MỐI QUAN HỆ GIỮA TBCN VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mối quan hệ giữa TBCN và người lao động":

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯỢNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯỢNG

hỗn hợp X thành Fe cần b mol Al. Tỉ sốcó giá trị bằng:bA. 0,75B. 1C. 1,25D. 1,5BÀI 5: Khử hồn tồn một lượng oxit sắt cần V lit H2. Hòa tan hồn tồn lượng Fe sinh ra ở trên trongdung dịch HCl thấy tạo ra V’ lit H2. Biết V > V’ (các khí đo cùng điều kiện). Cơng thức oxit sắt là:A. Fe2O3B. FeOC. Fe3O4D. Fe2O3 hoặc Fe3O4ThS. LƯU HUỲNH VẠN LONG (Giảng viên Trường ðH Thủ Dầu Một- Bình Dương)-8-“CHUN: Bồi dưỡng kiến thức – Luyện thi TN THPT – Cð & ðH mơn HĨA HỌC”ðể tìm hiểu và đăng ký học, hãy liên lạc đến SðT: 0986.616.225 (T.Long). Email: Vanlongtdm@gmail.comPHƯƠNG PHÁP MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯNG+Website: www.hoahoc.edu.vn2-BÀI 6: Dung dịch X chứa a mol NH4 , b mol Mg , c mol SO4 và d mol HCO3-. Biểu thức nào biểuthị sự liên quan giữa a,b,c,d sau đây là đúng ?A. a + 2b = c + d
Xem thêm

9 Đọc thêm

 PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN CHỦ THỂCỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THAM GIA QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀNGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN CHỦ THỂCỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THAM GIA QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀNGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

Quan hệ pháp luật giữa người lao độngngười sử dụng lao động làtương quan pháp lí giữa người lao độngngười sử dụng lao động. Tương quannày được điều chỉnh bởi luật lao động. Tức là nó được xác lập, chấm dứt trên cơsở các quy định của luật lao động. Sau đây, em xin phân tích điều kiện chủ thểcủa người lao động khi tham gia quan hệ pháp luật giữa người lao động vàngười sử dụng lao động.Điều kiện chủ thể của người lao động khi tham gia quan hệ giữa người laođộng và người sử dụng lao động bao gồm điều kiện về năng lực pháp luật củangười lao động và năng lực hành vi của người lao động.Thứ nhất, về năng lực pháp luật của người lao động:Năng lực pháp luật của người lao động là khả năng người nào đó đượcpháp luật quy định cho các quyền và buộc phải gánh vác những nghĩa vụ laođộng. Năng lực pháp luật là loại năng lực khách quan, ở bên ngoài và không phụthuộc ý chí chủ quan của người lao động. Năng lực pháp luật lao động được thểhiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật.Theo như quy định tại điều 6, Bộ luật lao động thì: “ người lao động làngười ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng laođộng.”.Từ quy định trên của pháp luật thì một người được coi là có tư cách, tức làcó năng lực pháp luật có thể tham gia vào quan hệ lao động cụ thể khi đã đủ 15tuổi. Ví dụ như một công ty X, muốn tuyển nhân viên cho công ty của mình, thìnhân viên đó chắc chắn phải đáp ứng được điều kiện là đủ 15 tuổi.Quy tắc về tuổi của người lao động do pháp luật quy định như trên ở khíacạnh nào đó cũng chỉ mang tính chất chung, có tính phổ biến. Bời vì bên cạnhviệc quy định về năng lực pháp luật đầy đủ thì pháp luật cũng có các quy địnhkhác như là những ngoại lệ nhằm đảm bảo quyền lao động cho những ngườichưa đủ 15 tuổi. Ở khía cạnh khác, tuổi lao động của người lao động còn đượcpháp luật đẩy lên một mức cao hơn nhằm đảm bảo cho những mục tiêu quản lílao động của Nhà nước.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nêu mối quan hệ giữa pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động

NÊU MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Câu 1: Nêu mối quan hệ giữa pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động?
Trả lời:
I. Khái quát chung thỏa tước lao động tập thể và hợp đồng lao động.
Các quan hệ lao động nói chung và quan hệ pháp luật lao động nói riêng được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật lao động trong đó bộ Luật Lao động năm 2012 (BLLĐ) và các văn bản liên quan .BLLĐ được Quốc hội khoá XIII nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012. Ngày 02 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố và Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013, bao gồm 17 Chương và 242 Điều. Trên tinh thần thừa kế và phát triển bộ luật Lao động năm 1994, bộ Luật lao động năm 2012 quy đinh các vấn đề như việc làm, tiền lương, thời giờ lao động, thời giờ nghỉ ngơi, đình công và giải quyết đình công,…Trong đó, các chế định về hợp đồng được quy đinh tại chương III và chế định về Thỏa ước lao động tập thể tại chương V. Có thể thấy BLLĐ đã cơ bản điều chỉnh các quan hệ lao động phù hợp trong điều kiện mới theo hướng khuyến khích, bảo vệ và phát triển những quan hệ lao động tốt, phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần quan trọng trong việc tiếp tục phát triển sức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO VỚI SỰ GẮN KẾT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC PHÒNG GIAO DỊCH THUỘC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO VỚI SỰ GẮN KẾT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC PHÒNG GIAO DỊCH THUỘC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hai là, nghiên cứu khác tại Đại học Michigan chỉ ra hai loại hành vì sau đây:Định hướng con người - tiếp cận nhân viên với định hướng tập trung vào những mốiquan hệ giữa người với người (quan tâm đến con người). Định hướng sản xuất nhấn mạnh vào khía cạnh kỹ thuật và kết quả của công việc (quan tâm đến nhiệmvụ). Các nhà nghiên cứu đã xem hai hành vi này như hai mặt đối lập của một vấnđề. Do đó, một nhà lãnh đạo có thể rất giỏi khi áp dụng một loại hành vi lãnh đạonày nhưng lại không giỏi khi dùng loại hành vi kia.Hai nhà nghiên cứu, Robert Blake và Jane Mouton, đã tạo ra một bảng câuhỏi ngắn, để hỏi các nhà lãnh đạo về cách họ tiếp cận công việc và con người. Sauđó, họ xây dựng một mạng lưới như hình vẽ phía bên dưới. Tùy thuộc vào điểm số8nhà lãnh đạo có được sau khi trả lời bảng câu hỏi, hai nhà nghiên cứu sẽ xếp họ vàomột trong bốn góc hình: Lãnh đạo độc tài (Authoritarian) – mạnh về nhiệm vụ, yếuvề kỹ năng con người. Lãnh đạo câu lạc bộ (Country Club) – mạnh về kỹ năng conngười nhưng yếu về nhiệm vụ. Lãnh đạo yếu (Impoverished) – yếu về cả nhiệm vụvà kỹ năng con người. Lãnh đạo nhóm (Team Leader) – mạnh về cả nhiệm vụ và kỹnăng con người.Nguồn: Saga.vn- Trường phái của những lý thuyết lãnh đạo xét theo tình huống (situationalleadership theories) cho rằng một hoàn cảnh đặc trưng cần đến một cách lãnh đạođặc trưng với một con người đặc trưng (Evans, 1970; House, 1971; House &Michell, 1974; Vroom & Yetton, 1973; Hersey & Blanchard, 1999). Đây là trườngphái kế thừa lý thuyết lãnh đạo theo hành vi, nhấn mạnh tầm quan trọng của cáctình huống, mỗi cách thức lãnh đạo chỉ phù hợp với một tình huống cụ thể.Hai nhà khoa học người Mỹ Paul Hersey và Ken Blanchard đã phát triển Lýthuyết lãnh đạo theo tình huống dựa trên hai chuỗi liên tục - mức độ yêu cầu vềgiám sát và động lực cần thiết để huấn luyện người lao động trong các tình huốngcụ thể để họ thể hiện tốt nhất:
Xem thêm

101 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM VÀ TÀI CỦA NGƯỜI SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM VÀ TÀI CỦA NGƯỜI SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG

Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo. Để sáng tạo, người nghệ sĩ phải có tài năng và tâm huyết. Bài Làm Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo. Để sáng tạo, người nghệ sĩ phải có tài năng và tâm huyết. Bàn về văn chương nói riêng, cũng như nghệ thuật nói chung, xưa nay có rất nhiều ý kiến. Có người đã mượn một câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: “ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, lại có người cho rằng “Văn chương trước hết phải là văn chương” ... Hiểu như thế nào về những ý kiến đó là điều không dễ dàng. Biết bao người đã nói đến cái “tâm” trong quá trình sáng tạo văn chương, nghệ thuật của người nghệ sĩ. Tâm hồn, tấm lòng của người nghệ sĩ là hết sức quan trọng. Có người khẳng định rằng cái “tâm” ấy là yếu tố trước hết của nghệ thuật, là điều không thể thiếu trong tác phẩm của nghệ sĩ. Trong văn chương, quả thực chữ tâm chiếm một vai trò rất lớn. Đó là điều không ai có thể phủ nhận được. Nhưng tất nhiên, không thể đưa nó lên vị trí độc tôn mà xoá nhoà hết các yếu tố khác. Dù cái tâm có cao đến đâu, tâm lòng có rộng mở đến chừng nào cũng không thể quên cái tâm của người nghệ sĩ. Không có tài năng, không thể gọi đó là văn chương. Phải có cả hai điều ấy, anh mới sáng tạo nên một tác phẩm có giá trị. “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” là đề cao chữ tâm nhưng vẫn khẳng định vị trí tài năng, khẳng định cái thiên phú của người cầm bút. Có thể nói ý kiến này đã bao quát cả quá trình sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, đặt ra yêu cầu lớn đối với nghệ sĩ. Phải kết hợp giữa tài năng đi tâm huyết của mình. Nhưng khi đề cao cái tâm,ta cần lưu ý đến quan niệm “Văn chương trước hết phải là văn chương”. Điều ấy liệu có đối lập với “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” của Nguyễn Du hay không ? Một bên đề cao cái tâm, tấm lòng người nghệ sĩ, một bên lại đặt ra cái “trước hết” câu văn chương. Nếu chú ý đến cái “trước hết” này, ta sẽ không phủ nhận ý kiến đó “Văn chương trước hết phải là văn chương” có nghĩa là sau nữa mới đến tấm lòng, tâm huyết, sau nữa mới vì cuộc đời, vì con người... Nếu chưa là văn chương thì nó còn vì ai được nữa, mà là một cái gì khác mất rồi, một thứ thuyết giáo, một sự thật lịch sử, hay có khi là những dòng, những chữ vô nghĩa... Ta không thể cho ý kiến này là sai, nhưng rõ ràng chưa đầy đủ. Vãn chương phải đặt song hành tài năng và tâm huyết của người sáng tạo. Nếu chỉ hiểu theo một chiều “văn chương” sẽ như một bông hoa đẹp và vô hương, không có hồn. Lời văn óng ả, kết cấu hấp dẫn nhưng không có linh hồn thài văn ấy có cũng như không. Phải có cái tâm trong sáng cao đẹp, chi phối thì cái tài năng mới có đất mà “dụng võ”. Đọc một câu văn, ta ngạc nhiên thâm phục trước việc sử dụng câu chữ tài tình của tác giả: đọc một cuốn truyện ta sửng sốt thấy nhà văn sắp đặt ra những diễn biến bất ngờ. Nhưng nhận ra tấm lòng thiết tha của tác giả đằng sau từng câu chữ, ta sẽ thấy yêu quý câu chuyện đó biết bao... Ta thây rằng chính tư tưởng đẹp đẽ của lác giả đã làm sáng lên tài năng, sáng lên cốt truyện “Văn chương”, nếu hiểu theo một nghĩa thật đầy đủ, bao hàm cả tài năng và tâm huyết của tác giả, thiếu một trong các yếu tố ấy, “văn chương” đâu còn là văn chương nữa. Như thế không thể coi “Văn chương trước hết phải là văn chương”; mà cái trước hết” ấy phải là tấm lòng, tư tưởng người nghệ sĩ. Nguyễn Tuân cũng chính là nhà văn đã từng quan niệm: “Văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật”. Nhưng cũng chính ông, hơn ai hết đã suốt đời cống hiến cho một nền nghệ thuật vì con người. Mỗi tác phẩm rực rỡ nhất, lấp lánh nhất của ông vẫn là ánh sáng hướng con người tới cái thiên lương . “Văn chương trước hết phải là văn chương” chưa đủ, văn chương trước hết còn phải là cái tâm trong sáng và tha thiết. Đó cũng là điều chúng ta cần bàn tới trong quan niệm về mối quan hệ giữa chữ “tâm” và chữ “tài” của người sáng tác văn chương. Tài năng và tâm huyết là hai yếu tố không thể tách rời trong sáng tạo nghệ thuật. Cái tài nhờ cái tâm để “cháy lên”, cái tâm nhờ có cái tài mà “toả sáng “Cháy lên để mà toả sáng” (Raxun Ganưatốp) là nội dung của tác phẩm, là cái đích sáng tạo của nghệ sĩ... Raxun Gamzatop trong “Đasghetxtan của tôi” đã nói rằng: “Giống như ngọn lửa bốc lên từ những cành khô, tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ của con người“Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay từ những giọt nước mắt cay đắng”. Thơ ca cũng như văn chương, nghệ thuật nói chung đều phải bắt nguồn từ tấm lòng và tài năng của người nghệ sĩ,  tài năng và tấm lòng là hai cánh chim nâng tác phẩm lên đỉnh cao. Hai cánh chim ấy mạnh mẽ bao nhiêu thì tác phẩm sẽ bay xa và bay cao bây nhiêu. Nhà văn phải là người “đi tìm cái hạt ngọc ẩn dấu xâu trong tâm hồn người” ( Nguyễn Minh Châu). Quá trình “đi tìm” ấy không đơn giản , người nghệ sĩ ngoài cái tâm ra, phải có tài năng khám phá, nắm bắt, phải nhận ra viên ngọc quý lấp lãnh bên trong. Viên Mai nói rằng “Tài gia tình chi phát, tài tử thịnh tình tắc thâm” (Tài là ở tinh phát ra, tài cao ắt tình sâu). Cái tài đi liền với cái tâm, lời văn óng ả câu văn trau chuốt là ở tài năng nhưng cái thần diệt cốt ở tấm lòng ... anh không thể trở thành nhà văn nếu anh không có tài năng, để trở thành một cái tâm cao quý. Anh phải có bản lĩnh vững vàng, phải dũng cảm nhìn vào sự thật và phải biết “khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý chí phản kháng cái ác, khát vọng khôi phục bảo vệ những cái tốt đẹp” (Aimatốp Khi cuộc sống đau thương, anh không thể cho phép mình rời làng “xa những đau thương” (Paplôp Neruđa). Nếu anh là nhà văn thì anh phải gắn bó với cuộc đời này, gắn bó với sự thật này đừng để cho cái tài của mình sa vào cái “ánh trăng lừa dối”, anh hãy để cái tài hướng vào “tiếng đau khổ kia thoát ra những tiếng lầm than” (Nam Cao) Nam Cao là một nhà văn có tài, nhưng hơn hết ở ông là một nhà văn chân chính. Cũng viết về xã hội Việt Nam đau thương và tăm tối trước Cách mạng tháng Tám, nhưng ông không dùng cái tài của mình để viết về “con đường sáng” như Hoàng Đạo, ông không tự lừa dối lòng mình, vẽ lên cái ảo tưởng, hư vô. Nếu ở con đường sáng, Hoàng Đạo không mang một nét nhìn chân thực và gần gũi với cuộc sống thực tại của xã hội có tài lại đặt lầm chỗ thì ở Nam Cao cái tài và cái tâm hết sức nhuần nhuyễn với nhau, từ một câu chữ, một chi tiết một cốt truyện.... Chỗ nào cũng thâm nhuần tình cảm, tấm lòng của nhà văn. Chính tài năng và tâm huyết ấy đã giúp ông dựng lên một Đời Thừa, một Sống mòn...với những cuộc sống "áo cơm ghì sát đất”, “chất độc ở ngay trong sự sống”. Người đọc đau đớn nỗi đau đớn của nhân vật, dằn vặt trở trăn trước nỗi đau khắc khoải của mỗi số phận, cuộc đời... Có ai không nhức nhối khi chứng kiến một hộ luôn đề cao nguyên tắc tình thương nhưng chính cái cuộc đời này lại xô đẩy họ, khiến chính anh lại vi phạm nguyên tắc tình thương; Một nhân vật Thứ hơn một lần nhận ra mình nhỏ nhen, ích kỉ thậm chí độc ác, Thứ đã khóc cho cái chết tầm hồn y... Cái tâm hồn luôn giữ vững niềm tin vào con người của Nam Cao đã khiến nhà văn hiểu sâu xa cuộc vật lộn dữ dội giữa cái thiện và cái ác, giữa lí trí cao cả và dục vọng thấp hèn của mỗi con người, nhận ra khát vọng hướng về ánh sáng của con người. Trong truyện ngắn Chí Phèo, khi dựng lên hình ảnh “con quỷ dữ của làng Vũ Đại", nhà văn đã phát hiện ra ánh sáng lương tri còn le lói trong con người hắn, để lúc nào đó nó bùng cháy lên, dữ dội mãnh liệt : “Ai cho lao lương thiện ?” “Làm thế nào để mất được những vết mảnh chai trên mặt này?”... Câu hỏi nhức nhối đau đớn ấy của Chí Phải chăng cũng chính là câu hỏi xoáy trong lòng Nam Cao về số phận của con người trước cuộc đời. Nam Cao được xếp vào hàng những nhà văn lớn của ta vì những tác phẩm của ông đã hi sinh từ tài năng, nước mắt, từ khát vọng hạnh phúc cho con người, và sự thấu hiểu của con người : “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta nếu la không có tâm mà tìm hiểu họ, ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, xấu xa, bần tiện ... toàn những cớ để ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ đáng thương, không hao giờ ta thương”. Nhà văn phải là người “kĩ sư tâm hồn" nghĩa là anh vừa phải có tài năng, vừa phải có tâm huyết, phải khám phá những bí ẩn trong tâm hồn con người... Tâm và tài của nhà văn phải hướng về cuộc đời này. “Nhà văn là người cho máu" (Enxa Triôlê), nhà văn phải lấy máu nóng của mình tiếp cho máu nóng cuộc đời tiếp tục dào dạt chảy. Nhà văn phải cống hiến tài năng của mình để vun đắp cho “cây đời mãi mãi xanh tươi”. Trong sáng tạo văn học, người ta hay nhắc đến những khoảng vô thức ưong con người. Nghệ sĩ Puskin làm thơ ngay cả trong giác ngủ. Hoàng cầm viết bài Lá diêu bông trong tâm trạng hết sức lạ lùng. Những giây phút vô thức ấy không chỉ là vô thức, là “trời cho” mà là sự kết tinh tài năng và tâm huyết trong mức độ nào đó của người sáng tạo. Những trăn trở, suy tư, những dự định bao ngày đến một giờ khắc nào đó bỗng bừng dậy: tài năng đến phút xuất thần....Khi đó, xúc cảm trào dâng, người nghệ sĩ sáng tạo ra những tác phẩm mà chính mình cũng không ngờ tới. Cái tâm và cái tài đã kết hợp nhuần nhuyễn và phát huy cao độ, những bài thơ, những chi tiết xuât hiện trong lúc này bao giờ cũng có giá trị muôn đời. Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng tài năng vĩ đại, nhưng cũng chính là bằng “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” Có tài năng mà không có tâm huyết anh sẽ chỉ tạo ra những tác phẩm vô giá trị, có khi còn là “những niềm tin mù quáng”, nói như Pôn Êluya. Nhưng có tâm huyết cũng phải có tài năng thì tác phẩm mới đứng vững được với những thử thách của cuộc đời. Mỗi nhà văn có một cá tính sáng tạo riêng, nhưng bao giờ cá tính sáng tạo ấy cũng phải là “hợp chất” gắn bó tài năng và tâm huyết không chỉ đối với nhà văn mà đối với tất cả những nghệ sĩ, cái tâm, cái tài là nhữna điều không bao giờ thiếu được. Người nghệ sĩ không chỉ tạo ra con Xiphanh nếu không có tài năng, không có ước mơ về con người thông minh và cũng rất mạnh mẽ như sư tử. Cái tâm và cái tài là vấn đề đặt ra đối với người nghệ sĩ muôn đời. Dù xưa hay nay, dù phương Tây hay phương Đông, đã là nghệ sĩ thì cần phải có tài năng và tâm huyết. Nói riêng về văn chương hôm nay, nhiều tác phẩm viết ra không phải từ một tài năng thực thụ, không bắt nguồn từ cái tâm thực sự của con người nghệ sĩ, ra đời sẽ bị chìm vào quên lãng. Thời gian và cuộc đời là thừ thách khắc nghiệt cho các tác phẩm. Đó là sự đánh giá tài năng và tâm huyếl thậl công bằng và trung thực. Người nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng muốn có một tác phẩm bất tử, có ý nghĩa với cuộc đời thì nhất định phải luôn rộng mở thiết tha với cuộc đời. Vãn chương phải là văn chương và văn chương phải vì cuộc đời. Hiểu điều đó ta càng khẳng định hơn “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" trong quá trình sáng tác của người nghệ sĩ. (Bài của học sinh Hồ Thị Thành THPT Chuyên Thái Bình)  Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

3 Đọc thêm

Khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động

KHÁCH THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

Khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động

Trong một quan hệ pháp luật, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bao giờ cũng nhằm hướng tới một mục đích, một lợi ích nào đó và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật đó. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, người lao động muốn sử dụng sức lao động của mình để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình cho họ; còn bên sử dụng lao động cũng muốn có sức lao động để sử dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ. Như vậy, khi thiết lập quan hệ pháp luật lao động với nhau, các bên đều hướng tới sức lao động của người lao động và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật lao động. Trong bài tập này, em xin phân tích khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động.


Tại sao khách thể là sức lao động? Tại sao khách thể là sức lao động của người lao động? Sức lao động được định dạng như thế nào? Để lí giải cho các vấn đề đó, cần bắt đầu từ bản chất sâu xa của quan hệ lao động và biểu hiện của quá trình thực hiện quan hệ lao động đó. Về mặt bản chất, các bên của quan hệ lao động không thực hiện việc mua, bán sức lao động – vì sức lao động là đại lượng phi vật chất, không phải là thứ có thể cầm nắm hay sờ thấy được, mà là đang mua bán một đại lượng vật chất khác, giống như mua một chiếc bình gốm do người lao động sản xuất ra. Có thể không có sự đánh giá hay hình dung một cách đầy đủ về sức lao động nhưng chắc chắn đó là một đối tượng của quan hệ trao đổi. Vì vậy, theo cách hiểu thông thường, đó chính là quan hệ khách thể của quan hệ trao đổi. Nhưng người lao động “bán” đi sức lao động không phải bằng cách dùng tay hay dùng các phương tiện khác chuyển cho người sử dụng lao động sức lao động của mình mà phải làm việc để chuyển giao sức lao động đó. Người lao động không chỉ làm việc theo nghĩa thông thường là thực hiện các hành động, các thao tác như một cái máy mà là lao động với tất cả tâm trí, khả năng, kĩ năng, tình cảm, trách nhiệm của mình. Ví dụ như một ông giám đốc được thuê để quản lí một công ty cổ phần thì ông ta phải có đủ bằng cấp, kĩ năng mềm, kinh nghiệm…để điều hành công ty và ông ta phải chịu trách nhiệm về công việc của mình. Ngược lại, người sử dụng lao động không thể dùng các công cụ, phương tiện để nhận sức lao động từ người lao động như các hàng hóa khác (nguyên liệu, vật liệu…) và cũng không thể nhận trực tiếp hàng hóa sức lao động đó mà phải thực hiện hành vi này một cách gián tiếp. Đối với người sử dụng lao động, việc bàn giao công việc, tổ chức quản lí người lao động chính là việc đang “nhận” sức lao động người lao động chuyển giao. Ví dụ chủ quán phở thuê đầu bếp và chân chạy bàn thì chủ quán phải bàn giao công việc và quản lí những người đã được thuê.


Sức lao động (không phải là lao động, với cả hai ý nghĩa: là người lao động và thao tác – hành vi lao động) là khách thể của quan hệ pháp luật lao động. Sức lao động gắn liền với người lao động, sức lao động gắn liền với cơ bắp, trí não, những phẩm chất và giá trị nhân thân của từng người. Do vậy, không thể có hiện tượng người lao động này “lấy trộm, lấy cắp” sức lao động của người khác để bán cho người sử dụng lao động.

Trong trường hợp nào sức lao động của người lao động là khách thể? Người lao động “hướng tới” khách thể tức là hướng tới sức lao động của chính bản thân mình. Muốn có được sức lao động tốt người lao động phải bồi bổ cơ thể, siêng năng học hành, chịu khó rèn luyện tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng làm việc. Đây là lí do vì sao sinh viên khi ra trường đều cố kiếm tấm bằng khá giỏi, người có bằng đại học thì lại muốn có thêm bằng thạc sĩ…Chung quy chỉ vì người lao động mong muốn bán được sức lao động với giá cao – lương và hoa hồng cao, có môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho người sử dụng lao động một cách thuận lợi. Còn người sử dụng lao động cũng “hướng tới” sức lao động của người lao động thông qua hành vi quan tâm đến số lượng và chất lượng của sức lao động mà người lao động chuyển giao cho họ. Vì vậy, trước khi tuyển người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động đã có sự đánh giá, phân loại đối tượng để tìm được đối tác thích hợp cho quá trình lao động. Đây chính là lí do người sử dụng lao động tiến hành công việc xem xét đơn xin việc và phỏng vấn người lao động. Sau khi có lực lượng lao động, người sử dụng lao động lại tiếp tục giám sát quá trình chuyển giao sức lao động của những công nhân viên chức làm việc tại đơn vị. Ví dụ ban Thanh tra nhân dân do cán bộ, công nhân viên chức từng đơn vị bầu ra, với nhiệm kỳ 2 năm, để làm công việc giám sát, thanh tra mọi công việc, hoạt động của cơ quan, đơn vị.

Sự “hướng tới” khách thể của hai bên là khác nhau do mục tiêu của họ là khác nhau nhưng vấn đề là cả hai bên trong quan hệ lao động đều “hướng tới” sức lao động của người lao động. Nhưng sức lao động của người lao động không phải lúc nào cũng là cái mà các bên trong quan hệ pháp luật “hướng tới”. Thời điểm hướng tới đó luôn được xác định vì con người luôn có nhiều mối quan tâm khác nhau. Tùy từng thời điểm mà mối quan tâm đó được đặt vào những điều cần thiết. Ví dụ chị H là viên chức nhà nước. Chị đi làm vào giờ hành chính từ 8h tới 17h30. Tan việc, chị về đón con và nội trợ. Khoảng 19h tới 21h, chị kinh doanh quán giải khát tại nhà. Sau đó chị kiểm tra bài tập của con, dọn dẹp nhà cửa và đi ngủ. Cuối tuần chị tham gia CLB “làm giàu không khó”. Nói cách khác, trong khoảng thời gian ngoài giờ hành chính, sức lao động của chị H không được chuyển giao, không được đưa vào quá trình trao đổi nên không thể là khách thể nữa.

Khách thể của quan hệ pháp luật lao động là sức lao động và đây luôn là vấn đề được người lao động và người sử dụng lao động quan tâm hướng tới. Xung quanh sức lao động có rất nhiều vấn đề được đặt ra, tuy nhiên do giới hạn bài tập cá nhân nên em xin kết thúc tại đây. Em rất mong thầy cô góp ý và sửa chữa những thiếu sót của em.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Quan hệ giữa nhà nước và người lao động

QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG

Quan hệ giữa nhà nước và người lao động........................................................................................................................................................................................................................................

2 Đọc thêm

Bàn luận về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội; giữa một người và mọi người

BÀN LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ, XÃ HỘI; GIỮA MỘT NGƯỜI VÀ MỌI NGƯỜI

Đã ai từng một lần đọc những lời thơ đầy giục giã của nhà thơ Nazim Hilsmet: “Nếu tôi không đốt lửa Nếu anh không đốt lửa Nếu chúng ta không đốt lửa Thì làm sao Bóng tối Sẽ trở thành Ánh sáng!” Bóng tối sẽ tan đi và ánh sáng sẽ ngập tràn nếu anh hành động, tôi hành động và chúng ta cùng hành động. Trong cái ánh sáng rạng ngời xua tan bóng tối ấy có ánh sáng của tôi, của anh và của tất cả chúng ta. Và hôm nay, nhà thơ Tố Hữu đã mượn tiếng ru dịu êm của mẹ qua bài thơ “Tiếng ru” của mình, một lần nữa gợi cho chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội, giữa một con người và mọi người. Một ngôi sao không làm nên bầu trời đêm rực sáng. Một bông lúa chin chẳng làm nên mùa vàng bội thu. Một con người nhỏ bé đáng kể gì trong cõi nhân gian rộng lớn. Đất thấp thế nhưng nhờ có đất mà núi mới cao. Sông nhỏ thế thôi nhưng nhờ sông mà biển mới mênh mông đến vậy. Một cá nhân bé nhỏ sẽ không là gì cả so với một cộng đồng to lớn. Nhưng ngược lại, những gì lớn lao, vĩ đại lại được tạo nên từ những điều hết sức nhỏ bé mà thôi. Sống trên đời, ai cũng mong muốn mình được thể hiện và khẳng định bản thân, phần cá nhân của mình. Đó là mong ước tự nhiên và chính đáng. Phần riêng ấy được thể hiện ở những khát khao, hoài bão của bản thân, là niềm mong mỏi mình phải có vị trí nào đó trong mắt mọi người. Phần cá nhân bé nhỏ của mỗi người ấy cần được thể hiện, được khẳng định, được tôn trọng và ghi nhận. Chính “cái tôi” ấy tạo nên giá trị và bản sắc của mỗi cá nhân trong cộng đồng, làm cá nhân đó không bị hòa tan, không lẫn vào người khác. Tôi yêu những vạt nắng trải dài trên cánh đồng bát ngát, yêu những triền đê xanh thơm mùi cỏ non. Còn bạn, bạn yêu những ánh đèn màu rực rỡ của thành phố hoa lệ về đêm, yêu những tòa nhà chọc trời nguy nga tráng lệ. Tôi và bạn có những tình yêu khác nhau, quan điểm sống khác nhau, và chính sự khác nhau ấy đã làm nên “cái tôi” riêng của mỗi cá nhân chúng ta. Phần tôi ấy được thể hiện bằng nhiều cách: bằng sự yêu thương, bằng những nỗ lực, phấn đấu học tập, lao động hay chỉ đơn giản là những sở thích riêng của chúng ta mà thôi. Ở mỗi thời kì, ta đều thấy sự xuất hiện của những cá nhân vĩ đại, xuất sắc. Bằng tài năng của mình, họ đã đóng góp rất nhiều cho cộng đồng, xã hội. Họ có thể là những nhà khoa học, bằng những phát minh của mình đem lại sự phát triển cho đời sống của nhân loại như Đác-uyn, Marie Curie… Họ có thể là những nhà Cách mạng, bằng sự nghiệp chính trị của mình mà đem lại hòa bình cho cả một dân tộc, một đất nước như Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam ta. Nhưng dù cá nhân có hoàn thiện, có lớn lao vĩ đại đến đâu đi chăng nữa nhưng cũng sẽ không là gì so với sức mạnh của cả một dân tộc. Cá nhân ấy khác nào một hạt cát với một sa mạc, một giọt nước với một đại dương rộng lớn, một thân cây giữa bạt ngàn rừng xanh… Mất đi một hạt cát thì sa mạc vẫn cứ mênh mông; mất đi một giọt nước thì đại dương vẫn cứ bao la; mất đi một bông hoa thì mùa xuân vẫn cứ muôn phần rực rỡ… Một vĩ nhân, một anh hùng làm sao làm nên sự nghiệp lớn nếu không có sự kề vai góp sức của mọi người. Một cá nhân bé nhỏ làm sao tạo được sự nghiệp lớn lao khi chỉ làm một mình mình. Ta phải biết rằng cùng với ta, bên cạnh ta còn có sự chung tay góp sức cùng ta làm nên việc lớn. Nhìn lại lịch sử chiến đấu hào hung của dân tộc, ta thấy rằng sở dĩ ta có thể dệt nên những trang sử vẻ vang , ta có thể anh dũng chiến đấu giành thắng lợi, đem lại hòa bình, tự do cho dân tộc được vì sự đồng lòng, đoàn kết của nhân dân. Chính những cá nhân nhỏ bé, riêng lẻ đã tạo nên một sức mạnh tập thể vô cùng lớn lao, có thể quét sạch quân thù. Hay hình tượng người anh hùng Thánh Gióng, nhờ có cơm áo của bà con làng xóm mà Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ, xông pha trận mạc đánh tan giặc Ân. Hình tượng ấy đã được truyền thuyết hóa, thực chất đó chính là tinh thần đoàn kết của nhân dân đồng lòng chống giặc. Qua đó, ta thấy sự khiêm tốn nhìn nhận, đánh giá vai trò của mỗi cá nhân trong cộng đồng quan trọng biết bao. Biết là thế nhưng chúng ta cũng đừng vì mỗi cá nhân vô cùng nhỏ bé mà quên đi sự đóng góp của bản thân để tạo nên cộng đồng, chúng ta đừng chỉ biết hưởng thụ những đóng góp của người khác mà làm mờ nhạt đi vai trò của mình, làm mình trở thành gánh nặng cho người khác, cho cộng đồng, xã hội. Bởi lẽ tất cả mọi thứ lớn lao đều được hình thành từ những gì bé nhỏ nhất. Một hạt cát bé nhỏ thật nhưng nếu không có những hạt cát kia thì làm gì sa mạc mênh mông đến vậy. Một giọt nước không là gì cả nhưng biển làm sao bao la khi không còn những giọt nước ấy. Vì vậy, ta có thể thấy cá nhân là một nhân tố quan trọng, là cơ sở để hình thành nên cộng đồng, tập thể. Để những cá nhân có thể đóng góp sức mình vào phần chung to lớn, chúng ta không được quyền quên đi những đóng góp của họ. Vì biết đâu nỗi buồn bị lãng quên sẽ làm giảm đi nhiệt huyết trao tặng của họ, dù cho những đóng góp kia cho đi không phải mục đích là được nhận về. Như những người lính tuổi còn rất trẻ đã cho đi tuổi xuân, cho đi xương máu của mình vì một cái chung to lớn. Hay những người mẹ Việt Nam anh hùng đã đóng góp từng củ khoai, bát gạo cho các chiến sĩ, đóng góp cả những đứa con ưu tú của mình, để rồi âm thầm khóc nghẹn trong lặng lẽ khi hay tin các anh hi sinh, các anh không về. Các mẹ đã hi sinh hạnh phúc riêng của mình vì cộng đồng, vì tập thể to lớn kia. Những con người ấy họ đã cho đi mà có nề hà chi. Họ hi sinh cái phần cá nhân bé nhỏ của mình đâu phải vì huy chương, vì chiến công. Họ cho đi mà không cần đền đáp lại. Nhưng những lòng biết, những niềm cảm thông, chia sẻ của chúng ta sẽ làm họ vui hơn rất nhiều, sẽ giúp họ cảm thấy ấm áp mà nhiệt tình hơn trong trao tặng. Chúng ta cũng không nên đóng góp sức mình mà lại lại đòi hỏi một sự công nhận thật tương xứng với công lao mà mình bỏ ra. Vì đó thực chất chỉ là một cuộc trao đổi chứ không phải cho đi vì cộng đồng. Vì vậy, chúng ta phải có quan niệm: mình vì mọi người, mọi người vì mình. Chúng ta cho đi thì ta sẽ được nhận về. Dù có lớn hay không thì sự nhận về ấy vẫn luôn có ý nghĩa. “Ta là con chim hót Ta là một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến” (Thanh Hải) Nhà thơ Thanh Hải cũng đã từng suy nghĩ về triết lí này trong cuộc đời sáng tác văn chương của ông. Ông muốn làm một chú chim để dâng cho đời tiếng hót, muốn làm một bông hoa điểm tô thêm sắc hương cho cuộc sống, một nốt nhạc trầm để lại cho người nghe những dư âm xao xuyến. Và ông gọi đó là “Mùa xuân nho nhỏ” của mình. Khát khao của ông, ước muốn của ông nhỏ bé thật nhưng nó đáng quý biết bao. Vậy đấy, cuộc sống của chúng ta là thế. Ông chỉ muốn được là góc nhỏ của mùa xuân vì ông biết rằng mùa xuân lớn kia là mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Từ mùa xuân bé nhỏ ấy, ta mời thấy ước muốn đóng góp lúc nào nó cũng đáng quý, dù đóng góp nhỏ bé hay lớn lao thì nó cũng có ý nghĩa vô cùng. Ta và tôi, cá nhân và cộng đồng… tất cả đã tạo nên mối quan hệ mật thiết giữa những điều bé nhỏ và những thứ lớn lao trong cuộc sống. Đó chính là triết lí sống vô cùng đúng đắn mà con người đúc kết được từ những thực tế cuộc sống. Tiếng ru giản dị, mượt mà, êm đềm nhưng ẩn chứa trong nó là bài học lớn lao. Và tiếng ru dấy vẫn luôn đồng hành trong hành trang cuộc đời của chúng ta, từ thuở bé cho đến khi trưởng thành, giúp ta nhận thức được mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong cuộc sống, dạy ta biết đóng góp, biết cho đi để tạo nên những bông hoa, những bài ca, những mùa xuân rực rỡ cho đời, cho người và cho cả chính chúng ta.  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đánh giá thực trạng tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP HÒA PHÁT

1.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp
Theo điều 4, luật Doanh nghiệp 2005: “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
1.1.2. Khái niệm Tài chính DN
Trong nền kinh tế thị trường, khi DN tiến hành hoạt động SXKD phải cần một lượng vốn tiền tệ nhất định. Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, DN mua sắm các yếu tố cần thiết cho quá trình SXKD như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… Sau khi sản xuất xong, DN bán hàng và thu được tiền bán hàng. Số tiền bán hàng này được sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho Nhà nước, phần còn lại là LNST, DN tiếp tục phân phối số lợi nhuận này.
Như vậy, quá trình hoạt động của DN cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của DN. Quá trình đó làm phát sinh và tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao gồm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên hàng ngày của DN.
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của DN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của DN và gồm các quan hệ tài chính chủ yếu sau:
Quan hệ tài chính giữa DN với Nhà nước: Quan hệ này được thể hiện chủ yếu ở chỗ DN thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách v.v… Đối với DN Nhà nước còn thể hiện ở việc: Nhà nước đầu tư vốn bổ sung cho DN bằng những cách thức khác nhau.
Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác:
Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác là mối quan hệ rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi DN và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau (bao hàm cả các loại dịch vụ tài chính).
Ngoài quan hệ tài chính giữa DN với các chủ thể kinh tế khác DN có thể còn có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như DN thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội v.v…
Quan hệ tài chính giữa DN với người lao động trong DN: Quan hệ này được thể hiện trong việc DN thanh toán tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của DN v.v…
Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ sở hữu của DN: Mối quan hệ này thể hiện trong việc đầu tư, góp vốn hay rút vốn của chủ sở hữu đối với DN và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của DN.
Quan hệ tài chính trong nội bộ DN: Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ DN trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của DN.
Như vậy:
Xét về hình thức, TCDN là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của DN.
Xét về bản chất, TCDN là các quan hệ kinh tếdưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của DN trong quá trình hoạt động của DN.
Hoạt động TCDN là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động SXKD nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình SXKD được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Hoạt động TCDN tốt sẽ thúc đẩy hoạt động SXKD phát triển.
Xem thêm

70 Đọc thêm

Nghiên cứu khoa học một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kỷ luật sa thải người lao động theo bộ luật lao động 2012

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KỶ LUẬT SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012

Lao động là cơ sở đầu tiên để con người tồn tại và phát triển; là hoạt động quan trọng nhờ đó con người tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ nhu cầu chung cho toàn xã hội. Bằng lao động, con người có thể làm chủ bản thân, và cũng chính nhờ lao động mà những sáng tạo mới được nảy sinh giúp con người đi từ tiến bộ này tới tiến bộ khác, xã hội loài người không ngừng được phát triển và hoàn thiện. Và cũng chính từ lao động mà hình thành nên mối quan hệ cơ bản giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Xem thêm

64 Đọc thêm

HƯỚNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

HƯỚNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰCBỘ MÔN QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DNDANH MỤC HƯỚNG ĐỀ TÀI NCKHSINH VIÊN 20131. Tranh chấp lao động tại một nhóm doanh nghiệp ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.2.Nâng cao năng lực chủ thể người lao động Việt Nam hiện nay.3.Đối thoại xã hội cấp doanh nghiệp tại một hoặc một nhóm doanh nghiệp thực trạng và giải pháp.4.Nghiên cứu về các căn cứ pháp lý của quan hệ lao động Việt Nam.5.Nghiên cứu tình trạng đình công và giải quyết đình công tại một KCN hoặc một nhóm DN.6.Đối thoại xã hội 3 bên ở Việt Nam thực trạng và giải pháp (Nghiên cứu điển hình).7.Nâng cao năng lực của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam. Nghiên cứu điển hình tại một số doanh nghiệp.8.Thúc đẩy thương lượng trong các doanh nghiệp Việt Nam (nghiên cứu thực tế tại một hay môt số doanh nghiệp điển hình).9.Đối thoại xã hội và thương lượng trong quan hệ lao động, biện pháp để làm lành mạnh hóa quan hệ lao động.10. Nghiên cứu tác động của môi trường pháp luật đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp Việt Nam.11. Tổ chức thương lượng về tiền lương tại các doanh nghiệp Việt Nam (nghiên cứu thực tế đối với một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp).12.Thúc đẩy cơ chế tương tác trong quan hệ lao động ở Việt Nam.13.Nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Trình bày một bản hợp đồng lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động là Giám đốc một doanh nghiệp nhà nước vào năm 2002 hoặc 2003

TRÌNH BÀY MỘT BẢN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG LÀ GIÁM ĐỐC MỘT DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀO NĂM 2002 HOẶC 2003

Hợp đồng lao động – chế định pháp lý chủ yếu và quan trọng điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Các tiêu chí của nó không chỉ là cơ sở pháp lý để các chủ thể làm căn cứ cho việc thiết lập quan hệ lao động, mà còn là cơ sở căn cứ pháp lý để nhà nước thực hiện công tác quản lý, tổ chức và phân công lao động trên phạm vi khu vực, vùng lãnh thổ. Mặt khác hợp đồng lao động ( HĐLĐ) là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc. Nhận thức dược ý nghĩa của tầm quan trọng của chế định hợp đồng lao động, em đã mạnh dạn chọn đề tài của mình : “ Trình bày một bản hợp đồng lao động giữa người lao động với người ssử dụng lao động là Giám đốc một doanh nghiệp nhà nước vào năm 2002 hoặc 2003”.

Do sự hiểu biết còn hạn chế, nên không tránh đựơc sự sai sót. Em mong thầy cô bỏ qua và giúp đỡ em hoàn thành tốt bài tiểu luật này.

Em xin trân thành cảm ơn
Xem thêm

15 Đọc thêm

Mẫu xây dựng quy chế cơ quan

MẪU XÂY DỰNG QUY CHẾ CƠ QUAN

Điều 1: Nội quy lao động là công cụ điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động (Giám đốc Công ty) và người lao động trong Công ty và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp dến quan hệ lao động.
Điều 2: Công ty Vật liệu điện dụng cụ cơ khí là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động theo các quy định của pháp luật. Giám đốc Công ty là người có quyền điều hành cao nhất trong Công ty, người lao động trong Công ty phải tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện nghiêm túc chế độ thủ trưởng trong doanh nghiệp Nhà nước, cấp dưới phải thi hành nghiêm chỉnh các chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên. Mọi thành viên trong Công ty phải chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của Giám đốc Công ty và các quy chế hoạt động của Công ty.
Điều 3: Người lao động trong Công ty có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động và tuân theo sự điều hành hợp pháp của trưởng đơn vị, theo sự phân công, phân cấp quản lý của Công ty.
Điều 4: Giám đốc Công ty có quyền tuyển chọn lao động, bố trí điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh, có quyền khen thưởng và xử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật; Có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và những thoả thuận khác, tôn trọng danh dự nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động trong Công ty.
Điều 5: Quan hệ lao động giữa người lao động và Giám đốc Công ty được xác lập và tiến hành qua thương lượng thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền lợi và lợi ích pháp luật của nhau, cùng thực hiện đủ những điều đã cam kết.
Xem thêm

46 Đọc thêm

BÀI TẬP HỌC KÌ LAO ĐỘNG

BÀI TẬP HỌC KÌ LAO ĐỘNG

Quản lí là chức năng và hoạt động của hệ thống tổ chức thuộc các giới khác nhau bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hê thống đó. Trong lao động cần có quản lí để duy trì tính tổ chức sự phân công lao động các mối quan hệ giữa những người trong một tôt chức xã hội nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Một trong các đặc trưng của quản lí đó là dụng quyền lực của mình để bắt buộc đối tượng quản lí phải phục tùng nhằm đạt được mục tiêu thiết lập một trật tự chung mang lợi ích cho tập thể cộng đồng nhất định.
Xem thêm

14 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ đề CƯƠNG ôn THI môn QUAN hệ KINH tế QUỐC tế, SAU đại học

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ đề CƯƠNG ôn THI môn QUAN hệ KINH tế QUỐC tế, SAU đại học

Kn: Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ giữa hai hoặc nhiều nước với nhau, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế được thực hiện dưới nhiều hình thức được hình thành và phát triển trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.
Cơ sở khách quan của quan hệ kinh tế quốc tế
Một là, quan hệ kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu được quyết định bởi bản chất xã hội của lao động và phân công lao động quốc tế.
Phân công lao động quốc tế là sự chuyên môn hóa của một quốc gia vào sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ nào đó, dựa vào lợi thế tuyệt đối hoặc lợi thế so sánh của nước mình để cung cấp cho các quốc gia thông qua trao đổi buôn bán.
Xem thêm

Đọc thêm

Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Trong quá trình vận động của thế giới vật chất nói chung, mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối liên hệ có tính khách quan nhất, phổ biến nhất. Bởi mọi sự vận động biến đổi nào của thếgiới vật chất suy cho cùng cũng đều là mối liên hệ nhân quả, như Lômônôxốpđã từng khẳng định bằng định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: “ Năng lượng không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác..” Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ảnh vào đầu óc con người. Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được các hiện tượng đó. Từ những lý do trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả và vận dụng cặp phạm trù này trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay”. Dù đã cố gắng song bài làm khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô. Sau đây em xin trình bày phần nội dung của đề tài.

NỘI DUNG

I. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả

1.1. Định nghĩa

Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sựtác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sựvật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định.

Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.

1.2. Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện

Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả.

Điều kiện là hiện tượng cần thiết đểnguyên nhân phát huy tác động, trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định.

1.3. Tính chất của mối liên hệ nhân quả

Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu.

Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người.

Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sựvật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất định sinh ra.

Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả nhưnhau.

2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

2.1. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

Nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ những mối liên hệ có tính sản sinh ra nhau thì mới là liên hệ nhân quả.

Trong thực tiễn thì mối liên hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả. Mặt khác, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sẽ đẩy nhanh sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu những nguyên nhân tác động theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở hoặc triệt tiêu sự hình thành kết quả.

2.2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân

Kết quả là do nguyên nhân sinh ra nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhânđã sinh ra nó. Sự ảnh hưởng có thể diễn ra theo hai hướng: thúc đẩy sự hoạtđộng của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực).

2.3. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau

Cái trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng vẫn là nó trong quan hệ khác lại đóng vai trò là kết quả. Vì vậy, mối liên hệnhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong những trường hợp cụ thể. Trong sựchuyển hóa vô tận của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất thì liên hệ nhân quả là một chuỗi vô tận, chúng xoắn xuýt lẫn nhau không có điểm đầu tiên, không có điểm cuối cùng.

3. Ý nghĩa phương pháp luận

Trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả. Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo điều kiện cho nguyên nhân phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó.

Phải biết xác định đúng nguyên nhânđể giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau.

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác tận dụng những kết quả đãđạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực.

II. Sự biểu hiện của nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

1. Thực trạng tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong năm 2012 trên toàn quốc đã xảy ra 6777 vụ tai nạn lao động làm 6967 người bị nạn, trongđó: số vụ tai nạn lao động chết người 552 vụ, số người chết 606 người, số người bị thương nặng 1470 người, nạn nhân là lao động nữ 1842 người.

Trong năm 2013 trên toàn quốc đã xảy ra 6695 vụ tai nạn lao động làm 6887 người bị nạn trong đó: số vụ TNLĐ chết người 562 vụ, số người chết 627 người, số người bị thương nặng 1506 người, nạn nhân là lao động nữ2308 người.

Trong 6 tháng đầu năm 2014 cả nước đã xảy ra 3454 vụ tai nạn lao động. Trong đó, số vụ tai nạn laođộng chết người là 258 vụ. So với 6 tháng đầu năm 2013, số vụ tai nạn lao động tăng 132 vụ (tăng 3%), tổng số nạn nhân tăng 74 người ( tăng 2%), số vụ tai nạn lao động chết người giảm 65 vụ (giảm 20%) và số người chết giảm 25 người (giảm 8%)

2. Sự biểu hiện nội dung của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua hoạtđộng tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1. Phạm trù nguyên nhân trong vấn đề tai nạn lao động

Phạm trù nguyên nhân trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động là sự tác động lẫn nhau giữa người lao động, người sử dụng lao động, kĩ thuật và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời là sự tácđộng giữa các mặt về lợi ích kinh tế của chủ lao động.. gây ra những kết quả là tai nạn lao động xảy ra. Cụ thể là:

Nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động là do sự tác động của người sử dụng lao động với người lao động, như không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động; không có quy trình, biện pháp an toàn lao động; Do tổ chức lao động chưa hợp lý; không có thiết bị an toàn hoặc thiết bị không đảm bảo an toàn; không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động vì lợi ích kinh tế mà giảm thiểu tốiđa thiết bị bảo hộ lao động hay thiết bị không đảm bảo an toàn lao động mà chỉmang tính hình thức,...

Nguyên nhân từ người laođộng như người lao động vi phạm các quy trình, biện pháp làm việc an toàn về an toàn lao động; không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân; hay thiếu hiểu biết về các thiết bị và quy định an toàn;..

Ngoài ra, nguyên nhân dẫnđến tai nạn lao động có thể từ cơ quan quản lý nhà nước: Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động hiện nay đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra, xử lý của cơ quan nhà nước đối với các doanh nghiệp vi phạm công tác an toàn vệ sinh lao động còn chưa triệt để dẫn đến tình trạng còn nhiều người sử dụng lao động không chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật. Khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, chưa được quan tâm hướng dẫn đầy đủ quy định nhà nước về an toàn vệ sinh lao động dẫn đến việc vi phạm các quy định về An toàn vệ sinh lao động và nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao.

2.2. Phạm trù kết quả trong vấn đề tai nạn lao động

Phạm trù kết quả trong hoạt động tai nạn lao động là bất kì biến đổi nào dẫn đến tổn thương cho bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình laođộng, gắn liền với việc thực hiện công việc lao động mà do những nguyên nhân từngười lao động, người sử dụng lao động... gây ra.

2.3. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả qua vấn đề tai nạn lao động

· Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

Nguyên nhân luôn có trước kết quả vềmặt thời gian, như nguyên nhân người chủ không tổ chức huấn luyện an toàn laođộng cho người lao động có trước mới dẫn đến kết quả là người lao động không hiểu về quy trình an toàn mà để xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, mặc dù đúng về mặt thời gian nhưng chúng ta không thể lấy “vì hôm qua người lao động xem bóng đá”là nguyên nhân để dẫn tới kết quả hôm nay anh ta mới xảy ra tai nạn lao động. Mà những mối liên hệ về mặt thời gian ấy phải có tính sản sinh ra nhau, như do thiếu hiểu biết về quy trình an toàn của việc sử dụng thiết bị máy móc mà khi vận hành người lao động mới gặp tai nạn. Vì vậy, muốn tìm nguyên nhân của tai nạn lao động cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ trước khi tai nạn đó xuất hiện.

Nguyên nhân sinh ra tai nạn lao động rất phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện các nhau, như thời tiết, khí hậu,..Chẳng hạn điều kiện thời tiết xấu xuất hiện cùng với nguyên nhân người lao động không trang bị bảo hộ có thể dẫn tới tai nạn nhưng nếu thời tiết tốt thì chưa chắc tai nạn đã xảy ra.

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫnđến tai nạn lao động: sự tác động giữa người lao động, người sử dụng lao động, do máy móc kĩ thuật không đảm bảo,..Ngược lại, từ một nguyên nhân cũng dẫn đến nhiều kết quả: chẳng hạn từ một sơ suất nhỏ của người lao động cũng dẫn đến những kết quả tai nạn nhẹ, tai nạn nặng, tai nạn chết người, tại nạn làm tổn hại của cải vật chất,..

Những nguyên nhân tác động cùng chiều sẽ nhanh dẫn tới sự hình thành kết quả. Thật vậy, người chủ không trang bịthiết bị bảo hộ kết hợp với việc người lao động chủ quan, không có ý thức bảo vệ chính bản thân mình thì tai nạn xảy ra là khó tránh khỏi. Ngược lại, nếu người chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn nhưng người lao động có ý thức bảo vệ, tiến hành các biện pháp an toàn lao động hay kiến nghị với người chủ lao động về việc trang bị thiết bị an toàn thì có thể cản trở kết quả tai nạn lao động có thể xảy ra. Đây là dẫn chứng của việc những nguyên nhân tácđộng ngược chiều thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí cản trở sự hình thành kết quả.

· Kết quả tác dụng trở lại đối với nguyên nhân

Khi kết quảlà tai nạn lao động xảy ra, thì lại có ảnh hưởng trở lại với nguyên nhân theo hai hướng. Theo hướng thúc đẩy sự phát triển của nguyên nhân, như ban đầu người chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn dẫn đến tai nạn lao động, vì sợ cơquan quản lý phát giác và xử phạt, họ chỉ trang bị những thiết bị an toàn khôngđảm bảo chất lượng mà chỉ mang tính hình thức, như vậy tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra,.. Theo hướng cản trở những nguyên nhân sinh ra nó, đó là các cơquan quản lý nhà nước tiến hành kiểm tra,tìm nguyên nhân gây ra tai nạn để khắc phục, hạn chế nguyên nhân làm xảy ra tai nạn lao động. Cụ thể bộ Lao độngThương binh và Xã hội chỉ đạo các Bộ, Ngành, Tập đoàn.. tăng cường chỉ đạo,đôn đốc các đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn lao động và các chế độ bảo hộ lao động, chú trọng triển khai công tác huấn luyện về an toàn lao động,..

· Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau

Trong mối liên hệ giữa “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”và “ xảy ra tai nạn lao động” thì “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”là nguyên nhân còn “việc xảy ra tai nạn lao động” là kết quả, còn trong mối liên hệ khác, “việc xảy ra tai nạn lao động” là nguyên nhân dẫn đến “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”để che mắt cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, mối liên hệ nhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong những trường hợp cụ thể.

2.4. Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua vấn đề tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

Trong thực tiễn khi tai nạn lao động xảy ra cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả mà khôngđược tách rời thế giới hiện thực thì mới có phương hướng giải quyết hậu quả. Muốn cho tai nạn lao động không xảy ra thì phải làm mất đi những nguyên nhân đã sinh ra nó. Chẳng hạn như phải loại bỏ nguyên nhân “chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn lao động” bằng việc “chủ lao động chủ động huấn luyện bài bản các biện pháp an toàn và trang bị thiết bị cho người lao động”. Đồng thời, phải biết các định đúng nguyên nhân (do tác động từ ai, như thế nào,..) bằng việc phân tích, báo cáo, tổng hợp,.. để giải quyết các vấn đề nảy sinh

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả, do đó trong khi tai nạn lao động xảy ra cần khai thác, tận dụng những dẫn chứng từ kết quả để giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, nhằm hạn chế tai nạn đáng tiếc xảy ra như những hoạt động tích cực của bộ Lao động Thương binh và Xã hội đang thực hiện hiện nay.

KẾT LUẬN

Victo Hurgo đã từng nói rằng “Hànhđộng làm nên ta, hoặc làm hỏng ta, chúng ta là kết quả hành vi bản thân”. Còn Isaac Newton nhận định “ Bất kỳ hành động nào cũng dẫn đến một phản ứng tácđộng ngược lại với mức độ tương đương”.. Không ai có thể phủ nhận tính khách quan của mối liên hệ nhân quả. Đặc biệt, nó có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhận thức của con người. Về thực tiễn có thể thấy, thành công không phải như một phép nhiệm màu, mà do chính ta tạo ra bằng sự nỗ lực của bản thân mình. Vì vậy, quy luật về mối liên hệ nhân quả chính là tâm điểm thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của một cá nhân, một quốc gia hay cả một xã hội. Nhà nước ta đã và đang áp dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này không chỉ vào hoạt động nhằm hạn chế tai nạn lao động mà cả những hoạtđộng khác để có những phương hướng chỉ đạo đúng đắn. Mối liên hệ nhân quả sẽtiếp tục là kim chỉ nam cho con người trong hoạt động thực tiễn để gặt hái những thành công to lớn hơn.
Xem thêm

10 Đọc thêm

“ Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

“ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội và sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật thì tiền lương trong nền kinh tế quốc dân và trong các doanh nghiệp không ngừng đổi mới và tăng lên nhanh chóng góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, gia tăng khối lượng sản phẩm. Đây là một trong số những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.
Tiền lương là một khoản tiền công trả cho người lao động tương ứng với số lượng,chất lượng và kết quả lao động. Tiền lương có thể được xem là bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị, uy tính của người lao động đối với cá nhân và xã hội. Đối với người lao động đó chính là nguồn thu nhập nhằm duy trì và nâng cao mức sống gia đình họ, là mối quan tâm hàng ngày đối với họ và họ có xu hướng đòi hỏi tăng lương. Còn đối với doanh nghiệp, tiền lương là một khoản mục chi phí. Mục đích của họ là luôn muốn giảm chi phí đến mức tối thiểu để đạt được lợi nhuận cao nhất. Vì vậy tiền lương luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng trong đời sống và xã hội của đất nước, bởi nó bao hàm nhiều mối quan hệ mâu thuẫn giữa sản xuất và nâng cao đời sống, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa thu nhập của các thành phần dân cư… Do đó, đối với doanh nghiệp việc xây dựng một hệ thống trả lương sao cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và đạt lợi nhuận cao để tích lũy vừa đảm bảo cuộc sống cho người lao động, kích thích người lao động nhiệt tình với công việc là một trong những công tác đặt lên hàng đầu nhằm ổn định nhân lực phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Xem thêm

55 Đọc thêm

ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam Bài tập cá nhân môn Luật Lao Động
Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng cao là yếu tố quyết định của đất nước. Do vậy cần có những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các vấn đề có liên quan trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động.

Bài viết của em xin trình bày vấn đề: “ Quan hệ lao động đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam.”

NỘI DUNG

I. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam.

Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội cùng loại có cùng tính chất cơ bản giống nhau được các quy phạm của ngành luật ấy điều chỉnh.

Căn cứ theo Điều 1, Bộ luật lao động có quy định: “ Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương và NSDLĐ…”. Vì thế, đặc điểm cơ bản có tính quyết định để nhận diện đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam cũng như là tư cách tham gia quan hệ của các chủ thể và sự phụ thuộc của NLĐ trong quan hệ lao động. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là mối quan hệ xã hội phát sinh giữa một bên là người lao động làm công ăn lương với một bên là cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, thuê mướn có trả công cho người lao động (gọi là quan hệ lao động) và các quan hệ khác có liên quan phát sinh trong quá trình sử dụng lao động( quan hệ liên quan đến quan hệ lao động).

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật lao động bao gồm hai nhóm quan hệ xã hội: quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động. Tuy nhiên do đề bài yêu cầu, em xin đi sâu vào phân tích quan hệ lao động – đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam.

II. Quan hệ lao động – đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam.

1. Khái niệm quan hệ lao động.

Theo nghĩa rộng, QHLĐ được hiểu là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong lao động. Trong lao động, giữa con người với con người hình thành quan hệ sở hữu về tư liệu, phương tiện sản xuất, quan hệ tổ chức quản lí sản xuất và tổ chức quản lí lao động cũng như quan hệ phân phối sản phẩm sau quá trình lao động, hiểu theo cách hiểu này thì nhìn chung mỗi một phương thức sản xuất có một loại quan hệ lao động tiêu biểu thích ứng với nó. Trong nền kinh tế thị trường ở thời hiện đại, các quan hệ liên quan đến việc sử dụng lao động rất phong phú như QHLĐ trong các hợp tác xã, trong hợp đồng khoán việc, trong các doanh nghiệp… Mỗi loại QHLĐ này lại có những đặc điểm, thuộc tính riêng. Dù muốn luật lao động điều chỉnh cũng không thể điều chỉnh tất cả các QHLĐ theo nghĩa rộng này được. Vì vậy, theo tinh thần của Luật lao động, chúng ta nên hiểu khái niệm QHLĐ theo nghĩa hẹp.

Theo nghĩa hẹp, QHLĐ là quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình lao động. Trong quan hệ này một bên tham gia với tư cách của NLĐ, có nghĩa vụ phải thực hiện theo yêu cầu của bên kia và có quyền nhận thù lao từ công việc đó. Bên thứ hai là NSDLĐ, có quyền sử dụng sức lao động của NLĐ và có nghĩa vụ phải trả thù lao về việc sử dụng sức lao động của NLĐ.

NSDLĐ là cá nhân hoặc tổ chức có vốn đầu tư, trang thiết bị kĩ thuật, nhu cầu sử dụng lao động NLĐ là cá nhân, không có vốn, dung sức lao động của mình để nuôi sống bản thân và gia đình.

NLĐ có nhu cầu, mong muốn bán được sức lao động với giá cao, có môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho NSDLĐ một cách thuận lợi. Còn đối tác của NLĐ là NSDLĐ cũng” hướng tới” sức lao động, tức là sử dụng sức lao động của NLĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Như vậy, giữa NLĐ và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động mà mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau.

2. Đặc điểm của quan hệ lao động.

a. Trong quan hệ lao động, người lao động luôn phụ thuộc vào người sử dụng lao động.

Sự phụ thuộc này thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhưng nó tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển.

Thứ nhất, sự phụ thuộc của NLĐ vào NSDLĐ về mặt pháp lí. NSDLĐ có quyền tổ chức, quản lí quá trình lao động của NLĐ và NLĐ phải tuân thủ. Điều đó xuất phát từ những lí do sau:

NSDLĐ có quyền sở hữu tài sản mà các yếu tô cấu thành nên quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu;

NSDLĐ bỏ tiền ra mua sức lao động của NLĐ, muốn sư dụng sức lao động đó một cách hiệu quả nhất buộc NSDLĐ phải quản lí cho hợp lí, không để bị lãng phí;

Do mục tiêu sinh lợi nhuận, năng suất, hiệu quả, chất lượng trong kinh doanh. Tuy NLĐ phụ thuộc vào NSDLĐ nhưng pháp luật quy định hai bên được tự do thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng lao động.

Thứ hai, về mặt lợi ích kinh tế, giữa NLĐ và NSDLĐ vừa có mâu thuẫn, vừa có thống nhất phụ thuộc vào nhau. Trong QHLĐ, NSDLĐ có quyền quy định cơ chế phân phối trong đơn vị, có quyền quyết định các mức lương đối với từng vị trí công việc, có nghĩa vụ trả lương cho NLĐ….NSDLĐ luôn muốn giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí.

b. Quan hệ lao động chứa đựng đồng bộ các yếu tố kinh tế và xã hội.

QHLĐ không chỉ liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp. bảo đảm đời sống NLĐ, an toàn lao động,… mà còn liên quan đến đầu tư nguồn nhân lực, thu nhập, thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trên cơ sở những đặc điểm này nhà nước phải có định hướng điều chỉnh phù hợp, giả quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra trong quá trình sử dụng lao động.

3. Các loại quan hệ lao động.

a. Quan hệ làm công ăn lương giữa NLĐ và NSDLĐ
QHLĐ giữa người làm công ăn lương và NSDLĐ được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động. Xét về bản chất đó là sự thỏa thuận giữa các bên theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, quan hệ làm công ăn lương giữa NLĐ và NSDLĐ là đối tượng điều chỉnh chủ yếu nhất của luật lao động, bờ vì xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của các bên tham gia QHLĐ

b. Các quan hệ lao động khác.
Là quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ nhưng không xác lập trên hợp đồng lao động mà xác lập bằng các hình thức khác như: biên chế, bầu cử…. Những quan hệ này luật lao động chỉ điều chỉnh một phần chứ không điều chỉnh toàn bộ.

KẾT LUẬN

Luật lao động có vai trò quan trọng trong việc thực hiện và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động. Việc xác đinh đối tượng điều chỉnh chủ yếu của các quan hệ lao động làm công ăn lương, luật lao động đã thúc đẩy sự phát triển quan hệ lao động tiêu biểu và phổ biến của nền kinh tế thị trường theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xem thêm

5 Đọc thêm

So sánh giữa thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động

SO SÁNH GIỮA THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

So sánh giữa thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động câu hỏi kiểm tra và ôn thi cuối kì môn luật lao động.đề tài mối quan hệ giữa thoả ước lao động tập thể và tranh chấp lao động tập thể 2bài tập mối quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể với pháp luật lao động và hợp đồng lao động

2 Đọc thêm

Cơ sở khoa học của các hình thức chi trả tiền lương, tiền thưởng trong doanh nghiệp

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC HÌNH THỨC CHI TRẢ TIỀN LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG TRONG DOANH NGHIỆP

Cơ sở khoa học của các hình thức chi trả tiền lương, tiền thưởng trong doanh nghiệpI. Khái niệm, chức năng của tiền lương, tiền thưởng1.Khái niệm1.1. Tiền lươngTiền lương là phần tiền người lao động nhận được khi trao đổi sức lao động của mình với người sử dụng lao động. Theo C.Mác: “Tiền lương là giá cả sức lao động mà chủ tư bản trả cho công nhân thông qua hợp đồng thoả thuận mua bán sức lao động”. Ông cho rằng bản chất của tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, nó cao hay thấp tuỳ thuộc vào cung cầu của thị trường.Ngày nay, thế giới đang có những chuyển biến lớn về mọi mặt, xã hội càng phát triển tiến bộ thì những nhu cầu về vật chất, nhu cầu về tinh thần của con người cần được thoả mãn cũng tăng theo sự phát triển đó. Muốn vậy thì con người phải tham gia vào quá trình lao động nghĩa là bỏ sức lao động ra để đổi lấy những gì mà họ có thể sử dụng nó nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân họ. Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường lao động thì sức lao động cũng là một hàng hoá mà người nào muốn sử dụng hàng hoá đó phải bỏ ra một khoản tiền hay đổi bằng một cái gì đó tương đương với sức lao động mà người lao động bỏ ra. Cái được trả đó được gọi là tiền lương. Như vậy tiền lương chính là giá cả của sức lao động thông qua sự mua bán trao đổi sức lao động của người sử dụng lao động và người lao động.Tiền lương là một phần thu nhập của người lao động. Qua đó, người lao động sử dụng tiền lương nhằm duy trì sự sống tái tạo lại sức lao động của mình thoả mãn những nhu cầu bản thân và gia đình. Do đó, tiền lương là động lực thúc đẩy họ làm việc. Mặt khác tiền lương còn phản ánh nhiều mối quan hệ kinh tế xã hội khác. Mối quan hệ kinh tế giữa người sử dụng lao động và người lao động: tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động (người mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động) khi họ hoàn thành một công việc nào đó. Bên cạnh đó do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề của xã hội rất quan trọng có liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Người sử dụng lao động cần phải căn cứ vào số lượng cũng như chất lượng lao động cũng như mức độ phức tạp và tính chất độc hại của công việc để tính vào trả lương cho người lao động.
Xem thêm

30 Đọc thêm