NHƯNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI NƯỚC TA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nhưng tư tưởng cơ bản của nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nước ta":

Tư tưởng chính trị cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống chính trị xã hội ở việt nam hiện nay - tiểu luận cao học

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - TIỂU LUẬN CAO HỌC

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NHO GIÁO1.1. SỰ RA ĐỜI VÀ CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG TIÊU BIỂU CỦA NHO GIÁO1.1.1. Sự ra đời Nho giáoTrung Quốc cổ đại có một nền văn minh ra đời rất sớm so với các khu vực trên thế giới. Từ thế kỷ XXI TCN (Trước công nguyên), ở lưu vực châu thổ Hoàng Hà đã chứng kiện sự xuất hiện và kế tiếp nhau của các triều đại (Tam đại) là: Hạ, Ân (Thương) và Chu.Tới thế kỷ XVII TCN (vào khoảng cuối đời Thương), bộ tộc Chu nổi lên ở thượng lưu Hoàng Hà, thuộc tỉnh Thiểm Tây đã men theo con sông, tăng cường phát triển nông nghiệp và chinh phục các bộ tộc lân cận, mở rộng đất đai. Một thời gian sau lãnh thổ của nhà Chu được mở rộng đến Trường Giang. Đến giữa thế kỷ XI TCN, dưới thời của vua Trụ cai trị một cách bạo tàn với tính cách hoang dâm, vô độ đã bị Chu Vũ Vương tiêu diệt. Nhà Ân (Thương) đã bị thay thế bởi nhà Chu. Triều Chu rút về đóng đô ở đất Cảo Kinh ở phía Tây (nay là Tây Nam của Tây An), mở ra thời kỳ thịnh trị của nhà Tây Chu (1135 771 TCN).Dựa vào nguồn tài liệu kim văn (văn tự khắc vào đồng) và tài liệu của người đời sau ghi lại. Để củng cố nền thống trị lâu dài, nhà Chu đã tôn giáo hóa chính trị. Cụ thể vua nhà Chu tự xưng là Thiên Tử, lấy danh nghĩa là người có cả thiên hạ, tuyên bố mình là chủ sở hữu duy nhất đất đai trong thiên hạ: “Khắp dưới gầm trời, đâu cũng là đất của vua. Cả nước từ trong đến ngoài, ai cũng là tôi vua” 21, tr.220. Trên cơ sở đó nhà Chu đã thi hành chính sách phân chia đất đai cho con, cháu và phong làm công hầu, bá tước. Thời Tây Chu việc quản lý xã hội theo mô hình thái dương hệ. Vua nhà Chu là Thiên tử, là vương, còn con cháu nhà Chu là các bá. Vương là trung tâm, các bá phải phục tùng vương, phải cống nạp cho vương, vâng lệnh vương. Mô hình tổ chức chính trị theo kiểu này vô cùng hữu hiệu nhằm tập trung quyền lực, đồng thời cũng tạo sự chủ động cho các nước chư hầu. Mô hình chính trị này tạo thành cơ chế ràng buộc nhau về huyết thống, kinh tế và chính trị xã hội trong giai cấp thống trị.Thời Tây Chu nổi lên mấy đặc điểm cơ bản sau: Lực lượng sản xuất phát triển, đồ sắt đã xuất hiện góp phần đưa năng suất lao động lên cao. Nhà Chu thực hiện chế độ quốc hữu về tư liệu sản xuất (ruộng đất) và sức lao động. Ruộng đất và muôn dân đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu. Sau khi thiết lập sự thống trị, nhà Chu cải cách quan hệ sản xuất, thi hành rộng khắp chế độ Tỉnh điền. Theo chế độ này, ruộng đất được chia làm hai loại công điền và tư điền. Nông nô phải cùng nhau cày cấy và nộp sản phẩm nông nghiệp ở ruộng công điền cho tầng lớp quí tộc (gọi là phép trợ) sau đó mới được về làm ở phần Chế độ tỉnh điền đã cho thấy tính chất nhị nguyên của quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ phương Đông, tức là sự tồn tại song song của công điền và tư điền trong công xã nông thôn. Với cách phân chia ruộng đất này thì cả quí tộc ở trên và nông nô ở dưới đều có nguồn thu và phương tiện sinh sống. Đây là phương thức phân chia tổng sản phẩm xã hội độc đáo và là chính sách phù hợp để đảm bảo cho xã hội duy trì ổn định trật tự. Theo Ph.Ăngghen nhận xét thì điều đặc biệt là ở đây không có chế độ ruộng đất tư nhưng người ta vẫn kiến lập được một xã hội có giai cấp và thực hiện được sự áp bức bóc lột giữa giai cấp này với giai cấp khác. Nhà Chu đã chính trị hoá tư tưởng kính trời, thờ thượng đế, hợp mệnh trời. Nhà Chu cho rằng: nhà Ân không hợp mệnh trời do không biết mệnh trời nên thượng đế không còn ưa nhà Ân nữa mà ban mệnh xuống cho nhà Chu được “nhận dân, nhận cõi” do đó con cháu nhà Chu phải dốc tâm gìn giữ. Tầng lớp quý tộc Chu được đề cao, vua Chu là thiên tử, là Hạ đế (trời là thượng đế). Nhà Chu tồn tại là hợp mệnh trời, do đó tầng lớp quý tộc Chu có thể “nhận dân, trị dân và hưởng dân”, nếu kẻ “làm dân” mà làm loạn thì kẻ được “hưởng dân” sẽ phải dùng các phép “không phải đạo thường” mà chém giết, cai trị.
Xem thêm

81 Đọc thêm

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY TỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY TỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Nho giáo là một trong những hệ tư tưởng lớn trên thế giới và nó đã đi sâu vào văn hóa của nhiều nước đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á. “Đạo” theo nho giáo là quy luật chuyển biến, tiến hóa của trời đất, muôn vật. Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn để noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của con người, theo con đường của nho gia là phải phù hợp với tính của con người lập lên. Chính vì vậy, Nho giáo tác động mạnh mẽ đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người và tác động vào các khu vực khác của đời sống xã hội cũng như đối với xã hội đặc biệt là ở Việt Nam. Trong thời kỳ phong kiến ở nước ta nho giáo đã từng rất phát triển và đã trở thành quốc giáo, và nho giáo đã đi sâu vào xã hội Việt Nam cho dù sau này có rất nhiều hệ tư tưởng mới co du nhập vào Việt Nam nhưng vẫn không làm mờ được sự ảnh hưởng sâu săc của nho giáo. Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ Nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận. Nhưng do có sự ăn sâu của nho giáo trong xã hội vì vậy ở nước ta xã hội chủ nghĩa vẫn có những ảnh hưởng nhất định trên từng lĩnh vực. Vì vậy, việc nghiên cứu những tác động của nho giáo đến xã hội Việt Nam trong sự hình thành tư tưởng xã hội chủ nghĩa là hết sức cần thiết để vận dụng một cách tốt nhất tư tưởng chủ nghĩa xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước.
Xem thêm

25 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC , NHỮNG TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC , NHỮNG TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM

đến cuộc đời và tìm thú vui trong cuộc sống. Khác với các tôngiáo ở chỗ đó. Phật giáo cho cuộc đời là bể khổ nên tìm cáchgiải thoát, cần sự bất sinh. Lão giáo cũng yếm thế, bi quannh vậy, nên cần sự vô vi tịch mịch. Chỉ có đạo Nho là trongsự sống hơn cả. Không cần phải hỏi ta sinh ra ở cõi đời để làmgì, chết rồi thì đi đâu, chết rồi có linh hồn nữa không Ng ờimuốn biết ngời chết rồi có biết gì nữa không ? Chuyện đókhông phải là chuyện cần kíp bây giờ, rồi sau biết (Khổng Tửgia ngữ). Cho nên Khổng Tử ít bàn đến chuyện quỷ thần, đếnchuyện quái lạ, huyền bí. Làm ng ời ở đời hãy lo lấy việc củacon ngời. Chuyện của con ng ời lúc sống còn ch a lo hết, lo gìđến việc sau khi chết! Phải vụ lấy việc nghĩa của con ng ời,còn quỷ thần kính mà xa ta (Luận ngữ) khi khoa học ch a pháttriển, các tôn giáo còn thịnh hành, những chuyện mê tín dịđoan còn huyền hoặc ngời ta gây bao nhiêu tai hại, thì thái độkinh nhi viễn chi là đúng. Khổng Tử tuy ch a thoát ra đợc cáithiện đạo quan của đời Chu, nh ng ông đã bắt đầu hoài nghiquỷ thần, trời mặc dù ông vẫn trong việc tế trị. Nho họckhuyên con ngời ta nên yêu đời, vui đời, sống có ích cho đờicho xã hội. Câu Khổng Tử trả lời Tử Lộ khi ông ta định sanggiúp Phật Bật nêu rõ điều đó: Ta đây há lại là quả d a, chỉ đợctreo mà không đợc ăn hay sao sống ở đời mà bỏ việc đời làtrái đạo con ngời. Sống là hành động, đem tài trí giúp đờiKhổng Tử chính là tấm g ơng cho các nhà Nho đời sau noi theo.Ông không tìm thú vui ở chỗ ẩn dật hay ở chỗ suy t ởng suông,mà ở chỗ hành động, hành đạo. Khổng Tử đi chu du thiên hạngoài mục đích tìm cách thực hiện lý t ởng của mình suốt 14năm. Không ai dùng, trở về đã 70 tuổi ông vẫn dạy học, làmsạch, truyền bá t tởng của mình. Đây có thể nói là điểm sáng
Xem thêm

24 Đọc thêm

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay

BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI THỰC CHẤT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

MỞ ĐẦU
Là một quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, trong xã hội nước ta có nhiều định kiến giới dẫn đến sự chênh lệch về vị trí, vai trò và cơ hội phát huy năng lực cũng như thụ hưởng về thành quả phát triển của người phụ nữ so với nam giới. Để đảm bảo bình đẳng giới, cũng như bảo về quyền của người phụ nữ, các cơ quan nhà nước đã có những biện pháp nhằm làm giảm sự chênh lệch trên. Một trong những biện pháp đảm bảo bình đẳng giới đó là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Thực hiện biên pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm làm thay đổi thái độ, hành vi của mỗi cá nhân tiến đến xóa bỏ định kiến giới, đảm bảo phụ nữ hay nam giới đều có cơ hội học tập, làm việc và hưởng thụ thành quả ngang bằng nhau. Để làm rõ vấn đề này, em xin được nghiên cứu đề tài: “ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay.”.
Xem thêm

11 Đọc thêm

CHẾ ĐỊNH VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

CHẾ ĐỊNH VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

chấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền theo một quy mô hoàn chỉnhcó đầy đủ những thể chế và điều phạm. Mà ở thế kỷ XV, các xu thế phát triển đó đã vàđang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trên các bình diện sảnxuất và củng cố quốc phòng.Như đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu pháttriển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu của giai cấp địa chủ củaNhóm 6Page 12Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Namnhà nước và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về ruộng đất. Vì thế cho nênkhi chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của chế độ phong kiến, Nho giáocàng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này. làm cho sản xuất nông nghiệp và traođổi hàng hoá được đẩy mạnh hơn trước.Đồng thời Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinhthần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết làm cho nền giáo dụcphát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông. Nền giáo dục ấy cùngvới chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức đông đảo chưa từng thâý trong lịchsử chế độ phong kiến Việt Nam. Do đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển.Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng góp phầnthúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là một học thuyết tích cựcnhập thể, cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những quan hệ xãhội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức. Do đó, nhận thức lýluận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng được nâng cao hơn. Dựa vào lịch sử củaNho giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủhơn.b. Tiêu cực.Nho giáo ở Việt Nam khi chiếm ở vị trí độc tôn thì đã làm cho chủ nghĩa giáo điều
Xem thêm

31 Đọc thêm

tiểu luận cao học Tư tưởng từ bi bác ái của phật giáo và tư tưởng khoan dung của nho giáo – sự thống nhất và khác biệti

tiểu luận cao học Tư tưởng từ bi bác ái của phật giáo và tư tưởng khoan dung của nho giáo – sự thống nhất và khác biệti

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc và các chế độ chính trị khác nhau chủ yếu được giải quyết bằng hình thức đối đầu. Do vậy, nhiều cuộc chiến tranh, đấu tranh đã diễn ra ở rất nhiều khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, đôi khi một cuộc chiến tranh tàn khốc nào đó kết thúc thì một cơn lốc bạo lực mới lại xuất hiện. Điều này xảy ra là do sự kích động và trỗi dậy của những tư tưởng cực đoan. Nhiều cuộc khủng bố xảy ra, những sự căng thẳng về vấn đề dân tộc, về sự phát triển của những trào lưu tư tưởng mới... đang âm thầm tái diễn. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn và xung đột về văn hóa phát sinh là do xu hướng áp đặt văn hóa, lấn át văn hóa từ phía các nước có ưu thế về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ. Đồng thời, trên thế giới, xu hướng đấu tranh chống lại sự áp đặt “đồng hóa” văn hóa cũng xuất hiện. Chính vì vậy, vấn đề văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử giữa các quốc gia, các dân tộc, các khu vực đang được đặt ra trên toàn cầu. Bước sang thế kỷ XXI, con người hướng đến mong muốn xây dựng “thế kỷ đối thoại”, và tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo giáo hay tư tưởng khoan dung của Nho giáo được nhắc lại nhiều và được phát triển để trở thành nền tảng có thể thỏa mãn mong muốn đó. Từ bi bác ái của Phật giáo và Khoan dung của Nho giáo đã là yêu cầu với tư cách là vấn đề triết học hiện thời – là phẩm hạnh, đức tính đạo đức – chính trị và văn hóa, chống lại mọi hình thức kỳ thị, phân biệt chủng tộc và văn hóa.
Tư tưởng Từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng Khoan dung của Nho giáo đã được tiếp thu trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Dù hơn 1000 năm chịu sự thống trị của chế độ phong kiến phương Bắc, 100 năm dưới ách thống trị của thực dân và đế quốc, dân tộc Việt Nam vẫn thể hiện một tinh thần nhân văn sâu sắc – kẻ thù vô cùng tàn ác hung hãn với nhân dân nhưng khi chúng bại trận chúng ta vẫn “mở đường hiếu sinh”. Và đến bây giờ, Việt Nam vẫn sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới, kể cả với những nước đã từng là kẻ thù trước đây của mình, trên tinh thần hợp tác để cùng phát triển. Có thể nói, Phật giáo, Nho giáo đã có con đường thâm nhập và phát triển lâu bền ở Việt Nam, và cùng với văn hóa bản địa đã làm nên những giá trị tích cực. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế hóa hiện nay, những giá trị ấy lại càng được nâng lên sâu sắc, giúp ích cho xu thế toàn cầu. Vì vậy, tìm hiểu hai dòng tư tưởng có những điểm khác biệt nhất định nhưng cũng có sự thống nhất, đan xen để làm nên tinh thần hướng thiện, cởi mở sâu sắc trong văn hóa giữa người với người.
Bên cạnh đó, UNESCO cũng không phủ nhận rằng sự khác biệt giữa các nền văn hóa có thể dẫn đến tranh cãi bất đồng thậm chí xung đột. Vì vậy, nhân loại cần phải đoàn kết, chống lại sự đồng hóa, thiếu khoan dung, không từ bi bác ái cả trong tinh thần lẫn cách sống từ mỗi cá nhân cho đến toàn thể nhân loại. Và cho đến những năm gần đây, thực trạng bất ổn trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của các quốc gia và các khu vực cho thấy cần phải nhìn nhận sắc nét về tư tưởng từ bi bác ái trong Phật giáo và tư tưởng khoan dung trong Nho giáo, để thấy được sự thống nhất và khác biệt, song cùng hướng đến mục tiêu chung là văn hóa hướng thiện, nhân ái trong cộng đồng.
Để chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo , em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo – sự thống nhất và khác biệt”.
Xem thêm

Đọc thêm

ảnh hưởng của phật giáo ở việt nam

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM

Đạo Phật là môt trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng Phật tử được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Tùy từng giai đoạn lịch sử dân tộc ta đều có một học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người như Phật giáo ở thế kỷ thứ X – XIV, Nho giáo thế kỷ XV – XIX, học thuyết Mac Lê Nin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX cho đến nay. Tuy nhiên các học thuyết này không ở vị trí độc tôn mà song song tồn tại với nó vẫn có các học thuyết, tôn giáo khác tác động vào các khu vực khác nhau của đời sống xã hội, đồng thời cũng tác động trở lại các học thuyết chủ đạo. Ngày nay dù trải qua các cuộc cách mạng xã hội và các cuộc cách mạng trong hệ ý thức, tình hình vẫn như vậy.
Xem thêm

26 Đọc thêm

HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO

HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO

Nho giáo với tư cách là học thuyết Chính trị đạo đức xuất hiện ở Trung Quốc và đã có mặt ở Việt Nam hàng ngàn năm. Ở Việt Nam, đặc biệt từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến đã tiếp nhận và chủ yếu sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng và công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiến thống trị. Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành, phát triển của xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam.
Xem thêm

21 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐẠO GIAO, LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC , ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO GIÁO TỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN ĐẠO GIAO, LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC , ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO GIÁO TỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Ông cho rằng, bản tính nhân loại có hai khuynh hướng “hữu vi” và “vôvi”. “Vô vi” là khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợpthể với đạo. Vì vậy, Lão Tử đưa ra giải pháp cho các bậc trị nước là “lấy vô vimà xử sự, lấy bất ngôn mà dạy đời”. Để lập quân bình trong xã hội, phải trừkhử những “thái quá” nâng đỡ cái “bất cập”, lấy “nhu nhược thắng cươngthường”, “lấy yếu thắng mạnh”, “tri túc” không “cạnh tranh bạo động”, “côngthành thân thoái”, “dĩ đức báo oán”. Đó là quan điểm tiêc cực, bảo thủ. Vìvậy, Lão Trang đã gạt bỏ các khái niệm “hữu vi” của Nho gia, Mặc gia theođuổi một thế giới vô vi, thanh tịnh, vô sự, vô dục.Trang Tử thổi phồng một cách phiến diện tính tương đối của sự vật chorằng trong phạm trù “đạo” “vạn vật đều thống nhất”. Ông đề ra tư tưởng triếthọc nhân sinh “tề vật”, tức là đối xử như một (tề nhất) đối với những cáitương phản, xóa bỏ đúng sai. Mục đích của ông là đặt phú quý, vinh nhục rabên tiến vào vương quốc “tiêu đao”, thanh đạm, đạm bạc, lặng lẽ, vô vi…3.3 Về nhận thức:Lão Tử đề cao tư duy trừu tượng coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể.Ông cho rằng “không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khecửa mà biết đạo trời”. Trang Tử xuất phát từ nhận thức luận tương đối củamình mà chỉ ra rằng, nhận thức của con người đối với sự vật thường có tínhphiến diện, hạn chế. Nhưng ông đã rơi vào quan điểm bất khả tri, cảm thấy“đời có bờ bến mà sự hiểu biết lại vô bờ bến, lấy cái có bờ bến theo đuổi cáivô bờ bến là không được”. Ông lại cho rằng, ngôn ngữ và tư duy logic khôngkhám phá được Đạo trong vũ trụ.Trong ba thời kỳ: Sơ Hán, Ngụy Tấn, Sơ Đường, học thuyết Đạo giachiếm địa vị thống trị về tư tưởng trong xã hội. Suốt lịch sử hai ngàn năm, tưtưởng Đạo gia tồn tại như những tư tưởng văn hóa truyền thống và là sự bổsung cho triết học Nho gia.PHẦN II: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO GIÁO TỚI ĐỜI SỐNG6
Xem thêm

16 Đọc thêm

Tiểu luận: Tư tưởng triết học nho giáo

TIỂU LUẬN: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO

Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Ấn Độ và Trung Quốc là những trung tâm văn hóa triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy. Một trong những tư tưởng triết học phương Đông thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn còn có giá trị cho đến tận ngày nay về vấn đề luân lí đạo đứ, chính trị xã hội, đó là những tư tưởng triết học của Nho gia.
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, xét đến cùng nó bị quy định bởi đời sống vật chất xã hội. Do đó phát triển của tư tưởng triết học cũng bị quy định bởi sự phát triển của nền sản xuất vật chất, cũng phụ thuộc vào sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội. Triết học cũng là thế giới quan của những giai cấp hoặc tập đoàn xã hội nhất định. Lịch sử triết học Trung Quốc phân chia theo sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, nhiều học giả Trung Quốc, mỗi giai đoạn lại có cái nhìn khác nhau về di sản triết học của đất nước mình, thậm chí giai đoạn này hoàn toàn ngược lại giai đoạn kia. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về những tư tưởng về triết học của nho giáo.
Nho giáo hay còn gọi là Nho gia là trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trung Quốc, là học phái tư tưởng lấy luân lí chính trị làm cốt lõi, một bộ phận lịch sử phát triển Nho Gia tương đương với một bộ phận lịch sử phát triển chính trị xã hội Trung Quốc. Vì vậy chúng ta không thể không thừa nhận ảnh hưởng của tư tưởng Nho Gia đối với lịch sử xã hội Trung Quốc. Đúng như người nắm quyền thống trị triều Nguyên nói: “ Cai trị thiên hạ tất phải dùng Nho Gia”. Người đặt cơ sở đầu tiên của Nho gia là Khổng Tử, sống vào thời Xuân Thu. Về sau Mạnh Tử ( thời Chiến Quốc), Đổng Trọng Thư ( thời Tây Hán ) đã phát triển học thuyết này làm cho Nho học ngày càng hoàn thiện hơn.
I . KHỔNG TỬ ( 551479 TCN )
Khổng Tử tên thật là Khâu, hiệu là Trọng Ni, người nước Lỗ ( ở tình Sơn Đông ngày nay), Ông là một nhà tư tưởng lớn và là một nhà giáo dục lớn đầu tiên của Trung Quốc cổ đại. Khổng Tử có làm một số chức quan ở nước Lỗ trong mấy năm, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc đời của ông là đi đến nhiều nước để trình bày chủ trương chính trị của mình và mở trường để dạy học. Tương truyền, số học trò của ông có đến 3000 người, trong đó có nhiều người thành đạt, sử sách thường gọi là thất thập nhị thiên.
Ngoài việc dạy học, Khổng Tử còn chỉnh lí các sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu, trong đó sách Nhạc bị thất truyền, 5 quyển còn lại về sau trở thành 5 tác phẩm kinh điển của Nho gia được gọi chung là Ngũ kinh.
Những lời nói của Khổng Tử và những câu hỏi của học trò của ông được chép lại thành sách Luận ngữ. Đó là tác phẩm chủ yếu để tìm hiểu tư tưởng của Khổng Tử.
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG TRIẾT HỌC TRUNG HOA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG TRIẾT HỌC TRUNG HOA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM

Trung quốc được coi là cái nôi của nền văn minh nhân loại. sau nhiều biên cố thăng trầm, ngày nay tư tưởng nho giáo vẫn còn tồn tại và khẳng định sức sống mãnh liệt trong đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dânKhai thác những giá trị đạo đức trong nho giáo là vấn đề có ý nghĩa thiết thực của đời sống đương đại. Chúng ta cần nghiêm cứu thêm để có những thái độ đúng đắn với tư tưởng nho giáo

16 Đọc thêm

LUẬN VĂN: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY

LUẬN VĂN: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY

MỞ ĐẦU1
1.Lý do chọn đề tài1
2.Lịch sử nghiên cứu3
3.Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn6
4.Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn7
5.Phương pháp nghiên cứu7
6.Kết cấu của luận văn7
NỘI DUNG8
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN – CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN8
1.1. Nguyễn Trãi – con người và sự nghiệp8
1.1.1.Tiểu sử của Nguyễn Trãi8
1.1.2.Sự nghiệp của Nguyễn Trãi10
1.2. Tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học Nguyễn Trãi12
1.2.1.Tình hình kinh tế, chính trị12
1.2.2.Tình hình văn hóa, tư tưởng14
1.2.3.Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi16
1.2.4.Ảnh hưởng của truyền thống gia đình, văn hóa dân tộc đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi23
1.3. Tư tưởng triết học cơ bản của Nguyễn Trãi30
1.3.1. Tư tưởng nhân nghĩa30
1.3.2. Tư tưởng thân dân47
Tiểu kết chương 170

Chương 2: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY71
2.1. Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc xây dựng con người mới71
2.2. Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc thực hiện chế độ dân chủ, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa82
2.3. Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia87
Tiểu kết chương 293
KẾT LUẬN94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO96
Xem thêm

104 Đọc thêm

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài
Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc cách đây khoảng 2500 năm, là hệ tư tưởng thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Với tư cách một học thuyết đạo đức, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người. Những phạm trù đạo đức cơ bản mà Nho giáo xây dựng là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trung, Hiếu, Tín... Đây được coi là những phạm trù trung tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội.
Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Nho giáo. Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, có nội dung biến đổi cùng với sự biến đổi, phát triển của Nho giáo. Song, dù được hiểu theo khía cạnh nào thì Lễ cũng có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong hệ thống những phạm trù đạo đức của Nho giáo với mục đích bình ổn xã hội.
Trong quá trình du nhập vào Việt Nam, tư tưởng của Nho giáo từ chỗ đi theo gót chân của kẻ xâm lược dần dần đã hòa nhập vào đời sống cộng đồng, biến đổi để thích nghi với văn hóa bản địa. Tư tưởng Nho giáo, trong đó có tư tưởng về Lễ, đã sớm chiếm một vị trí quan trọng trong nền giáo dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Từ Lễ trong nền giáo dục phong kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất kỳ thời đại nào, Lễ cũng có giá trị cần phải được bảo tồn và phát huy.
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã hội. Là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, sinh viên Việt Nam hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, những giá trị đạt được từ nền giáo dục, từ việc kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc thì một bộ phận không nhỏ cũng đang có những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống.
Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế kỷ cùng sự tiếp biến linh hoạt để đưa vào Lễ giá trị mới của thời đại, ngày nay Lễ vẫn có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay.
Từ những vấn đề có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ và ý nghĩa của nó với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học.
Xem thêm

88 Đọc thêm

Tiểu luận Triết học :Ảnh hưởng của tư tưởng chính trị nho giáo trong đới sống xã hội việt nam với việc hình thành tư tưởng XHCN và hướng khắc phục

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC :ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO GIÁO TRONG ĐỚI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG XHCN VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC

1. Lý do chọn đề tài Văn minh Trung hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi văn minh của nhân loại. Bên cạnh nhiều phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết, tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến văn minh thế giới. Trong số các học thuyết, tư tưởng lớn đó phải kể đến tư tưởng Nho giáo. Nho giáo là tư tưởng quan trọng nhất của Trung Quốc trong hơn 2000 năm lịch sử và Người đặt cở sở đầu tiên cho tư tưởng này là khổng Tử.
Xem thêm

29 Đọc thêm

Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại

HỒ CHÍ MINH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI

Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Ở đây, xin làm rõ phần nào nhận định đúng đắn của Đảng ta về tư tưởng vĩ đại của Người. 1-Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau… Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý. Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Thời kỳ phong kiến, yêu nước có nội dung trung quân ái quốc, lợi ích giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động trong sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với Người là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi…Người có một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” và phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa trên quan điểm giai cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế giới. Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm. Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin-đỉnh cao của trí tuệ nhân loại-cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống. Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù. Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước. Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ…Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ…). 2- Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Nói đến văn hóa nhân loại có tầm cỡ vĩ đại nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với Hồ Chí Minh là phải nói đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã tiếp thu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và ứng dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi vĩ đại và cống hiến nhiều vào kho tàng lý luận mác-xít cũng như phương pháp hoạt động sáng tạo của cuộc cách mạng vô sản. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế. Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng. Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại, am tường các nền văn hóa Đông, Tây, kim, cổ. Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu. Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại. Người là tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai. Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị. Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tich cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng. Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung - những nét đặc trưng của giáo lý đạo Phật. Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân - một tình yêu bao la không chỉ dành cho con người mà dành cho cả chim muông, cây cỏ. Thứ hai là, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện. Thứ ba là, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp. Thứ tư là, Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn), đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng, Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẩn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc. Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử…trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Cũng như sau này, khi đã trở thành người mác-xít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm hiểu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc - độc lập; dân quyền - tự do; dân sinh - hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Là người mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta. Lĩnh hội tư tưởng văn hóa phương Tây: Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này. Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945. Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở thủ đô nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình. Là thủ đô của nước Pháp, Pa-ri cũng đồng thời là trung tâm văn hóa - nghệ thuật của châu Âu. Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây. Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp. Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ,…những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô, v.v…tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa. Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V. Cu-tuya-ri-ê, G. Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển. Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy. Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”. Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v… Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Học thuyết Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam

HỌC THUYẾT NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ Ở VIỆT NAM

Trung hoa cổ đại là một trong những trung tâm văn hoá của loài người ở phương Đông. Người ta nói rằng Trung hoa có lịch sử 6000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới.
Xem thêm

17 Đọc thêm

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG HOA TỚI NỀN VĂN HÓA VÀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG HOA TỚI NỀN VĂN HÓA VÀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM

19Chương 3: Ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa đến nền văn hóa truyềnthống của Việt Nam3.1. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt NamNho giáo truyền nhập vào Việt Nam khoảng 2000 năm nhưng có vịtrí chi phối cao nhất là từ thế kỷ 15 về sau. Trước đó, vào thời Trần, ảnhhưởng của Nho giáo chưa sâu đậm. Có thể có một bộ phận quan chức cao cấpcòn áp dụng ít nhiều lễ giáo, còn trong dân gian và kể cả quan chức cấp thấpthì ảnh hưởng của Nho giáo chưa đáng kể.Sự hình thành và phát triển Nho giáo ở Trung Quốc gắn liền với sựhưng thịnh của các triều đại, là hệ tư tưởng gắn liên với giai cấp thống trị,nhưng xét về khía cạnh văn hóa, Nho giáo góp phần làm phong phú nền vănhóa Trung Hoa. Do vậy, sự phát triển và mở rộng của Nho giáo cũng tuân thủnhững quy luật của sự mở rộng và phát triển của văn hóa. Sự du nhập Nhogiáo vào xã hội Việt Nam gắn liền với sự xâm lược của các thế lực phongkiến phương Bắc. Quá trình đó diễn ra nhanh hơn, đồng bộ hơn việc thiết lậpbộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam thời bấy giờ. Nếu không có sự xâmlược của các thế lực phong kiến đối với Việt Nam thì Nho giáo vẫn du nhậpvào xã hội Việt Nam, nhưng quá trình đó sẽ diễn ra chậm hơn và không đồngbộ. Sự du nhập Nho giáo Việt Nam cùng với sự xâm lược của các thế lựcphương Bắc được thực hiện bởi các quan đô hộ, bởi chính sách đồng hóa,được chính quyền đô hộ nâng đỡ, cho nên Nho giáo không được thiện cảm vàbắt rễ chậm chạp hơn so với Phật giáo. Cho nên, trãi qua hơn một ngàn nămBắc thuộc Nho giáo vẫn chưa xác lập được vị trí độc tôn trong đời sống.Trong suốt hơn một ngàn năm đó nhiều cuộc khởi nghĩa đấu tranh giành độclập dân tộc đã nỗ ra, nhưng hầu như không có sự tham gia của các nhà nho.Tiểu luận triết học
Xem thêm

34 Đọc thêm

TRIẾT LÍ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO

TRIẾT LÍ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới được du nhập vào Việt Nam vào những năm đầu công nguyên. Mặc dù là một tôn giáo ngoại sinh, nhưng Phật giáo đã sớm khẳng định mình và tìm được chỗ đứng vững chắc trong đời sống tinh thần cũng như trong nhiều hoạt động văn hóa xã hội khác của người Việt Nam.
Khác với Thiên Chúa giáo, Phật giáo đi vào đời sống tinh thần của người Việt Nam một cách hòa bình, tự nguyện hơn. Lúc đầu, nó được các thương nhân Ấn Độ chứ không phải các nhà truyền giáo mang tới. Với tinh thần từ, bi, hỉ, xả, Phật giáo đã tạo nên sự khác biệt với những hệ tư tưởng cùng thời được người Hán truyền bá vào Việt Nam. Nếu như Nho giáo phải mất một thời gian khá dài khi mà xã hội Việt Nam đã tương đối phát triển mới được trọng dụng thì Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng hòa mình vào nền văn hóa bản địa bằng những triết lí nhân sinh thâm trầm, sâu sắc, thể hiện chủ yếu qua những câu truyện cổ Phật giáo sinh động, hấp dẫn.
Truyện cổ Phật giáolà một loại truyện tôn giáo khá phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước châu Á. Nằm trong hệ thống truyện cổ tôn giáo, truyện cổ Phật giáo cũng là những truyện kể được xây dựng bằng trí tưởng tượng và hư cấu, ít nhiều liên quan tới lịch sử hoặc triết lí của đạo Phật và thường được sử dụng để truyền bá tư tưởng, giáo lý của tôn giáo này.
Chúng ta biết rằng Phật giáo không đơn thuần chỉ là một tôn giáo với hệ thống thần linh và nghi lễ thờ cúng mà nó còn là một hệ thống tư tưởng triết học sâu sắc. Trong những tư tưởng triết học đó, ngoài sự lí giải về thế giới (thế giới quan), Phật giáo đã dành phần lớn nội dung cho những vấn đề liên quan đến con người, đến cuộc đời con người, tình yêu, lối sống (nhân sinh quan). Những nội dung này thể hiện chủ yếu qua hệ thống kinh sách đồ sộ của nhà Phật. Bên cạnh đó, những tư tưởng này còn thể hiện qua các câu truyện cổ Phật giáo. Những tư tưởng này cùng với thời gian đã không ngừng thấm sâu vào hành vi, lời nói, sinh hoạt hàng ngày của người Việt. Những quan niệm về thiện ác, về nhân quả và nghiệp báo luân hồi khuyên bảo con người làm lành lánh dữ... đã ảnh hưởng tới đạo đức,lối sống của người Việt, tới những chuẩn mực xã hội được cộng đồng thừa nhận, thậm chí ảnh hưởng cả đến pháp luật của nhà nước...
Xem thêm

91 Đọc thêm

NHO GIÁO TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

NHO GIÁO TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

MỞ ĐẦU-----------------------------------------------------------------------------------------1. Tính cấp thiết của đề tài-------------------------------------------------------------2. Lịch sử nghiên cứu đề tài------------------------------------------------------------3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài-------------------------------------4. Phương pháp nghiên cứu------------------------------------------------------------5. Kết cấu đề tài--------------------------------------------------------------------------Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tư tưởng chính trị của Nho giáo-------------1.1. Sự ra đời và phát triển của Nho giáo--------------------------------------------1.1.1. Sự ra đời của Nho giáo---------------------------------------------------1.1.2. Sự phát triển của Nho giáo------------------------------------------------1.2. Những tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo--------------------------------1.2.1. Tư tưởng chính trị của Khổng Tử (551 – 478 TCN)------------------1.2.2. Tư tưởng chính trị của Mạnh Tử (372 – 289 TCN)--------------------1.2.3. Tư tưởng chính trị của Tuân Tử (315 – 230 TCN)--------------------Chương 2: Sự tiếp biến và ảnh hưởng của giá trị Nho giáo ở Việt Nam---------2.1. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam---------------------------------------2.2. Sự tiếp biến tư tưởng chính trị Nho giáo của người Việt Nam--------------2.2.1. Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc-------------------------------------------2.2.2. Thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc------------------------------------2.2.3. Thời kỳ phục hưng dân tộc (từ thế kỷ X - XV)-----------------------
Xem thêm

35 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI CÓ ĐÁP ÁN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI CÓ ĐÁP ÁN

Câu 1
Cơ sở hình thành và thành tựu cơ bản của văn minh Ai Cập
Câu 2:
Quá trình hình thành đạo Hồi , Ảnh hưởng của Việt Nam?
Câu 3
Những thành tựu cơ bản của văn minh Ấn Độ thời cổ trung đại:
Câu 4:
Sự hình thành và phát triển của đạo Phật thời cổ trung đại, phân tích ảnh hưởng tích cực của Đạo phật đối với xh Việt Nam hiện nay.
Câu 5
Điều kiện hình thành những thành tựu cơ bản của văn minh Trung Quốc thời cổ trung đại?
Câu 6
Những thành tựu cơ bản của Văn minh Trung Quốc thời cỏ trung đại. từ ảnh hưởng đó đến sự phát triển của văn minh thế giới
Câu 7
Bốn phát minh lớn về KHKT của Trung Quốc thời cổ trung đại và ý nghĩa của nó:
Câu 8
Quá trình hình thành tư tưởng nho giáo và phân tích những đặc điểm chính của tư tưởng này. Nêu ảnh hưởng của nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Câu 9
Điều kiện hình thành nền văn minh khu vực Đông nam Á và những thành tựu cơ bản của nền văn minh đó, Việt Nam đã có những đóng góp gì cho nền văn minh khu vực
Câu 10
Điều kiện hình thành nền văn minh Hy Lạp – La Mã và những thành tựu cơ bản của nền văn minh Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Xem thêm

16 Đọc thêm