC TA

TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH HỆ QUẢ CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA NƯỚC TA

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, dưới tác động của các nhân tố thời đại. Toàn cầu hoá trở thành một xu thế khách quan với những hiện tượng sôi động, phức tạp, tác động và diễn ra ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Những năm gần đây toàn cầu hoá được bàn luận sôi nổi trên thế giới cũng như ở nước ta, nó trở thành vấn đề trung tâm của lý luận và có ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, trong điều kiện chúng ta mở cửa, tham gia hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nghiên cứu hệ quả của toàn cầu hoá và tác động ảnh hưởng của nó đối với quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực của nước ta là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, thông qua đó để chúng ta nhận thức và thực hiện tốt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN GIÁO DỤC CÔNG DÂN: HỌC SINH PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT

TIỂU LUẬN GIÁO DỤC CÔNG DÂN: HỌC SINH PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.Trong xu thế phát triển của thế giới hiện nay, cả dân tộc ta đang nỗ lực thực hiện một nhiệm vụ hết sức quan trọng là “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” . Để thực hiện được nhiệm vụ lớn lao này, một trong những vấn đề vừa cấp bách vừa mang tính chiến lược hiện nay là cần phải xây dựng một nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
1.2. Qua khảo sát thực tế cho thấy phong trào đổi mới phương pháp dạy học bước đầu đã thu được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, bên cạnh những giáo viên nghiêm túc, tâm huyết với nghề, năng động, mạnh dạn tìm tòi, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực thì cũng còn một bộ phận không nhỏ giáo viên chưa chịu cải tiến phương pháp dạy học: phương pháp chủ đạo trong dạy học vẫn là diễn giảng, thuyết trình; vẫn còn hiện tượng “đọc chép” trong các giờ dạy; giáo viên vẫn ôm đồm kiến thức, làm việc quá nhiều mà chưa tạo điều kiện, chưa hướng dẫn và khích lệ học sinh làm việc, hay nói cách khác, học sinh vẫn hoàn toàn thụ động trong quá trình tiếp nhận kiến thức.
1.3.Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu, vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp đặc trưng bộ môn GDCD, phù hợp với nội dung từng phần, lựa chọn phương pháp phù hợp với từng bài dạy, từng tiết dạy nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh khả năng hợp tác trong tập thể, rèn luyện kỹ năng biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, đem lại niềm vui và sự hứng thú trong từng tiết học. Trong hệ thống các phương pháp dạy học có thể vận dụng trong dạy học môn GDCD thì phương pháp tình huống là phương pháp dạy học tích cực, đáp ứng được yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, có tác dụng phát huy tư duy sáng tạo, nghiên cứu, tìm tòi giải quyết những vấn đề đặt ra trong học tập đồng thời rèn luyện kỹ năng biết vận dụng kiến thức áp dụng vào đời sống. Một trong những nội dung chủ yếu của môn GDCD ở THPT là trang bị hệ thống tri thức cơ bản, phổ thông, thiết thực về pháp luật cho học sinh, từ đó hình thành cho các em nhận thức, suy nghĩ, hành động và tuân thủ theo pháp luật.
1.4. Nghiên cứu mục tiêu, nội dung dạy học môn GDCD , chúng tôi thấy rằng, phương pháp tình huống là phương pháp quan trọng và hoàn toàn phù hợp trong dạy học môn GDCD. Thế nhưng so với các phương pháp dạy học khác thì phương pháp này ít được giáo viên quan tâm và chưa có nhận thức đúng đắn về vai trò vị trí của của các phương pháp đó. Trong thực tế, ít giáo viên biết tổ chức cho học sinh nghiên cứu tình huống thể hiện tình huống theo một qui trình hợp lý, phù hợp với mục đích, yêu cầu, nội dung bài học, dẫn đến giờ học nặng nề, buồn tẻ, kém hiệu quả. Việc nghiên cứu sử dụng phương pháp tình huống không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay theo hướng tổ chức cho học sinh học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT” làm tiểu luận khoa học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tiểu luận làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp tình huống. Trên cơ sở đó đề xuất quy trình và điều kiện vận dụng phương pháp tình huống nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh THPT nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD góp phần hình thành và phát triển năng lực thực tiễn, thái độ, hành vi đúng đắn cho học sinh.
3. ĐỐI TƯỢNG
Phương pháp dạy học tình huống trong môn GDCD.
Tiến hành ở trường THPT.
4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu áp dụng PPNCTH vào giảng dạy mảng kiến thức pháp luật ở môn Giáo dục công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD.
5. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp tình huống trong dạy học môn GDCD .
5.1.2. Đề xuất quy trình và điều kiện vận dụng phương pháp tình huống nhằm giáo dục pháp luật trong dạy học môn GDCD nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học của bộ môn.

5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về việc Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý thuyết.
Xem thêm

29 Đọc thêm

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
Sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã hội và thịtrường lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tựlực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Đổi mới PPDH là một nhiệm vụ phức hợp, đòi hỏi nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cuốn sách này trình bày một số cơ sở lý luận chung và thực tiễn của đổi mới PPDH, đề xuất một số biện pháp đổi mới PPDH cũng nhưgiới thiệu một số quan điểm, phương pháp và kỹthuật dạy học mới để có thể vận dụng vào việc đổi mới PPDH ở các môn học cụ thể.
Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách giáo dục nói chung cũng như cải cách cấp trung học phổ thông. Mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học mới đòi hỏi việc cải tiến PPDH và sử dụng những PPDH mới. Trong những năm gần đây, các trường THPT đã có những cố gắng trong việc đổi mới PPDH và đã đạt được những tiến bộ trong việc phát huy tính tích cực của HS. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống, đặc biệt là thuyết trình vẫn chiếm một vị trí chủ đạo trong các PPDH ở các trường THPT nói chung, hạn chế việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tựlực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông.
Xem thêm

14 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, PHÒNG CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ HIỆN NAY

TÀI LIỆU THAM KHẢO QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, PHÒNG CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ HIỆN NAY

I. Khái quát về cơ sở lý luận, thực tiễn và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.1. Khái quát về cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, phòng chống tham ô, lãng phí có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu là kết quả của quá trình nghiên cứu và vận dụng đúng đắn sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện Việt Nam.
Xem thêm

28 Đọc thêm

DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ỨNG DỤNG ĐẠO HÀM CỦA HÀM SỐ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT KIẾN TẠO NHẬN THỨC

DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ỨNG DỤNG ĐẠO HÀM CỦA HÀM SỐ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT KIẾN TẠO NHẬN THỨC

MỞ ĐẦU1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa IV, 1993) nêu rõ: Mục tiêu giáo dục đào tạo phải hướng vào việc đào tạo những con người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó mà góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước” (dẫn theo Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên 2005, tr. 1).Về phương pháp giáo dục đào tạo, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VIII, 1997) đã đề ra: Phải đổi mới phương pháp đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu …”.Điều 24, Luật Giáo dục (1998) quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh,…; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.Chương trình môn Toán thí điểm trường THPT (2002) chỉ rõ: Môn Toán phải góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của Toán học cần thiết cho cuộc sống, …; phát triển khả năng suy luận có lý, hợp lôgic trong những tình huống cụ thể …. Sự phát triển của xã hội và công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi một cách cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Nền kinh tế nước ta đang chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Công cuộc đổi mới này đòi hỏi phải có sự đổi mới về hệ thống giáo dục, bên cạnh sự thay đổi về nội dung vẫn cần có những đổi mới căn bản về PPDH. Về thực trạng này, năm 1997 nhà Toán học Nguyễn Cảnh Toàn đã nhận định: “Cách dạy phổ biến hiện nay là thầy đưa ra kiến thức (khái niệm, định lý) rồi giải thích, chứng minh, trò cố gắng tiếp thu nội dung khái niệm, nội dung định lý, hiểu chứng minh định lý, cố gắng tập vận dụng các công thức định lý để tính toán, chứng minh …” 51, tr. 4.GS. Hoàng Tụy phát biểu: “Ta còn chuộng cách dạy nhồi nhét, luyện trí nhớ, dạy mẹo vặt để giải các bài toán oái oăm, giả tạo, chẳng giúp gì mấy đến việc phát triển trí tuệ mà làm cho học sinh thêm xa rời thực tế, mệt mỏi và chán nản … (dẫn theo 54, tr. 25).1.2. Trong cuộc đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng: “Quan điểm chung của đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định là tổ chức cho học sinh được học trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác tích cực, chủ động và sáng tạo mà cốt lõi là làm cho học sinh học tập tích cực, chủ động, hay nói một cách khác giáo viên phải lấy người học làm trung tâm nhằm chống lại thói quen học tập thụ động.Khi nói về mối quan hệ giữa nội dung dạy học và hoạt động, Nguyễn Bá Kim cho rằng: “Mỗi một nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định. Đó là những hoạt động được tiến hành trong quá trình hình thành và vận dụng nội dung đó, phát hiện được những hoạt động tiềm tàng trong một nội dung là vạch ra được con đường để người học chiếm lĩnh nội dung đó và đạt được các mục đích khác và cũng đồng thời là cụ thể hóa được mục đích dạy học có đạt được hay không và đạt đến mức độ nào?”.1.3. Theo M. A. Đanilôp và M. N. Xcatkin: “Quá trình dạy học là một tổ hợp rất phức tạp và năng động những hành động của giáo viên và học sinh. Để có khả năng tổ chức đúng đắn quá trình dạy học và điều khiển nó cần phải hình dung rõ nét cấu trúc và những quy luật bên trong của quá trình dạy học. Đặc biệt quan trọng là phát hiện ra mối liên hệ qua lại giữa việc nắm vững kiến thức với quá trình phát triển những năng lực nhận thức của học sinh„ (9, tr. 6).Bản chất của quá trình học là quá trình nhận thức của học sinh, đó chính là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của học sinh. Quá trình nhận thức của học sinh về cơ bản cũng giống như quá trình nhận thức chung, tức là cũng diễn ra theo quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn”. Tuy nhiên quá trình nhận thức của học sinh có tính độc đáo, đó là nó được tiến hành trong những điều kiện sư phạm nhất định. Theo Nguyễn Hữu Châu thì: “Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà là nhận thức được cái mới cho bản thân, rút ra rừ kho tàng hiểu biết chung của loài người và là quá trình học sinh xây dựng, kiến tạo nên những kiến thức cho bản thân thông qua các hoạt động để thích ứng với môi trường học tập mới“ 4, tr. 205. 1.4. Xuất phát từ đặc điểm của tư duy toán học, đó là sự thống nhất giữa suy đoán và suy diễn: Nếu trình bày lại những kết quả toán học đã đạt được thì nó là một khoa học suy diễn và tính lôgic nổi bật lên. Nhưng, nếu nhìn Toán học trong quá trình hình thành và phát triển, thì trong phương pháp của nó vẫn có tìm tòi, dự đoán, có thực nghiệm và quy nạp. Vì vậy, trong dạy học Toán, phải chú ý tới cả hai phương diện, suy luận chứng minh và suy luận có lý thì mới khai thác được đầy đủ các tiềm năng môn Toán để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. G. Polia cho rằng: Nếu việc dạy Toán phản ánh mức độ nào đó việc hình thành Toán học như thế nào thì trong việc giảng dạy đó phải dành chỗ cho dự đoán, suy luận có lý 37, tr. 6.1.5. Trong những thập kỷ qua, các nước trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu và vận dụng nhiều lý thuyết và phương pháp dạy học theo hướng hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, trong đó có lý thuyết kiến tạo nhận thức của J. Piaget và mô hình dạy học khám phá của J. Bruner.Lý thuyết kiến tạo cho rằng: “Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức” và “Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính người học“. Như vậy, lý thuyết kiến tạo coi trọng vai trò tích cực và chủ động của học sinh trong quá trình học tập để tạo nên tri thức cho bản thân. Từ những quan điểm của lý thuyết kiến tạo có thể tạo ra những cơ hội thuận lợi hơn cho việc áp dụng các phương pháp dạy học mới vào thực tiễn dạy học toán ở trường THPT Việt Nam nhằm phát huy tối đa năng lực tư duy của người học và nâng cao chất lượng dạy học. Trong dạy học khám phá, học sinh được thực hiện những hoạt động trí tuệ như quan sát, phỏng đoán và sắp xếp, điều chỉnh, chứng minh . . . Vì những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “ Dạy học chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số theo hướng tiếp cận lý thuyết kiến tạo nhận thức của J. Piaget và mụ hỡnh dạy học khỏm phỏ của J. Bruner . MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨUMục đích của luận văn là bước đầu vận dụng lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá vào dạy học chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số nhằm nâng cao năng lực nhận thức của học sinh. 3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨULuận văn có nhiệm vụ góp phần làm rõ những vấn đề sau:3.1 Những quan điểm lý luận về hoạt động kiến tạo nhận thức của học sinh trong quá trình học tập và mô hình dạy học khám phá.3.2. Vị trí chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số trong môn Toán và thực trạng dạy học của chủ đề trên hiện nay ở trường THPT.3.3. Xây dựng một số biện pháp dạy học nội dung “Ứng dụng đạo hàm của hàm số” theo quan điểm lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá nhằm nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh.3.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp được đề xuất trong đề tài luận văn.4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌCTrên cơ sở chương trình và sách giáo khoa hiện hành, nếu người thầy giáo biết quan tâm, khai thác và vận dụng các biện pháp sư phạm theo hướng tiếp cận lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá thì sẽ nâng cao năng lực nhận thức của học sinh và từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường THPT.5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU5.1. Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về các lĩnh vực như: Toán học, Phương pháp dạy học môn Toán, Giáo dục học, Tâm lí học, ... có liên quan đến đề tài luận văn.5.2. Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát thực trạng dạy và học môn Toán nói chung và chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số nói riêng ở một số địa phương trong nước.5.3. Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá đã đề xuất.6. ĐÓNG GÓP LUẬN VĂN6.1. Về mặt lý luận: Hệ thống hoá các cơ sở khoa học và các quan điểm chủ đạo về Lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá; xác định rõ vai trò của việc nâng cao năng lực nhận thức tích cực cho học sinh (thể hiện qua việc dạy học chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số).6.2. Về mặt thực tiễn: Xây dựng được một số biện pháp vận dụng Lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá vào dạy học chủ đề ứng dụng đạo hàm nhằm nâng cao năng lực nhận thức tích cực cho học sinh Có thể sử dụng luận văn để làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Toán nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường phổ thông.7.CẤU TRÚC LUẬN VĂNLuận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, có 3 chươngCHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1. Một số vấn đề Lý thuyết về học tập và mô hình dạy học1.1.1. Khái niệm về học tập1.1.2. Một số phương thức học chủ đạo1.1.3. Một số cơ chế học cơ bản1.2. Một số lý thuyết tâm lý học phát triển và mô hình dạy học1.2.1. Thuyết liên tưởng và mô hình dạy học thông báo1.2.2. Thuyết liên tưởng và mô hình điều khiển hành vi1.2.3. Lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá1.2.4. Một số vấn đề về lý thuyết tình huống1.3. Thực trạng dạy học chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số1.4. Kết luận chương 1CHƯƠNG 2: DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ỨNG DỤNG ĐẠO HÀM CỦA HÀM SỐ THEO HƯỚNG VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VÀ MÔ HÌNH DẠY HỌC KHÁM PHÁ2.1. Vị trí của chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số2.1.1. Giới thiệu chương trình Giải tích 122.1.2. Vị trí của chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số2.2. Một số biện pháp vận dụng Lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá2.2.1. Các nguyên tắc để xây dựng các biện pháp2.2.2. Các biện pháp sư phạm nhằm vận dụng lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá trong dạy học2.2.3. Một số bài soạn theo hướng vận dụng lý thuyết kiến tạo và mô hình dạy học khám phá vào dạy học chủ đề ứng dụng đạo hàm của hàm số2.3. Kết luận chương 2CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1. Mục đích thực nghiệm 3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm 3.2.1. Tổ chức thực nghiệm 3.2.2. Nội dung thực nghiệm 3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm 3.3.1. Đánh giá định tính 3.3.2. Đánh giá định lượng 3.4. Kết luận chung về thực nghiệm Kết luận Tài liệu tham khảo
Xem thêm

89 Đọc thêm

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa đã trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm l¬ược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách trong cuộc đấu tranh dựng nư¬ớc và giữ nư¬ớc. Đại hội lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) của Đảng Cộng sản đã thông qua Cư¬ơng lĩnh xây dựng đất n¬ước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó Cương lĩnh đã xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc tr¬ưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nh¬ư vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này đánh dấu sự phát triển ,tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng.Vận dụng những quan điểm lãnh đạo của Đảng, ngày nay, mỗi doanh nghiệp đều tạo dựng cho mình một nét văn hóa riêng, tạo nên bản sắc của doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh tự nó là một nhu cầu của văn minh thị trường và là đòi hỏi của sự phát triển. Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu vừa là thách thực lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong xu hướng phát triển, gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay. Xây dựng một nền văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến chính là nội dung, biện pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng, củng cố lại nội tại, tạo tư thế mới làm tiền đề và điểm tựa cho việc hội nhập của mỗi doanh nghiệp
Xem thêm

48 Đọc thêm

ĐÀO TẠO NGHỀ MAY THỜI TRANG TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG THEO CHUẨN ĐẦU RA

ĐÀO TẠO NGHỀ MAY THỜI TRANG TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG THEO CHUẨN ĐẦU RA

Thực tiễn đào tạo nghề May thời trang trong hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn xa rời thực tiễn sản xuất. Ở đây, nhà trường và giáo viên vẫn tổ chức quá trình đào tạo và sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống trong đào tạo nghề; phương pháp đào tạo nghề vẫn chưa tiếp cận khả năng thực hiện các hoạt động theo chuẩn đầu ra, chưa bám sát thực tiễn sản xuất. Các nghiên cứu về đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp dạy học thường được nghiên cứu tập trung ở trình độ đại học. Ở các trình độ đào tạo thấp hơn (cao đẳng, trung cấp) thì ít có công trình nghiên cứu để có thể vận dụng vào quá trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp và xã hội, đặc biệt là đào tạo nghề theo chuẩn đầu ra.
Vấn đề đào tạo nghề theo chuẩn đầu ra vẫn chưa được nghiên cứu nhiều trong lý luận dạy học và vận dụng trong đào tạo nghề May thời trang trình độ cao đẳng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn chưa được nghiên cứu triển khai một cách bài bản và khoa học. Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài: “Đào tạo nghề May thời trang trình độ cao đẳng theo chuẩn đầu ra” nhằm góp phần xây dựng cơ sở lý luận về đào tạo nghề theo chuẩn đầu ra nói chung và đào tạo nghề May thời trang trình độ cao đẳng nói riêng
Xem thêm

198 Đọc thêm

Cùng chủ đề