CƠ SỞ LÍ LUẬN KHOA HỌC PHÁT TRIỂN KHÔNG NGỪNG VÀ CÁCH MẠNG KHCN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Cơ sở lí luận khoa học phát triển không ngừng và cách mạng KHCN":

TRÌNH BÀY NHỮNG HIỂU BIẾT CỦA EM VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HÔI KHÔNG TƯỞNG

TRÌNH BÀY NHỮNG HIỂU BIẾT CỦA EM VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HÔI KHÔNG TƯỞNG

Dựa trên các ý sau : hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và vai trò, ý nghĩa của học thuyết. Dựa trên các ý sau : hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và vai trò, ý nghĩa của học thuyết. -     Hoàn cảnh ra đời : + Của chủ nghĩa xã hội không tưởng : chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa ; nhân dân lao động bị bóc lột nặng nề, đời sống đói khổ. + Của chủ nghĩa xã hội khoa học : chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa ; nhân dân lao động bị bóc lột nặng nề, đời sống đói khổ ; phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ ; loài người đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. -    Hoàn cành trên có tác động như thế nào đến tư tưởng của các nhà xã hội không tưởng và cơ sờ khoa học về sự ra đời của học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học là gì ? -    Nội dung : xem phần thuật ngữ, khái niệm. -    Vai trò, ý nghĩa + Chủ nghĩa xã hội không tưởng : xây dựng một mô hình xã hội mới, tốt đẹp trong tương lai ; là cơ sở để sau này Mác, Ăng-ghen nghiên cứu và xây dựng học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học. + Học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học : là một học thuyết vừa mang tính cách mạng, vừa khoa học nêu ra sự phát triển tất yếu của xã hội phù hợp với những quy luật khách quan ; trang bị cho giai cấp vô sản một hệ thống lí luận đúng đắn trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, tiến tới xây dựng chủ nghĩa cộng sản ; mở ra kỉ nguyên mới cho sự phát triển của các khoa học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 2013

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 2013

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội được hình thành, phát triển bắt nguồn từ những tư tưởng triết học về lịch sử trước đó của loài người. Từ lịch sử xa xưa, trải qua bao thời gian đến nay dù ở thời đại nào, xã hội nào thì hình thái kinh tế xã hội cũng luôn tồn tại và phát triển hoặc tụt lùi theo sự phát triển của xã hội đó. Để biết được một đất nước nào đó lớn mạnh và phát triển hoặc ngược lại ta hãy nhìn vào hình thái kinh tế xã hội của nước đó. Nói đến hình thái kinh tế xã hội là ta phải nói đến một chỉnh thể cơ cấu phức tạp chứ không thể nói đến những thứ riêng lẽ được, nó phải đan xen nhau, có quan hệ không thể tách rời nhau được và chính mặt toàn vẹn này thì ta mới có được một hình thái kinh tế xã hội cần có và phải có. Hình thái kinh tế xã hội vạch rõ kết cấu cơ bản, phổ biến của mọi xã hội, quy luật vận động và phát triển của xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là biểu hiện tâp trung của quan niệm duy vật về lịch sử. Đó là một hình thái có hệ thống, có cơ sở khoa học nhất từ trước tới nay về xã hội và ngày càng tỏ rõ sức sống mãnh liệt của nó trước thử thách của thời gian. Học thuyết này đã khắc phục mọi quan điểm duy tâm về xã hội và cung cấp cho chúng ta cơ sở lí luận khoa học vững chắc trong việc hoạch định các đường lối, chính sách của Đảng ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã cho thấy một ngọn nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đó là đường lối khoa học và cách mạnh của Đảng, được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, và vẫn tiếp tục là kim chỉ nam dẫn dắt chúng ta trên con đường đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển nền kinh tế tri thức nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất – nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế xã hội.
Học thuyết hình thái – kinh tế xã hội của triết học Mác – Lênin đã được xã Hòa Châu vận dụng một cách linh hoạt trong mô hình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, trên cơ sở đó đề ra những phương hướng, biện pháp, nhiệm vụ cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém đồng thời đưa địa phương trở thành một trong những mũi nhọn trong sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Hòa Vang nói riêng và của thành phố Đà Nẵng nói chung.
Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, bản thân chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đang đứng trước những thách thức lớn. Hiện nay có những học thuyết, quan điểm công khai phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, hoặc muốn thay thế nó trong vai trò giải thích con đường vận động cơ bản của lịch sử. Do đó, chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói riêng đang đứng trước đòi hỏi là phải bảo vệ và chứng tỏ những giá trị, ý nghĩa bền vững của mình, phải nhận thức lại và được phát triển một cách chính xác, sâu sắc, toàn diện và có hệ thống hơn nữa về nội dung khoa học, thì mới có thể tiếp tục đóng vai trò làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cơ bản cho nhận thức khoa học về lịch sử.
Những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu như sự phát triển khoa học công nghệ, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, ô nhiễm môi trường,… đòi hỏi mỗi quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp cùng nhau giải quyết. Điều đó, đặt ra những vấn đề có tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hình thái kinh tế xã hội. Là một sinh viên chuyên ngành lí luận chính trị được trao cho mình một hệ tư tưởng tiến bộ nhất, khoa học nhất và cách mạng nhất thì việc lựa chọn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nhất là học thuyết hình thái kinh tế xã hội và vận dụng nó vào thực tiễn Việt Nam nói chung hay thực tiễn tại một điạ phương như xã Hòa Châu nói riêng là một việc làm rất cần thiết nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân.
Với những lí do trên Tôi chọn đề tài “ Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của triết học Mác – Lênin và sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự phát triển kinh tế xã hội tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 20112013” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

61 Đọc thêm

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

HỌC THUYẾT MÁC LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG VÀ XÂY DỰNG ĐẢNG TIỂU LUẬN CAO HỌC

Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng của Người về Đảng cộng sản Việt Nam là một trong những bộ phận quan trọng nhất. Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Quyết định nói trên chứng tỏ cho tới nay thực tiễn đã và đang khẳng định những di sản tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chính đảng của giai cấp vô sản vẫn là những nguyên lý, lý luận cơ bản để xây dựng Đảng cộng sản thành một đảng cách mạng chân chính, làm nhiệm vụ tiên phong trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phong xã hội, giải phóng con người. Nhưng chính các ông cũng chỉ ra là không phải mọi vấn đề lí luận đã được giải quyết xong xuôi, học thuyết của các ông mới chỉ lànhững viên gạch xây nền móng mà các thế hệ tiếp sau phải có trách nhiệm phát triển.
Trong thời đại ngày nay cho dù tình hình thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có nhiều thay đổi lớn thì tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và về cách mạng Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Nó là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng toàn dân, là cơ sở khoa học lý luận để Đảng và nhân dân ta hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đổi mới đất nước, mà kinh tế là trọng tâm xây dựng Đảng là then chốt.
Chính vì nhân dân cần một Đảng cách mạng chân chính dẫn đường mà sự lãnh đạo của Đảng được xác định như là một tất yếu lịch sử, một nhân tố quyết định làm nên mọi thắng lợi. Song cũng chính vì sự đòi hỏi khách quan ấy mà Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và chỉnh đốn bản thân mình. Đổi mới, chỉnh đốn bao giờ cũng phải coi là điều kiện cần và đủ để đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây thực sự là vấn đề than chốt đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới của nước ta Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng rất phong phú sâu sắc, do đó việc nghiên cứu nó là vô cùng quan trọng va cần thiết, nhưng người nghiên cứu đề tài này tự biết sức mình còn hạn chế. Song với quy mô là một tiểu luận, tác giả mong muốn trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam .
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam .
Nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận khoa hoc của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với sưu tầm tài liệu, học hỏi các chuyên gia va các thây cô giáo giảng dậy.
Kết cấu của đề tài được chia làm ba phần chính, gồm 3 chương cùng với hệ thống các khái niệm phạm trù, tạo nên một kết cấu hoàn chỉnh giúp cho bạn đọc hiểu được một cách khái quát nhất và cô đọng những tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

16 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỜI K

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỜI K

các chủ thể kinh tế có thế tiếp cận các thành tựu khoa học – công nghệ một cáchchủ động, tích cực để thúc đẩy phát triển sản xuất – kinh doanh có hiệu quả. Cụthế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về phát triểnKH-CN như: Chiến lược phát triển KH-CN; Luật Sở hữu trí tuệ (2005); Đề án19phát triển thị trường công nghệ (2005); Luật chuyển giao công nghệ (2006);Chương trình phát triển thị trường KH-CN; thành lập Quỹ phát treiren KH-CNquốc gia; Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH-CN… [13, tr.39]Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là tiền đề và điều kiện quan trọng đểphát triển KH-CN. “Đến nay, cả nước có khoảng 4,28 triệu người có trình độ từ caođẳng, đại học trở lên, trong đó có 24,3 nghìn tiến sĩ, 101 nghìn thạc sĩ” [22, tr.182]Thực hiện quan điểm chủ trương của Đảng, KH-CN nước ta có nhữngbước phát triển, đạt được một số kết quả nổi bật, đóng góp vào phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và cải thiện đời sống nhân dân. KH-CNđã đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ củacác ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là công nghiệp, nông nghiệp, giaothông vận tải, xây dựng , y – dược, thông tin và truyền thông.Kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết X; nhìn lại 10 năm thực hiệnChiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, 20 năm thực hiện Cương lĩnhnăm 1991, Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Hoạt động nghiên cứu, ứngdụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội. Quản lý khoa học, công nghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tựchủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ. Thị trường khoa học, côngnghệ bước đầu hình thành. Đầu tư cho khoa học, công nghệ được nâng lên” [01]2.2.2. Hạn chếBên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động KH-CN của nước ta còngnhiều yếu kém, bất cập: Cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động KH-CN còn tồntại nhiều bất hợp lý. Phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KHCN các câp còn chồng chéo, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn phát triển
Xem thêm

Đọc thêm

Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở đông âu và liên xô những vấn đề đặt ra để lấy lại

SỰ KHỦNG HOẢNG VÀ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở ĐÔNG ÂU VÀ LIÊN XÔ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ LẤY LẠI

1.1. Một số khái niệm .
1.1.1. khái niệm chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa xã hội là một hệ thống các quan niệm, ý thức và phản ánh những ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp, tầng lớp lao động bị áp bức và thống trị về một xã hội mà ở đó trên cơ sở ở mọi tư liệu sản xuất thuộc về toàn xã hội, các quan hệ giữa người với người là bình đẳng, mọi thành viên có cuộc sống ấm no,tự do,hạnh phúc, không có áp bức bóc lột. Lê nin đã viết : “đã lâu rồi, đã bao thế kỉ nay,thậm chí hàng ngàn năm nay nhân loại mong ước thủ tiêu” lập tức “mọi sự bóc lột”. V.I.Lênin, toàn tập, T.12, Tr. 53. Quá trình phát sinh và phà phát triển lâu dài tư tưởng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua những nội dung, khuynh hướng và nhiều hình thức khác nhau do điều kiện của mỗi thời kì lịch sử khác nhau quy định.
Chủ nghĩa xã hội bao gồm các tư tưởng chính trị ủng hộ một hệ thống kinh tếxã hội mà trong đó các sở hữu và các tài sản là thuộc quyền điều khiển của toàn thể cộng đồng nhằm mục đích tiến đến sự công bằng trong xã hội và trong kinh tế cũng như tiến đến một sự hợp tác tốt hơn. Quyền điều khiển có thể là trực tiếp qua một tập thể như hình thức công đoàn hay gián tiếp qua hình thức nhà nước. Nhìn theo khía cạnh kinh tế thì chủ nghĩa xã hội có đặc tính là sự sở hữu của các phương tiện sản xuất đã được cộng đồng hóa.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa là thể chế chính trị ở các nước có đảng cộng sản đã hoặc đang giữ độc quyền. Các nước này, tạm gọi tắt là hệ thống Xô viết, tự gọi mình là các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó từ chủ nghĩa xã hội được dùng theo nghĩa giai đoạn trước chủ nghĩa cộng sản. Các nước khác lại gọi họ là các nước cộng sản.
1.1.2 Khái niệm chủ nghĩa xã hội hiện thực.
Khái niệm chủ nghĩa xã hội hiện thực gắn liền với khái niệm chủ nghĩa xã hội. Về mặt lí luận “chủ nghĩa xã hội hiện thực là sự phát triển hợp logic của chủ nghĩa xã hội khoa học trong thực tiễn”. Chủ nghĩa xã hội hiện thực là kết quả của thực tiễn hóa lí luận từ chủ nghĩa xã hội khoa học và từ cách mạng tháng mười Nga.
Xem thêm

52 Đọc thêm

TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC

TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC

1. Phri-đrích Ăng-ghen (1820 -1895) xuất thân trong một giàu có ở Bác-men, Đức. Ông học đại học ở Béc-lin, quen biết Các Mác năm 1844 ở Pa-ri, sau đó sang sống ở Anh và mất ở đây. Ông là nhà triết học, nhà lí luận và hoạt động cách mạng, lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới. Ăng-ghen chủ yếu viết những tác phẩm về triết học, chính trị, kinh tế, lịch sử, có công trình viết chung với Mác là Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848). 2. Các Mác (1818 -1883) là con của một luật sư ở Tê-ri-e, Đức. Ông sớm tiếp xúc với tư tưởng Cách mạng Pháp 1789 và nền văn học cổ điển Đức, bảo vệ luận án tiến sĩ triết học năm 23 tuổi. Sau nhiều truân chuyên trong bước đường hoạt động xã hội và cách mạng, ông sang ở hẳn Luân Đôn và mất ở đây. Công trình nổi tiếng nhất của Mác là bộ Tư bản (1864 - 1876). 3. Mác qua đời ngày 14 - 3  -1883, tang lễ cử hành tại nghĩa trang Hai-ghết (Luân Đôn). Ăng-ghen đọc bài phát biểu trước mộ Mác. Đây là một bài văn nghị luận tiêu biểu và có giá trị văn chương. 4.Đọc hiểu Là nhà triết học, lí luận, nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc của thế giới, Ăng-ghen cũng có rất nhiều đóng góp trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Bài phát biểu của Ăng-ghen đọc trước mộ Các Mác là một bài văn nghị luận tiêu biểu và có giá trị văn chương. Bài phát biểu ngắn gọn súc tích, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ tôn vinh tài năng và tên tuổi của nhà cách mạng vĩ đại thế giới : Các Mác. Bài văn có thể được chia làm 3 phần : Phần 1 (từ đầu đến gây ra) : sự ra đi của Mác với niềm tiếc thương vô hạn của người ở lại. Phần 2 (tiếp theo đến không làm gì thêm nữa) : tổng kết 3 cống hiến vĩ đại của Mác đối với khoa học lịch sử và phong trào cách mạng. Phần 3 (phần còn lại) : khẳng định sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp của Mác. Ngay phần mở đầu, tác giả có cách nêu tình huống tạo một sự chú ý đặc biệt với người đọc : “Chiều ngày 14 tháng ba, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút, nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại đã ngừng suy nghĩ”. Câu văn mở đầu đồng thời là lời thông báo về sự ra đi vĩnh viễn của Các Mác rất cảm động. Cách nói giảm “nhà tư tưởng vĩ đại” “đã ngừng suy nghĩ” vừa tạo sắc thái kính cẩn lại vẫn tạo ra vẻ trang trọng rất đúng với hình ảnh một con người suốt đời “cống hiến cho sự nghiệp giai cấp vô sản toàn thế giới”. Cũng giống như những bài văn có ý nghĩa tiễn đưa, khóc thương người đã mất, trong phần mở đầu tác giả cũng bộc lộ rõ cảm xúc của mình về sự ra đi Mác : “Rồi đây, người ta sẽ cảm thấy nỗi trống vắng do sự qua đời của bậc vĩ nhân ấy gây ra”. Ngôn ngữ ngắn gọn súc tích nhưng lại có sức biểu cảm sâu xa, có khả năng đánh thức những tình cảm kính yêu muôn vàn của người đọc đối với vị lãnh tụ. Riêng ở phần 2, tác giả đã dành phần lớn dung lượng của bài viết ghi lại những cống hiến to lớn của Mác. Trước hết, đó là tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người : con người trước hết cần phải có cái ăn, cái uống, quần áo và chỗ ở rồi sau đó mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo. Đó cũng là một lôgíc đơn giản có ý nghĩa biện chứng. Các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo phải được xuất phát từ sự phát triển kinh tế, từ điều kiện vật chất trực tiếp, cụ thể. Cách so sánh với quy luật phát triển thế giới hữu cơ của Đác Uyn cùng với nghệ thuật liệt kê đã làm tăng sức thuyết phục và sự vĩ đại trong cống hiến của Mác. Cống hiến thứ 2 là việc tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Đặc biệt là việc phát hiện giá trị thặng dư – phần giá trị dôi ra ở sản phẩm so với khoản tiền phải chi để tạo sản phẩm ấy. Cống hiến thứ 3 là những phát kiến khoa học có tác động cách mạng đến công nghiệp, đến sự phát triển lịch sử nói chung. Khi nêu cống hiến thứ 3 của Mác, tác giả có ý tách thành 2 đoạn văn nhỏ : Đoạn thứ nhất khẳng định con người khoa học ở Mác ; đoạn thứ hai khẳng định con người cách mạng ở Mác. Điều đặc sắc là mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và cách mạng : “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. Mác là nhà khoa học nhưng trước hết ông cũng là một nhà cách mạng. “Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác”. Ông cũng là người đầu tiên đem đến cho giai cấp vô sản sự ý thức về địa vị và yêu cầu của mình. Cách trình bày 3 cống hiến của Mác được Ăng-ghen sắp xếp chặt chẽ, theo một trật tự logíc nhất định. Bằng biện pháp nghị luận tăng tiến, người đọc nhận ra sự phát triển hiệu quả của từng cống hiến của Mác. Cống hiến sau lớn hơn, vĩ đại hơn cống hiến trước. Chẳng hạn để mở đầu cho lời giới thiệu cống hiến thứ 2 (sau cống hiến thứ nhất) là lời dẫn : “Nhưng không chỉ có thế thôi”. Hoặc câu văn chuyển tiếp “Nhưng đấy hoàn toàn không phải điều chủ yếu ở Mác” để tác giả đi đến khẳng định : “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. Các cụm từ như bởi lẽ, trước hết, đó là… mở đầu các đoạn văn không chỉ có tác dụng liên kết đoạn mà còn tạo cho người đọc có nhiều điểm nhìn mở rộng và sâu sắc về Mác. Những lập luận tạo được sự lôgíc, mạch lạc. Lời của Ăng-ghen ở phần kết, một lần nữa khẳng định lại sự bất diệt của tên tuổi và sự nghiệp của Mác. Ở đó người đọc cũng nhận ra một niềm kính yêu, sự cảm phục sâu sắc, một sự tiếc thương vô hạn của Ăng-ghen với Mác. Đó cũng là sự tôn vinh chính nghĩa khi Mác đứng về phía nhân loại tiến bộ, về phía giai cấp vô sản toàn thế giới để bảo vệ quyền lợi của họ. *LIÊN HỆ Gien-ni và Lô-ra để đùa nghịch, một hôm có nêu lên cho Mác một loạt những câu hỏi mà những câu trả lời phải làm thành một thứ “bộc lộ”. Phẩm chất mà ba thích nhất : Ở con người : Tính giản dị.Ở đàn ông : Sức mạnh.Ở đàn bà : Sự mềm dịu. Đặc điểm tiêu biểu của ba : Tính thống nhất của mục đích. Quan niệm của ba về hạnh phúc : Đấu tranh. Quan niệm của ba về bất hạnh : Sự phục tùng. Khuyết điểm ba dễ tha thứ nhất : Lòng tin nhẹ dạ. Khuyết điểm ba căm ghét nhất : Sự xu nịnh. Ác cảm của ba : Mác-tin Túp-pơ. Công việc ba thích nhất : Lục lọi sách. Các nhà thơ yêu thích : Sếch-xpia, Ét-si-lơ, Gớt. Nhà văn yêu thích : Đi-đơ-rô. Nhân vật nam yêu thích nhất : Xpác-ta-cút, Kê-ple. Nhân vật nữ yêu thích nhất : Gơ-rét-xen. Bông hoa ba yêu thích nhất : Nguyệt quế. Màu ba yêu thích nhất : Màu đỏ. Tên ba yêu thích nhất : Lô-ra, Gien-ni. Món ăn ba yêu thích nhất : Cá. Châm ngôn ba yêu thích nhất : Không có cái gì của con người lại là xa lạ đối với tôi. Khẩu hiệu ba yêu thích nhất : Phải hoài nghi tất cả. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

3 Đọc thêm

LUẬN VĂN: NÂNG CAO KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT” Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN: NÂNG CAO KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT” Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN TỈNH HÀ NAM

Trong đời sống xã hội pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu đảm bảo cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội, bồi đắp nên những giá trị mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỉ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển những giá trị chân chính.
Phần “Công dân với pháp luật” trong môn Giáo dục công dân nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều đó thực sự hữu ích cho thế hệ trẻ Việt Nam, giúp họ hiểu biết và vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống.
Hiện nay, chúng ta thấy một thực trạng là số lượng vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng, trong số đó có một số lượng không nhỏ là các vụ vi phạm pháp luật do học sinh THPT gây ra. Chúng ta có thể thấy được tình trạng đạo đức, lối sống của một bộ phận học sinh THPT hiện nay còn nhiều bất ổn, từ thái độ học tập, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật của nhà trường,chấp hành pháp luật đến những hành vi tiêu cực trong học tập, thi cử của học sinh và sự xâm nhập các tệ nạn xã hội vào học đường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật và kỹ năng thực hành pháp luật còn rất hạn chế trước những tình huống mà thực tiễn đang đặt ra.
Từ những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao kỹ năng thực hành pháp luật trong dạy học phần “ Công dân với pháp luật” ở trường THPT Nguyễn Khuyến Tỉnh Hà Nam”, làm đề tài nghiên cứu.
2.Lịch sử nghiên cứu
Việc nâng cao kỹ năng vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn được xem như là nguyên tắc đảm bảo thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học. Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của nhiều tác giả nói về vấn đề này.
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra nguyên tắc phải thống nhất giữa lí luận và thực tiễn để chống lại bệnh kinh viện và bệnh giáo điều. Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách quan hay không, không phải là một vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí”. [14, 491].
Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và trong hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Thực tiễn không có lí luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng. Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông”. [41, 496].
Từ các quan điểm trên đặt ra yêu cầu : Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn. Khi nghiên cứu lí luận phải liên hệ với thực tiễn; học phải đi đôi với hành; lí thuyết gắn liền với thực tiễn; nhà trường phải gắn liền với xã hội. Yêu cầu vận dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh là vấn đề quan trọng của lí luận dạy học ngày nay.
Nhìn chung, có nhiều tài liệu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề kỹ năng thực hành của học sinh ở nhiều góc độ khác nhau:
Tài liệu giáo dục học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề thực hành
Xem thêm

114 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HIỆN TRONG DẠY HỌC MODULE TIỆN CƠ BẢN CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HIỆN TRONG DẠY HỌC MODULE TIỆN CƠ BẢN CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ

1.1.3. Giáo dục dạy nghề
Hoạt động giáo dục là một bộ phận của đời sống xã hội. Từ khi xã hội loài người xuất hiện, các thế hệ loài người đã gắn bó, kết hợp với nhau trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sáng tạo : trong kinh tế, văn hoá, chính trị và giáo dục…Hoạt động giáo dục (dạy học và giáo dục) luôn luôn phát triển và không ngừng đổi mới, nâng cao dần cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người. Theo tổng kết của UNESCO, trong hơn 50 năm qua giáo dục “ đã có thể trở thành nhân tố then chốt của phát triển bằng cách thực hiện ba chức năng kinh tế, khoa học và văn hoá” mà cụ thể là đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, đội ngũ các nhà trí thức tham gia có hiệu quả vào cuộc “cách mạng trí tuệ” – động lực của các ngành kinh tế; đào tạo nên các thế hệ công dân “bắt rễ trong chính nền văn hoá của họ và có ý thức hội nhập với các nền văn hoá khác vì sự tiến bộ của xã hội nói chung”. Mặt khác, giáo dục luôn không ngừng thích nghi với những thay đổi của xã hội; đồng thời thực hiện sứ mệnh chuyển giao những thành tựu văn hoá của xã hội loài người từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ thế hệ trước đến thế hệ sau.
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đã gia nhập WTO thì việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là mục tiêu hàng đầu của ngành giáo dục, các tổ chức, các cơ sở đào tạo và tiến tới nâng cao vị thế của mình trong xã hội.
Giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng không chỉ dừng lại ở việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu trong nước mà nó còn là quá trình tạo ra những sản phẩm mang tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo, cung ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Xem thêm

90 Đọc thêm

Đề cương phương pháp luận sử học

ĐỀ CƯƠNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC

ĐỀ CƯ¬ƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC

1. Tên môn học: PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC
(Dùng cho Cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN)
2. Tổng số đơn vị học trình: 3 (45 tiết)
Trong đó: Hướng dẫn, giới thiệu trên lớp: 30 tiết
Thảo luận theo tổ hoặc nhóm: 10 tiết
Thi viết: 5 tiết
3. Bộ môn phụ trách: Viện Lịch sử Đảng
Giảng viên viết đề cương: PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc
PGS,TS Trần Thị Thu Hương
4. Vị trí của môn học:
Học phần Phương pháp luận sử là môn học đầu tiên trang bị phương pháp luận khoa học lịch sử cho học viên trước khi học viên học tập chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Mục tiêu và yêu cầu của môn học:
Mục tiêu:
+ Về tri thức:
Giỳp cho Học viờn nắm vững hệ thống cỏc vấn đề cơ bản của phương pháp luận sử học, bao gồm: Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử; cỏc phương phỏp và nguyờn tắc nghiờn cứu sử học; phõn kỳ lịch sử; cụng tỏc sử liệu trong nghiờn cứu lịch sử…
+ Kỹ năng: Trờn cơ sở những vấn đề chung của phương phỏp luận sử học, vận dụng vào việc nghiờn cứu, giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Tư tưởng, tỡnh cảm: Củng cố niềm tin đối với Đảng, khơi dậy niềm say mê nghiên cứu khoa học, quỏn triệt sõu sắc cỏc vấn đề cơ bản của phương phỏp luận sử học trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhiệm vụ của học viên:
Học viên phải đọc, nghiên cứu trư¬ớc giáo trình, đề cư¬ơng bài giảng, tài liệu tham khảo, ghi chép, tích cực chuẩn bị ý kiến, chủ động đề xuất các vấn đề trong quá trình nghe giảng, thảo luận. Chuẩn bị các nội dung thảo luận, đọc và sưu tầm các tư¬ liệu có liên quan đến bài giảng theo yêu cầu và hư¬ớng dẫn của giảng viên.
6. Nội dung môn học :
Bài 1
ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ
VÀ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
I. ĐỐI TƯỢNG CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ
1. Quan niệm về đối tượng nghiên cứu của sử học thời cổ đại, phong kiến và tư bản chủ nghĩa
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, những quan niệm về đối tượng sử học khác với nhận thức lịch sử của con người thời kì nguyên thuỷ. Mọi sự việc, hiện tượng được nghiên cứu của con người thời cổ đại đều phụ thuộc vào quan niệm nhận thức của giai cấp thống trị (chủ nô). Nó được biểu hiện trong các loại biên niên sử, tiểu sử, tự truyện, biện luận lịch sử ở các nước cổ đại phương Đông và phương Tây.
Thấm nhuần hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, sử học phong kiến xem hiện tượng lịch sử là kết quả sự can thiệp sức mạnh của Trời vào đời sống cong người: quá trình lịch sử do ý Trời định đoạt.
Bắt đầu từ những nhà sử học thời Phục hưng nước Pháp, sử học của giai cấp tư sản đang lên đã quan niệm được “đối tượng đặc biệt của lịch sử là con người và những sự vật quan hệ đến con người”. Bên cạnh việc lấy các hoạt động chính trị của loài người trong quá khứ làm đối tượng nghiên cứu, họ còn mở rộng ra các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.
2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về đối tượng của sử học
Mác và Ăngghen đã hoàn thành quan niệm duy vật về lịch sử và thực sự đã làm một cuộc cách mạng trong khoa học lịch sử. Bởi vì việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, hay nói đúng hơn, sự áp dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật một cách triệt để vào lĩnh vực những hiện tượng xã hội đã loại bỏ được hai khuyết điểm cơ bản của những lí luận lịch sử trước kia.
Đối tượng của khoa học lịch sử, theo quan niệm mácxít lêninnít là quá trình phát triển thực tế của xã hội loài người, cũng như từng nước, từng dân tộc trong toàn bộ tính thống nhất, tính phức tạp, tính muôn màu, muôn vẻ của nó.
Trên cơ sở quan niệm mácxít lêninnít về đối tượng sử học như vậy, chúng ta tìm hiểu sâu hơn một số vấn đề thuộc phạm vi đối tượng:
+ Quy luật phát triển xã hội có phải là đối tượng của sử học hay không?
+ Những vấn đề thời sự có phải là đối tượng của sử học không?
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ
1. Chức năng của khoa học lịch sử
Trước hết là chức năng nhận thức: Chức năng nhận thức của khoa học lịch sử là miêu tả một cách khoa học hiện thực quá khứ khách quan và trên cơ sở sự miêu tả này mà phân tích, giải thích tính phong phú và đa dạng các hình thức cụ thể của quá trình lịch sử để rồi phát hiện những quy luật về lịch sử xã hội loài người.
Lịch sử là tấm gương soi cho các thế hệ sau, nó phản ánh sự cần thiết cần “ôn cố tri tân”, đáp ứng những nhu cầu của xã hội và con người ngày nay.
Từ chức năng giáo dục, nêu gương này, sử học có tác dụng rất lớn trong giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm, rèn luyện phẩm chất và dự báo.
2. Nhiệm vụ của khoa học lịch sử
Trước hết, khi nghiên cứu vạch ra chính sách và sách lược cách mạng, đảng của giai cấp công nhân tìm trong lịch sử những kinh nghiệm, những hiểu biết cần thiết để lấy câu trả lời cho những vấn đề cấp bách của hiện tại.
Sự hiểu biết lịch sử quá khứ một cách sâu sắc là một trong những cơ sở để xác định tính đúng đắn của chính sách, sách lược mà Đảng đề ra.
Minh hoạ, chứng minh tính chất đúng đắn, tính thực tiễn khách quan các đường lối, chính sách của Đảng là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học lịch sử.
Tri thức lịch sử là một phương tiện giáo dục có hiệu quả về tư tưởng tiến bộ, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho quần chúng.
Trong khi góp phần phục vụ nhiệm vụ cách mạng cơ bản nêu trên, những người làm công tác sử học cũng làm cho bản thân khoa học lịch sử phát triển.
III. ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG
1. Đối tượng nghiên cứu
Là một chuyên ngành của khoa học lịch sử, ngoài đối tượng chung, Lịch sử Đảng còn có đối tượng nghiên cứu cụ thể:
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng.
Nghiên cứu quy luật ra đời, xây dựng và phát triển của Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức qua các thời kỳ cách mạng.
Nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm, những bài học trong quá trình lãnh đạo của Đảng để từng bước làm rõ những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam.
Nghiên cứu, tổng kết làm rõ những truyền thống của Đảng.
2. Chức năng và nhiệm vụ của khoa học Lịch sử Đảng
2.1. Chức năng của khoa học Lịch sử Đảng:
Khoa học Lịch sử Đảng có 2 chức năng cơ bản:
Chức năng nhận thức khoa học lịch sử nhằm mục đích phục vụ việc cải tạo xó hội theo đúng quy luật phát triển của xó hội như một quá trỡnh lịch sử tự nhiờn.
Chức năng giáo dục tư tưởng chính trị, giải quyết những nhiệm vụ giáo dục niềm tin vào tính tất yếu lịch sử cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.
2.2. Nhiệm vụ của khoa học lịch sử Đảng:
Khụi phục, tỏi tạo lại sự thật lịch sử.
Làm rừ quy luật lịch sử
Tổng kết kinh nghiệm lịch sử từ những thành công và không thành công của Đảng trong quá trỡnh lónh đạo cách mạng.

Bài 2
MỘT SỐ NGUYÊN TẮC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
I TÍNH KHOA HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
Trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lí luận khoa học, những nhà khoa học đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động bao giờ cũng đứng vững trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác Lênin. Nhưng trong quá trình vận dụng lí luận Mác Lênin, các nhà khoa học mác xít bao giờ cũng tôn trọng sự thật khách quan, chân lí khoa học chứ không phải tiến hành một cách giáo điều, áp đặt một cách máy móc.
Tính khoa học là sự phản ánh kết quả nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải đạt đến chân lí khách quan. Tính đảng dựa vào hệ tư tưởng, lí tưởng, mục đích của một giai cấp trong xã hội, đối với nhà khoa học mác xít, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa là cơ sở tư tưởng cho nghiên cứu khoa học. Vì vậy, phải chú trọng đến tính khoa học để có cơ sở vững chắc cho việc nhận thức và thực hiện lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đồng thời phải nắm vững tính đảng thì mới đạt đến khoa học thực sự.
Để đạt được tính khoa học trong quá trình nghiên cứu, phải có ba yếu tố: sự kiện là cơ sở phản ánh hiện thực khách quan; kết luận khoa học được rút ra từ nghiên cứu sự kiện cụ thể và cuối cùng là việc vận dụng kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc đấu tranh thực hiện lí tưởng của giai cấp mình.
II. TÍNH ĐẢNG TRONG NGHIÊN CỨU SỬ HỌC
Xác định nguyên tắc tính đảng trong nghiên cứu sử học là yêu cầu đầu tiên phải thực hiện.
+ Trong xã hội có giai cấp, bất cứ nội dung của một khoa học nào đều cũng chịu ảnh hưởng thế giới quan, quan điểm và lợi ích của giai cấp mà nó phụ thuộc. Nhà khoa học thuộc giai cấp nào thường phục vụ lợi ích cho giai cấp ấy.
+ Chủ nghĩa Mác Lênin nhấn mạnh rằng ngoài tính chất phong phú, đa dạng của đời sống tinh thần xã hội ra, trong mỗi thời đại của lịch sử, tất cả các hình thái của ý thức xã hội đều liên hệ mật thiết với quan hệ kinh tế và giai cấp thống trị lúc bấy giờ và chịu ảnh hưởng của nó. Vì vậy, trong xã hội có giai cấp, những nhà khoa học đứng trên lập trường của giai cấp công nhân giai cấp tiến bộ nhất trong xã hội, đại diện chân chính nhất quyền lợi và nguyện vọng của toàn thể nhân dân lao động đã phản ánh đúng hiện thực khách quan của quá trình phát triển của xã hội, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử. Vì vậy, những người làm công tác khoa học muốn nhận thức được chân lí khách quan dứt khoát phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, thể hiện rõ tính giai cấp vô sản, không có sự lựa chọn nào khác.
+ Tính đảng cộng sản thể hiện việc công khai bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản giai cấp tiên tiến nhất và của quần chúng nhân dân lao động. Tính đảng mác xít là cơ sở cho phép các nhà khoa học xã hội, trong đó có các nhà sử học nhận thức được một cách khách quan, đầy đủ mối quan hệ giữa các thời kì, phân tích lịch sử một cách sâu sắc, đúng đắn nhất.
Tính đảng cộng sản trong sử học mác xít được thể hiện trên một số mặt:
+ Các nhà nghiên cứu sử học phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản.
+ Phải nhận thức và vận dụng đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu lịch sử.
+ Nắm vững các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng trong từng thời kì lịch sử nhất định để vận dụng vào nghiên cứu lịch sử.
+ Phải thể hiện tính chiến đấu của khoa học lịch sử mác xít trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực sử học.
+ Phải có tinh thần sáng tạo thể hiện ở việc lựa chọn, kế thừa, tiếp thu những di sản văn hoá tiến bộ của nhân loại, của dân tộc nhưng không rập khuôn, giáo điều, công thức trong nghiên cứu lịch sử …
III. SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH ĐẢNG TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, các khoa học xã hội đều có tính đảng. Chúng ta công khai nói rõ tính đảng của mình trong nghiên cứu lịch sử, ngược lại, sử học tư sản thì che dấu tính đảng của mình. Bởi vậy, tính khoa học và tính đảng trong sử học mác xít luôn thống nhất với nhau. Đây là sự thống nhất biện chứng của tính khoa học, thuộc hình thái ý thức xã hội và tính đảng, thuộc hệ tư tưởng.
Trong sử học mácxít, mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học thể hiện ở chỗ tính đảng cộng sản là cái bản chất tư tưởng chính trị, có ý nghĩa chỉ đạo phương hướng, bảo đảm cho khoa học phục vụ lợi ích của dân tộc và giai cấp vô sản.
Tuy nhiên, ở đây, tính đảng không chỉ giới hạn trong phạm vi xác định lập trường, quan điểm của giai cấp vô sản, mà còn gắn liền và tác động đến các vấn đề nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học. Chúng ta không thể tách rời tính khoa học ra khỏi tính đảng và ngược lại, bởi vì làm như vậy thì bản thân khoa học sẽ mất hiệu lực và không thể giải quyết những vấn đề quan trọng mà khoa học lịch sử đặt ra.
IV. TÍNH ĐẢNG VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG
Trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng, tính đảng trước hết thể hiện thế giới quan, lập trường, hệ tư tưởng vô sản, khẳng định lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và mang đến cho người học những cơ sở để củng cố niềm tin vào lý tưởng đó; phản ánh đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng, củng cố sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Tính khoa học của bài giảng Lịch sử Đảng thể hiện trước hết ở sự trình bày các sự kiện một cách chân thực, khách quan.
Tính khoa học của bài giảng Lịch sử Đảng còn thể hiện ở khả năng vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, góp phần phục vụ cho cuộc đấu tranh thực hiện lý tưởng cách mạng giải phóng giai cấp và dân tộc, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
Tính đảng biểu hiện tư tưởng của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam phải thể hiện nổi bật mục tiêu chính trị đó, góp phần thực hiện lý tưởng của Đảng.

Bài 3
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
I PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP LÔGIC
1. Phương pháp lịch sử
Khái niệm: Phương pháp lịch sử là nhằm diễn đạt lại tiến trỡnh phỏt triển của lịch sử với muụn màu muụn vẻ, nhằm thể hiện cỏi lịch sử với tớnh cụ thể hiện thực, tớnh sinh động của nó.
Đặc điểm của phương pháp lịch sử:
+ Đi sâu vào tớnh muụn màu muụn vẻ của lịch sử, tỡm ra cỏi đặc thù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến và trên cơ sở nắm được những đặc thù, cá biệt đó mà trỡnh bày thể hiện cỏi phổ biến của lịch sử.
+ Tỡm hiểu cỏi khụng lặp lại bờn cỏi lặp lại.
+ Theo dừi những bước quanh co, thụt lựi tạm thời... của quỏ trỡnh lịch sử.
+ Đi sâu vào ngừ ngỏch của lịch sử, đi sâu vào tâm lý, tỡnh cảm của quần chỳng, hiểu lịch sử cả về điểm lẫn diện, hiểu từ cá nhân, sự kiện, hiện tượng đến toàn xó hội.
+ Chú ý đến những tên người, tên đất, khụng gian, thời gian cụ thể nhằm dựng lại quỏ trỡnh lịch sử đúng như nó diễn ra.
2. Phương pháp logic
Khái niệm: Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng lịch sử, quá trỡnh lịch sử trong hỡnh thức tổng quỏt, nhằm mục đích vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng.
Đặc điểm của phương pháp logic:
+ Phương pháp logic nhằm đi sâu vào tỡm hiểu cỏi bản chất, cỏi phổ biến, cỏi lắp lại của cỏc hiện tượng, các sự kiện
+ Phương pháp logic có thể bỏ qua những bước quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, chỉ nắm lấy bước phát triển, những cốt lừi của quỏ trỡnh vận động của lịch sử, tức là nắm lấy quy luật của nó.
+ Nếu phương pháp lịch sử phải nắm lấy từng sự việc cụ thể, thời gian, tên người, tên đất cụ thể, phương pháp logic chỉ cần đi sâu nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hỡnh và nắm qua những phạm trự, quy luật nhất định.
3. Sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiờn cứu lịch sử
Trong thực tế nghiờn cứu, khụng bao giờ có phương pháp lịch sử hay phương pháp logic thuần túy tách rời nhau. Trong phương pháp lịch sử không thể không dùng phương pháp logic để làm nổi bật sợi dây logic chủ yếu của sự phát triển lịch sử. Và ngược lại, phương pháp logic không phải chỉ phản ánh một cách thụ động có tính chất chụp ảnh hiện thực khách quan mà là sự phản ánh biết rút ra từ trong lịch sử cái chủ yếu, làm cho cái chủ yếu ấy thể hiện được bản chất của quá trỡnh lịch sử.
Phương pháp lịch sử phải gắn với phương pháp logic mới phản ánh được bản chất, chân lý khách quan của lịch sử. Phải vận dụng đúng đắn cả hai phương pháp thỡ mới cú hiệu cao và tớnh thuyết phục cao.
4. Vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong nghiên cứu lịch sử Đảng
Những người làm công tác nghiên cứu lịch sử phải kết hợp một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Trước hết phải chú ý đến những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu lịch sử nói chung cũng như Lịch sử Đảng nói riêng phải khôi phục lại bức tranh chân thực của lịch sử đã diễn ra.
+ Nghiên cứu lịch sử Đảng không chỉ trình bày những thành công, thắng lợi của Đảng, của cách mạng, mà phải trình bày cả những thiếu sót, không thành công trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng, như đã diễn ra trong lịch sử.
+ Lịch sử lãnh đạo của Đảng không chỉ là sự hoạch định đường lối, chủ trương… mà điều có ý nghĩa quyết định là vai trò tổ chức thực tiễn để đưa cách mạng đến thắng lợi. Vì vậy, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng phải trình bày cả quá trình tổ chức thực hiện của các cấp và phong trào cách mạng phong phú và sinh động của quần chúng.
Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong nghiên cứu lịch sử Đảng là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, tuỳ theo từng nội dung và mục đích của từng bài nghiên cứu và của đối tượng mà vận dụng phương pháp này hay phương pháp khác ở mức độ nặng nhẹ khác nhau cho thích hợp.
II. PHƯƠNG PHÁP ĐỒNG ĐẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP LỊCH ĐẠI
1. Phương pháp đồng đại
Phương pháp đồng đại nghiên cứu mặt cắt ngang của xã hội. Đó là phương pháp nghiên cứu những sự kiện và hiện tượng khác nhau trong xã hội xảy ra trong cựng một thời gian.
Trong đời sống xã hội, trong cựng một thời gian thường xảy ra rất nhiều sự kiện, hiện tượng khác nhau, giữa các hiện tượng, sự kiện đó có liên quan chằng chịt với nhau, cần thiết phải phân tích, đánh giá mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện, hiện tượng đó.
Phương pháp này là nhằm làm rõ các mối liên hệ trong các sự kiện, hiện tượng để từ đó rút ra bản chất, quy luật vận động.
2. Phương pháp lịch đại
Phương pháp lịch đại nghiên cứu các sự kiện và hiện tượng lịch sử trong sự vận động và biến đổi của chúng theo trỡnh tự thời gian lịch sử. Theo trỡnh tự thời gian, cỏc sự kiện tạo nờn quỏ trỡnh nối tiếp nhau và trong sự vận động của quá trỡnh đó bộc lộ những nội dung mang tính quy luật. Đó là sự nghiên cứu quá trỡnh phỏt sinh, vận động và phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
3. Vận dụng phương pháp đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Là một khoa học chuyên ngành của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam phải giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong việc phân tích, đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử Đảng trong cùng mộ thời gian nhất định.
III. PHƯƠNG PHÁP PHÂN KỲ LỊCH SỬ
Khỏi niệm: Phõn kỳ lịch sử nghĩa là dựa vào sự kiện và tiờu chí khoa học để chia lịch sử loài người từ trước tới nay thành những thời kỳ, những giai đoạn khác nhau, nối tiếp nhau nói lên quá trỡnh phỏt triển khụng ngừng của xó hội.
Những nguyờn tắc phõn kỳ lịch sử:
+ Phân kỳ lịch sử phải thể hiện được tiến trỡnh phỏt triển chung của xó hội loài người hay của cả một dân tộc.
+ Phân kỳ lịch sử phải thể hiện được quy luật khách quan cơ bản của sự phát triển xó hội, quy luật về sự phỏt triển của hỡnh thỏi kinh tế xó hội.
+ Lịch sử loài người cũng như lịch sử dân tộc rất phong phú, đa dạng. Sự phát triển của xó hội loài người cũng không đồng đều, đơn tuyến, do đó các nhà sử học thường khẳng định phân kỳ lịch sử mang tính quy ước.
Vận dụng phương phỏp phõn kỳ lịch sử trong nghiờn cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam:
+ Phõn kỳ trong lịch sử toàn Đảng.
+ Phõn kỳ trong lịch sử đảng bộ địa phương.
+ Phân kỳ trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam do Đảng lónh đạo.


Bài 4
PHÂN KỲ LỊCH SỬ TRONG NGHIÊN CỨU SỬ HỌC
I. Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÂN KỲ LỊCH SỬ
1. Trong nghiên cứu sử học, phân kỳ lịch sử có một vị trí quan trọng
Nếu như các vấn đề quan hệ giữa tính Đảng và tính khoa học, quan hệ giữa tính lôgich và tính lịch sử là những vấn đề chung, liên quan đến toàn bộ các sự kiện lịch sử thì vấn đề phân kỳ lịch sử lại là một phần biểu hiện cụ thể của các vấn đề trên.
Trong phương pháp luận sử học không thể chỉ dừng lại ở tính Đảng, tính khoa học, tính lôgíc và tính lịch sử. Phải biết đặt sự kiện, con người, tư liệu, trong thời đại, giai đoạn mà nó tồn tại.
Nhận thức lịch sử không chỉ gắn liền với sự kiện thực tiễn mà còn gắn liền với môi trường tư tưởng, tâm lý con người làm nên sự kiện đó và con người ghi lại sự kiện đó, tư tưởng, tâm lý con người gắn liền với thời đại.
Nghiên cứu lịch sử không dừng lại ở những vấn đề lớn có tính khái quát mà còn mở rộng ra các sự kiện, các nhân vật, các cuộc vận động lớn nhỏ. Để đạt được những nhận định, những luận điểm khách quan, khoa học, người nghiên cứu không thể không trả lời hai câu hỏi lớn:
Thứ nhất, xác định thế nào cho đúng mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan trong nghiên cứu sự kiện lịch sử.
Thứ hai, khi nói đến hoàn cảnh xã hội tức là nói đến một giai đoạn nhất định của quá trình tiến hoá trong lịch sử loài người. Vậy thì sự phức tạp đó là hoàn toàn có tính chất ngẫu nhiên, hay chịu sự chi phối của những quy luật chung.
Trả lời hai câu hỏi trên đã xác định tầm quan trọng của phân kì lịch sử với tư cách là một vấn đề phương pháp luận. Vì vậy, phân kỳ lịch sử là một vấn đề quan trọng của phương pháp luận sử học.
2. Phân kỳ lịch sử là gì?
Phân kỳ lịch sử tức là dựa vào những dữ kiện và tiêu chí khoa học để chia lịch sử loài người từ trước đến nay thành những thời kỳ, những giai đoạn khác nhau, nối tiếp nhau nói lên quá trình phát triển không ngừng của xã hội.
Phân kỳ lịch sử không chỉ thực hiện đối với lịch sử thế giới nói chung mà cần được thực hiện ở lịch sử dân tộc, khu vực và cả ở các lĩch vực hoạt động riêng của con người.
Phân kỳ lịch sử không chỉ giúp cho nhà nghiên cứu đạt đến mục tiêu khoa học thực tiễn của mình mà còn giúp cho việc giảng dạy các môn khoa học xã hội nói chung vượt qua được sự chi phối của chủ nghiã chủ quan, nâng cao giá trị khoa học của các nhận định.
3. Ý nghĩa của phân kỳ lịch sử trong nghiên cứu và nhận thức lịch sử
Trong quan hệ với nhiệm vụ và chức năng của sử học: Dựa và những nhiệm vụ và chức năng của sử học để xác định tầm quan trọng của phân kỳ lịch sử.
Trong quan hệ với tính khoa học và tính Đảng: Mục tiêu của tính Đảng trong khoa học xã hội nói chung và khoa học lịch sử nói riêng là đạt đến trình độ cao trong tính khoa học và tính thực tiễn. Không thể nghiên cứu khoa học một cách chung chung bỏ qua phân kỳ lịch sử.
Trong quan hệ với tính lôgích và tính lịch sử: Bản thân lịch sử mang tính lôgích, dù hoạt động của con người đa dạng phức tạp, không ít tính ngẫu nhiên. Nhưng tất cả những hoạt động của con người nói trên đều không thể vượt qua cái khung bao quát của thời đại mà họ sống. Phân kỳ lịch sử giúp cho việc xác định mối quan hệ nói trên.
Trong quan hệ với vị trí và vai trò của nhà nghiên cứu hay người dạy lịch sử: Vấn đề thời đại, hệ tư tưởng, những quan hệ chính trị xã hội, những quan hệ trong và ngoài quốc gia v.v.. đều tác động đến tư duy của nhà nghiên cứu hay người dạy lịch sử. Xác định đúng thời đại và nội dung của thời đại đó là cơ sở của nhận định, lập luận.
II. SƠ LƯỢC CÁC QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ PHÂN KỲ LỊCH SỬ
1. Giai đoạn trước Tư bản chủ nghĩa
2. Những quan niệm phân kỳ lịch sử tư sản và phương Tây hiện đại
3. Phân kỳ lịch sử theo quan điểm mác xít:
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Enghen đã nói đến các thời kỳ phát triển của xã hội loài người như những hình thức nối tiếp nhau của chế độ sở hữu: thị tộc, cổ đại, phong kiến và tư sản, nghĩa là đưa ra một quan niệm mới về phân kỳ lịch sử trên cơ sở khẳng định thực tiễn các giai đoạn phát triển của xã hội loài người.
Quan niệm này được nói rõ hơn trong bản thảo thứ 3, thư giử Vera Datxulit, khi Mác nêu lên 3 thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư sản, sau đó nêu thêm khái niệm về phương thức sản xuất Á châu.
Tư tưởng ban đầu nói trên được phát triển trong quá trình nghiên cứu sâu sắc về lịch sử loài người để đạt đến sự khẳng định về qui luật phát triển khách quan của xã hội loài người, cũng tức là sự tiếp nối của các hình thái kinh tế xã hội.
Phân kỳ lịch sử mác xít thể hiện một cách nhìn khái quát khoa học về xã hội loài người nói chung và các quốc gia nói riêng thông qua các quy luật phát triển khách quan nói trên.
Vì sao phân kỳ lịch sử theo qui luật phát triển nối tiếp nhau của các phương thức sản xuất, các hình thái kinh tế xã hội lại là một cách phân kỳ khoa học chân chính? Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh cho nhận định này.
III. NHỮNG NGUYÊN TẮC LỚN CỦA PHÂN KỲ LỊCH SỬ.
1 Những nguyên tắc chung:
Lịch sử loài người là một quá trình phát triển từ thấp lên cao, một quá trình phát triển thống nhất nhưng đầy mâu thuẫn.
Phân kỳ lịch sử phải thể hiện được quy luật khách quan cơ bản của sự phát triển xã hội, qui luật về sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội.
Lịch sử loài người cũng như lịch sử dân tộc rất phong phú, đa dạng. Sự phát triển của xã hội loài người cũng không đồng đều, đơn tuyến. Do đó, các nhà sử học thường khẳng định phân kỳ lịch sử mang tính quy ước.
Phân kỳ lịch sử phải bảo đảm được tính khoa học, khách quan để từ đó góp phần đảm bảo tính khoa học của những nhận định, luận điểm cụ thể.
2. Tiêu chí phân kỳ lịch sử:
Tiêu chí chủ yếu xuất phát từ chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem cơ sở vật chất là yếu tố quyết định, từ đó lấy hình thái kinh tế xã hội là tiêu chí cơ bản để phân kỳ lịch sử.
Tuy nhiên cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về các hình thái kinh tế xã hội. Bản thân Mác khi nêu lên khái niệm “phương thức sản xuất Á châu” đã gợi lên ý đó.
Cách hiểu từng hình thái kinh tế xã hội hiện nay không hoàn toàn thống nhất vì thực tế phát triển lịch sử các nước ở phương Đông và phương Tây không hoàn toàn giống nhau.
Xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của sự phát triển xã hội loài người, giới sử học đã đưa ra khái niệm “thời đại” để phân kỳ.
2.1. Trong phân kỳ lịch sử thế giới:
Giới sử học thế giới duy trì cách phân kỳ theo thời gian: cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại. Tuy nhiên, mỗi khung biểu hiện sự thống trị của một hình thái kinh tế xã hội, tạm gọi chung là thời đại.
Thời đại là gì? Có thể hiểu thời đại là một khoảng thời gian lịch sử dài trong đó có sự tác động lẫn nhau của nhiều hay hai hình thái kinh tế xã hội tiêu biểu do tính tiến bộ của nó cũng như do tác động có ý nghĩa định hướng tiến lên đối với toàn thế giới của nó.
Ý nghĩa của việc sử dụng khái niệm thời đại:
Đảm bảo mục tiêu khoa học của phân kỳ kịch sử.
Góp phần giải quyết những khó khăn do thực tiễn phát triển của các khu vực và quốc gia khác nhau đặt ra.
Góp phần đánh giá tính khoa học trong nghiên cứu lịch sử cụ thể.
Góp phần vào việc phân kỳ lịch sử của khu vực hay quốc gia.
Một vấn đề đặt ra: khi xác định thời đại là một khoảng thời gian lịch sử dài, không thể không nói đến cái “mốc mở đầu” và “mốc kết thúc” của nó.
Phân kỳ lịch sử không dừng lại ở thời đại tương ứng với một phương thức sản xuất nào đó mà còn được thực hiện trong lịch sử của từng thời đại.
2.2. Phân kỳ lịch sử dân tộc:
Ở đây, chủ yếu là vấn đề phân kỳ lịch sử nước ta.
Có 4 giai đoạn. Trước thế kỷ XX; đầu thế kỷ XX1945; từ 19451975 và từ 1975 đến nay.
Tiêu chí phân kỳ: Theo đúng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nghĩa là có cùng tiêu chí với phân kỳ lịch sử thế giới.
Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển của lịch sử dân tộc, phải xuất phát từ thực tiễn lịch sử dân tộc và đặt nó trong khuôn khổ chung của lịch sử thế giới.
2.3. Phân kỳ trong lịch sử Đảng
Lịch sử Đảng là một chuyên ngành trong khoa học lịch sử, nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển của chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu quá trình hoạt động lý luận, tư tưởng và hoạch định đường lối chính trị của Đảng; quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện phong trào cách mạng của quần chúng và hoạt động của Nhà nước trên tất cả mọi lĩnh vực, từ đó rút ra những bài học có tính quy luật của cách mạngViệt nam, góp phần định hướng cho con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Tiêu chí để phân kỳ trong lịch sử Đảng:
Những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.
Căn cứ vào các Nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng…
2.4. Về phân kỳ lịch sử địa phương, tổ chức, phong trào:
Lịch sử địa phương (tỉnh, huyện), tổ chức (Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn v.v..), phong trào (Cách mạng) góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu, hiểu biết lịch sử các lĩnh vực hoạt động riêng biệt này cũng rất quan trọng.
Tiêu chí phân kỳ cần quán triệt:
+ Mục tiêu hoạt động của tổ chức, phong trào
+ Nội dung chủ yếu của giai đoạn lịch sử dân tộc.
+ Khung thời đại của lịch sử thế giới.
+ Những mốc thời gian cụ thể.

Bài 5
SỬ LIỆU HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ SỬ LIỆU HỌC
1. Sử liệu học là gì?
Sử liệu học là một ngành của khoa học lịch sử chuyên nghiên cứu về các quy luật hình thành, phản ánh của các nguồn sử liệu và về các phương pháp sưu tầm, phân loại, chọn lọc và sử dụng chúng trong các công trình nghiên cứu lịch sử.
2. Quá trình hình thành sử liệu học như một khoa học
Nếu coi sử liệu học như là môn học về các nguồn sử liệu, về các quá trình sưu tầm, chọn lọc, xác minh và sử dụng tư liệu lịch sử thì có thể nói những mầm mống của nó đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại.
Đến thời trung đại, nhất là trong thời kì văn hoá Phục hưng, sử liệu học có điều kiện phát triển hơn mặc dù nó xuất hiện và phát triển hoàn toàn dựa trên cơ sở kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu.
Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, với sự xuất hiện các công trình nghiên cứu của E.Bécgâyma, Langloa, Xennhôbox, Maixtera v.v. nhiệm vụ của sử liệu học được nêu lên như là một ngành khoa học riêng biệt. Họ đã coi tư liệu lịch sử là đối tượng của nhận thức, đồng thời nêu lên cấu trúc của tư liệu, khả năng trừu tượng hoá khi nghiên cứu các nguồn sử liệu. Những công trình nghiên cứu này đã đặt nền móng cho ngành sử liệu học.
Bắt đầu từ những năm 50 của thế kỉ XX, sử liệu học đã trở thành một khoa học độc lập; hầu hết các phạm trù, các khái niệm, những nguyên tắc cơ bản của sử liệu học hiện đại đều đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả.
Cũng từ những năm 50 của thế kỉ XX, sử liệu học mác xít dần dần được hình thành.
3. Đối tượng, nhiệm vụ và cơ cấu của sử liệu học
Sử liệu học là môn học về các nguồn sử liệu. Song đối tượng nghiên cứu của sử liệu học không phải là những tư liệu lịch sử cụ thể mà là những quy luật hình thành các tư liệu lịch sử và phản ánh quá trình lịch sử khách quan trong đó.
Khi nói về nhiệm vụ của sử liệu học, cần phải nhận thấy hai mặt của chúng:
Thứ nhất, nó biểu hiện ở chỗ xây dựng, đề xuất hệ thống các nguyên tắc, phương pháp và cách sử dụng tư liệu lịch sử. Đó chính là sử liệu học lí luận.
Thứ hai, thể hiện trong công tác tư liệu, trong việc tìm kiếm, chọn lọc, phân tích… tư liệu để nghiên cứu các mặt khác nhau của quá trình lịch sử, trong việc kiến trúc tổng thể sự kiện khoa học từ các tư liệu. Đó chính là nhiệm vụ của sử liệu học ứng dụng hay thực tiễn công tác tư liệu.
Từ đó hình thành cơ cấu của sử liệu học bao gồm cả sử liệu học lí luận và sử liệu học ứng dụng. Chúng có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau.
II. TƯ LIỆU LỊCH SỬ
1. Vai trò của tư liệu lịch sử trong khoa học lịch sử nói chung và trong mỗi công trình nghiên cứu lịch sử nói riêng
Khoa học lịch sử có điểm khác với các ngành khoa học khác ở chỗ nền tảng khoa học của nó được xây dựng, kiến lập nên qua các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử chỉ có trong các tư liệu lịch sử. Do đó, không có tư liệu lịch sử thì không có khoa học lịch sử và ngược lại.
Nhu cầu xã hội luôn đặt ra những vấn đề mà khoa học lịch sử phải giải quyết. Song vấn đề đó có được giải quyết hay không hoàn toàn phụ thuộc vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử về vấn đề đó hay không. Khi đã có tư liệu lịch sử thì việc giải quyết vấn đề lại phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của nguồn tư liệu, vào trình độ chuyên môn, vào quan điểm và phương pháp nghiên cứu, khai thác tư liệu của nhà sử học.
2. Khái niệm tư liệu lịch sử
Muốn hiểu thế nào là tư liệu lịch sử, trước hết ta cần phân biệt các khái niệm “sự kiện lịch sử” và sự kiện tư liệu.
Sự kiện lịch sử là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ mà nhiều nhà nghiên cứu thường gọi là sự kiện hiện thực và “sự kiện tri thức” là những sự kiện lịch sử được nói tới trong các sách nghiên cứu, giáo trình, sách giáo khoa .
“Sự kiện tư liệu” là những sự kiện lịch sử chứa đựng trong các tư liệu lịch sử.
Tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện tư liệu. Tư liệu lịch sử cũng là những sản phẩm hoạt động của con người; nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội phục vụ cho một mục đích, một nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua. Từ đó ta có thể hiểu tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng một mặt hoạt động nào đấy của con người.
3. Các quy luật hình thành và phản ánh của tư liệu lịch sử
Tư liệu lịch sử được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên mà theo các quy luật của nó. Các quy luật đó là:
Quy luật tư liệu phản ánh quan điểm giai cấp của tác giả và ảnh hưởng của quan điểm ấy đối với nội dung của tư liệu.
Quy luật ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử cụ thể, của nhu cầu và mục đích ra đời của tư liệu đối với nội dung và hình thức của tư liệu.
Quy luật phản ánh sự phù hợp tính đúng đắn, đầy đủ của tư liệu với khả năng chủ quan, khách quan của tác giả tư liệu khi phản ánh các sự kiện, với địa điểm, thời gian có trong tư liệu.
Quy luật liên quan và phụ thuộc lẫn nhau của tư liệu này đối với các tư liệu khác.
4. Các loại tư liệu lịch sử
Tuỳ thuộc nội dung phản ánh và tính chất của sử liệu, người ta thường chia tư liệu lịch sử thành 7 nhóm: 1 tư liệu thành văn; 2 tư liệu vật chất; 3 tư liệu truyền miệng dân gian; 4 tư liệu ngôn ngữ; 5 tư liệu dân tộc học; 6 tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và 7 tư liệu băng ghi âm.
III. CÔNG TÁC SƯU TẦM , PHÂN LOẠI VÀ CHỌN LỌC TƯ LIỆU
Công tác chuẩn bị tư liệu vừa có nhiệm vụ xác định vấn đề nghiên cứu, vừa nhằm cung cấp cơ sở cho việc giải quyết vấn đề. Nó bao gồm các bước:
1) Sưu tầm tư liệu
2) Phân loại tư liệu
3) Chọn lọc tư liệu
4) Xác minh và phê phán tư liệu.
IV. VẤN ĐỀ PHÊ PHÁN VÀ XÁC MINH TƯ LIỆU
Quá trình xác minh, phê phán tư liệu có hai giai đoạn và cũng là hai nội dung lớn, hai phương pháp khác nhau, là phê phán phân tích và phê phán tổng hợp:
Phê phán phân tích có đối tượng nghiên cứu là một tư liệu riêng biệt, do đó là một sự kiện riêng biệt. Nhiệm vụ cuối cùng của phê phán phân tích là nhằm đánh giá sự đúng đắn, đầy đủ và giá trị khoa học khách quan của một tư liệu cụ thể.
Phê phán tổng hợp có đối tượng là một tập hợp tư liệu và vì thế là một hệ thống các sự kiện với tất cả các mối quan hệ cơ cấu và di truyền của chúng. Phê phán tổng hợp là một phương pháp nghiên cứu có chức năng là làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các mặt khác nhau của một cái toàn vẹn, giữa các bộ phân của nó để tìm ra tính tương tác bên trong, bản chất và quy luật của các hiện tượng.
V. TƯ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG
Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, khoa học lịch sử nói chung và khoa học Lịch sử Đảng nói riêng, hoàn toàn phụ thuộc vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử về vấn đề đó hay không. Mức độ giải quyết vấn đề lại phụ thuộc vào số lượng, chất lượng của nguồn tư liệu, trình độ chuyên môn, quan điểm và phương pháp nghiên cứu, khai thác tư liệu của nhà sử học.
Do vậy, để khoa học lịch sử Đảng có tác dụng lớn đối với việc nâng cao trình độ lí luận, tư tưởng trong Đảng và giúp ích thiết thực cho công tác lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay… cần phải đổi mới nhận thức về vai trò, vị trí của tư liệu lịch sử đối với công tác nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng. Để từ đó đòi hỏi người cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng phải thường xuyên đổi mới cách thức, biện pháp trong công tác sưu tầm, lưu trữ, thẩm định, khai thác các nguồn tư liệu lịch sử trên cơ sở nắm vững và vận dụng phương pháp luận Mácxít, góp phần giữ gìn và phát huy hơn nữa giá trị của khoa học lịch sử Đảng.

Bài 6
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
MỘT ĐỀ TÀI KHOA HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG

I. BƯỚC 1 LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đây là bước rất quan trọng đối với quá trình nghiên cứu. Bởi vì chọn được đề tài nghiên cứu đúng sẽ góp phần quan trọng vào thành công của quá trình nghiên cứu.
Chọn Đề tài nghiên cứu đúng là thế nào?
Đề tài đúng để nghiên cứu là đề tài có ý nghĩa khoa học (lý luận) và thực tiễn.
Đề tài khoa học đúng để nghiên cứu là đề tài phù hợp với chương trình học tập, phù hợp với trình độ và điều kiện thực hiện của người nghiên cứu.
Sau khi đã lựa chọn được đề tài, căn cứ tính chất đề tài, điều kiện thực hiện, người nghiên cứu cần xác định rõ mục đích yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi của đề tài. Việc này cũng nằm trong Bước 1, nhằm xác định rõ hơn nội dung nghiên cứu của đề tài.
Việc cuối cũng của Bước 1 là đặt tên cho đề tài nghiên cứu. Thông thường việc đặt tên đề tài cần bảo đảm 3 yêu cầu sau:
Thể hiện được nội dung chính của đề tài.
Càng ngắn gọn càng tốt.
Có khả năng hấp dẫn người đọc (hay).
II BƯỚC 2 XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG TÁC TƯ LIỆU
Đề cương nghiên cứu có 2 loại:
Đề cương sơ lược được xây dựng sau khi đã hoàn thành về căn bản Bước 1. Trên cơ sở Đề cương sơ lược, người nghiên cứu sưu tầm, xác minh, hệ thống tư liệu.
Đề cương chi tiết được xây dựng sau khi đã sưu tầm, xác minh được những tư liệu cơ bản, cần thiết.
Công tác tư liệu. Nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có tư liệu có độ tin cậy cao, tư liệu phong phú. Nguồn tư liệu phong phú là điều kiện cần thiết để đề tài nghiên cứu đạt chất lượng khoa học cao.
Để nghiên cứu một đề tài khoa học lịch sử Đảng, cần phải khai thác các nguồn tư liệu (sử liệu) sau:
Tác phẩm kinh điển: bao gồm các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin liên quan đến đề tài.
Tác phẩm của Hồ Chí Minh liên quan đến đề tài.
Văn kiện Đảng, văn kiện của Quốc hội, Chính phủ và các đoàn thể các cấp, các ngành (hoặc của HĐND, UBND,...) phù hợp về thời gian của đề tài.
Các bài nói, bài viết, hồi ký của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước liên quan đến đề tài.
Báo chí xuất bản cùng thời gian của đề tài.
Sách nghiên cứu của các nhà khoa học (trong nước, ngoài nước) liên quan đề tài.
Tài liệu của phe đối địch,v.v...
Để việc tập hợp tư liệu không bị bỏ sót một nguồn tư liệu nào, cần phải xây dựng Thư mục tham khảo.
Việc tiếp theo là đọc và ghi chép tư liệu (sau khi lập được thư mục). Để có thể làm tốt điều này, một trong những khâu quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học là phải phân loại tư liệu để đọc.
Xác minh và đánh giá tư liệu: Xác minh và đánh giá là yêu cầu của việc nghiên cứu khoa học, vì sự kiện được sử dụng cần chính xác trong điều kiện và trình độ nghiên cứu lúc bấy giờ. Công tác xác minh tư liệu giữ một vị trí hết sức quan trọng vì nếu chúng ta làm không tốt thì nhận định, quan điểm rút ra từ sự kiện sẽ bị đổ vỡ một cách dễ dàng.
Công tác tư liệu phải làm trước một bước, làm cơ sở để nghiên cứu. Nhưng điều đó không có nghĩa là khi sang Bước nghiên cứu không làm tư liệu nữa. Tư liệu vẫn sẽ tiếp tục được bổ sung trong quá trình nghiên cứu biên soạn.
III. BƯỚC 3 NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN ĐỀ TÀI
Ở Bước này, người nghiên cứu phải nắm vững nguyên tắc, phương pháp, nội dung nghiên cứu và văn phong.
Bảo đảm nguyên tắc tính đảng và nguyên tắc tính khoa học.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành phù hợp. Đó là các phương pháp lịch sử, lô gích, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch đại, đồng đại,v.v..
Thực hiện nghiên cứu đầy đủ 4 nội dung lịch sử Đảng: 1. Nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng; 2. Nghiên cứu phong trào cách mạng của nhân dân thực hiện đường lối của Đảng; 3. Nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng Đảng; 4. Nghiên cứu những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng.
Thể hiện bằng văn phong khoa học: chính xác, ngắn gọn, trong sáng. Văn phong của nhà sử học vẫn có thể hấp dẫn người đọc bằng những hình ảnh sinh động của lịch sử được tái hiện, bằng những câu phân tích sắc sảo, thuyết phục người đọc.
IV. BƯỚC 4 HOÀN THIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Sau khi nghiên cứu biên soạn xong, cần xem lại toàn bộ kết quả nghiên cứu của đề tài: từ tên đề tài, cấu trúc, tư liệu, nội dung các chương, tiết, các trích dẫn, văn phong,.. để tiếp tục sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện.
Lập bảng danh mục tài liệu tham khảo.



7. Tài liệu tham khảo
1 El’ Chaninov: Những vấn đề phương pháp luận của khoa học lịch sử, trong chuyên đề “Sử học và xã hội học”. Viện TTKHXH, thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, 1992.
2 N.A. Êrôphêép : Lịch sử là gì, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1986
3 J. Tôpôlski: Phương pháp luận sử học. Bản dịch của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1967.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T1,T2, T3, T4, T5, T6, T7, T8, T9, T10, T11, T12, Nxb CTQG, H, 2000.
5 Phan Ngọc Liên (chủ biên): Phương pháp luận sử học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2000
6 Phan Ngọc Liên và Nguyễn Quang Lê : Vai trò của tri thức lịch sử trong mối quan hệ giao lưu văn hóa quốc tế. Tạp chí “Văn học dân gian” số 3(1955), 1996.
7 Phan Ngọc Liên, Trương Hữu Quýnh: Giáo trình phương pháp luận sử học, Đại học sư phạm Hà Nội, 1982.
8 Trương Hữu Quýnh: Suy nghĩ về sử học của chúng thời đổi mới, Tạp chí “Nghiên cứu Lịch sử”, số 3(286), 1990.
9 Văn Tạo, Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, Nxb KHXH, H, 1995.
10 Văn Tạo, Sử học và hiện thực, Nxb KHXH, H, 1997.
11 Viện sử học, Mấy vấn đề phương pháp luận sử học, Nxb KHXH, H, 1970.
8. Phương pháp đánh giá:

9. Những vấn đế cần thảo luận, trao đổi trong nhóm, tổ:
1 Từ những kiến thức chung về đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử, hãy vận dụng làm rõ đối tượng, chức năng và nhiệm vụ của khoa học lịch sử Đảng CSVN?
2 Tại sao trong nghiên cứu lịch sử Đảng CSVN phải quán triệt nguyên tắc tính đảng và tính khoa học?
3 Trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng phải thực hiện theo những phương pháp nào?
4 Những lưu ý cơ bản đối với việc sưu tầm, xác minh, lựa chọn và xử lý tư liệu trong nghiên cứu lịch sử Đảng CSVN?
5 Giải quyết một vấn đề nghiên cứu lịch sử Đảng cần phải thực hiện qua các bước cơ bản nào?
Xem thêm

24 Đọc thêm

Câu hỏi tự luận tư tưởng Hồ Chí Minh

CÂU HỎI TỰ LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1. 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Câu 1. Vì sao nói Chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc, lí luận trực tiếp quyết định tư tưởng Hồ Chí Minh (trang 1) Câu 3. Vì sao nói Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng dân tộc Việt Nam? (trang 4) Câu 4. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận xây dựng Đảng theo tư tưởng He CHí Minh của Đảng ta vào xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng (trang 4) Câu 1. trìnhbày bản chất,đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng HCM. Đảng ta vận dụng tt hcm về các đặc trưng vào xây dựng ở Việt Nam như thế nào ? (trang 8) Câu 2: Quan niệm của HCM về nhà nước của dân, do dân, vì dân.Để xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh HCM đã đề phòng và khắc phục những hoạt động tiêucực nào trong hoạt động nhà nước (trang 9) Câu 3: phân tíchnhững phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam trong thời đại mới. Theo tư tưởng HCM sinh viên học tập và làm theo tư tưởng HCM như thế nào ? (trang 11) CHƯƠNG 1 Câu 1. Vì sao nói Chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc, lí luận trực tiếp quyết định tư tưởng Hồ Chí Minh 1.Chủ nghĩa Mác Lênin là đỉnh cao của tư duy nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của các đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác Lênin. Đối với Người, đến với chủ nghĩa Mác Lênin cũng có nghĩa là đến với con đường cách mạng vô sản. Từ đây, Người thực sự tìm thấy con đường cứu nước chân chính, triệt để: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản và chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới(1). Đến với chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh có bước nhảy vọt lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới trên lập trường của chủ nghĩa Mác Lênin. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lênin. Đối với Người, chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người2. 2 không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác Lênin, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại. Như vậy, chủ nghĩa Mác Lênin là một nguồn gốc nguồn gốc chủ yếu nhất, của tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ bộ phận cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác Lênin, hay nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng của nó là chủ nghĩa Mác Lênin. Cho nên, có thể nói, ở Việt Nam, giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là giương cao chủ nghĩa Mác Lênin. Muốn bảo vệ và quán triệt chủ nghĩa Mác Lênin một cách có hiệu quả, phải bảo vệ, quán triệt và giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lịch sử mà cũng là lôgíc của vấn đề. Nó giúp chỉ ra sai lầm của quan niệm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác Lênin. 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại (2) Ở luận điểm này, có hai vấn đề cần làm rõ: Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác Lênin, lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây. Hồ Chí Minh đã từng tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học tập, tiếp thu những học thuyết của các lãnh tụ chính trị, xã hội, tôn giáo trong lịch sử. Người nói: Học thuyết
Xem thêm

12 Đọc thêm

Phân tích bài Ba Cống Hiến Vĩ Đại Của Các Mác

PHÂN TÍCH BÀI BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC

Bài 1: Cũng như Các MÁc . Phri-đích Ăng-ghen ( 1820 - 1895 ), người Đức , là lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới . Mác và Ăng ghen là 2 người bạn thân thiết cùng sát cánh bên nhau trong vệc thiết lập một hệ thống lý luận sâu sắc về triết học , kinh tế , lịch sửa, văn học và nghệ thuật , ưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vậ biện chứng và duy vật lịch sử . Người ta đã từng gọi tình bạn của hai người là tình bạn vĩ đại và cảm động , bởi vì tình bạn ấy được xây dựng trên 1 cơ sở vĩ đại : Sự ngiệp giải phóng loài người khỏi mọi ách áp bức Ăng-ghen là một cây bút có tài năng xuất chúngới những tư tưởng lớn , mà cho đến tận bây giờ sau gần 2 thế kỉ vẫn còn nguyên giá trị . Trong những tác phẩm xuất sắc của ông , ta thấy không chỉ là những lời lẽ sắc bén chúng tỏ một trí tuệ siêu việt mà còn cả những tình cảm sâu sắc nồng nhiệt . Bài ba cống hiến vĩ đại của các mác là một minh chứng hùng hồn Thực sựđây là một điếu văn . Vì vậy nó cũng được thết ế thèo dạng phổ biến : Phần một : niềm đau đớn , tiếc thương , ngỡ ngàng vì sự ra đi của một con người . Phần hai : nhắc lại những cống hiến đóng góp của người đã mất . Phần ba : khẳngđịnh niềm tiếc thương và sức sống của những di sản tinh thần mà người đã mất để lại . Nhưng hơn thế nữa bài phát biểu này còn là một điển hình mãu mực ề văn nghịl uận với những lập luận rành mạch sáng tỏ 1.Những tổn thất to lớn Mở đầu bài phát biểu , Ăng ghen nhắc đến sự ra đi của Các Mác , một sự ra đi thanh thản . Con người đó đã ngừng suy ngĩ ngủ thiếp đi , đi vào gấc ngủ nghin thu . ĐÓ là sự ra đi của nhà tư tưởng vĩ đaịn hất trong ố nhưgnx nha tư tưởng hiện đại , bậc vĩ nhân , theo đánh giá của Ăng ghen . Nỗi đau của sự mất mát ấy đợc thể hiện qua những lời lẽ : tổn thất không sao lường hếtđược nỗi tống ắng . Nhưng hơn cả nỗi trống vắng của những người thân, Ăng ghen coi đó là tổn thất không sao lường hết dược đối với giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ và cả khoa học ịch sử . Bởi cuọcời của Các Mác con người vĩ đại ấy đâu chỉ của riêng ông mà còn thuộc về hạn triệu con nười nờ những cống hiện lớn lao của ông 2.Những cống hiến vĩ đại Bằng phương pháp nghị luận tổng kết rành mạch , rõ ràng , Ăng ghen đã chỉ ra ba cống hiến lớn lao của Mác , những cống hiến khiến Mác trở thành bậc vĩ nhân , thành con người của cả nhân loại Cống hiến thứ nhất : Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loại người " cái sự thật đơn giản ...đó là con người trước hết phải có cái ăn uống quân áo , chỗ ở , rôi sau đó mới có thể làm chính tri , khoa học , nghệ thuật , tôn giáo .v.v " Nghĩa là , trong đời sống con người vật chất là cái có trước , ý thức là cái có sau , và những cơ sở ật chất của đời ống xã hội ( việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt trục tiếp , trình độ phát triển kinh tế , ...) sẽ quyết định đặc thù của thượng tầng kến trúc ( thể chế nhà nước , chính trị, tôn giáo , pháp lật nghệ thuật ...) Đễ đánh giá mức độ lớn lao của cống hiến này , Ăng ghen đã dùng phương pháp so sánh Mác với Đác uyen , nhà sinh vật học người Anh , người đã tìm ra quy luật phát triển thế giới tự nhiên một cống hiến vĩ đại . bên cạnh đó Ăng ghen còn đối chiếu tư ưởng Mác ới các nhà tư tưởng khác : Mácđã đi ngược lại ất cả cách làm của các nhà tư tửong khác và đã phát hiện được quy luât đơn giản nhưng vô cùng đúng đắn ấy Ăng ghen dùng lập luận tăng tến đễ dẫn tới cống hiến thứ hai : " nhưng không chỉ có thế thôi " Nghĩa là còn có cống hiến khác không kém phần lớn lao . Cống hiến thứ hai của Mác là tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với vệc phát hện gá trị thăng dư . Ăng ghen đã so dánh kết quả nghiên cứu này của Mác như một ánh sáng so với việc mò mẫm trong bóng ối của các nhà kinh tế học tư sản và các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa , đễ chỉ ra tính chân lí của phát hện lập luận tăng tiến cònđược dùng ếp ễ ói đến ống hến tứ ba , mà theo Ăng ghen là quan trọng nhất, với câu khảng định : Những ấy hoàn tàn không phải là điều chủ yếu của Mác Ở đây , ăng ghen nhất mạnh tới tính thực tiễn của khoa học lí luận của Mác , tới việc Mác không chỉ dừng lại ở lí thuết mà chuyển sang thành hànhđộng cách mạng Đễ giải thích AG dã nói rõ , Mác trước hết là một nhà cách mang , sứ mênh thật sự thiết thân của đời ông là đấu tranh đễ tham gia vào việc lật đổ xã hội tư sản , tham gia vào việc làm cho giai cấp vô sản ý thức được địa vị và quyền lợi của mình , ý thức về điều kiện tự giải phóng . Để làm được điều đó Mác đã say sưa , kiên cường đấu tranh trên mọi lĩnh vực , từ tư tưởng đến hoạt động chính trị . Những lí luận của Mác đã tác động sâu rộng trong đời sống xã hội thúc đẩy lịch sử phát triển : phát kiến đó nhanh chóng có tác động cách mạng đến công nghiệp , đến sự phát triển lịch sử nói chung . Bởi lẽ lí thuyết của Mác là lí thuyết có khả năng tác động mạnh mẽ , mang tính cách mạng ( nghĩa là có sư thay đổi mạnh mẽ , triệt đễ trong ý thức và trong thực tiển đời sống ) Qua hệ thống lí luận đó , giai cấp công nhân đã hiểu được sứ mệnh lịch sử của chính mình , hiểu được họ dã bị bóc lột thông qua giá trị thăng dư như thế nào và tiến đến có nhưgnx hành động đễ ựt giải phóng , mà bước đầu tiên là thành lập Hội liên hiệp công nhân quốc tế. Đây chính là kết quả của hành động cách mang của Mác Phần này được tách thành 2 đoạn là để nhấn mạnh tới tính quan trọng của cống hiến thứ ba này của Mác Với ba cụm từ chỉ sự tăng tiếng : "Nhưng không phaichir có thế thôi" , " nhưng đây hoàn toànkhoong phải là điều chủ yếu của Mác " , " nhưng niềm vui của ông còn lớn hơn nữa" , tác giả đã khẳng định những cống hiến sau còn vĩ đai hơn cống hiến trước Theo ăng-ghen ba cống hiến lớn lao về tư tưởng và hành động đó cua Mác đã làm cho giai cấp tư sản và chính phủ thời đai ông căm ghét và vu khống ông nhiều nhất, bởi ông đã góp phần làm lung lay chế độ tư sản đến tận gốc rễ Chính vì thế nên ở đoạn cuối Ăng ghen cho rằng Mác " Có thể có nhiều kẻ dốiddichj nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng " Bởi lẽ mục đích của cả cuộc dời Mác mọi tâm huyết và tài năng của ông là chống lại toàn bộ chế đô tư sản và bảo vệ giai cấp vô sản chứ không chống một người cụ thể , bảo về mộtn gười nào cụ thể. Vì vậy khi ông mất đi " Hàn triệu người cộng sự cách mang với ông " ở khắp nơi trên thế giới Bằng những lời lẽ ngắn gọn ,r ành mạch và cả những tình cảm sâu sắc, chân thành , Ăng ghen cho ta thấy không chỉ những di sản tinh thần lớn lao Các Mác đã đễ lai cho nhân loại , cho giai cấp vô sản toàn thế giới , mà còn cả hình ảnh con người ông. Bên cạnh con người khoa học , con người của những tư tưởng lớn . Mác còn là người hoạt động cách mạng say mê, kiên cuơng và niềm vui thực sự của ông là khi cuôc đấu tranh có kết quả . Có lẽ , không ai thấu hiểu và đánh giá Mác đúng đắn hơn Ăng-ghen! Bài 2: Phri-đrích Ăng-ghen (1820 - 1895) xuất thân trong một giàu có ở Bác-men, Đức. Ông học đại học ở Béc-lin, quen biết Các Mác năm 1844 ở Pa-ri, sau đó sang sống ở Anh và mất ở đây. Ông là nhà triết học, nhà lí luận và hoạt động cách mạng, lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới. Ăng-ghen chủ yếu viết những tác phẩm về triết học, chính trị, kinh tế, lịch sử, có công trình viết chung với Mác là Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848). Các Mác (1818 - 1883) là con của một luật sư ở Tê-ri-e, Đức. Ông sớm tiếp xúc với tư tưởng Cách mạng Pháp 1789 và nền văn học cổ điển Đức, bảo vệ luận án tiến sĩ triết học năm 23 tuổi. Sau nhiều truân chuyên trong bước đường hoạt động xã hội và cách mạng, ông sang ở hẳn Luân Đôn và mất ở đây. Công trình nổi tiếng nhất của Mác là bộ Tư bản (1864 - 1876). Mác qua đời ngày 14 - 3 - 1883, tang lễ cử hành tại nghĩa trang Hai-ghết (Luân Đôn). Ăng-ghen đọc bài phát biểu trước mộ Mác. Đây là một bài văn nghị luận tiêu biểu và có giá trị văn chương. · Phân tích văn bản: Là nhà triết học, lí luận, nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc của thế giới, Ăng-ghen cũng có rất nhiều đóng góp trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Bài phát biểu của Ăng-ghen đọc trước mộ Các Mác là một bài văn nghị luận tiêu biểu và có giá trị văn chương. Bài phát biểu ngắn gọn súc tích, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ tôn vinh tài năng và tên tuổi của nhà cách mạng vĩ đại thế giới : Các Mác. Bài văn có thể được chia làm 3 phần : Phần 1 (từ đầu đến gây ra) : sự ra đi của Mác với niềm tiếc thương vô hạn của người ở lại. Phần 2 (tiếp theo đến không làm gì thêm nữa) : tổng kết 3 cống hiến vĩ đại của Mác đối với khoa học lịch sử và phong trào cách mạng. Phần 3 (phần còn lại) : khẳng định sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp của Mác. Ngay phần mở đầu, tác giả có cách nêu tình huống tạo một sự chú ý đặc biệt với người đọc : “Chiều ngày 14 tháng ba, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút, nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại đã ngừng suy nghĩ”. Câu văn mở đầu đồng thời là lời thông báo về sự ra đi vĩnh viễn của Các Mác rất cảm động. Cách nói giảm “nhà tư tưởng vĩ đại” “đã ngừng suy nghĩ” vừa tạo sắc thái kính cẩn lại vẫn tạo ra vẻ trang trọng rất đúng với hình ảnh một con người suốt đời “cống hiến cho sự nghiệp giai cấp vô sản toàn thế giới”. Cũng giống như những bài văn có ý nghĩa tiễn đưa, khóc thương người đã mất, trong phần mở đầu tác giả cũng bộc lộ rõ cảm xúc của mình về sự ra đi Mác : “Rồi đây, người ta sẽ cảm thấy nỗi trống vắng do sự qua đời của bậc vĩ nhân ấy gây ra”. Ngôn ngữ ngắn gọn súc tích nhưng lại có sức biểu cảm sâu xa, có khả năng đánh thức những tình cảm kính yêu muôn vàn của người đọc đối với vị lãnh tụ. Riêng ở phần 2, tác giả đã dành phần lớn dung lượng của bài viết ghi lại những cống hiến to lớn của Mác. Trước hết, đó là tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người : con người trước hết cần phải có cái ăn, cái uống, quần áo và chỗ ở rồi sau đó mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo. Đó cũng là một lôgíc đơn giản có ý nghĩa biện chứng. Các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo phải được xuất phát từ sự phát triển kinh tế, từ điều kiện vật chất trực tiếp, cụ thể. Cách so sánh với quy luật phát triển thế giới hữu cơ của Đác Uyn cùng với nghệ thuật liệt kê đã làm tăng sức thuyết phục và sự vĩ đại trong cống hiến của Mác. Cống hiến thứ 2 là việc tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Đặc biệt là việc phát hiện giá trị thặng dư – phần giá trị dôi ra ở sản phẩm so với khoản tiền phải chi để tạo sản phẩm ấy. Cống hiến thứ 3 là những phát kiến khoa học có tác động cách mạng đến công nghiệp, đến sự phát triển lịch sử nói chung. Khi nêu cống hiến thứ 3 của Mác, tác giả có ý tách thành 2 đoạn văn nhỏ : Đoạn thứ nhất khẳng định con người khoa học ở Mác ; đoạn thứ hai khẳng định con người cách mạng ở Mác. Điều đặc sắc là mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và cách mạng : “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. Mác là nhà khoa học nhưng trước hết ông cũng là một nhà cách mạng. “Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác”. Ông cũng là người đầu tiên đem đến cho giai cấp vô sản sự ý thức về địa vị và yêu cầu của mình. Cách trình bày 3 cống hiến của Mác được Ăng-ghen sắp xếp chặt chẽ, theo một trật tự logíc nhất định. Bằng biện pháp nghị luận tăng tiến, người đọc nhận ra sự phát triển hiệu quả của từng cống hiến của Mác. Cống hiến sau lớn hơn, vĩ đại hơn cống hiến trước. Chẳng hạn để mở đầu cho lời giới thiệu cống hiến thứ 2 (sau cống hiến thứ nhất) là lời dẫn : “Nhưng không chỉ có thế thôi”. Hoặc câu văn chuyển tiếp “Nhưng đấy hoàn toàn không phải điều chủ yếu ở Mác” để tác giả đi đến khẳng định : “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. Các cụm từ như bởi lẽ, trước hết, đó là… mở đầu các đoạn văn không chỉ có tác dụng liên kết đoạn mà còn tạo cho người đọc có nhiều điểm nhìn mở rộng và sâu sắc về Mác. Những lập luận tạo được sự lôgíc, mạch lạc. Lời của Ăng-ghen ở phần kết, một lần nữa khẳng định lại sự bất diệt của tên tuổi và sự nghiệp của Mác. ở đó người đọc cũng nhận ra một niềm kính yêu, sự cảm phục sâu sắc, một sự tiếc thương vô hạn của Ăng-ghen với Mác. Đó cũng là sự tôn vinh chính nghĩa khi Mác đứng về phía nhân loại tiến bộ, về phía giai cấp vô sản toàn thế giới để bảo vệ quyền lợi của họ.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tiểu luận: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO MỘT CHIẾN LƯỢC KINH TẾ DỰA VÀO TRI THỨC

TIỂU LUẬN: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO MỘT CHIẾN LƯỢC KINH TẾ DỰA VÀO TRI THỨC

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO MỘT CHIẾN LƯỢC KINH TẾ DỰA VÀO TRI THỨC
Thế giới đã bước sang năm 2002 , loài người đang đi những bước đi vững chắc của mình trong công cuộc làm chủ thế giới .Những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật , những phát minh , những thành tựu trong mọi lĩnh vực không ngừng gia tăng và ngày càng được áp dụng nhiều trong thục tiễn. Đất cước chúng ta cùng tồn tại trong một thế giới không ngừng biến đổi vận động ấy.Chúng ta đang sống trong thời đại mà sự biến đổi diễn ra sâu sắc mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử .Tính đến nay đất nước đã trải qua hai thập liên của nền kinh tế tri thức ,các công nghệ cao phát triển như vũ bão và đã đạt được những thành tựu kì diệu mà trước đâu vài thập liên con người chưa dự báo được và cũng ít dãm mơ ước tới . Đặc biệt là trong thập liên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như công nghệ web, internet , thực tế ảo , thương mại điện tử ...Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học : công nghệ gen , nhân bản vô tính ... đang tác động mạnh mẽ ,sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con gnười vào thời đại tri thức . Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhưng vấn đề của nền kih tế tri thức luôn luôn đặt ra những thách thức cho các nhà nghiên cứu khoa học .Nước ta so với thế giới vẫn là một nước nghèo vì thế mà nền kinh tế tri thức vẫn còn gặp phải những mặt yêú kém và hạn chế . Chính vì vậy mà chúng ta phải nghiên cứu nền kinh tế tri thức tìm hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế tri thức , phù hợp với điều kiện ,hoàn cảnh đất nước ,phù hợp với khu vực ,với thế giới và thời đại.Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta phải phân tích nền kinh tế tri thức giữa thời cơ và thách thức đối với đất nước ta hiện nay .Trong tổng thể các mối liên hệ ,trong sự phát triển vận động không ngừng của nền kinh tế tri thức cần phải sử dụng quan điểm lịch sử cụ thể , quan điểm rút ra từ hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng triết học Mac-lênin vào quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức giữa thời cơ và thách thức của nước ta hiện nay. Với sự hiểu biết hạn hẹp ,trong bài viết này Em chỉ xin chỉ ra những điều kiện ảnh hưởng đến nền kinh tế tri thức và nền kinh tế tri thức nước ta phát triển như thế nào dưới tác động trong nhưng điều kiên lịch sử cụ thể. PHẦN II- NỘI DUNG CHÍNH. CHƯƠNG I – CƠ SỞ NGHIÊN CỨU. I. Cơ sở lí luận. 1)Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật. Nội dung nguyên lý: Mọi sự vật hiện tượng của giới tự nhiên, xã hội, tư duy đều nằm trong mối liên hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau ràng buộc nương tựa, qui định lẫn nhau làm tiền đề điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của nhau. Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy mà còn diễn ra giữa các yếu tố, các mặt khác của qú trình của mỗi sự vật hiện tượng. Mối liên hệ trước đây là khách quan, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới biểu hiện trong quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy. Mối quan hệ của sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng và
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN tư TƯỞNG CÁCH MẠNG KHÔNG NGỪNG của CHỦ NGHĨA mác lê NIN và sự vận DỤNG của ĐẢNG TA

TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG KHÔNG NGỪNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình vận động phát triển liên tục lâu dài, gian khổ trải qua nhiều giai đoạn và thời kỳ khác nhau. Mỗi giai đoạn và thời kỳ cách mạng có mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp cách mạng cụ thể. Giai cấp công nhân phải liên tục chiến đấu để giành thắng lợi từng bước, thực hiện thắng lợi mục tiêu của từng giai đoạn, làm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa phát triển không ngừng, đi từ thắng lợi này,đến thắng lợi khác cho đến thắng lợi cuối cùng. Đó chính là “ Tư tưởng cách mạng không ngừng”.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Sự vận dụng phương pháp tự học trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông xuân hòa, tỉnh vĩnh phúc hiện nay

SỰ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG XUÂN HÒA, TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY

... SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC THPT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Cơ sở lí luận việc vận dụng phƣơng pháp tự học dạy học môn Giáo dục công dân. .. VIỆC VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC THPT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Cơ sở lí luận việc vận dụng phƣơng pháp tự học dạy học môn Giáo dục công dân bậc... phương pháp tự học dạy học môn Giáo dục công dân trường trung học phổ thông Xuân Hòa, tỉnh Vĩnh Phúc nay làm khóa luận tốt nghiệp Lịch sử nghiên cứu Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học hƣớng
Xem thêm

64 Đọc thêm

TIEU LUAN CHINH TRI HOC CÁCH MẠNG KHOA HỌC TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

TIEU LUAN CHINH TRI HOC CÁCH MẠNG KHOA HỌC TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

KẾT LUẬNSự nghiệp đổi mới được tiến hành từ đổi mới tư duy đến hoạt động thựctiễn, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống. Đổi mớitất cả các mặt của đời sống xã hội, nhưng không làm đồng loạt, dàn đều mà luôncó trọng tâm, trọng điểm theo một lộ trình thích hợp, bảo đảm sự gắn kết chặtchẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảnglà then chốt và phát triển văn hóa là nền tảng. Trong những năm đầu của sựnghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới kinh tế đi trướcmột bước, từng bước đổi mới hệ thống chính trị nhằm giữ vững ổn định chínhtrị, tập trung mọi nguồn lực phấn đấu đưa Việt Nam vượt qua khủng hoảng đểphát triển. Để thực hiện mục tiêu đề ra chúng ta phải tiến hành công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công cuộc ấy chỉ có thể đến đích bằng sựđầu tư cho phát triển khoa học công nghệ. Khoa học công nghệ mà được đầu tưthích đáng mà phát triển sẽ đẩy nhanh và tạo đà cho kinh tế phát triển . Kinh tếphát triển sẽ giúp cho chính trị ổn định. Từ đó sẽ đưa đất nước chúng ta pháttriển lên ở một tầm cao hơn. Chúng ta phát triển khoa học công nghệ, điều nàylà vô cùng cần thiết những phải có sự suy xét và chọn lọc, phát triển khoa học,công nghệ nào, vào thời điểm nào. Bởi chính sách phát triển khoa học công nghệcó thể trở thành đòn bẩy nhưng chúng có thể trở thành rào cản cho sự phát triểnkinh tế , gây bất ổn chính trị. Những cuộc biểu tình bãi công mà công đoànngành hàng không ở nhiều nước châu Âu liên tục tổ chức trong thời gian vừaqua đã chứng minh điều này. Các hãng hàng không châu Âu đã lên kế hoachphát triển hệ thống kiểm soát không lưu tự động. Hệ thống này được chứngminh là năng suất hiệu quả và chính xác hơn. Thế nhưng, các nhân viên lại lolắng về nguy cơ mất việc nên đã bãi công khiến nhiều chuyến bay bị huỷ bỏ.Hoạt động này rõ ràng gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế và tiềm ẩn nhiều bấtổn đối với chính trị, xã hội. Như vậy, nếu chúng ta có được những đường lối,chính sách phát triển khoa học công nghệ một cách hợp lý thì sẽ giảm thiểunhững tác động tiêu cực, để khoa học và công nghệ phát huy được tối đa sứcmạnh thúc đẩy kinh tế phát triển và giữ cho chính trị nước nhà ổn định.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC”

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC”

Trong sự hình thành và phát triển triết học Mác, “Hệ tư tưởng Đức” (tháng 11 năm 1845 tháng 4 năm 1846) là tác phẩm chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và mang một ý nghĩa lớn lao. Trong tác phẩm này, những tư tưởng cơ bản về một thế giới quan mới thế giới quan duy vật biện chứng đã được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh. Cũng ở đây, một trong hai phát kiến vĩ đại tạo nên bước ngoặt lịch sử trong các học thuyết xã hội và làm nên thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại quan niệm duy vật về lịch sử lần đầu tiên đã được các ông trình bày một cách toàn diện chi tiết. Và với việc đề xuất một thế giới quan triết học mới, với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã bước đầu đặt ra cơ sở lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Chính vì vậy, 160 năm qua, kể từ khi ra đời đến nay, “Hệ tư tưởng Đức” đã đi vào lịch sử hình thành và phát triển triết học Mác với tư cách nền tảng, bước ngoặt cách mạng và cùng với nhiều tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen, làm nên cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học và trở thành vũ khí tinh thần không thế thiếu của giai cấp vô sản toàn thế giới trong công cuộc cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách mạng. Giờ đây, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ý nghĩa lớn lao này của “Hệ tư tưởng Đức” vẫn còn nguyên giá trị.
Xem thêm

15 Đọc thêm

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

4. Quá trình phát triển của tiếng Việt 4.1. Tiếng Việt thời kì cổ đại Tiếng Việt thời kì thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú và một bản sắc riêng về ngữ pháp, ngữ âm. Đến thời kì tiếp theo, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán, với sức sống tiềm tàng, được sự chăm lo gìn giữ của nhân dân, tiếng Việt chẳng những không bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển không ngừng cả về ngữ âm, từ vựng. 4.2. Tiếng Việt thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Dưới sự thống trị của phong kiến Trung Hoa, tiếng Việt chưa có chữ viết. Nhưng khi ý thức độc lập, tự chủ và tự cường của dân tộc lên cao, khi yêu cầu phát triển văn hoá và kinh tế của đất nước trở nên bức thiết, trên cơ sở chữ Hán, cha ông ta đã sáng chế ra một lối chữ để ghi tiếng Việt: chữ Nôm. Chữ Nôm bước đầu được sử dụng vào khoảng thế kỉ X – XIII; đến khoảng thế kỉ XV đã có thơ văn “quốc âm”, “quốc ngữ” viết bằng chữ Nôm. Từ thế kỉ XV trở về sau, nhất là ở thế kỉ XVIII – XIX, trào lưu văn chương Nôm phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu rực rỡ, tiếng Việt càng có những bước tiến rõ rệt, đạt đến trình độ tinh luyện và đậm đà bản sắc dân tộc. 4.3. Tiếng Việt thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 Ở thời kì này, tiếng Việt bước vào giai đoạn phát triển hiện đại, với chữ quốc ngữ. Được đặt ra từ thế kỉ XVII, đến cuối thế kỉ XIX, nhất là từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ mới được truyền bá rộng rãi và trở thành phương tiện thông dụng trong mọi lĩnh vực. 4.4. Tiếng Việt thời kì từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Với vai trò một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện, kể từ Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tiếng Việt không ngừng phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lược đồ hoá các thời kì phát triển của tiếng Việt. 2. Đã có những loại chữ viết nào dùng để ghi âm tiếng Việt? Những loại chữ viết ấy có vai trò quan trọng như thế nào đối với quá trình phát triển của tiếng Việt? Gợi ý: - Để ghi âm tiếng Việt, đã có hai loại chữ viết: chữ Nôm và chữ quốc ngữ; - Trong lịch sử phát triển của tiếng Việt, các hình thức chữ viết không những làm cho bản thân ngôn ngữ Việt hoàn thiện, phát triển mà còn có vai trò to lớn trong việc giúp cho tiếng Việt thành một ngôn ngữ văn hoá, là phương tiện văn hoá, tham gia một cách toàn diện vào đời sống xã hội. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ

CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ

Cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật ngày nay. 1. Nguồn gốc và đặc điểm Cũng như cách mạng công nghiệp ở thế kỉ XVIII-XIX, cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật ngày nay diễn ra là do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người, nhất là trong tình hình bùng nổ dân số thế giới và sự vơi cạn nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đặc điểm lớn nhất của , cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật ngày nay là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Khác với cách mạng công nghiệp thế kỉ XVIII, trong cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật hiện đại, mọi phát minh kĩ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học. Khoa học gắn liền với kỹ thuật, khoa học đi trước mở đường cho kĩ thuật. Đến lượt mình, kĩ thuật lại đi trước mở đường cho sản xuất. Khoa học đã tham gia trực tiếp sản xuất, đã trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ. Cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật ngày nay đã phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn từ đầu những năm 40 đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX; Giai đoạn thứ hai từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 đến nay. Trong giai đoạn sau, cuộc cách mạng chủ yếu diễn ra về công nghệ với sự ra đời của thế hệ máy tính điện tử mới (thế hệ thứ ba) về vật liệu mới, về những dạng năng lượng mới và công nghệ sinh học, phát triển tin học. Cuộc cách mạng công nghệ trở thành cố lõi của cách mạng khoa học-kĩ thuật nên giai đoạn thứ hai đã được coi là cách mạng khoa học-công nghệ. 2. Những thành tựu tiêu biểu Trải qua hơn nửa thế kỉ, nhất là từ sau những năm 70, cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật đã thu được những tiến bộ phi thường và những thành tựu kì diệu. Trong những lĩnh vực khoa học cơ bản, loài người đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, những bước nhảy vọt chưa từng thấy trong lịch sử các ngành Toán học, Vật lí học, Hóa học, Sinh học v.v.. Dựa vào những phát minh lớn của các ngành khoa học cơ bản. con người đã ứng dụng cải tiến kĩ thuật, phục vụ sản xuất và cuộc sống của mình. Sự kiện gây chấn động lớn trong dư luận thế giới là tháng 3-1997, các nhà khoa học đã tạo ra được con cừu Đôli bằng phương pháp sinh snar vô tính từ một tế bào lấy từ tuyến vú của một con cừu đang có thai. Tháng 6-2000, sau 10 năm hợp tác nghiên cứu, các nhà khoa học của cac nước Anh, Pháp, Mĩ, Đức, Nhật Bản và Trung Quốc đã công bố “Bản đồ gen người”. Đến tháng 4-2003, “Bản đồ gen người” mới được giải mã hoàn chỉnh. Hình 25. Cừu Đôli, động vật đầu tiên ra đời bằng phương pháp sinh sản vô tính   Những thành tựu này đã mở ra một kỉ nguyên mới của Y học và Sinh học, với những triển vọng to lớn, đấy lùi bệnh tật và tuổi già. Tuy nhiên, những thành tựu này lại gây nên những lo ngại về mặt pháp lí như công nghệ sao chép con người hoặc thương mại hóa công nghệ gen. Trong lĩnh vực công nghệ, đã xuất hiện những phát minh quan trọng, đạt được những thành tựu to lớn: những công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động và hệ thống hóa máy tự động, rôbốt v.v..);  những nguồn năng lượng mới (năng lượng mặt trời, năng lượng gió và nhất là năng lượng nguyên tử v.v ); những vật liệu mới (như chất pôlime-chất dẻo với nhiều loại hình khác nhau, các loại vệt liệu siêu sạch, siêu cứng, siêu bền, siêu dẫn,…) công nghệ sinh học với những đột phá phi thường trong công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh và công nghệ enzim,…dẫn tới cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp với những giống lúa mới có năng suất cao, chịu bệnh tốt; những tiến bộ thần kì trong  thông tin liên lạc và giao thông vận tải (cấp sợ thủy tinh quang dẫn, máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao v.v.); chinh phục vũ trụ (vệ tinh nhân tạo, du hành vũ trụ v.v.). Hình 26. Con người đặt chân lên Mặt Trăng   Trong những thập niên gần đây, công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ như một sự bùng nổ trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay, máy tính, đặc biệt là máy vi tính, đang được sử dụng ở khắp mọi nơi và có khả năng liên kết với nhau bởi các mạng truyền dữ liệu, hình thành mạng thông tin máy tính toàn cầu (Internet). Công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng sâu rộng hơn trong mọi ngành kinh tế và hoạt động xã hội. Có thể nói, ngày nay nền văn minh nhân loại đã sang một chương mới- “văn minh thông tin”. Cuộc cách mạng khoa học- công nghệ có những tác động tích cực về nhiều mặt như năng suất lao động, không ngừng nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. Từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, sự hình thành một thị trường thế giới và xu thế toàn cầu hóa. Tuy nhiên cuộc cách mạng khoa học- công nghệ cũng gây nên những hậu quả tiêu cực (chủ yếu do chính con người tạo nên) như tình trạng ô nhiễm môi trường trên hành tinh cũng như vũ trụ, hiện tượng Trái Đất nóng dần lên, những tai nạn lao động và giao thông, các loại dịch bệnh mới v.v. và nhất là việc chế tạo những loại vũ khí hiện đại có sức công phá và hủy diệt khủng khiếp, có thể tiêu diệt nhiều lần sức sống trên hành tinh. >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Áp dụng dạy học đàm thoại gợi mở, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm tích tực hóa hoạt động học tập của học sinh thông qua dạy học hóa học hữu cơ (Phần dẫn xuất của hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao)

ÁP DỤNG DẠY HỌC ĐÀM THOẠI GỢI MỞ, DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHẰM TÍCH TỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC HÓA HỌC HỮU CƠ (PHẦN DẪN XUẤT CỦA HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO)

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học đàm thoại gợi mở, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy phần dẫn xuất của hiđrocacbon hóa học lớp 11, chương trình nâng cao nhằm tích cực hóa hoạt động của người học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về lí thuyết nhận thức, phương pháp dạy học tích cực, lí luận về dạy học đàm thoại gợi mở, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng 2 phương pháp trên trong dạy học hóa học ở trường THPT.
2 Nghiên cứu quy trình xây dựng và sử dụng các vấn đề học tập, các tình huống có vấn đề trong dạy học theo phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề phần dẫn xuất của hiđrocacbon Hóa học 11 Nâng cao.
3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả của các nội dung nghiên cứu.
4. Khách thể đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường phổ thông.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Áp dụng phương pháp dạy học đàm thoại gợi mở, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào phần dẫn xuất của hiđrocacbon – Hóa học 11 Nâng Cao.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng phương pháp dạy học đàm thoại gợi mở, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khoa học, hợp lí trong các bài lên lớp thì sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh (HS) trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời còn hướng dẫn các em phương pháp giải quyết một vấn đề nhận thức, cách thức diễn đạt bằng lời nói, phát triển tư duy logic, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông.
Xem thêm

124 Đọc thêm

Phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch ở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH DU LỊCH Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trên cơ sở phân tích thực trạng nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở tỉnh Ninh Bình, từ đó xây dựng hệ thống các giải pháp để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch trong thời gian tới.
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch tạo cơ sở khoa học cho việc phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở tỉnh Ninh Bình.
Khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở tỉnh Ninh Bình.
Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch nhằm đáp ứng phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Bình nói chung đến năm 2015.
Xem thêm

105 Đọc thêm