MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG VÀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mâu thuẫn biện chứng và sự thống nhất giữa các mặt đối lập":

QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VỚI MÂU THUẪN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY

QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VỚI MÂU THUẪN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY

MỤC LỤC
I. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 4
1. Quan điểm của chủ nhĩa duy vật về mâu thuẫn 4
2. Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển 7
II. Quy luật mâu thuẫn với hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại 8
1. Khái quát tình hình hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay 8
2. Những biểu hiện mâu thuẫn trong hệ thống ngân hàng 9
3. Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam sau khi có sự chuyển hóa của các mặt đối lập 17


I. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
1. Quan điểm của chủ nhĩa duy vật về mâu thuẫn
Nhận thức duy vật biện chứng về mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác là nhận thức đúng đắn nhất, nó đã phát triển thành một quy luật Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt các mặt đối lập. quy luật thống nhất và đâu tranh giữa các mặt đối lập là “hạt nhân” của phép biện chứng. Theo V.I.Lenin, “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó còn đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đôi lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển. Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động. phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng.
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượngtrong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong.Mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau. Những mặt này đối lập với nhau nhưng lại liên hệ ràng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn chẳng những là một hiện tượng khách quan mà còn là một hiện tượng phổ biến. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Không có sự vật hay hiện tượng nào lại không có mâu thuẫn và không có giai đoạn nào trong sự phát triển của sự vật, hiện tượng lại không có mấu thuẫn.
Mâu thuẫn này mất đi, mâu thuẫn khác lại hình thành. Theo Ph.Ăngghen,ngay hình thức đơn giản nhất của vật chất vận động cơ học, đã là một mâu thuẫn. Sở dĩ sự di động một cách máy móc và đơn giản ấy có thể thực hiện được chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa là ở nơi này, lại vừa ở nơi khác, vừa là ở trong một chỗ duy nhất, lại vừa không ở chỗ đó. Tất nhiên sự tồn tại của vật chất ở những hình thức vận động cao hơn lại càng bao hàm mâu thuẫn. Trong lĩnh vực tư duy cũng vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn, chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng khiếu nhận thức vô tận ở bên trong con người với sự tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng khiếu nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp giữa các thê hệ, sự nối tiếp đó rút ra với chúng ta, thực tế cũng là vô tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận.
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong một thể thống nhất
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó. Do đó, cần phải phân biệt rằng bất kì hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. trong cùng một thời điểm, mỗi sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại nhiều mặt đối lập. Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ phủ định và chuyển hóa lẫn nhau ( sự chuyển hóa này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật), có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn thống nhất, được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đứng cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định ràng buộc lân nhau, mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại. Bởi vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được cho sự tôn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào. Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo nên. Ví dụ: Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trường là điều kiện cho sự tổn tại của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, hai nền kinh tế khác nhau hoàn toàn về bản chất và những biểu hiện của nó nhưng nó lại hết sức quan trọng. Vì nó có sự thống nhất này nên nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể tổn tại với ý nghĩa là chính nó.
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấu tranh chuyển hóa giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điều chỉnh chuyển hóa lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hóa, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của một mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến hành độc lập. Sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành. Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hóa tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới xuất hiện. Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên cao. Vì vậy, Lênin khẳng đỊnhsự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Xem thêm

17 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ CHUYỂN HÓA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ CHUYỂN HÓA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG

Nghiên cứu quy luật hạt nhân của phép biện chứng chúng ta có thể kháiquát nội dung của quy luật như sau: mỗi sự vật hay hiện tượng là một thể thốngnhất bao gồm hai mặt đối lập. Hai mặt đối lập này đấu tranh với nhau, bài trừ lẫnnhau, làm cho sự vật, hiện tượng luôn vận động , phát triển không ngừng. Quátrình đấu tranh đó diễn ra thông qua nhiều giai đoạn, đến một lúc nhất định haimặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau, khi đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũmất đi, sự vật mới ra đời.Lê nin khi bàn về các yếu tố cấu thành phép biện chứng đã khẳng địnhnguyên lý về sự chuyển hoá của các mặt đối lập như sau: “không phải chỉ là sựthống nhất của các mặt đối lập mà còn là chuyển hoá của mỗi quy định, chấtđặc trưng , mặt, thuộc tính sang mỗi cái khác [sang cái đối lập với nó]”1.Vấn đề đặt ra là hiểu sự chuyển hoá dó như thế nào cho đúng ?Trước hết cần chú ý rằng “chuyển hoá” là một phạm trù triết học với tínhchất trừu tượng cao, nó khái quát những hiện tượng chuyển hóa muôn hình muônvẻ của sự vật khách quan. Nên không được hiểu khái niệm đó một cách đơn giảnmáy móc. Sự chuyển hóa diễn ra đa giạng, Tuỳ theo từng sự vật có mâu thuẫnkhác nhau mà sự chuyển hoá của các mặt đối lập cũng diễn ra một cách khácnhau. Ở mỗi trường hợp riêng biệt lại phải giải thích sự chuyển hoá cụ thể củanhững mặt đối lập đúng như trong thực tế diễn ra . tuyệt đối không được coi mọisự chuyển hoá đồng loạt như nhau . Ở những trường hợp cụ thể có những sựchuyển hoá cụ thể. Phương thức chuyển hoá lẫn nhau là hết sức phong phú và đadạng. Tính chất phong phú và đa dạng này, một mặt là do tính chất của mâuthuẫn, mặt khác là do tính chất của điều kiện lịch sử trong đó diễn ra cuộc đấutranh giữa các mặt đối lập quy định. Nhưng bất cứ cuộc đấu tranh nào cũnghướng tới sự phá vỡ sự thống nhất cũ để thiết lập sự thống nhất mới cao hơn, vàvì thế, bất cứ sự chuyển hoá nào cũng không phải là sự chuyển đổi vị trí giản đơngiữa hai mặt đối lập. Tuy nhiên suy đến cùng tất cả đều là sự chuyển hóa của các1Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va. 1981 trang 240.
Xem thêm

21 Đọc thêm

 PHÂN TÍCH Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU NỘI DUNGQUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

PHÂN TÍCH Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU NỘI DUNGQUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

Một vài ví dụ cơ bản về mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Trong tự nhiên, khicoi con người là 1 sự vật, thì giữa đồng hóa và dị hóa, giữa biến dị và di truyền,hấp thụ và bài tiết là các mặt đối lập. Khi coi một xã hội Tư bản là một sự vật, mâuthuẫn giữa Vô sản và Tư sản, mâu thuẫn giữa Giai cấp bóc lột và bị bóc lột, Giaicấp thống trị và giai cấp bị trị, sản xuất và tiêu dùng, là hai mặt đối lập.Trong tưduy: biết và chưa biết, chân lý và sai lầm, biết sâu sắc và biết nông cạn, là các mặtđối lập. Hai sự vật đối lập: Ngành công nghiệp và nông nghiệp: đòi hỏi giữa nhucầu công nghiệp phải đáp ứng về máy móc và nông nghiệp mâu thuẫn về khả năngđáp ứng. Kinh tế và quốc phòng: Kinh tế đáp ứng nhu cầu quốc phòng.Mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.Theo Ph.Ăngghen : “ nếu bản thân sự di động một các máy móc đơn giản đã chứađựng mâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất vàđặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phảichứa đựng mâu thuãn… sự sống trước hết là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừalà nó nhưng lại là vừa một cái khác. Như vậy, sự sống củng là một mâu thuẫn tồntại trong bản thân các sự vật và các quá trình , một mâu thuẫn thường xuyên nảysinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống củng không còn nữavà cái chết xảy đến. Cũng như chúng ta đã thấy rằng trong lĩnh vực tư duy, chúngta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng lực nhậnthức vô tận ở bên trong của con người với sự tòn tại thực tế của năng lực ấy trongnhững con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh ben ngoài, và bị hạn chế, trong nhữngnăng lực nhận thức, - mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thếhệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chung ta trên thực tiễn, cũng là vô tận, - và được giảiquyết trong sự vận động đi lên vô tận”.Mâu thuẫn không những có tính khách quan, tính phổ biến mà còn có tínhđa dạng , phong phú. Tính đa dạng của mâu thuẫn được biểu hiện đa dạng ở chỗ :mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khácnhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhan; chúnggiữu vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động, và phát triển của sự vật.
Xem thêm

9 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT - SỰ CHUYỂN HÓA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG

TIỂU LUẬN TRIẾT - SỰ CHUYỂN HÓA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng. Đồng thời là một trong những phạm trù trung tâm của triết học Mác Lê nin nói chung, của chủ nghĩa duy vật hiện đại nói riêng. Hiểu về phép biện chứng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn khi nghiên cứu về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong phép biện chứng, Lênin đã viết “ có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là một học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là hiểu được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” .
Xem thêm

22 Đọc thêm

NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VỚI VIỆC PHÂN TÍCH CÁC MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VỚI VIỆC PHÂN TÍCH CÁC MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

an toàn. Tính chất không rõ ràng, thiếu xác định trên cả phương diện kinh tế - xã hộidường như đang rất phổ biến, rất đặc trưng cho các quan hệ trong nền kinh tế nướcta. Do vậy quá trình chuyển hoá này vấp phải rất nhiều mâu thuẫn nội tại.2. NHỮNG MÂU THUẪN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ TỪ CƠ CHẾTẬP TRUNG QUAN LIÊU BAO CẤP SANG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆTNAM.2.1. Trước hết, cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết vĩ nền kinh tế do sự tác độngcủa các quy luật vốn có của nã.Cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ những sù Thích ứng lẫn nhau, điều tiết lẫnnhau của các yếu tố: giá cả, cung, cầu, cạnh tranh...cơ chế thị trường với những quyluật khó nắm bắt, thường biểu hiện như là một cơ chế tự phát hơn, tự nhiên hơn vànằm xa sù chi phối của con người hơn. Trong các giai đoạn quá độ, chuyển tiếp, yếutố tự phát thể hiện vai trò của mình mạnh hơn yếu tố tự giác. Bởi vậy, nền kinh tếnước ta hiện nay, việc nắm được các yếu tố tự phát, tự giác của nền kinh tế, hiểuđược phương thức hoặc tìm ra phương pháp kiểm soát thích hợp là điều rất có ýnghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có quá nhiều hiện tượng, quá trình mà ta cònbuông lỏng sự kiểm soát hoặc chưa thực sự đủ khả năng kiểm soát. Sản xuất hànghoá cùng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường không đốilập với chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường được xem là khách quan tất yếu vớicông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Tuy nhiên nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta cũng hiểu rõthêm bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội: Nó có khảnăng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội nhưng tăng trưởng kinh tếchưa hẳn nhất thiết đi liền với sự tiến bộ xã hội. Do vậy, sự chuyển dịch cơ chế tậptrung - bao cấp sang cơ chế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước.2.2. Những mâu thuẫn biện chứng của nền kinh tế thị trường:Thứ nhất: ta xét đến mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
Xem thêm

12 Đọc thêm

Sự đấu tranh, thống nhất và kết hợp giữa các mặt đối lập

SỰ ĐẤU TRANH, THỐNG NHẤT VÀ KẾT HỢP GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

Sự đấu tranh, thống nhất và kết hợp giữa các mặt đối lập trong đường lối đổi mới đất nước cũng như vận dụng trong kinh doanh. Đây là một bài tiểu luận nghiên cứu về sự đấu tranh, thống nhất và kết hợp giữa các mặt đối lập dựa trên các tài liệu tham khảo.

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT CAO HỌC: Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong toán học Một số vận dụng vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy toán phổ thông

TIỂU LUẬN TRIẾT CAO HỌC: SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG TOÁN HỌC MỘT SỐ VẬN DỤNG VÀO HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY TOÁN PHỔ THÔNG

Trong lịch sử hình thành, phát triển của triết học và toán học cho chúng ta thấy chúng có mối quan hệ biện chứng sâu sắc với nhau. Mối quan hệ đó cũng được thể hiện qua câu nói của nhà toán học Pháp Emile Picard : “Abel cũng như những bậc thầy khác đã làm cho Toán học trở thành một thứ triết học trong sáng với logic chặt chẽ, suy diễn chính xác không thể chê vào đâu được”. Như vậy, toán học đã tác động mạnh mẽ và tích cực vào triết học, ngược lại triết học không chỉ đóng vai trò định hướng mà còn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của toán học. Vì vậy việc nghiên cứu và nắm vững phép biện chứng duy vật có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, đặc biệt trong công tác giảng dạy và nghiên cứu toán học. Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu. Vì thế, khi được dịp nghiên cứu và tiếp cận Triết học Mác – Lênin ở một góc độ sâu hơn, tôi đã tìm hiểu và nhận ra được rất nhiều điều bổ ích từ chính việc nghiên cứu này. Đặc biệt là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Đó là lí do tôi muốn chia sẽ cùng các bạn qua tiểu luận: “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong toán học Một số vận dụng vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy toán phổ thông”. Lý luận và thực tiễn được thể hiện ở rất nhiều vấn đề, lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong phạm vi đề tài nhỏ này chúng ta sẽ cùng xem xét, phân tích để làm rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở một số khía cạnh có ích trong việc nhận thức toán học và vài vận dụng trong thực tiễn dạy học toán. Đồng thời qua các ví dụ trong tiểu luận, tôi cũng muốn nhắn với các bạn là toán học có rất nhiều điều thú vị và nó thể hiện rất nhiều trong cuộc sống xung quanh chúng ta.Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, lời cảm ơn thì tiểu luận bao gồm 3 chương như sau:Chương 1: Lý luận và thực tiễn trong phép biện chứng duy vậtChương 2: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện trong toán học.Chương 3: Vận dụng vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy toán phổ thông.
Xem thêm

18 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ CHUYỂN HÓA CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ CHUYỂN HÓA CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Phép biện chứng là một khoa học triết học, xét trên nhiều phương diện, nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học. Như vậy, lịch sử phép biện chứng hình thành, phát triển từ khi triết học ra đời, mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng mácxít. Phép biện chứng duy vật mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy. Nó là chìa khoá để giúp con người nhận thức và chinh phục thế giới.
Xem thêm

30 Đọc thêm

MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT ĐỘNG LỰC CỦA KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM

MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT ĐỘNG LỰC CỦA KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM

gắt với trật tự bình thờng của đời sống xã hội.Thực ra các vấn đề XH của nền kinh tế thị trờng nhất là nền kinh tế thị trờngcòn quá sơ khai , quá độ lại co mức độ tăng trởng nhanh là điều rát khóthành. Nh vậy chúng ta buộc phải chấp nhận mặt trái của nền kinh tế thị trờng ,nhất là nền kinh tế thị trờng còn sơ khai ,quá độ lại có mức tăng trởngnhanh là điều rất khó tránh.Nh vậy chúng ta buộc phải chấp nhận mặt tráicủa nền kinh tế thị trờng ở mức nào đó,để từng bớc nâng cao chất lợng vàhiệu quả của nền sản xuất xã hội,chúng ta có những chính sách và biện phápnhất định với một số lĩnh vực kinh tế -xã hội nh lĩnh vực giáo dục và đàotạo,bảo vệ môi trờng .. .Cũng phải thừa nhận rằng các vấn đề nói trên dù ít dùnhiều cũng là vấn đề của bản thân cơ chế quản lý.Trong nền kinh tế hiện naycơ chế quản lý đang ở giai đoạn hình thành nên thờng là không đồng bộ.Chúng ta cha thật sự tạo ra môi trờng an toàn và ổn định cho sản xuất vàkinh doanh.Cơ sở hoạt động pháp lý .Tính chất không rõ ràng,thiếu xác địnhcả trên phơng diện kinh tế xã hội dờng nh đang là một cái gì đó rất phổ biếnrất đặc trng cho quan hệ trong nền kinh tế nớc ta.Cần thiết phải lu ý rằngkhác với cơ chế hành chính bao cấp cơ chế thị trờng là quy luật khách quankhó nắm bắt của mình thờng biểu hiện ra nh là một cơ chế tự phát hơn,tựnhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con ngời Những điều này không nói lênnhững giới hạn có thể có của sức mạnh con ngời ,mà nó chỉ cho biết một đặctrng của cơ chế thị trờng .Đặc trng này đòi hỏi thể quản lý phải hiểu biết sâu13sắc hơn về tính khách quan của các quy luật thị trờng.Đơng nhiên đòi hỏinày không hề giản đơn,nhất fà trong giai đoạn quá độ có sự tồn tại đan xengiữa các cơ chế ở nớc ta hiện nay .Vấn đề là ở chỗ bản thân cơ chế thị trờngdờng nh tự phát hơn ,trong khi đó nó lại đợc hoạt động ở một điều kiện màcác yéu tố tự phát có khả năng tác động mạnh mẽ hơn .Trong các giai đoạnquá độ chuyển tiếp yếu tố tự phát thể hiện vai trò của mình mạnh hơn yếu tố
Xem thêm

29 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội , nhằm tìm ra các quy luật của đối tượng nghiên cứu. Mục đích cơ bản của Triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận.
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội , hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy. Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức ( tinh thần ) là vấn đề cơ bản của Triết học.
Vấn đề cơ bản của Triết học là vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy , giữa vật chất và ý thức . Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của Triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học.
Nó có 2 mặt : Mặt thứ nhất là giải quyết vấn đề vật chất và ý thức , cái nào có trước, cái nào có sau; Mặt thứ hai giải quyết vấn đề con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không. Tùy theo cách giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản mà các nhà Triết học chia làm hai phe chính : những người theo chủ nghĩa duy tâm và những người theo chủ nghĩa duy vật.
Tùy theo cách giải quyết mặt thứ hai mà mà các nhà Triết học chia thành những người thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới ( khả tri ) và những người phủ nhận khả năng ấy ( bất khả tri)
Triết học ra đời rất sớm , ngay từ khi mới ra đời , Triết học đã phân làm hai phe đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm , và sự đấu tranh giữa hai phe ấy đã trở thành quy luật phát triển của Triết học. Cùng với cuộc đấu tranh ấy, trong quá trình phát triển của Triết học cũng xuất hiện và ngày càng biểu hiện sâu sắc hơn sự đối lập giữa hai phương pháp tư duy : biện chứng và siêu hình
Xem thêm

23 Đọc thêm

TIỂU LUẬNNHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLENIN

TIỂU LUẬNNHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLENIN

Chương I: Chủ nghĩa duy vật biện chứngSự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việcgiải quyết vấn đề cơ bản của triết họcDựa trên tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph.Ăngghen cho rằng:“Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiệnđại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”(C.Mác vàPh.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20,tr.403), hay giữa ý thức với vật chất.Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:Mặt thứ nhất, (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệgiữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước,cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?Mặt thứ hai, (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con ngườicó khả năng nhận thức thế giới hay không?Việc giải quyết vấn hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phátđiểm của các trường phái lớn: chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duyvật; khả tri luận (thuyết có thể biết) và bất khả tri luận (không thểbiết). Ngoài ra còn có chủ nghĩa nhị nguyên và hoài nghi luận.Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm:bản chất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức làtính thứ hai; vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức.Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học cho rằng: bản chất củathế giới là tinh thần; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai;ý thức có trước và quyết định vật chất.4Chủ nghĩa duy tâm có hai trào hình thức cơ bản là Chủ nghĩa duy
Xem thêm

14 Đọc thêm

CÂU HỎI THẢO LUẬN HP1 2015

CÂU HỎI THẢO LUẬN HP1 2015

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
BỘ MÔN NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN





TÀI LIỆU THAM KHẢO
MÔN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
HỌC PHẦN 1


Người soạn: Lê Văn Hùng
Tài liệu được soạn trên cơ sở giáo trình và tham khảo nhiều tài liệu khác;
Tài liệu không có giá trị chứng nhận bản quyền tác giả;
Lưu hành nội bộ.







HÀ NỘI, 2013

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
I. Khái lược về chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Chủ nghĩa Mác Lênin và ba bộ phận cấu thành
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác (Karl Marx 1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (Friedrich Egels, 1820 1895) xây dựng, V. I. Lênin (Vladimir Ilich Lênin 1870 1924) bảo vệ và phát triển; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.
Nội dung của chủ nghĩa Mác Lênin bao gồm 3 bộ phận lý luận là:
+ Triết học Mác Lênin
+ Kinh tế chính trị Mác Lênin
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học
Đối tượng, vị trí, vai trò và tính thống nhất của 3 bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác Lênin
+ Triết học Mác Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.
+ Kinh tế chính trị Mác Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học là sự vận dụng thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác Lênin vào việc nghiên cứu những quy luật khách quan của quá trình cách mạng XHCN – bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản.
Ngày nay có nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác Lênin là học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất và chân chính nhất để thực hiện lý tưởng đó.
2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin
a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Điều kiện về kinh tế xã hội
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ trên nền tảng cuộc cách mạng công nghiệp (trước tiên được thực hiện ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII). Cuộc cách mạng công nghiệp này đã đem lại:
+ Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên cơ sở phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, đánh dấu bước chuyển từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
+ Làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội mà trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.
+ Sự phát triển chủ nghĩa tư bản càng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển cao và mang tính chất xã hội hoá sâu sắc với quan hệ sản xuất tư bản, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn này là mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ngày càng gay gắt. Từ đó dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp tư sản: Ở Pháp có khởi nghĩa của công nhân dệt ở Liông 1831 và 1834; ở Anh có phong trào Hiến Chương (10 năm) vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XIX; Đức có phong trào đấu tranh của công nhân dệt ở Xilêdi => Những phong trào đấu tranh trên là bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.
+ Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại, nó đặt ra yêu cầu khách quan là cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng nhu cầu khách quan đó, đồng thời chính thực tiễn cách mạng đó cũng trở thành tiền đề cho sự khái quát và phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác.
Tiền đề lý luận
Chủ nghĩa Mác ra đời là sự kế thừa di sản lý luận của nhân loại mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh.
Triết học cổ điển Đức (G.W. Ph.Hêghen, và L.Phoiơbắc)
> Triết học cổ điển Đức (triết học của Hêgghen và Phoiơbắc) đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.
+ Hêghen:
> Công lao của Ph.Hêghen: phê phán phương pháp siêu hình; là người đầu tiên diễn đạt được nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua hệ thống các quy luật, phạm trù
> Hạn chế trong triết học Hêgghen: hệ thống triết học của ông mang tính chất duy tâm thần bí. Vì vậy, phép biện chứng của ông cũng chỉ là biện chứng của tư duy.
> C.Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất duy tâm thần bí và kế thừa phép biện chứng của Hêghen để xây dựng nên phép biện chứng duy vật.
+ L.Phoiơbắc:
> Công lao của L.Phoiơbắc: đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII XVIII; khẳng định quan điểm duy vật triệt để trong lĩnh vực tự nhiên: Giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn và không phụ thuộc vào ý thức con người.
> Hạn chế trong triết học Phoiơbắc: duy tâm về lĩnh vực xã hội; chủ nghĩa duy vật của ông mang tính chất siêu hình (chưa triệt để)
> Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất siêu hình, đánh giá cao chủ nghĩa duy vật vô thần của ông, đây là tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường của chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen đã lọc bỏ tính chất duy tâm thần bí, kế thừa phát triển phép biện chứng trong triết học Hêghen, đồng thời, lọc bỏ tính siêu hình và kế thừa phát triển chủ nghĩa duy vật trong triết học Phoiơbắc, kết hợp chúng để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học. Do vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng của C. Mác và Ph. Ăngghen đã phản ánh đúng đắn sự tồn tại khách quan, biện chứng của thế giới.
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (A. Xmít, Đ. Ricácđô)
+ A.Xmít và Đ.Ricácđô
> Công lao lịch sử của A.Xmít và Đ.Ricácđô: là những người mở đầu xây dựng lý luận về giá trị lao động trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế chính trị học; đưa ra nhiều kết luận quan trọng về giá trị và nguồn gốc của lợi nhuận, tính chất quan trọng của quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan.
> Hạn chế về phương pháp nghiên cứu: không thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hoá và sản xuất hàng hoá; không thấy được tính hai mặt của sản xuất hàng hoá; không phân biệt được sản xuất hàng hoá giản đơn với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
> C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ, đồng thời giải quyết những bế tắc mà các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua. Từ đó C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng nên: lý luận về giá trị thặng dư; luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến sự diệt vọng tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (H.Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen)
+ Công lao lịch sử của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng: thể hiện đậm nét nhân văn, đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và vạch trần nỗi khốn khổ của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản về xã hội tương lai.
+ Hạn chế: không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản; không phát hiện được quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản; chưa nhận thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng một xã hội mới bình đẳng, không có bóc lột.
+ C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và kế thừa những mặt tích cực, đặc biệt là quan điểm đúng đắn về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.
Tiền đề khoa học tự nhiên
Những thành tựu của khoa học tự nhiên vừa là tiền đề, vừa là luận cứ để khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
Thế kỷ XIX có 3 phát minh vĩ đại:
> Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh một cách khoa học về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên.
> Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển sự sống trong mối liện hệ của chúng.
> Thuyết tiến hoá đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.
b. Giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác
Thứ nhất: Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ lập trường duy tâm và dân chủ cách mạng sang lập trường duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Thứ hai: Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Thứ ba: Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học.
Thứ tư: Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
Thực chất cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
+ Một là, khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong triết học trước đó.
+ Hai là, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho triết học của C. Mác và Ph.Ăngghen trở nên triệt để. Trước khi triết học Mác ra đời chưa có một nhà triết học nào giải thích được một cách duy vật lĩnh vực lịch sử – xã hội – tinh thần. Triết học Mác ra đời đã khắc phục được những hạn chế này.
+ Ba là, với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn. Triết học của hai ông trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ.
+ Bốn là, với sự ra đời của triết học Mác, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể. Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là đối lập với các khoa học cụ thể, hoặc là hoà tan vào nó. Từ khi triết học Mác ra đời thì quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các thông số, dữ liệu khoa học, tài liệu khoa học để triết học Mác khái quát, còn triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất cho các khoa học cụ thể.
Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C. Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
+ Làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, vị trí, chức năng trong hệ thống tri thức khoa học.
+ Làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở trở thành khoa học.
+ Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
c. Giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác (đọc giáo trình)
V.I.Lênin (1870 1924) đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đó, ông đã đóng góp to lớn vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
d. Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới (đọc giáo trình)
II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Đối tượng và mục đích học tập, nghiên cứu
a. Đối tượng
Trong phạm vi triết học Mác – Lênin, đó là những nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất, bao gồm:
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học
+ Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội
Trong phạm vi kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác Lênin bao gồm: Học thuyết về giá trị (giá trị lao động), học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao.
Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học bao gồm: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, các quy luật chính trị xã hội của quá trình hình thành, phát triển hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa và những định hướng cho giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
b. Mục đích
Việc học tập, nghiên cứu môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin” nhằm:
+ Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin
+ Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, niềm tin, lý tưởng cách mạng
+ Vận dụng sáng tạo những nhân tố trên trong nhận thức và thực tiễn, trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức đáp ứng nhu cầu về nhân tố con người trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu
Phải hiểu đúng tinh thần, thực chất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, chống xu hướng kinh viện, giáo điều.
Nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin phải đặt chúng trong mối quan hệ với các luận điểm khác, các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhất trong tính đa dạng, nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủ nghĩa Mác Lênin nói chung.
Phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử.
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới, vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu đồng thời phải là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân và trong cộng đồng xã hội.
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống lý luận “mở”, không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thực tiễn thời đại. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu, một mặt phải là quá trình tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học, tính nhân văn vốn có của nó. Mặt khác, phải đặt nó trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại vì nó là sự kế thừa tinh hoa nhân loại trong điều kiện lịch sử mới.

PHẦN I
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
CHƯƠNG I
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng
1. Quan niệm về triết học và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
a. Quan niệm về triết học
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
b. Sự đối lập giữa CNDV và CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học:
Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
Sở dĩ đây là vấn đề cơ bản của triết học vì nó là nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề triết học khác. Trên thực tế các hệ thống triết học đều phải giải quyết vấn đề này bằng cách này hay cách khác.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai, cái nào quyết định, cái nào phụ thuộc?
Mặt thứ hai trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới không?
Căn cứ vào cách trả lời hai câu hỏi trên người ta chia các nhà triết học ra thành các trường phái khác nhau.
Khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học có ba cách giải quyết:
Một là: thừa nhận vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Vật chất có trước và quyết định ý thức. Các hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là nhất nguyên duy vật, hay còn gọi là CNDV.
Hai là: thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, ý thức có trước và quyết định sự tồn tại của vật chất. Hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là triết học nhất nguyên duy tâm, hay còn gọi là CNDT.
Ba là: thừa nhận vật chất và ý thức tồn tại độc lập song song với nhau, không cái nào quyết định cái nào. Hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là triết học nhị nguyên, thực chất triết học nhị nguyên là chủ nghĩa duy tâm.
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học hình thành nên học thuyết triết học khả tri (khả tri luận) và bất khả tri (bất khả tri luận). Khả tri luận – quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người; bất khả tri luận – phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.

2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật

Thời gian Hình thức Đặc điểm

Thế kỷ VI III TCN
CNDV chất phác Đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể nào đó; mang tính tự phát, ngây thơ, cảm tính, dựa trên những quan sát trực tiếp và phỏng đoán về thế giới tự nhiên.

Thế kỷ XVII –XVIII
CNDV siêu hình Chịu sự tác động của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, thế giới được coi như tổng số các sự vật biệt lập, không vận động, không phát triển.
Thế kỷ XIX –XX CNDV biện chứng Là sự thống nhất giữa CNDV khoa học và phương pháp biện chứng, phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển.
II. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Vật chất
a. Phạm trù vật chất
Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cổ đại
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, chẳng hạn, Ta lét: nước; Anaximen: không khí; Hêraclít: Lửa; Đêmôcrít: nguyên tử...
Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cận đại
Thế kỷ XVII – XVIII, KHTN phát triển, thu được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu thế giới khách quan (Cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học….). Tuy vậy, những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: Nguyên tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự vật, thừa nhận “cái hích” đầu tiên của thượng đế.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại phát triển, nhất là vật lý học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất… làm biến đổi sâu sắc quan niệm của con người về nguyên tử: 1895: Rơnghen tìm ra tia X Một loại sóng điện từ có bước sóng cực ngắn); 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ  Quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh rằng điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử... => Những phát hiện nói trên của vật lý học đã mâu thuẫn với quan niệm về vật chất của CNDV thế kỷ XVII XVIII. CNDT đã lợi dụng tình hình đó để tuyên truyền quan điểm duy tâm: tuyên bố vật chất “tiêu tan”, “biến mất”. Trong bối cảnh đó Lênin đã đưa ra một định nghĩa mới về vật chất.
Định nghĩa vật chất của Lênin
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Phân tích định nghĩa
Thứ nhất: Vật chất là một phạm trù triết học: Khái niệm vật chất dưới góc độ triết học, dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi. Các dạng vật chất mà các khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra, có mất đi, chuyển hóa thành cái khác.
Thứ hai: Lênin đã sử dụng phương pháp định nghĩa đặc biệt, đặt vật chất đối lập với ý thức, vật chất là tất cả những gì tác động vào các giác quan của con người thì gây nên cảm giác.
Thứ ba: Dùng để chỉ thực tạikhách quan
+ Thực tại: tồn tại, có thực
+ Khách quan (không phụ thuộc vào cảm giác của con người)
Thứ tư: Được đem lại cho con người trong cảm giác: Vật chất có trước, tác động vào các giác quan của con người: tác động trực tiếp: nhìn, cảm nhận; gián tiếp: nhờ các công cụ => Cảm giác, ý thức của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh vật chất => Con người có thể nhận thức được thế giới... “chép lại, chụp lại”.
Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học
Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật triệt để, khắc phục được quan điểm duy vật siêu hình trước đó, chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri...
Khắc phục được khủng hoảng trong KHTN, mở đường cho khoa học tự nhiên phát triển > Thấy được vai trò của triết học đối với khoa học tự nhiên, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau: thành tựu của KHTN giúp triết học khái quát thế giới một cách chính xác hơn ngược lại triết học phát triển đúng đắn định hướng về mặt thế giới quan đúng đắn, chính xác cho KHTN…
Với định nghĩa này, phạm trù vật chất không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tự nhiên mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực xã hội, khẳng định đâu là vật chấtý thức trong lĩnh vực xã hội > Định nghĩa này là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định rằng, trong lĩnh vực xã hội, vật chất được biểu hiện dưới dạng tồn tại xã hội, yếu tố quan trọng nhất tạo nên tồn tại xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất… nó đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật về lịch sử.
b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Vận động
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm mọi sự thay đổi nói chung, mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả từ thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
Vật chất tồn tại bằng cách vận động, nghĩa là thông qua vận động, vật chất biểu thị sự tồn tại của mình và chỉ thông qua vận động, vật chất mới tồn tại được. Nghĩa là, không có vật chất không vận động.
Vận động của vật chất là tự thân, do nguồn gốc bên trong bản thân vật chất quy định. Vận động của vật chất không bao giờ mất đi, chỉ chuyển từ hình thức vận động này sang hình thức vận động khác.
Vận động gắn liền với đứng im, đứng im là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối.
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (tính 3 chiều: dài, rộng, cao), biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt cũng như trật tự phân bố của các sự vật.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình, biểu diễn trình tự xuất hiện, mất đi của sự vật (quá khứ, hiện tại, tương lai).
c. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Thế giới thống nhất bởi tính vật chất, cụ thể là:
+ Một là: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất có trước tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người.
+ Hai là: Các sự vật trong thế giới đều là những dạng tồn tại khác nhau của thế giới vật chất, nó có mối liên hệ với nhau và cùng bị chi phối bởi các quy luật khách quan.
+ Ba là: Thế giới đó tồn tại vĩnh viễn, không ai sinh ra và không mất đi, vô hạn và vô tận, chúng vận động, chuyển hoá lẫn nhau.
> Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới là kết luận được rút ra từ việc khái quát thành tựu của khoa học và được cuộc sống hiện thực của con người kiểm nghiệm.
2. Ý thức
a. Nguồn gốc của ý thức














Kết luận: Sự xuất hiện của ý thức con người là kết quả đồng thời của hai quá trình tiến hóa: tiến hóa về mặt tự nhiên và tiến hóa về mặt xã hội. Trong đó, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
b. Bản chất và kết cấu của ý thức
Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong óc người. Thể hiện:
Ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo
+ Định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin.
+ Trên cơ sở những thông tin đã có, có thể tạo ra những thông tin mới.
+ Có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế; có thể dự báo, tiên đoán tương lai; có thể tạo ra những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng.
Ý thức là sự phản ánh mang tính chủ quan
+ Phụ thuộc vào trình độ tổ chức bộ não của mỗi chủ thể phản ánh.
+ Phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh xã hội mà chủ thể đó sống.
+ Hình ảnh thế giới khách quan tác động vào bộ não và được cải biến qua lăng kính chủ quan.
Ý thức là sự phản ánh mang tính xã hội
+ Ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội: lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, cho nên người nào tách rời khỏi đời sống xã hội của con người sẽ không thể có ý thức.
+ Ý thức phản ánh tồn tại xã hội và biến đổi cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”.
Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó gồm 3 yếu tố cơ bản sau:
Tri thức: Là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên và xã hội, là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới hiện thực
Tình cảm: Là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh và đối với bản thân mình
Ý chí: Là khả năng huy động sức mạnh của bản thân để vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người.
=> Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng sự phát triển và mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a. Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vật chất là nguồn gốc của ý thức thể hiện:
+ Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất...
+ Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ)...
Vật chất quyết định nội dung, đặc điểm của ý thức: Biểu hiện điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó.
> Từ vấn đề này hãy giải thích một số vấn đề thực tiễn: Vì sao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam so với thế giới rất thấp; căn nguyên của tính tùy tiện, tự do... của người sản xuất nhỏ?...
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức, khi cơ sở, điều kiện vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo
> Từ vấn đề này hãy giải thích một số vấn đề thực tiễn: Nhu cầu về đời sống vật chất ở Việt Nam hiện nay có gì khác so với thời kỳ bao cấp? Vấn đề chọn trường, ngành học của sinh viên hiện nay thay đổi so với trước kia như thế nào? Tư duy của người nông dân Việt Nam hiện nay thay đổi so với tư duy truyền thống như thế nào?.v.v..
b. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Bản chất của ý thức mang tính năng động, sáng tạo, ý thức là ý thức của con người, chỉ có con người mới có ý thức nên nói tới sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất chính là nói đến sự tác động của con người đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn.
Ý thức chỉ đạo, hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn, (ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan), giúp con người xác định được: mục tiêu, phương hướng, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ... để đạt được mục tiêu của mình
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực, thể hiện:
+ Tác động tích cực: Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực... thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, cải tạo được thế giới...
+ Tác động tiêu cực: Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì hướng hành động của con người đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động đó sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động thực tiễn...
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Xuất phát từ vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức: Đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, thể hiện:
Tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật.
Tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội.
Phải xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn thúc đẩy xã hội tiến lên.
Nếu chủ quan, duy ý chí, nôn nóng tất yếu dẫn đến sai lầm trong hoạt động nhận thức và thất bại trong hoạt động thực tiễn.
Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất sẽ rơi vào quan điểm duy vật tầm thường.
Xuất phát từ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất: Đòi hỏi phải luôn luôn chú ý phát huy đầy đủ tính năng động, chủ quan, sự sáng tạo của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, muốn vậy:
Tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin, hướng dẫn quần chúng hành động... (liên hệ với việc đưa tri thức khoa học tới nông dân ở Việt Nam hiện nay...)
Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của con người Việt Nam, quyết tâm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu...
Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

CHƯƠNG II
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Khái niệm phép biện chứng
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Có biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người.
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.
2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: thô sơ, tự phát
+ Triết học phương Đông cổ đại: Biện chứng trong âm dương, ngũ hành (triết học Trung Quốc),…
+ Triết học phương Tây cổ đại: Tiêu biểu là triết học HiLạp, Ăngghen đã từng nhận xét các nhà triết học Hilạp cổ đại, hầu hết họ đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, tiêu biểu là: Hêraclit, Platôn, đặc biệt là Arixtốt.
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức (Cantơ > Hêghen): Tiêu biểu là phép biện chứng trong triết học của Hê ghen, Ăngghen đã từng nhận xét: Hêghen là nhà triết học vĩ đại người Đức, ông là người đầu tiên trong lịch sử, trình bày phép biện chứng một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và súc tích nhất. Tuy nhiên, phép biện chứng lại bị Hêghen trình bày một cách duy tâm, lộn ngược và không triệt để.
Phép biện chứng duy vật: Có tính khoa học cách mạng do C.Mác và Ph. Ăngghen sáng lập, trên cơ sở kế thừa và cải tạo phép biện chứng của Hêghen.
3. Phép biện chứng duy vật hình thức cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử
a. Định nghĩa phép biện chứng duy vật
Cơ sở để C.Mác và Ph. Ăngghen, Lênin đưa ra khái niệm phép biện chứng:
+ Cơ sở thực tiễn (thực tiễn lịch sử loài người)
+ Kết quả khái quát thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại
+ Kế thừa phép biện chứng của Hêghen
Định nghĩa phép biện chứng: Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph. Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy”.
Khi nhấn mạnh đến vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph. Ănghen định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”.
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển, Lênin khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu của phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”.
b. Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật (làm rõ sự hơn hẳn về chất của phép biện chứng duy vật so với các phép biện chứng trước đó)
Được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
Có sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới
Biện chứng triệt để: Như C. Mác đã viết: Phép biện chứng của tôi không chỉ khác mà còn hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen (Phép biện chứng của Hêghen không triệt để: Một mặt ông thừa nhận mọi sự vật vận động, phát triển không ngừng; mặt khác ông lại mâu thuẫn cho rằng nhà nước Phổ là nhà nước cuối cùng; triết học của ông là cao nhất, tuyệt đích > Hạn chế này là do lập trường giai cấp, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị).
c. Vai trò của phép biện chứng duy vật
Đối với chủ nghĩa Mác Lênin: Phép biện chứng là cơ sở lý luận cơ bản, là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác (Lênin).
Đối với thực tiễn: Như Lênin đã khẳng định, phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại của loài người. Mọi thành công của Việt Nam trong thực tiễn đổi mới đất nước vừa qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Đối với sự phát triển của khoa học:
+ Lênin đã từng khẳng định: Phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại của nhân loại. Anhxtanh, nhà vật lý học vĩ đại của nhân loại thế kỷ XX, từng chỉ ra: Khoa học, mà trước hết là vật lý học càng phát triển bao nhiêu, các nhà khoa học càng cần phải được trang bị phép biện chứng duy vật bấy nhiêu. (Bàn về chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Học tập số 6, tr. 56, Nxb ST, HN, 1986).
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ và đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn Việt Nam những năm vừa qua cũng cho thấy những kinh nghiệm tương tự: tác hại khôn lường của ốc bươu vàng, của rùa tai đỏ, của dự án trồng cà phê ở các tỉnh miền núi phía Bắc… là những ví dụ điển hình của sự trừng phạt của phép biện chứng đối với những ai khinh thường nó…
II. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Các nhà triết học siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến, họ cho rằng sự vật, hiện tượng có thể tồn tại một cách cô lập, tách rời, cái này bên cạnh cái kia…
Các nhà triết học duy vật biện chứng cho rằng: thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng, chúng thống nhất với nhau ở tính vật chất nên tất yếu chúng phải có mối liên hệ với nhau.
+ Khái niệm: Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ:
+ Tính phổ biến của các mối liên hệ (bởi vì mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, không loại trừ một sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào).
+ Chỉ những mối liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới.
> Từ các khái niệm trên giải thích một số vấn đề trong thực tiễn: thời đại toàn cầu hóa, nền kinh tế giữa các quốc gia có liên hệ với nhau như thế nào? Trong một quốc gia, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự... có liên hệ với nhau như thế nào?
Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức... Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội. Trong đó, các phạm trù cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; khái quát hóa, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ theo hệ thống. Các cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực là cơ sở phương pháp luận chỉ ra các mối liên hệ và sự phát triển giữa các sự vật, hiện tượng là một quá trình. Cặp phạm trù nội dung và hình thức là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của các phương pháp nhận thức và thực tiễn.
b. Tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ
+ Mối liên hệ là cái vốn có của các sự vật, hiện tượng, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế.
+ Chỉ có liên hệ với nhau, sự vật, hiện tượng mới tồn tại, vận động, phát triển.
Tính phổ biến của các mối liên hệ
+ Vì không phải chỉ có các sự vật, hiện tượng liên hệ với nhau, mà các yếu tố, bộ phận cấu thành chúng cũng liên hệ với nhau. Không phải chỉ có các thời kỳ trong một giai đoạn, các giai đoạn trong một quá trình liên hệ với nhau, mà giữa các quá trình cũng liên hệ với nhau trong sự vận động và phát triển của thế giới.
+ Không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội, lẫn tư duy, các sự vật, hiện tượng cũng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ
+ Mỗi sự vật, hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu…), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật đó.
+ Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng lại có những biểu hiện phong phú khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau…
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ cho nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải quán triệt quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác => Như vậy, mới nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.
=> Liên hệ với thực tiễn (sinh viên).
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ, do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử – cụ thể.
Quan điểm lịch sử – cụ thể
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn.
Từ quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể thì trong nhận thức và thực tiễn cần chống lại quan điểm phiến diện (xem xét qua loa một vài mối liên hệ đã vội đánh giá sự vật một cách chủ quan); chống lại quan điểm chiết trung (san bằng các mối liên hệ, xem chúng có vị trí, ý nghĩa như nhau); chống quan điểm ngụy biện, đánh tráo khái niệm (những người ngụy biện cũng đề cập tới các yếu tố, các mặt cấu thành sự vật nhưng đánh lộn vai trò của chúng, biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất và ngược lại).
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Khái niệm phát triển
Quan điểm siêu hình: Phát triển là sự thay đổi về lượng mà không có sự thay đổi về chất; phát triển như là một quá trình liên tục, không có những bước quanh co, thụt lùi...
Quan điểm biện chứng:
+ Khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng tiến lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
+ Khái niệm “phát triển” không đồng nhất với khái niệm “vận động”?
b. Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan của sự phát triển: Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển.
> Hãy giải thích: Sự phát triển của một con người phải trải qua nhiều giai đoạn và phải giải quyết nhiều mâu thuẫn trong lòng nó? Sự phát triển của xã hội loài người cũng phải giải quyết nhiều mâu thuẫn khác nhau…? => Sự phát triển đó mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người hay do đấng siêu nhiên tạo ra.
Tính phổ biến của sự phát triển: Quá trình phát triển diến ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong mọi hiện tượng, quá trình => Trong mỗi quá trình biến đổi có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng có sự khác nhau trong sự phát triển; bản thân mỗi sự vật cũng có sự phát triển không giống nhau… => Nguyên nhân là do: Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong không gian và thời gian khác nhau, chịu sự tác động của nhiều sự vật, hiện tượng, yếu tố khác nhau... => Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Khi nghiên cứu nguyên lý này, trong hoạt động nhận thức và hoạt thực tiễn, cần phải có quan điểm phát triển:
+ Đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên để dự tính được xu hướng đi lên của nó, có thái độ đúng đắn đối với cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
+ Con đường của sự phát triển là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự phát triển, khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vào tương lai, không bi quan, chán nản...
III. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Khái quát chung về phạm trù
Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định.
Phạm trù hình thành là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan của con người, vì vậy phạm trù có những tính chất cơ bản sau:
+ Tính khách quan: nội dung phạm trù phản ánh thuộc về thế giới khách quan, không phụ thuộc vào bất kỳ lực lượng siêu nhiên nào.
+ Tính chủ quan: vì phạm trù là sản phẩm hoạt động nhận thức nên nó phụ thuộc vào đặc điểm nhận thức của con người ở thời đại lịch sử sinh ra nó.
+ Tính linh hoạt, mềm dẻo: trình độ nhận thức của con người không đứng một chỗ mà luôn phát triển, càng ngày con người càng phát hiện tri thức mới về hiện thực, những tri thức mới ấy không ngừng được bổ sung, làm cho phạm trù phản ánh thế giới ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn.
2. Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Cái riêng, cái chung
Định nghĩa: cái chung, cái riêng, cái đơn nhất
Phạm trù cái chung: dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ… lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Phạm trù cái riêng: dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định.
Phạm trù cái đơn nhất: dùng để chỉ những đặc tính, những tính chất… chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, thể hiện:
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của nó, nó không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng (tức là cái chung không tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ).
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, vì bất cứ cái riêng nào cũng tồn tại trong mối quan hệ với cái riêng khác, giữa những cái riêng ấy bao giờ cũng có những cái chung giống nhau.
+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng còn cái cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
+ Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện xác định.
> Cái đơn nhất biến thành cái chung trong quá trình phát triển của sự vật (từ cái ít > nhiều > Đi lên có sự vật).
> Cái chung biến thành cái đơn nhất trong quá trình tiêu vong của sự vật, hiện tượng (nhiều > ít > sự vật đi xuống (lỗi thời)).
Ý nghĩa phương pháp luận
Khi nghiên cứu sự vật phải phát hiện cái chung, vì cái chung là cái sâu sắc, bản chất, muốn tìm được cái chung thì phải xâm nhập vào cái riêng.
Khi giải quyết những vấn đề cụ thể phải xuất phát từ cái chung, bởi vì nó là cái bản chất, sâu sắc, định hướng cho việc nghiên cứu cái cụ thể (nếu xuất phát từ cái cụ thể nó che mờ đi cái bản chất), không nhận thức đúng đắn vấn đề…
Phải “cá biệt hóa” cái chung khi vận dụng vào từng cái riêng cụ thể, vì mỗi cái riêng còn có cái đơn nhất (khác biệt), nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ không tìm ra cái đặc thù của sự vật, ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng sẽ không tìm ra được cái bản chất của sự vật.
Cần phát hiện, tạo điều kiện cho cái đơn nhất tích cực phát triển, phổ biến thành cái chung; đồng thời cần hạn chế, loại bỏ, thủ tiêu những cái chung lạc hậu, tạo điều kiện cho cái mới, tích cực phát triển…
b. Nguyên nhân và kết quả
Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân: dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ra sự biến đổi nhất định.
Phạm trù kết quả: dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Thứ nhất: Nguyên nhân sinh ra kết quả
+ Nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, kết quả chỉ xuất hiện khi nguyên nhân gây ra tác động.
> Lưu ý: Không phải sự nối tiếp nào về thời gian của sự vật, hiện tượng đều biểu hiện mối quan hệ nhân quả, chẳng hạn, ngày luôn luôn “đến sau” đêm; sấm luôn luôn “đến sau” chớp… những hiện tượng này cái nọ tiếp sau cái kia không phải vì chúng nằm trong mối quan hệ nhân quả mà đơn thuần là vì chúng ở trong quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian.
+ Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.
+ Một kết quả được sinh ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau do tác động riêng lẻ hoặc đồng thời.
> Nhiều nguyên nhân phát huy tác động đồng thời tổng hòa các nguyên nhân đưa lại kết quả (trong đời sống cần tìm ra nguyên nhân tốt, loại bỏ nguyên nhân xấu).
> Nhiều nguyên nhân tác động riêng rẽ, đưa lại kết quả như nhau.
+ Nguyên nhân có nhiều loại, như nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu… mỗi loại có vai trò khác nhau đối với kết quả, cho nên, trong thực tiễn, phải nhận dạng được chúng để có thái độ ứng xử đúng đắn.
Thứ hai: Kết quả tác động trở lại nguyên nhân
Kết quả sau khi ra đời nó không thụ động, trái lại nó tác động t
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI 1. THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG

BÀI 1. THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG

quan duy vậtvàphương phápluậnbiện chứngVận dụngđược kiến thứctrên đây khi xem xétmột số sự vậthiện tượngthông thườngtrong quá trìnhhọc tập vàcuộc sống hằng ngàyNội dung bài học1.-Thế giới quan và phương pháp luận2.- Chủ nghóa duy vật biện chứng – sựthống nhất hữu cơ giữa thế giới quanduy vật và phương pháp luận biệnchứngThế giới là gì?THẾGIỚINghóa rộng:

30 Đọc thêm

Nghiên cứu về doanh nghiệp, quản trị xung đột bên trong một tổ chức. Lấy tình huống cụ thể, phân tích và đưa ra phương giải quyết xung đột

NGHIÊN CỨU VỀ DOANH NGHIỆP, QUẢN TRỊ XUNG ĐỘT BÊN TRONG MỘT TỔ CHỨC. LẤY TÌNH HUỐNG CỤ THỂ, PHÂN TÍCH VÀ ĐƯA RA PHƯƠNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT

Xung đột là sự bất đồng giữa giữa hai hay nhiều phía (cá nhân hay nhóm) mà mỗi phía cố làm tất cả những gì có thể để phía bên kia chấp nhận quan điểm của mình trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích hay các giá trị xã hội.
Quản trị xung đột là sử dụng những biện pháp can thiệp để làm giảm sự xung đột quá mức, hoặc gia tăng sự đối lập trong tình trạng mâu thuẫn quá yếu.
Ngay cả trong một tổ chức được quản trị tốt cũng có mâu thuẫn xung đột.
Xung đột có thể gây hậu quả xấu, song cũng có thể có tác dụng tốt ( phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, xung đột tạo ra sự phát triển).
Xem thêm

9 Đọc thêm

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Triết học Mác – Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật. Phép biện chứng duy vật bao hàm nội dung hết sức phong phú, là học thuyết toàn diện, sâu sắc nhất về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện phép biện chứng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luận duy vật triệt để trong nhận thức và cải tạo thế giới.

14 Đọc thêm

TÀI LIỆU CHÍNH TRỊ LIÊN THÔNG CĐĐH

TÀI LIỆU CHÍNH TRỊ LIÊN THÔNG CĐĐH

cấu kinh tế nước ta còn mang nặng đặc trưng của một cơ cấu kinh tế nông nghiệp.Ngành nghề chưa phát triển; sự phân công hiệp tác, chuyên môn hóa sản xuất chưarộng, chưa sâu, giao lưu hàng hóa còn nhiều hạn chế.- Chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó. Trong những năm qua thị trường củanước ta đang trong quá trình hình thành và phát triển nên nó còn ở trình độ thấp. Chưacó thị trường sức lao động theo đúng nghĩa, thị trường tài chính, thị trường bất độngsản, thị trường khoa học và công nghệ còn sơ khai, phát triển chậm.- Công cuộc đổi mới ở nước ta trong 20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớnvà có ý nghĩa lịch sử, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổicơ bản và toàn diện. Song, thực tế cho thấy thu nhập quốc dân và thu nhập bình quânđầu người còn thấp, do đó sức mua hàng hóa còn thấp, tỷ suất hàng hóa chưa cao.- Còn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu,bao cấp.b)Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữvai trò chủ đạo.Mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng nên bên cạnhtính thống nhất của các thành phần kinh tế, chúng còn có sự khác nhau và mâu thuẫnkhiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo những phươnghướng khác nhau.Cùng với sự khuyến khích làm giàu chính đáng của các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế, Nhà nước ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chếnhững khuynh hướng tự phát, những hiện tượng tiêu cực, hướng sự phát triển của cácthành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.c) Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở".Cơ cấu kinh tế "mở" bắt nguồn từ sự phân bố không đều về tài nguyên thiên nhiên vàsự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước, đáp ứng yêu cầu quy luậtphân công và hợp tác lao động quốc tế. Vì vậy, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc giamuốn phát triển toàn diện cần phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.d) Nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN với sự quản lý vĩ mô củanhà nước.
Xem thêm

24 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT & KT CHÍNH TRỊ & CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỆ LIÊN THÔNG

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT & KT CHÍNH TRỊ & CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỆ LIÊN THÔNG

Môn Triết Học
Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? ý nghĩa của định nghĩa?
Câu 2: Hãy trình bày nguồn gốc và bản chất của ý thức? Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? ý nghĩa của vấn đề này?
Câu 3 : Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Cho ví dụ? ý nghĩa của quy luật?
Câu 4. Phân tích nội dung quy luật chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại? ý nghĩa của quy luật?
Câu 5. Thực tiễn là gi? Hãy phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? ý nghĩa của vấn đề này?
Câu 6; Trình bày các khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ sản xuất. Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới?
Câu 7: Trình bày khái niệm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Sự vận dụng quy luật này của Đảng ta trong đường lối đổi mới?
Câu 8: Hình thái kinh tế – Xã hội là gì? Tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hộilà một quá trình lịch sử tự nhiên? Vânh dụng vấn đề này trong quá trình xây dưng CNXH ở nước ta?
Câu 9: Hãy trình bày định nghĩa giai cấo của LêNin, các đặc trưng của giai cấp. Tại sao nói đấu tranh giai cấp là một động lực thúc đẩy xã hội có giai cấp phát triển… thực chất của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta ntn?
Câu 10: Trình bày nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, chức năng của nhà nước. Liên hệ với nhà nước XHCN.
Câu 11: Tình bày quan điểm CN Mác-LêNin về bản chất con người.
Câu 12: Trình bày mối quan hệ giưa quần chúng nhân dân và lãnh tụ, vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển lịch sử.
Xem thêm

19 Đọc thêm

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TIỂU LUẬN CAO HỌC

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TIỂU LUẬN CAO HỌC

MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, là điều kiện tiên quyết để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Nguyên tắc xây dựng Đảng dựa trên hệ thống các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, một trong những nguyên tắc đó là: tự phê bình và phê bình.
Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là nguyên tắc, chế độ thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Tự phê bình và phê bình là nêu ưu điểm, vạch rõ khuyết điểm của tổ chức đảng, của cấp uỷ và cán bộ, đảng viên, qua đó tìm biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp tổ chức và mỗi người tiến bộ.
Tự phê bình và phê bình chính là nhằm củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của đơn vị. Thực chất tự phê bình và phê bình chính là giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức đảng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc và điều lệ của Đảng, trong mối quan hệ của những người đồng chí cùng mục đích, lý tưởng. Tự phê bình và phê bình vừa mang tính cách mạng và khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện. Do đó, tự phê bình và phê bình đòi hỏi tính đảng, tính nguyên tắc cao, phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, chân thành, công khai, có lý, có tình.
Tự phê bình và phê bình còn có vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tự phê bình và phê bình
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khảng định: mọi sự vật hiện tượng trên thế giới cũng như trong đời sống xã hội đều vận động và phát triển trong sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Đảng Cộng sản là một tổ chức chính trị, một bộ phận cấu thành của đời sống xã hội, do vậy Đảng cũng tồn tại, vận động phát triển theo quy luật sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, tự phê bình và phê bình trong Đảng là biểu hiện của quy luật đó và là đòi hỏi tất yếu khách quan. Bản thân Đảng trong suốt cả quá trình hoạt động lãnh đạo sự nghiệp cách mạng cả khi chưa có chính quyền cũng như khi trở thành đảng cầm quyền, có nhiều vấn đề thực tiễn đạt ra mang tính khó khăn, phức tạp, nhiều vấn đề mới nảy sinh, từng cán bộ, đảng viên không thể nắm, nhận thức đầy đủ và sâu sắc ngay những vấn đề đó, quá trình tham gia hoạt động không thể tránh vấp ngã, sai lầm, khuyết điểm, do đó phải tiến hành công tác tự phê bình và phê bình. Mác Ăngghen cho rằng, tự phê bình và phê bình là rất cần thiết cho hoạt động và phát triển bình thường của Đảng cộng sản. Ăngghen nhấn mạnh: Việc Đảng phê bình các hoạt động đã qua của mình là việc tuyệt đối cần thiết, thông qua đó Đảng học cách hoạt động tốt hơn.
Xem thêm

20 Đọc thêm

tiểu luận cao học nội dung quy luật mâu thuẫn trong bộ “tư bản” của c mác

TIỂU LUẬN CAO HỌC NỘI DUNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG BỘ “TƯ BẢN” CỦA C MÁC

MỞ ĐẦU
Bộ Tư bản là tác phẩm thiên tài của Mác mà ông đã dành hơn bốn mươi năm cuộc đời của mình để suy nghĩ, nghiên cứu và thể hiện. V.I.Lênin từng nhận định , bộ Tư bản là “một tác phẩm chính trị kinh tế học vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta”. Trong lời tựa cho lần xuất bản lần thứ nhất, bản thân C.Mác đã chỉ rõ “trong tác phẩm này, đối tượng nghiên cứu của tôi là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức ấy”. Mặc dù mục đích cuối cùng của tác phẩm là tìm ra “quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại”, song những nội dung cơ bản của phép biện chứng cũng như các quan điểm duy vật lịch sử được phân tích và luận chứng trên một cơ sở khoa học và thực tiễn sinh động. Do đó, có thể nói tư bản là một trong những tác phẩm chủ yếu của Mác có ý nghĩa triết học to lớn bởi lẽ trong tác phẩm đó ông không chỉ nghiên cứu những vấn đề kinh tế đơn thuần mà những vấn đề kinh tế được phân tích sâu sắc từ góc độ triết học.
Nội dung xuyên suốt của “Tư bản” là sự phân tích các mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (PTSXTBCN) để qua đó chứng mỉnh rằng toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản (CNTB) xét đến cùng đều dựa trên sự phát sinh, phát triển và giải quyết liên tục những mâu thuẫn nội tại của chính nó. Trong “tư bản” những nội dung của quy luật mâu thuẫn được phân tích một cách khá toàn diện và tương đối rõ ràng. Trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình Mác đã làm sáng tỏ nhiều nội dung quan trọng xung quanh vấn đề phát triển thông qua sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bằng cách phân tích các mâu thuẫn cụ thể của một đối tượng cụ thể đó là PTSXTBCN.
Với mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc hơn về quy luật mâu thuẫn được C.Mác trình bày trong bộ “tư bản” nên em chọn đề tài “Nội dung quy luật mâu thuẫn trong bộ “Tư bản” của C.Mác” làm đề tài tiểu luận của mình.
Xem thêm

21 Đọc thêm

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban đầu ’’ 26; 297.
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung cầu, tích lũy tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. CNH, HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kỳ đại hội VI, VII, VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sức cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như Minh Hóa ở Quảng Bình. Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quy luật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng như khả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu những mâu thuẫn đó không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện.
Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa, Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung
Xem thêm

74 Đọc thêm

Cùng chủ đề