MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả":

ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ QUY LUẬT NHÂN QUẢ TRONG PHẬT GIÁO

ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ QUY LUẬT NHÂN QUẢ TRONG PHẬT GIÁO

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………………………... 2
A. DẪN NHẬP 3
B. NỘI DUNG 5
I. Cuộc đời và sự nghiệp của Karl Marx. ………………………………….5
II. Những tiền đề hình thành triết học Karl Maxr 6
1.Tiền đề kinh tế xã hội 6
2. Tiền đề khoa học tự nhiên. 6
3. Tiền đề lý luận 7
III. Khái niệm, mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả và ý nghĩa phương pháp luận của nó theo triết học Marx 7
1.Khái niệm nguyên nhân và kết quả 7
2.Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 8
3.Ý nghĩa phương pháp luận 8
IV. Nguyên nhân và kết quả theo giáo lý nhà Phật 8
1. Định nghĩa...........................................................................………..8
2.Những Ðặc Tính Của Luật Nhân Quả 9
3.Phân tích hành tướng của Nhân Quả trong thực tế 12
4. Nhân Quả Về Phương Diện Tinh Thần 13
5. Lợi ích đem lại cho chúng ta do sự hiểu biết và áp dụng luật nhân quả 14
6. Một vài quan điểm về sự sinh khởi của nhân quả 15
C. KẾT LUẬN 18
THƯ MỤC THAM KHẢO 20
Xem thêm

20 Đọc thêm

 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢNXUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢNXUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

2. Quan hệ sản xuấta, Khái niệmQuan hệ sản xuất xã hội là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trìnhsản xuất và tái sản xuất xã hội: Sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng. Quan hệsản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - xã hội và quan hệ kinh tế tổ chức. Quan hệ sảnxuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất của xã hội, nó tồn tại khách quan, độc lập vớiý thức của con người. Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình tháikinh tế xã hội. Một kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế xã hội nhấtđịnh.b, Nội dungQuan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau:- Quan hệ giữa người với người đổi việc về tư liệu sản xuất- Quan hệ giữa người với người đổi việc tổ chức quản lý- Quan hệ giữa người với người đổi việc phân phối sản phẩm lao độngBa mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ thứ nhất có ýnghĩa quyết định đối với tất cả những mối quan hệ khác. Bản chất của bất kỳ quanhệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những tư liệu sản xuất chủ yếutrong xã hội được giải quyết như thế nào.Có hai hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất:4- Sở hữu tư nhân- Sở hữu xã hộiNhững hình thức sở hữu đó là những quan hệ kinh tế hiện thực giữa người vớingười trong xã hội. Đương nhiên để cho tư liệu sản xuất không trở thành “vô chủ”phải có chính sách và cơ chế rõ ràng để xác định chủ thể sở hữu và sử dụng đối vớinhững tư liệu sản xuất nhất định.Trong sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, quan hệ
Xem thêm

11 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ CHÍNH TRỊ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ CHÍNH TRỊ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản nhất của đời sống xã hội, có mối quan hệ, chặt chẽ, tác động qua lại, tạo điều kiên cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị là cơ sở, là điều kiên cơ bản nhất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội ở mỗi quốc gia dân tộc.Luận văn cử nhân triết học sẽ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề này.
Xem thêm

55 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN

hiệu với cách chứng minh bằng lời thì chúng ta càng nhận thấy sự thuận tiện của việc sử dụngcác ký hiệu toán học.Tuy nhiên, không phải lúc nào các ký hiệu toán học cũng có thể biểu diễn một cách ngắngọn nội dung toán học và các khoa học khác. Các ký hiệu toán học sẽ không thực hiện đượcnhiệm vụ chủ yếu này của chúng, nếu chúng chỉ là những biểu hiện ngắn gọn của những dạngngôn ngữ dài dòng hơn. Chẳng hạn, việc xây dựng cơ học cổ điển đã diễn ra với việc sử dụngcác vectơ để diễn tả chuyển động. Theo đánh giá của Albert Einstein, ở đây toàn bộ công việcđã làm chỉ là chuyển những sự kiện đã được thừa nhận từ trước thành một ngôn ngữ phức tạp14và kỳ lạ. Nhưng, theo ông, chính cái ngôn ngữ kỳ lạ là vectơ ấy đã dẫn đến những điều kháiquát quan trọng mà trong đó vectơ giữ vai trò nòng cốt.II. Vai trò của toán học trong sự hình thành và phát triển thế giới quan duy vật:Ở thời kì cổ đại, toán học mới chỉ ở giai đoạn toán học sơ cấp mộc mạc và cùng với nó làtriết học duy vật thô sơ, chất phác. Những kiến thức toán học mới chỉ là những phát kiến rờirạc, hầu như chưa có hệ thống đang hòa lẫn trong kho tàng các kiến thức triết học. Đó là hìnhhọc của Euclide, là những kiến thức về đại số (số thực, số phức, cách giải phương trình bậc 3,bậc 4, dùng công cụ logarit để tính toán gần đúng), về số học (số nguyên tố, ước chung lớnnhất, bội chung nhỏ nhất, phương trình Diophante), lượng giác. Lúc này triết học và toán họcgắn bó tới mức khó phân biệt ranh giới giữa chúng. Các nhà triết gia cũng đồng thời là cácnhà toán học: Thales, Pythagore, Zenon…Những tư tưởng, quan niệm toán học đã ảnh hưởngđến thế giới quan triết học của các ông, dù còn nhiều hạn chế nhưng ít nhiều chứa đựngnhững quan điểm duy vật biện chứng khá sâu sắc.Pythagore (547 – 471 TCN): là nhà toán học nổi tiếng thời cổ đại với những phát kiến vềtổng các góc trong tam giác, quan hệ giữa bình phương các cạnh trong tam giác vuông, về sốvô ước, số bè bạn, số hoàn chỉnh…Khi nghiên cứu toán học, Pythagore cho rằng con số là khởi nguyên của thế giới. Đối với
Xem thêm

27 Đọc thêm

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật chính là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Hiểu được nguyên lý này, chúng ta mới có thể vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế một cách đúng đắn và hợp lý.
Trong số các vấn đề về vận dụng mối liên hệ phổ biến vào thực tế ở nước ta hiện nay, phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một đề tài cấp thiết bởi trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang đi theo xu hướng mở cửa hội nhập và Việt Nam không phải ngoại lệ, tuy nhiên nếu trước tiên không xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì nước ta sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong quá trình hội nhập. Nhận thức rõ tính đúng đắn, cấp thiết của việc đặt ra vấn đề này, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
 Hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
 Hiểu rõ khái niệm “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”, “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.
 Vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến để phân tích, làm rõ mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp.
Các nhiệm vụ, mục đích này sẽ lần lượt được giải quyết và đạt tới trong từng phần của bài tiểu luận.
Xem thêm

16 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hay quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX). Sự vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước như thế nào?

33 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .Tác động của tồn tại xã hội đến phong tục tập quán ở Việt Nam.

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI .TÁC ĐỘNG CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI ĐẾN PHONG TỤC TẬP QUÁN Ở VIỆT NAM.

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .Tác động của tồn tại xã hội đến phong tục tập quán ở Việt Nam.

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
I.Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.Tồn tại xã hội
2.Ý thức xã hội
II.Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
2.Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
2.1.Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
2.2.Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
2.3.Ý giữa thức xã hội có tính kế thừa trong quá trình phát tiển
2.4.Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong quá trình phát triển của chúng
2.5.Ý thức xã hội tác động tích cực trở lại tồn tại xã hội
3.Ý nghĩa phương pháp luận
Chương II : Tồn tại xã hội tác động đến phong tục tập quán ở Việt Nam.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Trong quá trình vận động của thế giới vật chất nói chung, mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối liên hệ có tính khách quan nhất, phổ biến nhất. Bởi mọi sự vận động biến đổi nào của thếgiới vật chất suy cho cùng cũng đều là mối liên hệ nhân quả, như Lômônôxốpđã từng khẳng định bằng định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: “ Năng lượng không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác..” Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ảnh vào đầu óc con người. Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được các hiện tượng đó. Từ những lý do trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả và vận dụng cặp phạm trù này trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay”. Dù đã cố gắng song bài làm khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô. Sau đây em xin trình bày phần nội dung của đề tài.

NỘI DUNG

I. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả

1.1. Định nghĩa

Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sựtác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sựvật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định.

Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.

1.2. Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện

Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả.

Điều kiện là hiện tượng cần thiết đểnguyên nhân phát huy tác động, trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định.

1.3. Tính chất của mối liên hệ nhân quả

Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu.

Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người.

Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sựvật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất định sinh ra.

Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả nhưnhau.

2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

2.1. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

Nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ những mối liên hệ có tính sản sinh ra nhau thì mới là liên hệ nhân quả.

Trong thực tiễn thì mối liên hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả. Mặt khác, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sẽ đẩy nhanh sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu những nguyên nhân tác động theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở hoặc triệt tiêu sự hình thành kết quả.

2.2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân

Kết quả là do nguyên nhân sinh ra nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhânđã sinh ra nó. Sự ảnh hưởng có thể diễn ra theo hai hướng: thúc đẩy sự hoạtđộng của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực).

2.3. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau

Cái trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng vẫn là nó trong quan hệ khác lại đóng vai trò là kết quả. Vì vậy, mối liên hệnhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong những trường hợp cụ thể. Trong sựchuyển hóa vô tận của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất thì liên hệ nhân quả là một chuỗi vô tận, chúng xoắn xuýt lẫn nhau không có điểm đầu tiên, không có điểm cuối cùng.

3. Ý nghĩa phương pháp luận

Trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả. Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo điều kiện cho nguyên nhân phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó.

Phải biết xác định đúng nguyên nhânđể giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau.

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác tận dụng những kết quả đãđạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực.

II. Sự biểu hiện của nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

1. Thực trạng tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong năm 2012 trên toàn quốc đã xảy ra 6777 vụ tai nạn lao động làm 6967 người bị nạn, trongđó: số vụ tai nạn lao động chết người 552 vụ, số người chết 606 người, số người bị thương nặng 1470 người, nạn nhân là lao động nữ 1842 người.

Trong năm 2013 trên toàn quốc đã xảy ra 6695 vụ tai nạn lao động làm 6887 người bị nạn trong đó: số vụ TNLĐ chết người 562 vụ, số người chết 627 người, số người bị thương nặng 1506 người, nạn nhân là lao động nữ2308 người.

Trong 6 tháng đầu năm 2014 cả nước đã xảy ra 3454 vụ tai nạn lao động. Trong đó, số vụ tai nạn laođộng chết người là 258 vụ. So với 6 tháng đầu năm 2013, số vụ tai nạn lao động tăng 132 vụ (tăng 3%), tổng số nạn nhân tăng 74 người ( tăng 2%), số vụ tai nạn lao động chết người giảm 65 vụ (giảm 20%) và số người chết giảm 25 người (giảm 8%)

2. Sự biểu hiện nội dung của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua hoạtđộng tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1. Phạm trù nguyên nhân trong vấn đề tai nạn lao động

Phạm trù nguyên nhân trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động là sự tác động lẫn nhau giữa người lao động, người sử dụng lao động, kĩ thuật và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời là sự tácđộng giữa các mặt về lợi ích kinh tế của chủ lao động.. gây ra những kết quả là tai nạn lao động xảy ra. Cụ thể là:

Nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động là do sự tác động của người sử dụng lao động với người lao động, như không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động; không có quy trình, biện pháp an toàn lao động; Do tổ chức lao động chưa hợp lý; không có thiết bị an toàn hoặc thiết bị không đảm bảo an toàn; không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động vì lợi ích kinh tế mà giảm thiểu tốiđa thiết bị bảo hộ lao động hay thiết bị không đảm bảo an toàn lao động mà chỉmang tính hình thức,...

Nguyên nhân từ người laođộng như người lao động vi phạm các quy trình, biện pháp làm việc an toàn về an toàn lao động; không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân; hay thiếu hiểu biết về các thiết bị và quy định an toàn;..

Ngoài ra, nguyên nhân dẫnđến tai nạn lao động có thể từ cơ quan quản lý nhà nước: Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động hiện nay đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra, xử lý của cơ quan nhà nước đối với các doanh nghiệp vi phạm công tác an toàn vệ sinh lao động còn chưa triệt để dẫn đến tình trạng còn nhiều người sử dụng lao động không chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật. Khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, chưa được quan tâm hướng dẫn đầy đủ quy định nhà nước về an toàn vệ sinh lao động dẫn đến việc vi phạm các quy định về An toàn vệ sinh lao động và nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao.

2.2. Phạm trù kết quả trong vấn đề tai nạn lao động

Phạm trù kết quả trong hoạt động tai nạn lao động là bất kì biến đổi nào dẫn đến tổn thương cho bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình laođộng, gắn liền với việc thực hiện công việc lao động mà do những nguyên nhân từngười lao động, người sử dụng lao động... gây ra.

2.3. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả qua vấn đề tai nạn lao động

· Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

Nguyên nhân luôn có trước kết quả vềmặt thời gian, như nguyên nhân người chủ không tổ chức huấn luyện an toàn laođộng cho người lao động có trước mới dẫn đến kết quả là người lao động không hiểu về quy trình an toàn mà để xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, mặc dù đúng về mặt thời gian nhưng chúng ta không thể lấy “vì hôm qua người lao động xem bóng đá”là nguyên nhân để dẫn tới kết quả hôm nay anh ta mới xảy ra tai nạn lao động. Mà những mối liên hệ về mặt thời gian ấy phải có tính sản sinh ra nhau, như do thiếu hiểu biết về quy trình an toàn của việc sử dụng thiết bị máy móc mà khi vận hành người lao động mới gặp tai nạn. Vì vậy, muốn tìm nguyên nhân của tai nạn lao động cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ trước khi tai nạn đó xuất hiện.

Nguyên nhân sinh ra tai nạn lao động rất phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện các nhau, như thời tiết, khí hậu,..Chẳng hạn điều kiện thời tiết xấu xuất hiện cùng với nguyên nhân người lao động không trang bị bảo hộ có thể dẫn tới tai nạn nhưng nếu thời tiết tốt thì chưa chắc tai nạn đã xảy ra.

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫnđến tai nạn lao động: sự tác động giữa người lao động, người sử dụng lao động, do máy móc kĩ thuật không đảm bảo,..Ngược lại, từ một nguyên nhân cũng dẫn đến nhiều kết quả: chẳng hạn từ một sơ suất nhỏ của người lao động cũng dẫn đến những kết quả tai nạn nhẹ, tai nạn nặng, tai nạn chết người, tại nạn làm tổn hại của cải vật chất,..

Những nguyên nhân tác động cùng chiều sẽ nhanh dẫn tới sự hình thành kết quả. Thật vậy, người chủ không trang bịthiết bị bảo hộ kết hợp với việc người lao động chủ quan, không có ý thức bảo vệ chính bản thân mình thì tai nạn xảy ra là khó tránh khỏi. Ngược lại, nếu người chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn nhưng người lao động có ý thức bảo vệ, tiến hành các biện pháp an toàn lao động hay kiến nghị với người chủ lao động về việc trang bị thiết bị an toàn thì có thể cản trở kết quả tai nạn lao động có thể xảy ra. Đây là dẫn chứng của việc những nguyên nhân tácđộng ngược chiều thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí cản trở sự hình thành kết quả.

· Kết quả tác dụng trở lại đối với nguyên nhân

Khi kết quảlà tai nạn lao động xảy ra, thì lại có ảnh hưởng trở lại với nguyên nhân theo hai hướng. Theo hướng thúc đẩy sự phát triển của nguyên nhân, như ban đầu người chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn dẫn đến tai nạn lao động, vì sợ cơquan quản lý phát giác và xử phạt, họ chỉ trang bị những thiết bị an toàn khôngđảm bảo chất lượng mà chỉ mang tính hình thức, như vậy tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra,.. Theo hướng cản trở những nguyên nhân sinh ra nó, đó là các cơquan quản lý nhà nước tiến hành kiểm tra,tìm nguyên nhân gây ra tai nạn để khắc phục, hạn chế nguyên nhân làm xảy ra tai nạn lao động. Cụ thể bộ Lao độngThương binh và Xã hội chỉ đạo các Bộ, Ngành, Tập đoàn.. tăng cường chỉ đạo,đôn đốc các đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn lao động và các chế độ bảo hộ lao động, chú trọng triển khai công tác huấn luyện về an toàn lao động,..

· Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau

Trong mối liên hệ giữa “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”và “ xảy ra tai nạn lao động” thì “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”là nguyên nhân còn “việc xảy ra tai nạn lao động” là kết quả, còn trong mối liên hệ khác, “việc xảy ra tai nạn lao động” là nguyên nhân dẫn đến “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”để che mắt cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, mối liên hệ nhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong những trường hợp cụ thể.

2.4. Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua vấn đề tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

Trong thực tiễn khi tai nạn lao động xảy ra cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả mà khôngđược tách rời thế giới hiện thực thì mới có phương hướng giải quyết hậu quả. Muốn cho tai nạn lao động không xảy ra thì phải làm mất đi những nguyên nhân đã sinh ra nó. Chẳng hạn như phải loại bỏ nguyên nhân “chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn lao động” bằng việc “chủ lao động chủ động huấn luyện bài bản các biện pháp an toàn và trang bị thiết bị cho người lao động”. Đồng thời, phải biết các định đúng nguyên nhân (do tác động từ ai, như thế nào,..) bằng việc phân tích, báo cáo, tổng hợp,.. để giải quyết các vấn đề nảy sinh

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả, do đó trong khi tai nạn lao động xảy ra cần khai thác, tận dụng những dẫn chứng từ kết quả để giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, nhằm hạn chế tai nạn đáng tiếc xảy ra như những hoạt động tích cực của bộ Lao động Thương binh và Xã hội đang thực hiện hiện nay.

KẾT LUẬN

Victo Hurgo đã từng nói rằng “Hànhđộng làm nên ta, hoặc làm hỏng ta, chúng ta là kết quả hành vi bản thân”. Còn Isaac Newton nhận định “ Bất kỳ hành động nào cũng dẫn đến một phản ứng tácđộng ngược lại với mức độ tương đương”.. Không ai có thể phủ nhận tính khách quan của mối liên hệ nhân quả. Đặc biệt, nó có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhận thức của con người. Về thực tiễn có thể thấy, thành công không phải như một phép nhiệm màu, mà do chính ta tạo ra bằng sự nỗ lực của bản thân mình. Vì vậy, quy luật về mối liên hệ nhân quả chính là tâm điểm thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của một cá nhân, một quốc gia hay cả một xã hội. Nhà nước ta đã và đang áp dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này không chỉ vào hoạt động nhằm hạn chế tai nạn lao động mà cả những hoạtđộng khác để có những phương hướng chỉ đạo đúng đắn. Mối liên hệ nhân quả sẽtiếp tục là kim chỉ nam cho con người trong hoạt động thực tiễn để gặt hái những thành công to lớn hơn.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả

TÌNH HÌNH GIA TĂNG TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO QUA GÓC NHÌN BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ

Theo phép biện chứng duy vật bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ nhân – quả, vì thế giới là một chuỗi liên hệ nhân quả trong thời gian dài vô tận. Các sự vật, hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận động, phát triển không ngừng. Sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu tố bên trong sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới. Từ đó xuất hiện mối liên hệ nhân quả. Trong tình hình hiện nay, tội phạm mà đặc biệt là tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng đáng kể và những tác động của loại này để lại hậu quả rất lớn đến đời sống kinh tế. Việc đấu tranh và phòng ngừa đối với nhóm tội phạm công nghệ cao là vấn đề quan tâm hàng đầu. Những hậu quả do nhóm tội phạm này gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự của xã hội. Do đó, trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật đối với mối quan hệ nhân – quả, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tội phạm công nghệ cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đấu tranh và phòng ngừa nhóm hành vi phạm tội này. Vì vậy, đề tài “Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả” cần được tiến hành.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ - vận DỤNG QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về mối QUAN hệ GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ - VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội. Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị xã hội của đất nước. Do hạn chế về nhận thức, vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cho nên nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải những sai lầm trong quá trình cải tổ, đổi mới. Nước ta, trong thời kỳ đầu việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm triết học Mác Lênin còn ở những mức độ nhất định. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trước thời kỳ đổi mới.
Xem thêm

66 Đọc thêm

TRÌNH BÀY PHẠM TRÙ, MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG. NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ. TỪ ĐÓ RÚT RA Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

TRÌNH BÀY PHẠM TRÙ, MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG. NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ. TỪ ĐÓ RÚT RA Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Vd: tình trạng thất nghiệp của nhiều sinh viênhiện nay là do nhiều nguyên nhânnguyên nhân khách quan: tình hình kinh tế suythoái, doanh nghiệp cắt giảm biên chế, nguyênnhân chủ quan: bản thân sinh viên không chọnđúng ngành phù hợp với năng lực, không nghiêncứu tài liệu, không chịu thực hành, lười biếng,không có kỉ luật, ham chơi.Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thànhmột kết quả có thể diễn ra theo các hướng thuận, nghịchkhác nhau và điều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quảnhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau có nguyênnhân trực tiếp, gián tiếp, bên trong, bên ngoài, ngược lạimột nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đócó kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếpvà gián tiếp,...Trong sự vận động của thế giới vật chất không có nguyênnhân đầu tiên và kết quả cuối cùng.3 Ý nghĩa phương pháp luận:Vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tấtyếu nên phải tìm nguyên nhân của sự vật, hiệntượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thựckhách quan chứ không phải ở ngoài thế giới đó.Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nênphải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để
Xem thêm

27 Đọc thêm

CÂU HỎI THẢO LUẬN HP1 2015

CÂU HỎI THẢO LUẬN HP1 2015

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
BỘ MÔN NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN





TÀI LIỆU THAM KHẢO
MÔN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
HỌC PHẦN 1


Người soạn: Lê Văn Hùng
Tài liệu được soạn trên cơ sở giáo trình và tham khảo nhiều tài liệu khác;
Tài liệu không có giá trị chứng nhận bản quyền tác giả;
Lưu hành nội bộ.







HÀ NỘI, 2013

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
I. Khái lược về chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Chủ nghĩa Mác Lênin và ba bộ phận cấu thành
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác (Karl Marx 1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (Friedrich Egels, 1820 1895) xây dựng, V. I. Lênin (Vladimir Ilich Lênin 1870 1924) bảo vệ và phát triển; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.
Nội dung của chủ nghĩa Mác Lênin bao gồm 3 bộ phận lý luận là:
+ Triết học Mác Lênin
+ Kinh tế chính trị Mác Lênin
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học
Đối tượng, vị trí, vai trò và tính thống nhất của 3 bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác Lênin
+ Triết học Mác Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.
+ Kinh tế chính trị Mác Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học là sự vận dụng thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác Lênin vào việc nghiên cứu những quy luật khách quan của quá trình cách mạng XHCN – bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản.
Ngày nay có nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác Lênin là học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất và chân chính nhất để thực hiện lý tưởng đó.
2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin
a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Điều kiện về kinh tế xã hội
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ trên nền tảng cuộc cách mạng công nghiệp (trước tiên được thực hiện ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII). Cuộc cách mạng công nghiệp này đã đem lại:
+ Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên cơ sở phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, đánh dấu bước chuyển từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
+ Làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội mà trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.
+ Sự phát triển chủ nghĩa tư bản càng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển cao và mang tính chất xã hội hoá sâu sắc với quan hệ sản xuất tư bản, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn này là mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ngày càng gay gắt. Từ đó dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp tư sản: Ở Pháp có khởi nghĩa của công nhân dệt ở Liông 1831 và 1834; ở Anh có phong trào Hiến Chương (10 năm) vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XIX; Đức có phong trào đấu tranh của công nhân dệt ở Xilêdi => Những phong trào đấu tranh trên là bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.
+ Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại, nó đặt ra yêu cầu khách quan là cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng nhu cầu khách quan đó, đồng thời chính thực tiễn cách mạng đó cũng trở thành tiền đề cho sự khái quát và phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác.
Tiền đề lý luận
Chủ nghĩa Mác ra đời là sự kế thừa di sản lý luận của nhân loại mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh.
Triết học cổ điển Đức (G.W. Ph.Hêghen, và L.Phoiơbắc)
> Triết học cổ điển Đức (triết học của Hêgghen và Phoiơbắc) đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.
+ Hêghen:
> Công lao của Ph.Hêghen: phê phán phương pháp siêu hình; là người đầu tiên diễn đạt được nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua hệ thống các quy luật, phạm trù
> Hạn chế trong triết học Hêgghen: hệ thống triết học của ông mang tính chất duy tâm thần bí. Vì vậy, phép biện chứng của ông cũng chỉ là biện chứng của tư duy.
> C.Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất duy tâm thần bí và kế thừa phép biện chứng của Hêghen để xây dựng nên phép biện chứng duy vật.
+ L.Phoiơbắc:
> Công lao của L.Phoiơbắc: đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII XVIII; khẳng định quan điểm duy vật triệt để trong lĩnh vực tự nhiên: Giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn và không phụ thuộc vào ý thức con người.
> Hạn chế trong triết học Phoiơbắc: duy tâm về lĩnh vực xã hội; chủ nghĩa duy vật của ông mang tính chất siêu hình (chưa triệt để)
> Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất siêu hình, đánh giá cao chủ nghĩa duy vật vô thần của ông, đây là tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường của chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen đã lọc bỏ tính chất duy tâm thần bí, kế thừa phát triển phép biện chứng trong triết học Hêghen, đồng thời, lọc bỏ tính siêu hình và kế thừa phát triển chủ nghĩa duy vật trong triết học Phoiơbắc, kết hợp chúng để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học. Do vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng của C. Mác và Ph. Ăngghen đã phản ánh đúng đắn sự tồn tại khách quan, biện chứng của thế giới.
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (A. Xmít, Đ. Ricácđô)
+ A.Xmít và Đ.Ricácđô
> Công lao lịch sử của A.Xmít và Đ.Ricácđô: là những người mở đầu xây dựng lý luận về giá trị lao động trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế chính trị học; đưa ra nhiều kết luận quan trọng về giá trị và nguồn gốc của lợi nhuận, tính chất quan trọng của quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan.
> Hạn chế về phương pháp nghiên cứu: không thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hoá và sản xuất hàng hoá; không thấy được tính hai mặt của sản xuất hàng hoá; không phân biệt được sản xuất hàng hoá giản đơn với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
> C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ, đồng thời giải quyết những bế tắc mà các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua. Từ đó C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng nên: lý luận về giá trị thặng dư; luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến sự diệt vọng tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (H.Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen)
+ Công lao lịch sử của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng: thể hiện đậm nét nhân văn, đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và vạch trần nỗi khốn khổ của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản về xã hội tương lai.
+ Hạn chế: không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản; không phát hiện được quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản; chưa nhận thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng một xã hội mới bình đẳng, không có bóc lột.
+ C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và kế thừa những mặt tích cực, đặc biệt là quan điểm đúng đắn về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.
Tiền đề khoa học tự nhiên
Những thành tựu của khoa học tự nhiên vừa là tiền đề, vừa là luận cứ để khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
Thế kỷ XIX có 3 phát minh vĩ đại:
> Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh một cách khoa học về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên.
> Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển sự sống trong mối liện hệ của chúng.
> Thuyết tiến hoá đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.
b. Giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác
Thứ nhất: Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ lập trường duy tâm và dân chủ cách mạng sang lập trường duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Thứ hai: Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Thứ ba: Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học.
Thứ tư: Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
Thực chất cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
+ Một là, khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong triết học trước đó.
+ Hai là, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho triết học của C. Mác và Ph.Ăngghen trở nên triệt để. Trước khi triết học Mác ra đời chưa có một nhà triết học nào giải thích được một cách duy vật lĩnh vực lịch sử – xã hội – tinh thần. Triết học Mác ra đời đã khắc phục được những hạn chế này.
+ Ba là, với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn. Triết học của hai ông trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ.
+ Bốn là, với sự ra đời của triết học Mác, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể. Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là đối lập với các khoa học cụ thể, hoặc là hoà tan vào nó. Từ khi triết học Mác ra đời thì quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các thông số, dữ liệu khoa học, tài liệu khoa học để triết học Mác khái quát, còn triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất cho các khoa học cụ thể.
Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C. Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
+ Làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, vị trí, chức năng trong hệ thống tri thức khoa học.
+ Làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở trở thành khoa học.
+ Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
c. Giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác (đọc giáo trình)
V.I.Lênin (1870 1924) đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đó, ông đã đóng góp to lớn vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
d. Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới (đọc giáo trình)
II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Đối tượng và mục đích học tập, nghiên cứu
a. Đối tượng
Trong phạm vi triết học Mác – Lênin, đó là những nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất, bao gồm:
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học
+ Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội
Trong phạm vi kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác Lênin bao gồm: Học thuyết về giá trị (giá trị lao động), học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao.
Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học bao gồm: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, các quy luật chính trị xã hội của quá trình hình thành, phát triển hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa và những định hướng cho giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
b. Mục đích
Việc học tập, nghiên cứu môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin” nhằm:
+ Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin
+ Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, niềm tin, lý tưởng cách mạng
+ Vận dụng sáng tạo những nhân tố trên trong nhận thức và thực tiễn, trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức đáp ứng nhu cầu về nhân tố con người trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu
Phải hiểu đúng tinh thần, thực chất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, chống xu hướng kinh viện, giáo điều.
Nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin phải đặt chúng trong mối quan hệ với các luận điểm khác, các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhất trong tính đa dạng, nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủ nghĩa Mác Lênin nói chung.
Phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử.
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới, vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu đồng thời phải là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân và trong cộng đồng xã hội.
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống lý luận “mở”, không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thực tiễn thời đại. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu, một mặt phải là quá trình tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học, tính nhân văn vốn có của nó. Mặt khác, phải đặt nó trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại vì nó là sự kế thừa tinh hoa nhân loại trong điều kiện lịch sử mới.

PHẦN I
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
CHƯƠNG I
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng
1. Quan niệm về triết học và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
a. Quan niệm về triết học
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
b. Sự đối lập giữa CNDV và CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học:
Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
Sở dĩ đây là vấn đề cơ bản của triết học vì nó là nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề triết học khác. Trên thực tế các hệ thống triết học đều phải giải quyết vấn đề này bằng cách này hay cách khác.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai, cái nào quyết định, cái nào phụ thuộc?
Mặt thứ hai trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới không?
Căn cứ vào cách trả lời hai câu hỏi trên người ta chia các nhà triết học ra thành các trường phái khác nhau.
Khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học có ba cách giải quyết:
Một là: thừa nhận vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Vật chất có trước và quyết định ý thức. Các hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là nhất nguyên duy vật, hay còn gọi là CNDV.
Hai là: thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, ý thức có trước và quyết định sự tồn tại của vật chất. Hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là triết học nhất nguyên duy tâm, hay còn gọi là CNDT.
Ba là: thừa nhận vật chất và ý thức tồn tại độc lập song song với nhau, không cái nào quyết định cái nào. Hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là triết học nhị nguyên, thực chất triết học nhị nguyên là chủ nghĩa duy tâm.
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học hình thành nên học thuyết triết học khả tri (khả tri luận) và bất khả tri (bất khả tri luận). Khả tri luận – quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người; bất khả tri luận – phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.

2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật

Thời gian Hình thức Đặc điểm

Thế kỷ VI III TCN
CNDV chất phác Đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể nào đó; mang tính tự phát, ngây thơ, cảm tính, dựa trên những quan sát trực tiếp và phỏng đoán về thế giới tự nhiên.

Thế kỷ XVII –XVIII
CNDV siêu hình Chịu sự tác động của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, thế giới được coi như tổng số các sự vật biệt lập, không vận động, không phát triển.
Thế kỷ XIX –XX CNDV biện chứng Là sự thống nhất giữa CNDV khoa học và phương pháp biện chứng, phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển.
II. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Vật chất
a. Phạm trù vật chất
Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cổ đại
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, chẳng hạn, Ta lét: nước; Anaximen: không khí; Hêraclít: Lửa; Đêmôcrít: nguyên tử...
Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cận đại
Thế kỷ XVII – XVIII, KHTN phát triển, thu được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu thế giới khách quan (Cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học….). Tuy vậy, những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: Nguyên tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự vật, thừa nhận “cái hích” đầu tiên của thượng đế.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại phát triển, nhất là vật lý học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất… làm biến đổi sâu sắc quan niệm của con người về nguyên tử: 1895: Rơnghen tìm ra tia X Một loại sóng điện từ có bước sóng cực ngắn); 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ  Quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh rằng điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử... => Những phát hiện nói trên của vật lý học đã mâu thuẫn với quan niệm về vật chất của CNDV thế kỷ XVII XVIII. CNDT đã lợi dụng tình hình đó để tuyên truyền quan điểm duy tâm: tuyên bố vật chất “tiêu tan”, “biến mất”. Trong bối cảnh đó Lênin đã đưa ra một định nghĩa mới về vật chất.
Định nghĩa vật chất của Lênin
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Phân tích định nghĩa
Thứ nhất: Vật chất là một phạm trù triết học: Khái niệm vật chất dưới góc độ triết học, dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi. Các dạng vật chất mà các khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra, có mất đi, chuyển hóa thành cái khác.
Thứ hai: Lênin đã sử dụng phương pháp định nghĩa đặc biệt, đặt vật chất đối lập với ý thức, vật chất là tất cả những gì tác động vào các giác quan của con người thì gây nên cảm giác.
Thứ ba: Dùng để chỉ thực tạikhách quan
+ Thực tại: tồn tại, có thực
+ Khách quan (không phụ thuộc vào cảm giác của con người)
Thứ tư: Được đem lại cho con người trong cảm giác: Vật chất có trước, tác động vào các giác quan của con người: tác động trực tiếp: nhìn, cảm nhận; gián tiếp: nhờ các công cụ => Cảm giác, ý thức của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh vật chất => Con người có thể nhận thức được thế giới... “chép lại, chụp lại”.
Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học
Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật triệt để, khắc phục được quan điểm duy vật siêu hình trước đó, chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri...
Khắc phục được khủng hoảng trong KHTN, mở đường cho khoa học tự nhiên phát triển > Thấy được vai trò của triết học đối với khoa học tự nhiên, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau: thành tựu của KHTN giúp triết học khái quát thế giới một cách chính xác hơn ngược lại triết học phát triển đúng đắn định hướng về mặt thế giới quan đúng đắn, chính xác cho KHTN…
Với định nghĩa này, phạm trù vật chất không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tự nhiên mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực xã hội, khẳng định đâu là vật chấtý thức trong lĩnh vực xã hội > Định nghĩa này là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định rằng, trong lĩnh vực xã hội, vật chất được biểu hiện dưới dạng tồn tại xã hội, yếu tố quan trọng nhất tạo nên tồn tại xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất… nó đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật về lịch sử.
b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Vận động
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm mọi sự thay đổi nói chung, mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả từ thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
Vật chất tồn tại bằng cách vận động, nghĩa là thông qua vận động, vật chất biểu thị sự tồn tại của mình và chỉ thông qua vận động, vật chất mới tồn tại được. Nghĩa là, không có vật chất không vận động.
Vận động của vật chất là tự thân, do nguồn gốc bên trong bản thân vật chất quy định. Vận động của vật chất không bao giờ mất đi, chỉ chuyển từ hình thức vận động này sang hình thức vận động khác.
Vận động gắn liền với đứng im, đứng im là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối.
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (tính 3 chiều: dài, rộng, cao), biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt cũng như trật tự phân bố của các sự vật.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình, biểu diễn trình tự xuất hiện, mất đi của sự vật (quá khứ, hiện tại, tương lai).
c. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Thế giới thống nhất bởi tính vật chất, cụ thể là:
+ Một là: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất có trước tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người.
+ Hai là: Các sự vật trong thế giới đều là những dạng tồn tại khác nhau của thế giới vật chất, nó có mối liên hệ với nhau và cùng bị chi phối bởi các quy luật khách quan.
+ Ba là: Thế giới đó tồn tại vĩnh viễn, không ai sinh ra và không mất đi, vô hạn và vô tận, chúng vận động, chuyển hoá lẫn nhau.
> Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới là kết luận được rút ra từ việc khái quát thành tựu của khoa học và được cuộc sống hiện thực của con người kiểm nghiệm.
2. Ý thức
a. Nguồn gốc của ý thức














Kết luận: Sự xuất hiện của ý thức con người là kết quả đồng thời của hai quá trình tiến hóa: tiến hóa về mặt tự nhiên và tiến hóa về mặt xã hội. Trong đó, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
b. Bản chất và kết cấu của ý thức
Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong óc người. Thể hiện:
Ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo
+ Định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin.
+ Trên cơ sở những thông tin đã có, có thể tạo ra những thông tin mới.
+ Có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế; có thể dự báo, tiên đoán tương lai; có thể tạo ra những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng.
Ý thức là sự phản ánh mang tính chủ quan
+ Phụ thuộc vào trình độ tổ chức bộ não của mỗi chủ thể phản ánh.
+ Phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh xã hội mà chủ thể đó sống.
+ Hình ảnh thế giới khách quan tác động vào bộ não và được cải biến qua lăng kính chủ quan.
Ý thức là sự phản ánh mang tính xã hội
+ Ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội: lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, cho nên người nào tách rời khỏi đời sống xã hội của con người sẽ không thể có ý thức.
+ Ý thức phản ánh tồn tại xã hội và biến đổi cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”.
Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó gồm 3 yếu tố cơ bản sau:
Tri thức: Là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên và xã hội, là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới hiện thực
Tình cảm: Là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh và đối với bản thân mình
Ý chí: Là khả năng huy động sức mạnh của bản thân để vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người.
=> Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng sự phát triển và mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a. Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vật chất là nguồn gốc của ý thức thể hiện:
+ Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất...
+ Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ)...
Vật chất quyết định nội dung, đặc điểm của ý thức: Biểu hiện điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó.
> Từ vấn đề này hãy giải thích một số vấn đề thực tiễn: Vì sao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam so với thế giới rất thấp; căn nguyên của tính tùy tiện, tự do... của người sản xuất nhỏ?...
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức, khi cơ sở, điều kiện vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo
> Từ vấn đề này hãy giải thích một số vấn đề thực tiễn: Nhu cầu về đời sống vật chất ở Việt Nam hiện nay có gì khác so với thời kỳ bao cấp? Vấn đề chọn trường, ngành học của sinh viên hiện nay thay đổi so với trước kia như thế nào? Tư duy của người nông dân Việt Nam hiện nay thay đổi so với tư duy truyền thống như thế nào?.v.v..
b. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Bản chất của ý thức mang tính năng động, sáng tạo, ý thức là ý thức của con người, chỉ có con người mới có ý thức nên nói tới sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất chính là nói đến sự tác động của con người đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn.
Ý thức chỉ đạo, hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn, (ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan), giúp con người xác định được: mục tiêu, phương hướng, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ... để đạt được mục tiêu của mình
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực, thể hiện:
+ Tác động tích cực: Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực... thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, cải tạo được thế giới...
+ Tác động tiêu cực: Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì hướng hành động của con người đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động đó sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động thực tiễn...
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Xuất phát từ vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức: Đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, thể hiện:
Tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật.
Tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội.
Phải xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn thúc đẩy xã hội tiến lên.
Nếu chủ quan, duy ý chí, nôn nóng tất yếu dẫn đến sai lầm trong hoạt động nhận thức và thất bại trong hoạt động thực tiễn.
Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất sẽ rơi vào quan điểm duy vật tầm thường.
Xuất phát từ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất: Đòi hỏi phải luôn luôn chú ý phát huy đầy đủ tính năng động, chủ quan, sự sáng tạo của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, muốn vậy:
Tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin, hướng dẫn quần chúng hành động... (liên hệ với việc đưa tri thức khoa học tới nông dân ở Việt Nam hiện nay...)
Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của con người Việt Nam, quyết tâm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu...
Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

CHƯƠNG II
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Khái niệm phép biện chứng
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Có biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người.
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.
2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: thô sơ, tự phát
+ Triết học phương Đông cổ đại: Biện chứng trong âm dương, ngũ hành (triết học Trung Quốc),…
+ Triết học phương Tây cổ đại: Tiêu biểu là triết học HiLạp, Ăngghen đã từng nhận xét các nhà triết học Hilạp cổ đại, hầu hết họ đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, tiêu biểu là: Hêraclit, Platôn, đặc biệt là Arixtốt.
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức (Cantơ > Hêghen): Tiêu biểu là phép biện chứng trong triết học của Hê ghen, Ăngghen đã từng nhận xét: Hêghen là nhà triết học vĩ đại người Đức, ông là người đầu tiên trong lịch sử, trình bày phép biện chứng một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và súc tích nhất. Tuy nhiên, phép biện chứng lại bị Hêghen trình bày một cách duy tâm, lộn ngược và không triệt để.
Phép biện chứng duy vật: Có tính khoa học cách mạng do C.Mác và Ph. Ăngghen sáng lập, trên cơ sở kế thừa và cải tạo phép biện chứng của Hêghen.
3. Phép biện chứng duy vật hình thức cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử
a. Định nghĩa phép biện chứng duy vật
Cơ sở để C.Mác và Ph. Ăngghen, Lênin đưa ra khái niệm phép biện chứng:
+ Cơ sở thực tiễn (thực tiễn lịch sử loài người)
+ Kết quả khái quát thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại
+ Kế thừa phép biện chứng của Hêghen
Định nghĩa phép biện chứng: Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph. Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy”.
Khi nhấn mạnh đến vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph. Ănghen định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”.
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển, Lênin khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu của phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”.
b. Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật (làm rõ sự hơn hẳn về chất của phép biện chứng duy vật so với các phép biện chứng trước đó)
Được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
Có sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới
Biện chứng triệt để: Như C. Mác đã viết: Phép biện chứng của tôi không chỉ khác mà còn hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen (Phép biện chứng của Hêghen không triệt để: Một mặt ông thừa nhận mọi sự vật vận động, phát triển không ngừng; mặt khác ông lại mâu thuẫn cho rằng nhà nước Phổ là nhà nước cuối cùng; triết học của ông là cao nhất, tuyệt đích > Hạn chế này là do lập trường giai cấp, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị).
c. Vai trò của phép biện chứng duy vật
Đối với chủ nghĩa Mác Lênin: Phép biện chứng là cơ sở lý luận cơ bản, là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác (Lênin).
Đối với thực tiễn: Như Lênin đã khẳng định, phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại của loài người. Mọi thành công của Việt Nam trong thực tiễn đổi mới đất nước vừa qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Đối với sự phát triển của khoa học:
+ Lênin đã từng khẳng định: Phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại của nhân loại. Anhxtanh, nhà vật lý học vĩ đại của nhân loại thế kỷ XX, từng chỉ ra: Khoa học, mà trước hết là vật lý học càng phát triển bao nhiêu, các nhà khoa học càng cần phải được trang bị phép biện chứng duy vật bấy nhiêu. (Bàn về chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Học tập số 6, tr. 56, Nxb ST, HN, 1986).
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ và đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn Việt Nam những năm vừa qua cũng cho thấy những kinh nghiệm tương tự: tác hại khôn lường của ốc bươu vàng, của rùa tai đỏ, của dự án trồng cà phê ở các tỉnh miền núi phía Bắc… là những ví dụ điển hình của sự trừng phạt của phép biện chứng đối với những ai khinh thường nó…
II. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Các nhà triết học siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến, họ cho rằng sự vật, hiện tượng có thể tồn tại một cách cô lập, tách rời, cái này bên cạnh cái kia…
Các nhà triết học duy vật biện chứng cho rằng: thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng, chúng thống nhất với nhau ở tính vật chất nên tất yếu chúng phải có mối liên hệ với nhau.
+ Khái niệm: Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ:
+ Tính phổ biến của các mối liên hệ (bởi vì mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, không loại trừ một sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào).
+ Chỉ những mối liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới.
> Từ các khái niệm trên giải thích một số vấn đề trong thực tiễn: thời đại toàn cầu hóa, nền kinh tế giữa các quốc gia có liên hệ với nhau như thế nào? Trong một quốc gia, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự... có liên hệ với nhau như thế nào?
Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức... Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội. Trong đó, các phạm trù cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; khái quát hóa, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ theo hệ thống. Các cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực là cơ sở phương pháp luận chỉ ra các mối liên hệ và sự phát triển giữa các sự vật, hiện tượng là một quá trình. Cặp phạm trù nội dung và hình thức là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của các phương pháp nhận thức và thực tiễn.
b. Tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ
+ Mối liên hệ là cái vốn có của các sự vật, hiện tượng, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế.
+ Chỉ có liên hệ với nhau, sự vật, hiện tượng mới tồn tại, vận động, phát triển.
Tính phổ biến của các mối liên hệ
+ Vì không phải chỉ có các sự vật, hiện tượng liên hệ với nhau, mà các yếu tố, bộ phận cấu thành chúng cũng liên hệ với nhau. Không phải chỉ có các thời kỳ trong một giai đoạn, các giai đoạn trong một quá trình liên hệ với nhau, mà giữa các quá trình cũng liên hệ với nhau trong sự vận động và phát triển của thế giới.
+ Không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội, lẫn tư duy, các sự vật, hiện tượng cũng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ
+ Mỗi sự vật, hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu…), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật đó.
+ Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng lại có những biểu hiện phong phú khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau…
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ cho nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải quán triệt quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác => Như vậy, mới nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.
=> Liên hệ với thực tiễn (sinh viên).
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ, do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử – cụ thể.
Quan điểm lịch sử – cụ thể
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn.
Từ quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể thì trong nhận thức và thực tiễn cần chống lại quan điểm phiến diện (xem xét qua loa một vài mối liên hệ đã vội đánh giá sự vật một cách chủ quan); chống lại quan điểm chiết trung (san bằng các mối liên hệ, xem chúng có vị trí, ý nghĩa như nhau); chống quan điểm ngụy biện, đánh tráo khái niệm (những người ngụy biện cũng đề cập tới các yếu tố, các mặt cấu thành sự vật nhưng đánh lộn vai trò của chúng, biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất và ngược lại).
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Khái niệm phát triển
Quan điểm siêu hình: Phát triển là sự thay đổi về lượng mà không có sự thay đổi về chất; phát triển như là một quá trình liên tục, không có những bước quanh co, thụt lùi...
Quan điểm biện chứng:
+ Khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng tiến lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
+ Khái niệm “phát triển” không đồng nhất với khái niệm “vận động”?
b. Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan của sự phát triển: Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển.
> Hãy giải thích: Sự phát triển của một con người phải trải qua nhiều giai đoạn và phải giải quyết nhiều mâu thuẫn trong lòng nó? Sự phát triển của xã hội loài người cũng phải giải quyết nhiều mâu thuẫn khác nhau…? => Sự phát triển đó mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người hay do đấng siêu nhiên tạo ra.
Tính phổ biến của sự phát triển: Quá trình phát triển diến ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong mọi hiện tượng, quá trình => Trong mỗi quá trình biến đổi có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng có sự khác nhau trong sự phát triển; bản thân mỗi sự vật cũng có sự phát triển không giống nhau… => Nguyên nhân là do: Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong không gian và thời gian khác nhau, chịu sự tác động của nhiều sự vật, hiện tượng, yếu tố khác nhau... => Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Khi nghiên cứu nguyên lý này, trong hoạt động nhận thức và hoạt thực tiễn, cần phải có quan điểm phát triển:
+ Đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên để dự tính được xu hướng đi lên của nó, có thái độ đúng đắn đối với cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
+ Con đường của sự phát triển là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự phát triển, khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vào tương lai, không bi quan, chán nản...
III. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Khái quát chung về phạm trù
Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định.
Phạm trù hình thành là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan của con người, vì vậy phạm trù có những tính chất cơ bản sau:
+ Tính khách quan: nội dung phạm trù phản ánh thuộc về thế giới khách quan, không phụ thuộc vào bất kỳ lực lượng siêu nhiên nào.
+ Tính chủ quan: vì phạm trù là sản phẩm hoạt động nhận thức nên nó phụ thuộc vào đặc điểm nhận thức của con người ở thời đại lịch sử sinh ra nó.
+ Tính linh hoạt, mềm dẻo: trình độ nhận thức của con người không đứng một chỗ mà luôn phát triển, càng ngày con người càng phát hiện tri thức mới về hiện thực, những tri thức mới ấy không ngừng được bổ sung, làm cho phạm trù phản ánh thế giới ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn.
2. Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Cái riêng, cái chung
Định nghĩa: cái chung, cái riêng, cái đơn nhất
Phạm trù cái chung: dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ… lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Phạm trù cái riêng: dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định.
Phạm trù cái đơn nhất: dùng để chỉ những đặc tính, những tính chất… chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, thể hiện:
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của nó, nó không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng (tức là cái chung không tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ).
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, vì bất cứ cái riêng nào cũng tồn tại trong mối quan hệ với cái riêng khác, giữa những cái riêng ấy bao giờ cũng có những cái chung giống nhau.
+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng còn cái cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
+ Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện xác định.
> Cái đơn nhất biến thành cái chung trong quá trình phát triển của sự vật (từ cái ít > nhiều > Đi lên có sự vật).
> Cái chung biến thành cái đơn nhất trong quá trình tiêu vong của sự vật, hiện tượng (nhiều > ít > sự vật đi xuống (lỗi thời)).
Ý nghĩa phương pháp luận
Khi nghiên cứu sự vật phải phát hiện cái chung, vì cái chung là cái sâu sắc, bản chất, muốn tìm được cái chung thì phải xâm nhập vào cái riêng.
Khi giải quyết những vấn đề cụ thể phải xuất phát từ cái chung, bởi vì nó là cái bản chất, sâu sắc, định hướng cho việc nghiên cứu cái cụ thể (nếu xuất phát từ cái cụ thể nó che mờ đi cái bản chất), không nhận thức đúng đắn vấn đề…
Phải “cá biệt hóa” cái chung khi vận dụng vào từng cái riêng cụ thể, vì mỗi cái riêng còn có cái đơn nhất (khác biệt), nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ không tìm ra cái đặc thù của sự vật, ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng sẽ không tìm ra được cái bản chất của sự vật.
Cần phát hiện, tạo điều kiện cho cái đơn nhất tích cực phát triển, phổ biến thành cái chung; đồng thời cần hạn chế, loại bỏ, thủ tiêu những cái chung lạc hậu, tạo điều kiện cho cái mới, tích cực phát triển…
b. Nguyên nhân và kết quả
Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân: dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ra sự biến đổi nhất định.
Phạm trù kết quả: dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Thứ nhất: Nguyên nhân sinh ra kết quả
+ Nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, kết quả chỉ xuất hiện khi nguyên nhân gây ra tác động.
> Lưu ý: Không phải sự nối tiếp nào về thời gian của sự vật, hiện tượng đều biểu hiện mối quan hệ nhân quả, chẳng hạn, ngày luôn luôn “đến sau” đêm; sấm luôn luôn “đến sau” chớp… những hiện tượng này cái nọ tiếp sau cái kia không phải vì chúng nằm trong mối quan hệ nhân quả mà đơn thuần là vì chúng ở trong quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian.
+ Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.
+ Một kết quả được sinh ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau do tác động riêng lẻ hoặc đồng thời.
> Nhiều nguyên nhân phát huy tác động đồng thời tổng hòa các nguyên nhân đưa lại kết quả (trong đời sống cần tìm ra nguyên nhân tốt, loại bỏ nguyên nhân xấu).
> Nhiều nguyên nhân tác động riêng rẽ, đưa lại kết quả như nhau.
+ Nguyên nhân có nhiều loại, như nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu… mỗi loại có vai trò khác nhau đối với kết quả, cho nên, trong thực tiễn, phải nhận dạng được chúng để có thái độ ứng xử đúng đắn.
Thứ hai: Kết quả tác động trở lại nguyên nhân
Kết quả sau khi ra đời nó không thụ động, trái lại nó tác động t
Xem thêm

1 Đọc thêm

THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường


Theo phép biện chứng duy vật bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ nhân quả, vì thế giới là một chuỗi liên hệ nhân quả trong thời gian dài vô tận. Các sự vật, hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận động, phát triển không ngừng. Sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu tố bên trong sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới. Từ đó làm xuất hiện mối liên hệ nhân quả.

Trong một vài thập kỷ gần đây bạo lực học đường là một hiện tượng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng ở nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam ta. Bạo lực học đường đang trở thành mối lo ngại của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Nó tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ học tập của học sinh và việc giảng dạy của các thầy giáo, cô giáo. Bạo lực học đường ở Việt Nam diễn ra không chỉ ở các thành phố lớn mà còn có ở các vùng nông thôn, không chỉ xảy ra ở học sinh nam mà còn cả học sinh nữ và dường như xảy ra ở các cấp học. Câu hỏi được đặt ra là: Nguyên nhân từ đâu lại có bạo lực học đường, hậu quả của bạo lực học đường là như thế nào?

Vì vậy, em đã quyết định vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường hiện nay.

B. Nội dung

I. Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định.

Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với kết quả, người ta chia nguyên nhân ra làm nhiều loại khác nhau. Chẳng hạn như nguyên nhân chủ yếu và không chủ yếu; nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan..v..v…

Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật hiện tượng.

Ví dụ như sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô là nguyên nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô. Hay sự tác động giữa xăng, không khí, áp suất v..v.. là nguyên nhân gây ra tiếng nổ cho động cơ – kết quả.

2. Tính chất của mối liên hệ nhân quả

Phép biện chứng duy vật đã khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến và tính tất yếu.

Tính khách quan được thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Chúng ta biết rằng, mọi sự vật trong thế giới là luôn luôn vận động, tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu sẽ dẫn đến một sự biến đổi nhất định. Do đó có thể nói mối liên hệ nhân quả luôn có tính khác quan.

Còn tính phổ biến của mối liên hệ nhân quả được thể hiện ở chỗ, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều có mối liên hệ này. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, nhưng vấn đề là ở chỗ nguyên nhân đó được nhận thức hay chưa mà thôi.

Ví dụ mối liên hệ nhân quả trong xã hội, nếu như pháp luật càng lỏng lẻo thì an ninh trật tự của xã hội đấy sẽ càng bất ổn. Hay như trong tự nhiên, khi mùa đông đến thời tiết lạnh, khô hanh lá cây rụng hết, cây sẽ giữ được nước và có thể sống an toàn qua mùa đông.

Tính tất yếu thể hiện ở một điểm, cùng một nguyên nhân như nhau, trong những điều kiện giống nhau sẽ nảy sinh những kết quả như nhau. Nghĩa là nguyên nhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu.

3. Quan hệ biện chúng giữa nguyên nhân và kết quả

Mối quan hệ giữa nguyên nhân kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân.

Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân.

Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Ví dụ, gạo và nước đun sôi có thể thành cơm, thành cháo v..v.. phụ thuộc vào lượng nước và mức nhiệt độ v..v..

Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Ví dụ, sức khỏe của chúng ta tốt do luyện tập thể dục, ăn uống điều độ, chăm sóc y tế tốt v..v.. chứ không chỉ do một nguyên nhân nào đó.

Trong những điều kiện nhất đinh, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ, chăm chỉ làm việc thì sẽ có thu nhập cao, mà thu nhập cao thì đời sống vật chất, tình thần lại được nâng cao – kết quả. Kết quả, sau khi xuất hiện lại tác động trở lại nguyên nhân, thúc đẩy nguyên nhân theo hướng tích cực hoặc ngược lại. Ví dụ, nghèo đói, thất học làm gia tăng dân số, và gia tăng dân số lại làm tăng nghèo đói, thất học,…

4. Ý nghĩa phương pháp luận

Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy cặp phạm trù nguyên nhân kết quả như sau: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả.

Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo nguyên nhân cùng những điều kiện cho nguyên nhân phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó.

Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không giống nhau.

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả do đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực.

II. Thực trạng bạo lực học đường ở Việt Nam dưới góc nhìn phân tích cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

Trong những năm gần đây, bạo lực học đường trở thành một vấn đề nhức nhối đối với nền giáo dục Việt Nam. Hiện tượng học sinh đánh nhau là một hiện tượng không mới, nhưng những hiện tượng đánh nhau của học sinh ở một số địa phương trong thời gian gần đây đã bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng. Điển hình là các vụ học sinh dùng hung khí đánh nhau trong trường học, trước cổng trường, học sinh nữ đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn gây hậu quả nghiêm trọng và bức xúc trong dư luận xã hội. Đặc biệt, còn có các trường hợp giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh, ngoài ra còn có hiện tượng học sinh hành hung thầy giáo, cô giáo. Và ngược lại cũng có các hiện tượng thầy giáo, cô giáo dùng lời nói xúc phạm học trò, dùng vũ lực để “giáo dục” học sinh, …

Tuy nhiên, vì vấn đề bạo lực học đường khá rộng nên em lựa chọn một khía cạnh nhỏ trong bạo lực học đường và dựa vào cặp phạm trù nguyên nhân kết quả để phân tích.

1. Nguyên nhân của hiện tượng bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay

1.1.Nguyên nhân xuất phát từ cá nhân học sinh:

Bạo lực học đường đa phần xảy ra với các em còn đang trong độ tuổi vị thành niên, cơ thể phát triển mạnh, độ hưng phấn tăng cao và khả năng kiềm chế thì kém. Hơn nữa, các em đang muốn chứng tỏ bản thân, khẳng định cái TÔI cá nhân cao, nhưng lại không biết thể hiện bằng cách nào, do đó muốn dùng vũ lực như một cách thể hiện sự vượt trội của mình so với bạn bè.

1.2. Nguyên nhân xuất phát từ gia đình:

Gia đình là nơi hình thành cho các em nhân cách sống, cách ứng xử văn minh trong xã hội, ..v..v.. Nhưng khi gia đình không ổn định: cha mẹ ly hôn, ly thân; hoặc cha mẹ có tiền án,tiền sự, đang ngồi tù; đặc biệt là cha mẹ không quan tâm con cái, bạo lực gia đình xảy ra thường xuyên…

1.3. Nguyên nhân xuất phát từ nhà trường:

Học sinh bị bạn bè hắt hủi hay bắt nạt, thầy cô và nhà trường không quan tâm đến đời sống tâm lý, tình cảm của học sinh.

Nhà trường, lớp học thiếu các tấm gương tích cực trong đời sống, thiếu các chương trình lành mạnh .v..v..

1.4. Nguyên nhân xuất phát từ cộng đồng, xã hội:

Bạo lực ngoài cộng đồng xã hội cũng là “đường link” dẫn tới các hành vi bạo lực của trẻ em Việt Nam. Với công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, trẻ em được tiếp cận với các trò chơi điện tử và mạng Internet từ khi còn rất nhỏ, từ đó dẫn đến các hiện tượng nghiện game online, nghiện internet cũng như các trang mạng xã hội, ảnh hưởng từ các trò chơi mang tính bạo lực cao, các em bất chấp pháp luật, chuẩn mực đạo đức để được thỏa mãn “nhu cầu bạo lực” thông qua các trò chơi online, rời xa cuộc sống thực tìm đến thế ảo của internet.

2. Hậu quả của hành vi bạo lực học đường

2.1. Hậu quả đối với học sinh:

Về mặt thể xác: Các em có thể gặp các chấn thương trên cơ thể, nhiều hành vi bạo lực đã gây ra án mạng, làm mất đi vĩnh viễn cơ hội được sống, được học tập của chính mình và bạn bè mình.

Về mặt tinh thần: Các em tham gia vào các hành vi bạo lực học đường, dần dần mất tự tin khi đến trường, trở nên lầm lì, ít nói, luôn ở trong trạng thái lo lắng, việc ăn ngủ cũng gặp khó khăn, cơ thể suy nhược. Có em trở nên trầm cảm, tự ti, lo sợ và có những trường hợp đã tìm đến cái chết để giải thoát chính mình.

Về học tập: Lơ là học tập, kết quả học tập sa sút, có những trường học bỏ học thường xuyên hoặc bỏ học vĩnh viễn.

2.2.Hậu quả đến với gia đình – nhà trường – xã hội

Với gia đình: Cha mẹ, người thân gặp khó khăn trong việc hiểu con em mình, không biết nguyên nhân vì sao mà con em mình khác bình thường. Từ đó thường đưa ra những cách thức tìm hiểu làm tổn thương các em, tình cảm, hòa khí trong gia đình bị rạn nứt.

Với nhà trường – xã hội: Hành vi bạo lực học đường làm cho hoạt động giáo dục của nhà trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thay vì tổ chức các hoạt động giáo dục đầy ý nghĩa thì nhà trường phải tổ chức các Hội đồng kỷ luật, các cuộc họp phụ huynh và học sinh để giải quyết các hệ quả của các em. Thầy cô, bạn bè lo lắng, mất tinh thần học tập, tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau bị rạn nứt. Bạo lực học đường giống như những hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội về một bộ phận thế hệ trẻ đang “lệch lạc” giữa ngã ba đường của tuổi mới lớn, nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là với thanh thiếu niên – lực lượng nòng cốt và thiết yếu của tương lai quốc gia.

KẾT LUẬN

Thực trạng hiện tượng bạo lực học đường ở Việt Nam những năm gần gây diễn ra phức tạp với đối tượng tham gia trực tiếp vào các vụ việc chủ yếu là học sinh với học sinh, bao gồm cả học sinh nữ và học sinh nam, tập trung ở cấp học THCS và THPT, diễn ra cả ở các thành phố lớn và các khu vực nông thôn. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất từ bản thân học sinh, từ nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội, hậu quả để lại nặng nề nhất là đối với những học sinh trưc tiếp tham gia vào hành vi bạo lực học đường, bên cạnh đó nó cũng tác động tiêu cực đến gia đình, nhà trường và xã hội.

Trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, rút kinh nghiệm từ những sai lầm đã mắc phải, đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục, nhằm từng bước sửa chữa những sai lầm trong việc giáo dục thế hệ trẻ của nước ta hiện nay. Việc nhận thức đúng về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, xác định được mức độ vai trò của những nguyên nhân ấy đối với những hậu quả mà nền giáo dục của Việt Nam ta còn mắc phải, để có biện pháp khắc phục, những tác động thích hợp nhằm đạt được mục tiêu mong muốn là xóa bỏ bạo lực học đường và có một nền giáo dục tốt nhất.
Xem thêm

8 Đọc thêm

03 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

03 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội đồng thời trên cơ sở: Mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội phân tích vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam. Bên cạnh đó nó cũng được hi vọng có thể thay đổi được nhận thức xã hội nhằm tạo ra những thay đổi tích cực trong hành động của mỗi cá nhân, tạo thuận lợi cho việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM :
Trong những năm qua, với chính sách đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và an ninh quốc phòng. Đồng thời, được Đảng và Nhà nước quan tâm, công tác bảo vệ môi trường đã đạt được những kết quả, bước đầu kiềm chế được tốc độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục một phần tình trạng suy thoái và cải thiện một bước chất lượng môi trường ở một số nơi, tạo tiền đề quan trọng để phát triển bền vững trong thời gian tới.
Chúng ta sẽ nghiên cứu về sự ô nhiểm ở 2 khía cạnh giữa thành thị và miền núi ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

16 Đọc thêm

VẤN ĐỀ BỎ HỌC CỦA SINH VIÊN BÁCH KHOA thuyết trình mác

VẤN ĐỀ BỎ HỌC CỦA SINH VIÊN BÁCH KHOA THUYẾT TRÌNH MÁC

VẤN ĐỀ BỎ HỌC CỦA SINH VIÊN BÁCH KHOA thuyết trình mác a
Nêu hiện tượng
Cơ sở lý thuyết
Phân tích hiện tượng
Các phương pháp giải quyết
Phạm trù nguyên nhân và kết quả
Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Ý nghĩa phương pháp luận

39 Đọc thêm

TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI2.1. Toàn cầu hóa là hiện tượng xã hội đa dạng, đa diện và phức tạp,gắn liền với những biến đổi lớn lao của nhân loại như: tăng trưởng và khủnghoảng kinh tế, hòa bình và chiến tranh cùng với những vấn đề toàn cầu… Vìvậy, nó được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đã cónhiều công trình được công bố theo các hướng sau:Một là, một số tổ chức quốc tế và các nhà khoa học nghiên cứu, đưa racác quan niệm về toàn cầu hóa: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chorằng, “Toàn cầu hóa là một quan niệm có nhiều mặt, vì nó bao quát cả lĩnhvực kinh tế, xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối” (WTO, AnnualReport, 1998); “Toàn cầu hóa là một xu hướng làm cho mối quan hệ xã hộitrở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý, lãnh thổ” (JanAart Scholte, “Globallization:A New Imperealism” Alumi Magazine); “Toàn cầu hóa và tự do hóa, tìmkiếm phát triển trong hai trào lưu lớn” (Rubens Recubero. Liên Hiệp Quốc,1996); “Thế giới phẳng, tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI” (ThomasL.Friendman, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2006); “Dự báo thế kỷ XXI” (Tậpthể các nhà khoa học Trung Quốc, Nxb. Thống kê,Hà Nội, 2000).Trong các công trình trên, các tác giả cho rằng: toàn cầu hóa là hiệntượng xã hội đa dạng, bao quát mọi lĩnh vực xã hội, làm cho các quốc gia xíchlại gần nhau và có mối liên hệ ràng buộc. Trong đó, vấn đề tự do hóa kinh tếnổi lên hàng đầu.12Hai là, nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu đi sâu “giải mã”vấn đề toàn cầu hóa, tìm ra nguyên nhân và những biểu hiện của nó trong đờisống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa,..). Tiêu biểu cho hướng nghiên cứunày là các công trình:
Xem thêm

263 Đọc thêm

BÀI THU HOẠCH BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

BÀI THU HOẠCH BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

Nghiên cứu khái niệm bản chất và hiện tượng trong Triết học Mác Lênin, mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng. Ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng trong hoạt động sản xuất và kinh doanh trong thời đại hiện nay

10 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH mối LIÊN hệ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH tế và bảo vệ môi TRƯỜNG

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

“PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG”.
Giữa môi trường tự nhiên và phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường tự nhiên là điều kiện cho kinh tế phát triển và kinh tế phát triển là cơ sở tạo nên các biến đổi của môi trường tự nhiên theo hướng ngày càng tốt hơn. Ở những thời kỳ đầu của sự phát triển nền văn minh loài người, các lực lượng tự nhiên gần như thống trị hoàn toàn cuộc sống của con người, quyết định tính chất và nội dung mối quan hệ qua lại giữa con người với giới tự nhiên.
Dần dần, do sự phát triển của lao động và hoạt động nhận thức, con người học được cách chế ngự tự nhiên, thiết lập sự thống trị của mình với giới tự nhiên nhằm phục vụ cho mục đích mà yêu cầu cuộc sống của con người đòi hỏi.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, liên hệ với Việt Nam.

QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT, TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM.

Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn là yêu cầu tất yếu đặt ra cho mọi chế độ xã hội. Đối với nước ta do điểm xuất phát định hướng lên chủ nghĩa xã hội còn thấp cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dovậy việc xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất và xã hội phát triển lại càng quan trọng, xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới trở thành một trong những vấn đề cơ bản được trình bày trong các văn kiện của đại hội VIII. Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội. Trọng tâm của tiến trình này trong giai đoạn hiện nay là tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển lực lượng. Song song với nó là quá trình xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.Với vấn đề hiện nay của đất nước, phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp đã và đang là một vấn đề xuyên suốt trong tất cả các chính sách kinh tế xã hội của đất nước. Trước đây trong một thời gian dài nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng. Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng đó là chúng ta không nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, áp dụng một hình thức sở hữu xã hội ở trình độ cao trong khi lực lượng sản xuất vẫn còn lạc hậu.Việc xem xét lại quá khứ và nhìn nhận thực tế hiện nay chúng ta nhận định rằng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một điều quan trọng nhất trong mọi thời đạI. Chính vì thế, trên thế giới và ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Như ngay trong dự thảo đạI hội IX đã nói mối quan hệ này là nền tảng để xây dựng đất nước. Vì thế mà phải phát triển khoa học kỹ thuật và xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường gồm nhiều thành phần khác nhau.Với tầm quan trọng của vấn đề này, em xin đưa ra một số nhận định của mình trong bài tiểu luận này. Em mong rằng mình sẽ đóng góp một số ý kiến nhỏ để khẳng định mối quan hệ này và sử dụng nó để xem xét tình hình cụ thể của nước ta. Với kiến thức nhỏ bé nên em không tránh khỏi những sai sót. Em xin cám ơn các thầy cô giáo đã cung cấp phần lớn kiến thức và phương pháp luận để em hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

26 Đọc thêm