SINH VIÊN VÀ THẤT NGHIỆP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Sinh viên và thất nghiệp":

TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG

TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG

vốn sống, kỹ năng giao tiếp. Nhiều trường hợp được nhân vào làm việc, nhưng một thờigian nhắn phải tìm 1 môi trường khác vì khó thích ứng. Đã có doanh nghiệp từng tiết lộ,họ phải đào tạo tới 90% SV tuyển mới theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp của họ. Lý dobởi kiến thức nhà trường chỉ phục vụ chuyên môn, có khá nhiều môn học không liênquan hoặc chưa ứng dụng được vào đời sống. Những môn học kiến thức cần thiết về vốnsống xã hội thì không được dạy.Bà Vũ Thu Hà, giám đốc Cty cổ phần ứng dụng tâm lý Hoa Mặt Trời cho biếttrong quá trình tuyển dụng, bà đã từng gặp không ít SV có bằng tốt nghiệp những rất yếukém về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là thiếu hản về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệtlà thiếu hẳn những kỹ năng thực hành để bắt tay ngay vào công việc. Nhiều SV còn chưaxác định được mục tiêu nghề nhiệp của mình, còn mơ hồ với năng lực chính bản thâncũng như không biết bản thân có phù hợp với nghề đã chọn hay không. ( dẫn chứng) Ngoài ra:Cung vượt quá cầu: khủng hoảng kinh tế Thế Giới kéo theo khủng hoảng tài chính do”bong bóng” BĐS vỡ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng suy kiệt. Doanh nghiệp không đầu tưsản xuất mà làm giàu bằng giá trị ảo lâm vào khủng hoảng, phá sản. Ngân Hàng tái cơ cấu, ngườidân thắt chặt chi tiêu, hoàng loạt việc làm bị cắt giảm ảnh hưởng lớn đến tầng lớp lao động trẻchưa có kinh nghiệm.Chất lượng giáo dục: có một thực tế đáng buồn là chất lượng giáo dục trong những nămgần đây thấp đến mức báo động, “giữa nhà trường và thế giới việc làm bên ngoài đang có mộtkhoảng cách quá lớn”… Nhà trường giảng dạy theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa quá chú trọng lýthiết, không trang bị cho sinh viên đủ các kiến thức thực sự cần thiết trong quá trình học tập.Sinh viên thiếu năng lực, kỹ năng mềm: “có thể nói 90% sinh viên khi ra trường đềuthiếu kỹ năng mềm, bằng cấp là quan trong nhưng năng lực thật sự và kinh nghiệm của các bạnmới là yếu tố quyết định”Anh Trần Trọng Thành, chủ tịch HĐQT công ty VINAPO nhấn mạnhđiều này trong buổi trao đổi với sinh viên trong tại cuộc tọa đàm “Tự tin nghề marketing”.Ra trường xin việc ở đâu?Theo kết quả khảo sát về tình hình việc làm của cử nhân ra trường trong năm 2009-2010
Xem thêm

14 Đọc thêm

 BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

chậm được triển khai, hướng dẫn. Nhận thức về BHXH của người lao động thuộckhu vực kinh tế ngoài Nhà nước còn hạn chế, nhiều chủ sử dụng lao động và ngườilao động chưa có nhận thức đúng về BHXH. Chức năng kiểm tra, xử lý của cơquan BHXH đối với những vi phạm chính sách BHXH của người sử dụng lao độngcòn hạn chế, chế tài xử phạt, tính pháp chế chưa được đề cao, do đó nhiều chủ sửdụng lao động tìm cách tránh né, không thực hiện BHXH cho người lao động hoặcdây dưa chậm nộp, nợ đọng trong thời gian dài nhưng không bị xử lý.*Đối với BHXH tự nguyện: Do thu nhập của người lao động là rất khác nhau nênBHXH tự nguyện khó triển khai hơn so với BHXH bắt buộc. Vì BHXH bắt buộc cóthể thu tại cơ quan, doanh nghiệp còn bảo hiểm xã hội tự nguyện là phải thu củatừng người một. Do đó việc triển khai sẽ tốn rất nhiều chi phí. Thêm nữa, liệungười dân có ý thức được hết lợi ích của mình khi hết tuổi lao động hoặc gặp rủi rotrong cuộc sống để tích cực tham gia.Một cái khó khác là BHXH tự nguyện khácvới các loại hình bảo hiểm kinh doanh khác là nó không được phá sản. Và Nhà16Tiểu luận môn KTCC: Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và giải phápnước sẽ phải bảo đảm hoạt động cho quỹ BHXH tự nguyện và có thể phải hỗ trợnhững khi cần thiết.2. Luật và chính sách điều chỉnh vấn đề bảo hiểm thất nghiệp:Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp hiện đang được điều chỉnh cơ bản bởi Nghị địnhsố 127/2008 NĐ – CP được Chính phủ ban hành ngày 12/12/2008 quy định chi tiếtvà hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thấtnghiệp. Nghị định này:Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29 tháng 6 năm 2006;Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số
Xem thêm

35 Đọc thêm

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ THẤT NGHIỆP

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ THẤT NGHIỆP

vào trạng thái của thị trường lao động, tức là tình trạng thất nghiệp & việc làm của nềnkinh tế. Giá cả còn phụ thuộc vào qui mô của tài sản cố định, số lượng TSCĐ tăng lên sẽlàm sản lượng tiềm năng tăng và giảm giá của sản phẩm. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, sựthay đổi của tiền công (việc làm - thất nghiệp) là yếu tố chủ yếu quyết định sự thay đổigiá cả.Tiền công trong nền kinh tế thị trường thay đổi như thế nào ?Vấn đề này, các nhà kinh tế học cổ điển và kinh tế học trường phái Keynes cónhững quan điểm trái ngược nhau.+ Kinh tế học cổ điển: Cho rằng tiền công (tiền lương) danh nghĩa và giá cả hoàntoàn linh hoạt. Tiền lương thực tế điều chỉnh để giữ cho thị trường lao động luôn cânbằng. Nền kinh tế luôn ở mức toàn dụng nhân lực, không có thất nghiệp không tựnguyện.+ Trường phái Keynes: Giá cả và tiền lương danh nghĩa là không linh hoạt. Theođó, tiền lương thực tế cũng không thay đổi, thị trường lao động luôn trong tình trạng cóthất nghiệp.Từ những quan điểm khác nhau đó về sự vận động của giá cả và tiền lương, nên cảhai trường phái này cũng có những quan điểm khác nhau về hình dáng của đường tổngcung (AS).II- THẤT NGHIỆP1.Các khái niệm có liên quan♦ Lực lượng lao động đó là những người trong độ tuổi lao động và có khả nănglao động.♦Những người trong độ tuổi lao động: Đó là những người đang ở độ tuổi cónghĩa vụ, quyền lợi lao động theo quy định ghi trên hiến pháp của một quốc gia♦Người có việc làm: là những người có tên trong danh sách trả lương của các đơnvị sản xuất kinh doanh, văn hóa, sự nghiệp, cơ quan hành chính nhà nước2.Khái niệm thất nghiệpThất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động, có
Xem thêm

Đọc thêm

TÁC ĐỘNG CỦA THẤT NGHIỆP ĐẾN NGƯỜI LAO ĐỘNG MÔN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐHLĐXH

TÁC ĐỘNG CỦA THẤT NGHIỆP ĐẾN NGƯỜI LAO ĐỘNG MÔN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐHLĐXH

Có nhu cầu tìm việc làm nhưng khôngtìm được việc làm11/16/16Thực trạng thất nghiệp tại Việt nam11/16/16Tác động của Thất nghiệpA. Lợi ích• Thất nghiệp là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường⇒nếu còn kinh tế thị trường thì còn thất nghiệp.⇒Vấn đề đặt ra là phải kiểm soát thất nghiệp ở tỷ lệ cho phép.• Theo các nhà kinh tế, nếu thất nghiệp được duy trì ở một tỷ lệ nhất định (khoảngdưới 3%) thì lại có tác dụng kích thích người lao động làm việc tốt hơn, tích cựchơn, kinh tế tăng trưởng.11/16/16Lợi ích của Thất nghiệp11/16/16
Xem thêm

14 Đọc thêm

VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP, LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP, LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Vấn đề thất nghiệp,lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam Bài tập học kỳ Kinh tế vĩ mô
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Kinh tế vĩ mô
Trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được một số thành tựu phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực về mặt kinh tế, chính trị, xã hội …. Tuy nhiên,đằng sau những thành tựu chúng ta đã đạt được, thì cũng có không ít vấn đề mà Đảng và nhà nước ta cần quan tâm như :Tệ nạn xã hội,lạm phát,thất nghiệp… Nhưng có lẽ vấn đề được quan tâm hàng đầu ở đây là thất nghiệp .Thất nghiệp,đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm. Bất kỳ một quốc gia nào dù nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp đó là vấn đề không tránh khỏi chỉ có điều là thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao mà thôi. Do đó,để hiểu rõ về vấn đề này,em xin chọn đề tài: “Vấn đề thất nghiệp,lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” làm bài tập học kỳ của mình.

NỘI DUNG

I.Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp.

1. Một số khái niệm

Những người trong độ tuổi lao động là những người ở trong độ tuổi có nghĩa vụ và quyền lợi lao động ghi trong Hiến pháp .

Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm.

Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm.

2.Phân loại thất nghiệp.

Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp.

+ Thất nghiệp tạm thời :xảy ra khi có một số người lao động trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn,phù hợp với ý muốn riêng .

+ Thất nghiệp cơ cấu xảy ra: khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các thị trường lao động ( giữa các ngành nghề,khu vực ...) loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động.Khi sự lao động này là mạnh kéo dài,nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và kéo dài.

+ Thất nghiệp do thiếu cầu . Do sự suy giảm tổng cầu.Loại này còn được gọi là nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thơì kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh,xảy ra ở khắp mọi nơi mọi ngành mọi nghề .

+ Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường . Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động .

Phân loại theo sự tự nguyện:

+ Thất nghiệp tự nguyện là 1 bộ phận người lao động không làm việc do việc làm và mức lương không phù hợp với mong muốn của họ.

+ Thất nghiệp không tự nguyện là bộ phận người không có việc làm mặc dù đã chấp nhận làm việc với mức lương hiện tại.

3.Tỉ lệ thất nghiệp.

Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ phần trăm số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động. Tỉ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia.

II.Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây.

1.Thực trạng thất nghiệp năm 2013.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 1102013 là 53,9 triệu người, tăng 446,1 nghìn người so với lực lượng lao động tại thời điểm 172013, trong đó lao động nam chiếm 51,5 %; lao động nữa chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm 1102013là 47,7 triệu người, tăng 366 nghìn người so với thời điểm 172013,trong đó nam chiếm 53,7%,nữ chiếm 46,3%.Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế chín tháng năm 2013 ước tính 52,4 triệu người,tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm 2013 trong các khu vực nông,lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng số, không biến đổi nhiều so với năm trước;khu vự công nghiệp và xây dựng chiếm 20,7%,giảm 0,5%; khu vực dịch vụ chiếm 31,9%,tăng 0,5%.

Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm 2013 ước tính 33,7%,trong đó khu vực thành thị là 47,1% , khu vực nông thôn là 28%.Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 2,22%,trong đó khu vực thành thị là 3,67%, khu vực nông thôn là 1,56%(Số liệu chín tháng của năm 2012 tương ứng là: 2,06% ; 3,31%; 1,48%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 2,66%; khu vực thành thị là 1,5%,khu vực nông thôn là 3,18% (Số liệu chín tháng của năm 2012 tương ứng là:2,75%;1,46%;3,33%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi từ 1524 chín tháng năm 2013 ước tính là 5,97%, trong đó khu vực thành thị là 10,27%;tăng 1,27 % so với cùng kỳ năm trước, khu vực nông thôn là 4,49%,tăng 0,05%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 1,29%; khu vực thành thị là 2,45%,khu vực nông thôn là 0,77%.Nhìn chung thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản xuất vẫn gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến việc làm của người lao động.

2.Thực trạng thất nghiệp năm 2014

Q12014, cả nước có 1.045,5 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 145,8 nghìn người so với Q42013, tuy nhiên đã giảm 22,2 nghìn người so với Q12013. Trong số người thất nghiệp, có là 493,0 nghìn người là nữ (chiếm 47,2%), 546,7 nghìn người ở thành thị (chiếm 52,3%).Về tỷ lệ, Q12014 tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,21%, tăng so với Q42013 (1,9%),tuy nhiên giảm nhẹ so với Q12013 (2,27%) . Tỷ lệ thất nghiệp của nữ là 2,25%, cao hơn nam (2,17%). Tỷ lệ thất nghiệp thành thị là3,72%, cao gấp 2,4 lần nông thôn (1,53%).

Hình 3. Số lượng người thất nghiệptrong độ tuổi lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

Nhóm lao động trình độ cao tiếp tụckhó khăn khi tìm việc làm. Trong Q12014,có 162,4 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên bị thất nghiệp, chiếm 4,14% tổng số người có trình độ này (mặc dù tỷ lệ này không cao), tăng 4,3 nghìn người so với Q42013; có 79,1 nghìn người có trình độ cao đẳng (chiếm 6,81%), tăng 7,5 nghìn người so với Q42013.

Thất nghiệp thanh niên tiếp tục làvấn đề cần quan tâm. Trong Q12014, cả nước có 504,7 nghìn thanh niên (nhóm từ 1524 tuổi) bị thất nghiệp (chiếm 6,66%), tăng 54,4 nghìn người so với Q42013 và tăng17,0 nghìn người so với Q12013. Đặc biệt,có 21,2% thanh niên độ tuổi 2024 có trình độ từ đại học trở lên bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên của khu vực thành thị tiếptục ở mức cao (12,3%); của nữ (7,86%), cao hơn hẳn so với của nam (5,66%), cho thấy nữ thanh niên gặp khó khăn hơn khi tìm việclàm.

III.Ảnh hưởng của thất nghiệp đến đời sống kinh tế.

Với bản thân người thất nghiệp,khi không có việc làm,thu nhập của họ giảm sút ,kỹ năng chuyên môn bị xói mòn,niềm tin đối với cuộc sống suy giảm và tâm trạng u uất.Với xã hội,tình trạng thất nghiệp cũng là 1 chi phí mà xã hội phải gánh chịu.Thất nghiệp càng nhiều,giá phải trả càng lớn.Những khoản chi phí như:Chính phủ phải có khoản chi về trợ cấp thất nghiệp,khoản thu từ thuế thu nhập cho ngân sách giảm sút,nguồn lực lãng phí,sản lượng sút kém.Ngoài ra,thất nghiệp còn làm cho các tệ nạn xã hội gia tăng ,gây tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người.

IV.Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam..

Thất nghiệp gia tăng do suy giảm kinh tế toàn cầu: Suy giảm kinh tế toàn cầu khiến cho nhiều xí nghiệp nhà máy phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phải đóng cửa do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu còn thấp không sánh kịp với các sản phẩm chất lượng cao của các quốc gia có trình độ phát triển cao. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp phải cắt giảm nguồn lao động dẫn đến lao động mất việc làm. Đây là nguyên nhân chủ yếu, kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu tư và xuất khẩu nên khi kinh tế toàn cầu bị suy giảm thì nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng rất lớn và hậu quả là nạn thất nghiệp sẽ tăng cao.

Nếp nghĩ có lâu trong thanh niên: với thói quen học để “ làm thầy “ chứ không ai muốn mình “ làm thợ “, hay thích làm việc cho nhà nước mà không thích làm việc cho tư nhân. Với lý do này , nhu cầu xã hội không thể đáp ứng hết yêu cầu của lao động, điều này là thiếu thực tế bởi không dựa trên khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội. Một bộ phận lao động trẻ lại muốn tìm đúng công việc mình yêu thích mặc dù các công việc khác tốt hơn nhiều, dẫn đến tình trạng những ngành cần lao động thì lại thiếu lao động, trong khi đó lại thừa lao động ở các ngành không cần nhiều lao động.

Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp: chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất ngày.Kinh tế Việt Nam từng bước áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới nên đòi hỏi một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, thành thạo tay nghề. Trong khi đó đội ngũ lao động ở nước ta chỉ một số ít lao động có trình độ, tay nghề. Tác phong công nghiệp của lực lượng lao động nước ta còn non yếu,thiếu tính chuyên nghiệp; trong khi nền kinh tế đòi hỏi một đội ngũ lao động năng động.

V.Phương hướng giải quyết và giải pháp khắc phục.

Huy động mọi nguồn lực để tạo ra môi trường kinh tế phát triển nhanh

Phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp, gắn với công nghệ chế biến nông lâm thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá.

Đầu tư phát triển các ngành nghề công nghiệp, chú trọng trước hỗ trợ công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, xây dựng có chọn lọc một số cơ sở nông nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng.

Đầu tư xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ thiết thực và bực xúc cho phát triển.

Phát triển các ngành dịch vụ, trong đó tập trung vào các lĩnh vực vận tải thông tin liên lạc, thương mại, du lịch, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, công nghệ,

Tạo ra một môi trường pháp lý đồng bộ khuyến khích tạo mở và duy trì chỗ làm việc khuyến khích tự tạo việc làm.

Tiếp tục nghiên cứu, ban hành các chính sách hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong việc tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm.

Khuyến khích sử dụng lao động nữ. Khuyến khích sử lao động là người tàn tật. Hỗ trợ các cơ sở sản xuất của thương binh và người tàn tật.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo cho lao động thuộc diện chính sách ưu đãi, lao động thuộc đối tượng yếu thế.

Tập chung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi do các đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ để tự tạo việc làm cho bản thân gia đình và công cộng.

Phát triển nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm.

KẾT LUẬN

Thất nghiệp là một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan và gây ra những hậu quả xấu ngăn cản sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.Vì vậy,vấn đề giải quyết thất nghiệp là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết,giảm bớt thất nghiệp không những tạo điều kiện để phát triển kinh tế mà còn thúc đẩy ổn định xã hội .Một xã hội có nền kinh tế phát triển,tỷ lệ thất nghiệp thấp thì tệ nạn xã hội sẽ bị đẩy lùi,đời sống nhân dân được nâng cao.
Xem thêm

8 Đọc thêm

THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TRÍ THỨC VÀ LAO ĐỘNG TRẺ BÀI HỌC TỪ THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TRÍ THỨC VÀ LAO ĐỘNG TRẺ. BÀI HỌC TỪ THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

BÀI THẢO LUẬN MÔN KINH TẾ HỌC LAO ĐỘNGMục lục.I. Lời mở đầu4II.Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây4 1.Tăng trưởng kinh tế dưới mức tiềm năng4 2. Lạm phát được kiềm chế, chỉ số tăng giá thấp6 3. Thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực 6III. Thực trạng thất nghiệp và việc làm đối với lao động trí thức ở việt nam7 1.Nhu cầu tuyển dụng lao động trí thức ở Việt Nam hiện nay8 Nhà tuyển dụng đòi hỏi nhiều kỹ năng 10 Kĩ năng giao tiếp 10 Kĩ năng thích ứng và linh hoạt 10 Kĩ năng làm việc nhóm 10 Kĩ năng giải quyết vấn đề 11 Kĩ năng hòa đồng 11 Kĩ năng tạo động lực cho bản thân 11 Kĩ năng thuyết phục 11 kĩ năng quản lý thời gian 12 2.Tỉ lệ thất nghiệp của lao động trẻ tại Việt Nam12 3.Xét từ năm 2008 , mức độ đáp ứng công việc của các cử nhân bằng cấp đại học , sau đại học đối với nhà tuyển dụng ra sao ?13IV. Thực trạng hệ thống đào tạo đại học ,sau đại học của Việt Nam15 1. Mục tiêu16 2. Chương trình16 3. Phương pháp17V. Đặc điểm hệ thống đào tạo kinh nghiệm của cử nhân tại một số nước trong khu vực láng giềng, các nước Âu Mỹ và họ19 1. Đặc điểm hệ thống đào tạo cử nhân tại một số nước19 2. Kinh nghiệm của họ21 VI.Giải pháp cho vấn đề đặt ra22 1. Về phía ngành đào tạo giáo dục 22 2. Về phía sinh viên 23VII. Kết luận24 I . lời mở đầuNền kinh tế của đất nước ta đang trên đà phát triển, từ nền kinh tế bao cấp nhà nước hỗ trợ toàn bộ chí phí đầu tư, lỗ đâu nhà nước chịu toàn bộ thì giờ đây đất nước ta đang phát triển lên nền kinh tế thị trường, cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do kinh doanh, tự do phát triển. Chính vì vậy đất nước đã có sự thay đổi đáng kể, chúng ta có thể nhìn thấy một bộ mặt mới của đất nước. Bên mặt thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế của nền kinh tế thị trường thì cũng có không ít những khó khăn, những tiêu cực phát sinh trong nền kinh tế và một trong những khó khăn mà nhà nước ta đang phải đương đầu đó là tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường ngày càng tăng ,trong cơ chế thị trường ngay nay vấn đề mà gần như không xảy ra trong thời kì bao cấp. Đất nước càng phát triển bao nhiêu ngoài những công nghệ hiện đại phục vụ cho kinh doanh sản xuất thì một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước là lượng lao động, lực lượng lao động là những sinh viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… là lực lượng trẻ của đất nước rất năng động và có năng lực trong công việc. Chính vì vậy sinh viên là nguồn nhân lực rất quan trọng chúng ta cần biết cách sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Nhưng tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.. Vấn đề này không phải do có ít số lượng sinh viên theo học bậc đại học và sau đại học, không có trình độ làm việc dẫn đến bị sa thải và thất nghiệp xảy ra. Để chứng minh cho điều đó , dưới đây là những suy nghĩ của chúng em về vấn đề trên . do kiến thức xã hội còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót , mong cô chỉ bảo thêm về bài thảo luận của chúng em . em xin chân thành cảm ơn II.Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây. 1.Tăng trưởng kinh tế dưới mức tiềm năng . Báo cáo về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội 10 tháng đầu năm 2013 của Chính phủ cho biết, trong quý III, GDP của Việt Nam tăng trưởng 5,54% so với quý II, góp phần đưa GDP 9 tháng đầu năm 2013 tăng 5,14%, và con số này cao hơn cùng kì năm ngoái (5,1%) (tính theo giá so sánh năm 2010). Nhận định về tình hình tăng trưởng kinh tế đến cuối năm, ngày 2210, ông Glenn Maguire, chuyên gia, Kinh tế trưởng khu vực châu Á Thái Bình Dương của Ngân hàng ANZ dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2013 của Việt Nam vẫn ở dưới mức tiềm năng, chỉ đạt khoảng 5,1% năm 2013. Mức dự báo này là kém lạc quan nhất so với các dự báo từ phía Việt Nam với mức 5,3%. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, GDP 9 tháng đầu năm 2013 đã tăng 5,14%, điều này có thể khẳng định, dù rằng mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2013 là 5,5% khó đạt được bởi những khó khăn trong các yếu tố nền tảng tạo nên tăng trưởng, nhưng triển vọng mức tăng trưởng 5,3% là hoàn toàn có cơ sở. Tổng cung của nền kinh tế những tháng đầu năm bước đầu đã có những dấu hiệu tích cực, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Hàng tồn kho của doanh nghiệp đã giảm nhưng chậm, cùng với đó là tốc độ tăng nhập khẩu tư liệu lao động sản xuất còn khá khiêm tốn, biểu hiện bằng một số chỉ tiêu như nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 14,9 tỷ USD, tương ứng 11,4%; sắt thép đạt 5,6 tỷ USD, tăng 10,7%; sản phẩm hóa chất đạt 2,3 tỷ USD, tăng 11%... Ngoài ra, một chỉ số cơ bản đánh giá năng lực sản xuất của các doanh nghiệp là PMI1đã tăng dần qua các tháng đầu năm (từ 49,1 trong tháng 8 lên 51,5 điểm trong tháng 9). Điều này tạo nên hiệu ứng tốt cho thị trường sản xuất của Việt Nam.Hình 2.1: chỉ số PMI ngành sản xuất của Việt Nam từ năm 2012 đến nay: Cùng với sự tăng chậm chạp của tổng cung thì tổng cầu cũng trong trạng thái tương tự, dù đã có sự cải thiện, tuy nhiên, mức cải thiện này còn tương đối yếu. Theo thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ 9 tháng đầu năm 2013 chỉ đạt mức tăng trưởng 12,6% so với cùng kì năm trước (đã loại trừ đi yếu tố lạm phát) so với 22,7% vào năm 2007. Sự tăng trưởng ở mức khiêm tốn của tổng cung và tổng cầu là những nhân tốchính khiến cho tốc độ tăng trưởng GDP những tháng đầu năm 2013 còn ở mức hạn chế. Vì vậy, muốn đạt được mức tăng trưởng 5,5% đã đề ra hồi đầu năm, phải xuất phát từ sự kích thích trong tổng cung và tổng cầu, cần thiết phải có sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cùng các chính sách kinh tế vĩ mô khác. 2. Lạm phát được kiềm chế, chỉ số tăng giá thấp Những tháng đã qua của năm 2013 tiếp tục được đánh giá là giai đoạn thành công của NHNN Việt Nam trong việc kiểm soát lạm phát kể từ sau thành công của năm 2012. Chỉ số giá của các mặt hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong rổ hàng hóa như thực phẩm, dịch vụ ăn uống chỉ tăng trong hai tháng đầu năm, những tháng sau đó, chỉ số này đều giảm. Điều này đã góp phần làm cho lạm phát tính đến tháng 9 chỉ tăng 4,63% so với đầu năm và ổn định hơn so với nhiều năm trở lại đây, biểu hiện qua mức độ phân tán của tốc độ tăng CPI so với giá trị trung bình đạt mức khá ổn định trong 9 tháng2013, thấp hơn nhiều so với năm 2012 và năm 2011. Lạm phát những tháng đầu năm tăng tương đối cao so với những tháng trước đó (tháng 1 và tháng 2 tăng lần lượt là 1,25% và 1,32%) được nhận định chủ yếu là do xu hướng mùa vụ mà không chịu nhiều tác động từ các yếu tố cơ bản như CSTK hay CSTT. Điều này cũng diễn ra tương tự trong tháng 8 và tháng 9, chỉ số giá tăng cao (0,83% và 1,06%) là do sự thay đổi trong việc điều chỉnh giá hàng hóa cơ bản và dịch vụ công (y tế, giáo dục). Những tháng cuối năm, các yếu tố này đã trở nên thiếu hiệu quả, vì vậy theo dự báo của UBGSTCQG, mức lạm phát những tháng cuối năm 2013 sẽ ở mức thấp, và mục tiêu lạm phát đầu năm là có thể đạt được.3.Thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực Thị trường tiền tệ, ngoại hối những tháng đầu năm 2013 có những cải thiện tích cực, biểu hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản: Thứ nhất, thanh khoản của hệ thống tiếp tục được củng cố và hiện khá dồi dào với sự gia tăng mạnh của tốc độ huy động vốn. Điều này khiến cho mặt bằng lãi suấthuy động, cho vay và cả liên ngân hàng giảm mạnh xuống mức thấp ngang với thời điểm năm 2006. Tính đến tháng 10, lãi suất huy động đã giảm từ 23%năm, lãi suất cho vay giảm 35%năm so với những tháng đầu năm; lãi suất liên ngân hàng mặc dù có thời điểm tăng cao, tuy nhiên, về mặt bằng chung, mức lãi suất vẫn giữ ở mức tương đối ổn định với các kì hạn ngắn (34%năm). Thứ hai, tín dụng đang tăng trưởng thuận lợi. Đầu năm, hoạt động tín dụng tương đối ảm đạm khi cả hai tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng đều là con số âm với lần lượt 1,2% và 0,28%; những con số này báo hiệu một sự giảm sút trong nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế. Tuy nhiên, những tháng sau đó, tăng trưởng tín dụng lại diễn biến theo chiều ngược lại. Tính đến hết quý III, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống đạt 7,89%. Nếu dựa trên tình hình của năm trước đó, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng 10 tháng đầu năm 2012 chỉ đạt 2%, nhưng đến cuối năm vẫn đạt xấp xỉ 9% thì mục tiêu 12% đến cuối năm là một mục tiêu khả quan. Thứ ba, trên thị trường ngoại hối: tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng khá. Mặc dù có một vài biến động nhỏ mang tính thời vụ và nhất thời nhưng nhìn chung tỷgiá USDVND của Việt Nam thời gian qua vẫn được giữ ở mức ổn định và có tác động tích cực đến các chỉ tiêu khác như lãi suất, lạm phát, dự trữ ngoại hối... Ngày 2862013, NHNN đã thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 21.036 (điều chỉnh tăng 1%) sau hơn 1 năm duy trì mức tỷ giá 20.828. Cùng với đó, NHNN cũng điều chỉnh tỷ giá mua vào USD theo hướng khuyến khích các TCTD bán ngoại tệcho NHNN nhằm tăng dự trữ ngoại hối (20.850 so với tỷ giá cũ 20.828 và 21.100 so với tỷ giá mới 21.036). Điều này cùng với lượng vốn FDI, ODA chảy vào Việt Nam thời gian qua khiến cho dự trữ ngoại hối tăng từ mức 7 tỷ USD lên mức 28 tỷ USD tính đến tháng 102013. Theo dự báo của ngân hàng ANZ, mức dự trữ của Việt Nam sẽ đạt mức 32 tỷ USD vào năm 2014.III. thực trạng thất nghiệp và việc làm đối với lao động trí thức ở việt nam. 1.Nhu cầu tuyển dụng lao động trí thức ở Việt Nam hiện nay “Đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay khá hùng hậu, kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với tinh thần của thời đại mới”. Đó là đánh giá của TS Nguyễn Khắc Thuần, Trưởng Khoa Du lịch và Việt Nam học (Trường Đại học Nguyễn Tất Thành). TS Nguyễn Khắc Thuần cho rằng thời đại nào cũng vậy, đội ngũ trí thức Việt Nam với trí tuệ, ý chí và sức mạnh, góp sức rất lớn cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Theo Giáo sư Ngô Bảo Châu, để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, phải chăm lo sự nghiệp giáo dục. Nền giáo dục của Việt Nam đã phát triển nhanh, đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng đang còn nhiều bất cập trước cơ hội hội nhập quốc tế và yêu cầu đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế tri thức. Giáo sư Ngô Bảo Châu cho rằng cần tạo điều kiện làm việc và có chế độ đãi ngộ hợp lý để trí thức có thể tập trung hết tâm sức cho nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và cống hiến. “Để cho những người làm khoa học được ưu tiên hơn, được ưa đãi hơn những người khác, mà họ không bị ganh ghét, đố kỵ. Đó là cách để cho khoa học trong các trường ĐH phát triển. Bản thân Viện Nghiên cứu về Toán là một mô hình như vậy. Ở đó những người đến làm việc không phải là vĩnh viễn như bao cấp, trong vòng 23 tháng, trong thời gian đó họ không được hưởng mức lương lớn mà họ được hưởng mức lương xứng đáng có thể đảm bảo cuộc sống, không phải lo toan những việc khác mà chỉ tập trung hoàn toàn cho nghiên cứu khoa học”, Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, số lượng những người có trình độ cao, trình độ đại học chỉ vào khoảng 4 triệu người so với dân số là chiếm hơn 11%. Trong khi các nước phát triển vừa phải tỷ lệ người dân được đào tạo trình độ ĐH, CĐ là trên dưới 30% và những nước phát triển cao là trên dưới 50%. Một trong những nguyên nhân khiến chúng ta còn hạn chế về những đóng góp của đội ngũ trí thức đó là tỷ lệ lực lượng này chưa cao so với các nước. Được biết, tính đến hết Quý 1 năm 2014, cả nước có hơn một triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 145,8 nghìn người so với Quý 4 năm 2013. Tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,21%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 3,72%, cao gấp 2,4 lần nông thôn (1,53%). Đáng chú ý, nhóm lao động trình độ cao tiếp tục khó khăn khi tìm việc làm, hiện có 162,4 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên bị thất nghiệp (chiếm 4,14%); 79,1 nghìn người có trình độ cao đẳng bị thất nghiệp (chiếm 6,81%). Đặc biệt, thống kê báo cáo cũng ghi nhận tình trạng thất nghiệp thanh niên tiếp tục là vấn đề cần quan tâm, có 504,7 nghìn thanh niên từ 1524 tuổi bị thất nghiệp, chiếm 6,66%, tăng 54,4 nghìn người so với Quý 4 năm 2013. Tính trong Quý I2014 có gần 1,3 triệu lao động thiếu việc làm, tăng 66,5 nghìn người so với Quý 42013. Số giờ làm việc của lao động thiếu việc làm là 22,3 giờtuần, chỉ bằng 53% so với lao động cả nước (42,3 giờtuần). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong nhóm ngành nông lâm nghiệp và thủy sản là 4,7%, của nhóm lao động gia đình là 4,1% và lao động tự làm là 3,1%. Số người trình độ sau đại học thất nghiệp gia tăng cho thấy sự bất cập trong thị trường lao động Việt Nam. Trước tiên đó là rào cản thông tin, do chưa có thông tin về lĩnh vực, ngành nghề thị trường cần, nên hiện học sinh thi vào đại học chủ yếu theo phong trào, tâm lý đám đông; trong khi đó các doanh nghiệp lại khát lao động. Hiện nay trong số hơn 9,9 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ thì chỉ có 2,7 triệu công nhân kỹ thuật, 2 triệu người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp; còn lại là hơn 5,2 triệu người tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên. Trong khi đó, nhu cầu tuyển của doanh nghiệp chủ yếu là những lao động có tay nghề, trình độ ngoại ngữ, khả năng sử dụng máy tính, công nghệ thông tin cao,…. Bên cạnh đó, nhà tuyển dụng đòi hỏi các kỹ năng như tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp..nhưng phần lớn lao động trí thức hiện tại thì không đáp ứng được .  Theo tổ chức Chronicle of Higher Education, cái mà nhà tuyển dụng cần là kinh nghiệm bên ngoài kiến thức học thuật như thực tập, việc làm thêm, tình nguyện và các hoạt động ngoại khoá khác.Dưới đây là xếp hạng những kinh nghiệm và kỹ năng mà các nhà tuyển dụng cần nhất ở một sinh viên mới tốt nghiệp đại học: Nhà tuyển dụng đòi hỏi nhiều kỹ năng: Những nhà tuyển dụng tin rằng những người họ thuê luôn luôn có một kĩ năng và tiêu chuẩn nhất định để phù hợp với công việc. Thông thường, những yêu cầu kĩ năng đó được đăng trên mô tả công việc, tuy nhiên, có trường hợp, họ sẽ không nhắc đến. Nếu bạn biết được họ muốn những yếu tố nào, bạn sẽ tạo cơ hội cho bản thân mình vượt trội hơn các thí sinh khác.Với từng vị trí khác nhau thì nhà tuyển dụng sẽ có các yêu cầu về kĩ năng khác nhau. Chẳng hạn như công việc bán hàng thì nhà tuyển dụng sẽ cần đến giao tiếp và thuyết phục người khác… Bởi vậy, đối với lao động Việt nam, bên cạnh tấm bằng xuất sắc, nhà tuyển dụng còn yêu cầu rất cao những kỹ năng cần thiết thích hợp với nghềKĩ năng giao tiếp:Giao tiếp luôn là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống con người nói chung. Kĩ năng giao tiếp mà các nhà tuyển dụng cần có thể qua các hình thức như:· Gặp mặt trực tiếp với người khác, chia sẻ ý kiến, thông tin.· Nói chuyện qua điện thoại biết cách xử sự, hiểu rõ vấn đề và giải quyết tình huống.· Trao đổi qua thư từ, email hay các tài liệu khác.Kĩ năng thích ứng và linh hoạt:Hay nói cách khác, nhà tuyển dụng muốn nhìn thấy ở một nhân viên tiềm năng sự cống hiến qua việc đảm đương nhiều việc khác nhau. Họ không muốn thuê một người cứng nhắc và thụ động trong môi trường làm việc thay đổi liên tục. Thích ứng và linh hoạt có nghĩa là bạn phải:· Sẵn sàng ở lại công ty trễ hay đi làm ngay cả những ngày nghỉ khi có quá nhiều công việc để làm.· Giúp đỡ người khác lúc công việc họ bị quá tải mặc dù đó không phải là trách nhiệm của bạn.· Lắng nghe ý kiến người khác và luôn sẵn sàng tiếp thu, học hỏi cái mới.· Giữ sự bình tĩnh trước mọi tình huống khó khăn.· Lên kế hoạch trước, trong trường hợp có vấn đề gì xảy ra, cũng phải có một kế hoạch B.Kĩ năng làm việc nhóm:Cho dù bạn là một cá nhân nổi trội, tuy nhiên, nếu bạn không thể làm việc nhóm thì nhà tuyển dụng cũng không chọn bạn. Hoạt động nhóm với nhiều người thì qua những ý kiến khác nhau, sẽ có nhiều cách giải quyết vấn đề hơn. Kĩ năng hoạt động nhóm bao gồm có:· Trợ giúp đồng nghiệp giải quyết vấn đề.· Cho người khác lời khuyên, nhận xét về công việc của họ để giúp họ hoàn thành công việc tốt hơn.· Tỏ thái độ tích cực, háo hứng để giữ tinh thần đồng đội, ủng hộ đồng nghiệp nói ra ý kiến về những điều họ cảm thấy chưa hài lòng.Kĩ năng giải quyết vấn đề:Hằng ngày chúng ta đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh từ nội bộ hay bên ngoài. Nhà tuyển dụng muốn tuyển một người có thể đảm đương những thử thách, khó khăn và tìm ra hướng giải quyết. Ví dụ như:· Nhìn ra vấn đề và nghĩ ra những hướng giải quyết khác nhau.· Thu thập thông tin nếu cần thiết.· Đánh giá, phân tích các khía cạnh gồm điểm mạnh, điểm yếu của các hướng giải quyết đó và đưa ra sự chọn lựa cuối cùng.Kĩ năng hòa đồng:Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mặc dù số lượng việc làm được tạo ra trong năm 2013 tăng nhẹ nhưng thất nghiệp ở lứa tuổi thanh niên (dưới 25 tuổi) và tỉ lệ gia tăng việc làm phi chính thức đang là những vấn đề đáng báo động tại thị trường lao động Việt Nam.3.Xét từ năm 2008 , mức độ đáp ứng công việc của các cử nhân bằng cấp đại học ,sau đại học đối với nhà tuyển dụng ra sao ? Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 217 doanh nghiệp được hỏi về sự hài lòng của họ đối với nhân viên là cử nhân khối ngành khoa học xã hội và nhân văn thì tỷ lệ nhân sự mà họ sử dụng trung bình chiếm 27% tổng nhân sự của doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ namnữ là 43%. Tỉ lệ này cho thấy đóng góp quan trọng của khối ngành này vào lực lượng lao động chung của xã hội. Theo thông tin tại hội thảo công bố bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam mới đây do bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tổng cục Thống kê cho thấy, trong quý I năm 2014, có 21,2% thanh niên trong độ tuổi 2024, có trình độ cử nhân trở lên bị thất nghiệp. Riêng đầu tháng 72014 có hơn 162.000 cử nhân thất nghiệp. Theo các chuyên gia thì con số thực tế lao động chất lượng cao thất nghiệp còn cao hơn rất nhiều. Hằng năm, các công ty tại khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất trên cả nước đều có nhu cầu tuyển nhân lực trình độ cao ở tất cả khối ngành. Dù mỗi năm Việt Nam có hàng ngàn cử nhân ra trường nhưng các nhà tuyển dụng vẫn khó tuyển được người đạt yêu cầu. Như Cty TNHH Denso Việt Nam (KCN Thăng Long, Hà Nội) mỗi năm cần tuyển khoảng 100 người có trình độ cao đẳng, đại học vào vị trí kỹ sư và nhân viên. Đợt tuyển năm 2013, công ty nhận được 4.000 hồ sơ; năm 2014, dù đợt tuyển chưa kết thúc, nhưng công ty đã nhận được hơn 5.000 hồ sơ. Bà Nguyễn Thùy Linh, Phòng nhân sự Cty TNHH Denso Việt Nam cho biết, dù có hàng ngàn hồ sơ, nhưng sau 3 vòng thi (xét hồ sơ, thi kiến thức, phỏng vấn), tỷ lệ đạt yêu cầu chủ yếu rơi vào cử nhân các trường danh tiếng như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Giao thông Vận tải, Ngoại thương, Học viện Tài chính, Ngân hàng... “Cử nhân những trường này thường được ưu tiên hơn, do khi đi làm họ hoàn thành tốt công việc. Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ, vi tính, khả năng thuyết phục, nhiệt tình với công việc… cũng hơn hẳn cử nhân những trường khác”, bà Linh nói. Theo bà Linh, cử nhân những trường mới, ngành đào tạo chưa phù hợp, chất lượng kém hơn rất nhiều. “Cử nhân những trường này khi phỏng vấn họ thường rất ngây ngô, thiếu cả kiến thức lẫn kỹ năng mềm. Đây là do chất lượng đào tạo và ý thức tự học của sinh viên, nhiều người tâm lý chơi nhiều hơn học, IV. Thực trạng hệ thống đào tạo đại học ,sau đại học của Việt Nam Giáo dục Đại học Việt Nam đã được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây, ngân hàng thế giới đã đầu tư cho giáo dục Việt Nam qua nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu đô la nhưng tình hình Giáo dục Đại học Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, 3 trong số những bất cập đó liên quan đến: Mục tiêu, chương trình và phương pháp.1. Mục tiêu Cho tới thời điểm hiện nay, các trường Đại học Việt Nam vẫn chưa xác định mục tiêu cụ thể để đào tạo sinh viên. GS TSKH Vũ Minh Giang Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội (2006) lập luận rằng các trường đại học trên thế giới thường hướng đến 3 mục tiêu chính sau để đào tạo sinh viên: Trang bị kiến thức nghề nghiệp chuyên môn; Hướng dẫn sinh viên ứng dụng chuyên môn đã học vào công việc thực tế; nâng cao trình độ nhận thức văn hóa cho sinh viên trong khi đó các trường đại học Việt Nam lại hướng đến những mục tiêu to lớn, không cụ thể như: trung thành với tổ quốc, xây dựng xã hội chủ nghĩa... Nên nhiều lúc chính cả thầy và trò còn mơ hồ về mục tiêu dạy và học của mình. Theo GS TSKH Vũ Minh Giang, nếu lấy 3 mục tiêu của các trường đại học trên thế giới áp dụng cho các trường đại học Việt Nam thì sẽ thấy: Mục tiêu 1: Giảng viên Việt Nam thường dạy cho sinh viên những kiến thức cụ thể, những hiểu biết mà mình tích lũy được trong kinh nghiệm giảng dạy mà không chú trọng đến việc dạy nghề cho sinh viên. Mục tiêu 2: Các giảng viên Việt Nam thường ít cập nhật kiến thức chuyên môn liên quan đến nhu cầu thực tế. Bài giảng của thầy đôi khi không còn phù hợp với tình hình xã hội hiện tại. Nếu sinh viên chỉ học ở trường, không có điều kiện va chạm với cuộc sống bên ngoài thì khả năng thích ứng với nhu cầu xã hội là thấp vì khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế là khá xa. Mục tiêu 3: Sinh viên đại học đương nhiên phải có trình độ nhận thức văn hóa cao, cụ thể là phải có những phẩm chất đặc biệt. Các trường đại học Việt Nam cho rằng việc giáo dục phẩm chất cho sinh viên thuộc về trách nhiệm của các bậc học phổ thông trước đó hoặc thuộc về chính bản thân sinh viên nên đã không chú trọng rèn luyện khía cạnh này Từ phân tích trên cho thấy Giáo dục Đại học Việt Nam chưa có giải pháp để đào tạo theo nghĩa toàn diện vì chúng ta chưa có mục tiêu cụ thể.2. Chương trình Hiện nay, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn còn kém hiệu quả. Nguyên nhân do Bộ khống chế quá chặt về chương trình khung và yêu cầu các trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc. Trao đổi về vấn đề này, Thầy Ngô Đăng Thành, giảng viên Trường ĐH Kinh tế TP. HCM đã có ý kiến: Kiến thức chuyên ngành sinh viên được học quá ít. Ví dụ, một chương trình cử nhân, bao gồm 125130 tín chỉ tất cả các môn, trong đó có khoảng 8090 tín chỉ là môn chung. Các môn chung của ngành cũng khoảng 20 tín chỉ. Cho nên những kiến thức sẽ học để sau này sinh viên đi làm thực tế chỉ còn khoảng 20 tín chỉ nữa, tương đương với 45 môn. (Nguyễn Hoàng Hạnh, 2008)GSTSKH Đỗ Trần Cát, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho rằng Bộ phải xem xét và phân bổ lại chương trình học. Ví dụ đối với môn chung như triết học, kinh tế chính trị trong các trường đại học nên phân bố số tiết ít hơn, để dành thời gian giảng dạy các môn chuyên ngành sẽ thiết thực hơn. (H.L.Anh D. Hằng, 2005) Còn ths. Đào Đức Tuyên, Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ (Trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM) phát biểu: môn Giáo dục thể chất được quy định trong chương trình khung của Bộ, nên chăng đổi lại thành môn tự chọn vì như vây sinh viên có thể chọn những môn thể thao phù hợp với điều kiện sức khỏe và thể lực của mình. Môn Giáo dục quốc phòng cũng vậy, nên chuyển sang thành môn tự chọn vì một tháng học ròng rã cả lý thuyết lẫn thực hành như hiện nay thực sự không cần thiết đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ (H.L.Anh D. Hằng, 2005). Thiết nghĩ, Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học phải tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại học chủ động biên soạn chương trình. Chương trình khung của Bộ là chương trình chuẩn để các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi trường đại học sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng. Đối với những môn chuyên ngành, trường sẽ giao cho khoa chủ động xây dựng chương trình. Như vậy chương trình giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào nhu cầu thực tế của xã hội và trình độ của sinh viên, khoa sẽ điều chỉnh và cải tiến chương trình học một cách khoa học và kịp thời.3. Phương pháp Hiện nay giảng viên tại các trường đại học Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống thầy đọc, trò chép. Giảng viên lý giải rằng biết rằng phương pháp này khiến sinh viên không hứng thú suốt quá trình học tập (H.L.Anh D. Hằng, 2005). Những con số đáng sợ sau là minh chứng cho những bất cập của Giáo dục Đào tạo Việt Nam: Hơn 50% sinh viên được khảo sát không thật tự tin vào các năng lựckhả năng học của mình. Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học; Gần 70% cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu; Gần 55% sinh viên được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.(Theo một nghiên cứu mới đây về phong cách học của sinh viên của PGS.TS Nguyễn Công Khanh (2008, được trích trong Mai Minh, 2008) Tóm lại, các trường đại học ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên. Những thay đổi này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường, giảng viên và sinh viên. Biết rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải làm ngay vì nhà nước đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội. Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dụcĐào tạo, các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu cho mình. V. Đặc điểm hệ thống đào tạo cử nhân tại một số nước trong khu vực láng giềng, các nước Âu Mỹ và kinh nghiệm của họ.1. Đặc điểm hệ thống đào tạo cử nhân tại một số nước· Tại Trung Quốc· Tại Nhật Bản· Tại singapore· Giáo dục tại Mỹ2. Kinh nghiệm của họ. Trong những năm qua, các nước châu Á đã có những bước phát triển lớn lao về kinh tế xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Một trong những nước có thành tựu đáng kể về phát triển phải kể đến Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore. Sự phát triển giáo dục của các nước này chính là những bài học kinh nghiệm quý giá cho người Việt Nam trong viecj kế thừa tinh hoa của nhân loại trong phát triển giáo dục.VI.Giải pháp cho vấn đề đặt ra1. Về phía ngành đào tạo giáo dục. Để giảm thiểu tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp vấn đề đầu tiên cần quan tâm chính là chất lượng đào tạo, làm sao đào tạo được học viên ra đáp ứng được các yêu cầu của công việc ở mức tối đa, hạn chế tình trạng lấy số lượng học viên hơn chất lượng học viên của một số trường dân lập, hoặc bán công lập. Đào tạo chính là nền tảng, là cơ sở để cho “ra lò” những lao động có kĩ năng, có tay nghề, vì vậy đào tạo cần phải đổi mới nâng cao chất lượng để làm sao khi tốt nghiệp sinh viên có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày một cao của công việc. Bộ giáo dục cũng cần có sự phối hợp để tính toán để cân đối tỷ lệ hợp lý giữa các ngành nghề đào tạo, đáp ứng được nhu cầu của thực tế, tránh hiện tượng thừa thì vẫn cứ thừa còn thiếu thì vẫn cứ thiếu. Nghành đào tạo cũng có mối liên hệ với thị trường lao động để luôn cập nhập được xu hướng của nhu cầu để đào tạo cho phù hợp cả về chất lượng cũng như số lượng. Trước hết, cần nâng cao chất lượng chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng , tập trung đào tạo, xây dựng và phát triển nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, hạn chế số lượng đào tạo không chính quy, nâng cao chất lượng đào tạo liên thông. Điều cốt lõi trong quá trình đào tạo sinh viên chính là những kiến thức và kỹ năng cần thiết đáp ứng được nhu cầu thiết thức của doanh nghiệp. Cần phải có sự liên kết giữa đào tạo nguồn nhân lực và nhu cầu việc làm.. Việc đào tạo đại học, cao đẳng cần hướng đến khả năng ứng dụng thực tế, đảm bảo ‘ Học đi đôi với hành’ Để làm được điều đó, nhà trường cần tạo nhiều cơ hội cho sinh viên được tiếp xúc trực tiếp với công việc, quy trình tuyển dụng thực tiễn thực của các doanh nghiệp. Phải có sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, cần phải cân đối giữa chỉ tiêu tuyển sinh của nhà trường và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.2. Về phía sinh viên.•Thậm chí nên giảm số lượng sinh viên hệ đại học, sau đại học để sinh viên có thái độ học tập tốt hơn
Xem thêm

27 Đọc thêm

THỰC TRẠNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Ngày 1.1.2009, tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp. Đó là bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ). Sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thực sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt nam nói riêng và nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nói chung. BHTN ở Việt Nam ra đời gắn với giai đoạn đầy khó khăn, tồi tệ của nền kinh tế Việt nam cũng như kinh tế thế giới; giai đoạn mà chúng ta phải chứng kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất nghiệp.Sau 2 năm thực hiện, Bảo hiểm thất nghiệp đã mang lại những thành công nhất định, cũng như tác dụng tích cực về mặt kinh tế xã hội. Tuy nhiên cũng như các loại hình bảo hiểm khác, BHTN cũng không thể tránh khỏi tình trạng trục lợi. khiến cho mục đích chính của BHTN không thực hiện được còn gây tâm lí ỷ lại cho người lao động, nghiêm trọng hơn còn có khả năng gây vỡ quỹ thất nghiệp, ảnh hưởng lớn đến các vấn đề chính trị , xã hội. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn những vấn đề mới mẻ này chính là lí do emlựa chọn đề tài “ Thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam”. Với toàn bộ khả năng của mình, em đã cố gắng mang đến những thông tin cơ bản và tổng quát nhất về Bảo hiểm thất nghiệp và thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam hiện nay ,tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót ngoài mong muốn nên em hy vọng nhận được sự góp ý từ phía cô giáo để hoàn thiện hơn kiến thức của mình.
Xem thêm

44 Đọc thêm

ĐỀ NGHỊ KHÔNG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

ĐỀ NGHỊ KHÔNG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc-------***-------ĐỀ NGHỊ KHÔNG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆPKính gửi: Trung tâm dịch vụ việc làm .........................................Tên tôi là:....................................................... Sinh ngày:..............................................................Số chứng minh nhân dân:..............................................................................................................Ngày cấp:....................................................... Nơi cấp:..................................................................Số sổ BHXH:.................................................................................................................................Nơi thường trú:..............................................................................................................................Chỗ ở hiện nay:..............................................................................................................................Tôi đã nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp ngày............................. nhưng hiện nay, tôikhông có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp vì:............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................Do đó, tôi đề nghị không hưởng trợ cấp thất nghiệp để bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thấtnghiệp.Tôi xin trân trọng cám ơn./..........., ngày ....... tháng ..... năm …….Người đề nghị(Ký và ghi rõ họ tên)
Xem thêm

1 Đọc thêm

TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỈ LỆ THẤT NGHIỆP, BÀI HỌC TỪ THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÁP CHO NƯỚC TA.

TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỈ LỆ THẤT NGHIỆP, BÀI HỌC TỪ THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÁP CHO NƯỚC TA.

MỤC LỤCLời mở đầu4CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THẤT NGHIỆP CỦA THẾ GIỚI5I.Khái quát tình hình kinh tế:51.Thế giới trong thời kì khủng hoảng 2008 – 2009.52.Năm 2010 thế giới tiếp tục đi vào ổn định.53.Năm 2011 Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm.54.Năm 2012 2013 suy giảm, phục hồi chậm.75.6 tháng đầu năm 2014 Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì quá trình phục hồi nhưng tăng trưởng chững lại.8II.Thất nghiệp của 1 số nước trên thế giới chịu sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới.91.Tình hình thất nghiệp ở Mỹ.92.Tại các nước châu Âu.93.Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc.104.Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á11CHƯƠNG 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM12I.Khái quát tình hình kinh tế.121.Chưa thể phục hồi.122.Lạm phát bùng nổ.133.Sản xuất công nghiệp giảm mạnh.144.Lãi suất cho vay leo thang.155.Doanh nghiệp thua lỗ ngày càng tăng.15II.Cung cầu lao động và thực trạng thất nghiệp của Việt Nam.161.Cung cầu lao động.162.Tỉ lệ thất nghiệp .19III.Một số nghành điển hình.261.Ngành xây dựng.262.Nghành tài chính ngân hàng.263.Nghành môi giới chứng khoán.28Kết luận .............................................................................................................................29Danh mục tài liệu tham khảo.............................................................................................30Lời mở đầuToàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Trong quá trình hội nhập, Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập. Trong giai đoạn hiện nay, suy thoái kinh tế đang là vấn đề nóng tại tất cả các quốc gia trên thế giới, các nhà kinh tế xem đây là một vấn đề nan giải và đang tìm cách giải quyết. Suy thoái kinh tế đã gây ra bao hệ lụy, ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế như là lạm phát tăng cao, thất nghiệp gia tăng,… xảy ra ở hầu hết các các quốc gia và Việt Nam chúng ta cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực từ suy thoái. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới, các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với vô vàn thách thức, trong đó phải kể đến vấn nạn thất nghiệp. Trước tình hình này, có quan điểm rằng “ Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thê giới , Việt Nam không tránh khỏi các tác động tiêu cực khiến cầu về lao động tại tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều giảm, dẫn đến thất nghiệp gia tăng”. Với hiểu biết và từ tìm hiểu những thông tin liên quan, nhóm 7 hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Bằng những gì đã tìm hiểu chúng tôi cho rằng: Suy thoái kinh tế đã và đang tác động tiêu cực đến cầu về lao động tại tất cả các nghành kinh doanh và làm cho thất nghiệp gia tăng. Mặc dù tác động này là không đồng đều giữa các ngành và nhóm ngành.Dưới đây là những ý kiến của nhóm sau thời gian tìm hiểu đề tài. Đây là vấn đề rất sâu rộng, mang tính thời sự. Bản thân chúng em, những sinh viên năm thứ hai, khi được giao viết đề tài này cũng cảm thấy rất hứng thú và say mê. Tuy nhiên do sự hiểu biết còn hạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phân nhỏ suy nghĩ, hiểu biết của chúng em. Bài còn nhiều thiếu sót, chúng em xin kính mong cô chỉ bảo để chúng em hoàn thành bài viết tốt hơn.Chúng em xin chân thành cảm ơnCHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THẤT NGHIỆP CỦA THẾ GIỚII.Khái quát tình hình kinh tế:1.Thế giới trong thời kì khủng hoảng 2008 – 2009. Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo. Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với bão.2.Năm 2010 thế giới tiếp tục đi vào ổn định. Một năm sau cuộc khủng hoảng tài chính, nền kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục và phát triển, kinh tế nhiều nước trên thế giới tiếp tục đi vào ổn định. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo kinh tế của 33 nước thành viên OECD tăng trưởng bình quân 2,8% trong năm 2010. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng của Trung Quốc ở gần mức 10% trong năm 2010 và 2011, tại Ấn Độ mức tăng trưởng là 8,4%, Nga 4,3% và Brazil 4,1%. Cũng theo OECD, thương mại toàn cầu phục hồi, tăng 12,3% năm 2010. Tại Mỹ, kinh tế tăng trưởng chậm, vào khoảng 2,4%2,5% trong năm 2010. Tại Pháp, nền kinh tế lớn thứ hai châu Âu, con số này còn thấp hơn, vào khoảng 1,6% trong hai năm 2010 và 2011.Tại Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone), EC cho biết tăng trưởng kinh tế năm 2010 sẽ là 1,7%. Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, có mức tăng trưởng 3,7%. Kinh tế Trung Đông và Bắc Phi sẽ vẫn tãng trưởng mạnh. Dự báo tăng trưởng của khu vực này sẽ là 4,1% năm 2010 và 5,1% năm 2011. Còn theo LHQ, tại khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribe, hoạt động xuất khẩu mạnh và giá hàng hóa cao đang tiếp sức cho tăng trưởng kinh tế nhanh hơn mong đợi. Năm 2010 đánh dấu sự phát triển mạnh của khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nõ nét nhất là sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, GDP của Trung Quốc trong quý 2 2010 đạt 1.337 tỷ USD. Ngoài ra nền kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore có mức tăng trưởng nhanh khoang 8,8%. ADB dự báo một số quốc gia đang phát triển ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, trong một tương lai không xa, có thể đuổi kịp và vượt qua các nước phát triển hiện nay.3.Năm 2011 Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm.Tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, sự phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra chậm chạp. Theo IMF, kinh tế toàn cầu năm 2011 chỉ đạt mức 4,0%, thấp hơn 5,1% so với năm 2010. Khu vực các nước phát triển tăng trưởng 1,6% năm 2011so với tăng trưởng 3,1% của năm 2010. Khu vực các nước đang phát triển và mới nổi, tăng trưởng 6,4% năm so với mức 7,3% năm 2010.Mỹ nền kinh tế lớn nhất thế giới đã mất 1% điểm tăng trưởng, với GDP sẽ chỉ tăng 1,5% trong năm. Với 17 nước thuộc khu vực đồng euro, tăng trưởng GDP sẽ giảm bớt khoảng nửa điểm..Nhật Bản đã tăng trưởng trở lại, nhưng cũng chỉ đạt mức 0,5% trong năm nay. Trung Quốc tiếp tục là nước dẫn đầu với mức tăng trưởng 9% trong năm tới. Nga, Mỹ Latin, châu Phi, Trung Đông và Bắc Phi tăng trưởng sẽ thấp hơn so với dự báo trước đây.Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam Biểu đồ 2: Lạm phát tại các nước phát triển, các nước mới nổi và đang phát triển, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam (bình quân năm) 4.Năm 2012 2013 suy giảm, phục hồi chậm.Theo đánh giá ,3%; các nền kinh tế mới nổi BRICS tăng 55,3%, thấp hơn kết quả đạt được 6,2% vào năm 2011; kinh tế châu Phi tăng 4,5%; kinh tế khu vực Mỹ La tinh và Caribê tăng 3,7%; riêng châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất 5,6% nhờ kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được động lượng. Kinh tế các nước ASEAN cũng đạt tốc độ khá cao 5,2% nhờ nhu cầu nội địa tăng mạnh đã góp phần giảm nhẹ nhiều tác động tiêu cực do suy giảm xuất khẩu bắt nguồn từ suy thoái toàn cầu và tăng trưởng kinh tế chậm lại tại Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ.Bảng 1: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012 NĂM 2013 (%)Nguồn: IMF, các tổ chức tài chính khu vực, báo cáo quốc giaQuốc gia khu vựcNăm 2012Năm 2013Quốc gia khu vựcNăm 2012Năm 2013Toàn cầu3,33,6Châu Phi4,54,8Các nước phát triển1,31,41,6Trung Đông – Bắc Phi5,13,7Các nước EU0,30,4Mỹ latinh và Caribê3,74,7Khu vực euro0,40,1trung Âu1,92,9BRICS5,05,35,5quốc gia độc lập CIS4,24,1 nước đang phát triển5,6Mỹ1,52,33,0Châu Á TBD5,6Nhật Bản2,21,0ASEAN5,25,5Trung Quốc8,07,5Châu Phi4,54,8Ấn Độ5,75,96,3CHLB Nga3,54,03,9CH Nam Phi2,73,6Năm 2013, mặc dù có những dấu hiệu tích cực hơn trong tháng 8 nhưng kinh tế thế giới trong năm 2013 nhìn chung phục hồi chậm hơn mức kỳ vọng do suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ.Châu Âu thoát khỏi suy thoái dài nhất trong lịch sử với việc khu vực đồng Euro trong quý 22013 lần đầu tiên tăng trưởng dương kể từ quý 42011, nhưng cũng chỉ ở mức 0,3% so quý trước, thấp hơn mức trung bình 0,35% kể từ quý 32007. Anh tăng trưởng khả quan hơn với mức 0,7% trong quý 22013, cao hơn mức trung bình 0,65% kể từ quý 32007. Mỹ tăng trưởng ổn định với mức tăng trưởng (so cùng kì năm trước) duy trì trên dưới 2% kể từ quý 12010 và lạm phát đạt mức 2% trong tháng 72013. Nhật Bản tăng trưởng tiếp tục cải thiện với mức tăng trưởng (so cùng kì năm trước) tăng dần từ quý 32012. Trong khi đó, Trung quốc nhiều khả năng tăng trưởng thấp hơn kế hoạch 7,5% trong năm 2013 do phải đối mặt với vấn đề nợ xấu ngân hàng và nợ công địa phương. Tăng trưởng của Trung Quốc đã giảm từ 7,9% quý 42012 xuống 7,5% quý 22013. Ấn Độ do những yếu kém về cơ sở hạ tầng và thủ tục hành chính đang phải đối mặt với làn sóng rút vốn ra và tăng trưởng suy giảm liên tục từ 2010 (giảm từ 9,4% quý 12010 xuống 4,8% quý 12013).5.6 tháng đầu năm 2014 Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì quá trình phục hồi nhưng tăng trưởng chững lại.Hầu hết các nền kinh tế phát triển tuy vẫn duy trì các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy tăng trưởng nhưng từng bước cắt giảm quy mô các gói kích thích kinh tế.Những chuyển biến kinh tế thế giới đầu năm 2014 cho thấy 3 dịch chuyển nổi bật: (1) Các nước phát triển phục hồi đà tăng trưởng trong khi các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng chậm lại; (2) Các ngân hàng trung ương bắt đầu thắt chặt dòng cung tiền tệ và cắt giảm chương trình kích thích kinh tế; (3) Trung Quốc điều chỉnh để giảm tốc độ tăng trưởng; lần đầu tiên kể từ năm 2004, Trung Quốc không nằm trong nhóm 12 nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới.Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng toàn cầu năm 2014 dự kiến đạt 2,8% (giảm so với mức dự báo 3,2% đưa ra trong tháng 012014) và năm 2015 đạt 3,4%; các nền kinh tế phát triển tăng trưởng 1,9% và các nền kinh tế đang phát triển tăng trưởng 4,8% trong năm 2014.II.Thất nghiệp của 1 số nước trên thế giới chịu sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới.1.Tình hình thất nghiệp ở Mỹ.Trong hai năm 20082009, kinh tế Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Tỉ lệ thất nghiệp lên cao đến mức kỷ lục (trên 9,5%) kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, có tháng còn lên đến 10%. Trong và sau cuộc khủng hoảng này, nền kinh tế đứng thứ nhất thế giới đã đánh mất 8,8 triệu việc làm và chỉ tạo thêm được 4 triệu việc làm (tương đương 46% số việc làm đã mất) khi quá trình phục hồi bắt đầu. Tuy nhiên, trong những năm sau đó, kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu hồi phục nhất định. GDP bắt đầu tăng trưởng trở lại trong khi tỉ lệ thất nghiệp ở quốc gia này có xu hướng giảm dần, xuống còn 7,7% vào tháng 11 năm 2012 Biểu đồ 3: Tình hình thất nghiệp của Mỹ giai đoạn 2008 2013Tỷ lệ thất nghiệp trung bình của năm 2013 ở mức 7,7% thấp nhất trong vòng 4 năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động của tháng 12 giảm xuống 62,8% thấp nhất kể từ năm 1978.Theo báo cáo công bố ngày 372014 của Bộ Lao động Mỹ, trong tháng Sáu vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giảm xuống còn 6,1% so với mức 6,3% trong tháng trước đó. Tỷ lệ này tuy vẫn cao nhưng được ghi nhận là bước cải thiện lớn của thị trường lao động Mỹ nếu so với tỷ lệ 10% trong những năm trước đây.2.Tại các nước châu Âu.Trái với sự hồi phục của Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay vẫn là vấn đề khó giải quyết của các nước châu Âu. Theo thông tin Eurostat mới công bố, tỷ lệ thất nghiệp tháng 8 năm 2013 tại châu Âu là 12%. Theo thống kê, lượng người thất nghiệp tại châu lục này lên tới khoảng 19,2 triệu người, tăng 895 nghìn người so với tháng 8 năm 2012. So với tháng trước, tình hình thất nghiệp châu Âu không thay đổi. Tháng 7 năm 2013 là tháng tiêu biểu cho việc lần đầu tiên tỷ lệ thất nghiệp sụt giảm sau một thời gian dài.Xét riêng các nước thành viên, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất được ghi nhận tại Áo (4,9%), Đức (5,2%) trong khi cao nhất tại Hy Lạp (27,9% vào tháng 62013) và Tây Ban Nha (26,2%). Biểu đồ4 : Thất nghiệp của khu vực Châu ÂuLượng thất nghiệp trong độ tuổi thanh niên (dưới 25 tuổi) tại châu Âu khoảng 3,5 triệu người, giảm 52 nghìn người so với cùng kỳ năm 2012. Mặc dù tình trạng việc làm đối với giới trẻ châu Âu đã được cải thiện về lượng nhưng xét về tỷ lệ thanh niên thất nghiệp vẫn tăng từ 23,4% trong tháng 8 năm ngoái lên con số 23,7% mới công bố. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp cao nhất theo số liệu công bố rơi vào Hy Lạp (61,5% trong tháng 6 năm 2013), Tây Ban Nha (56%) và Croatia (số liệu quý 2 năm 2013 là 52%).Những thống kê từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) công bố vào 3092014, tỷ lệ thất nghiệp tại các nước châu Âu vẫn chưa được cải thiện so với thời điểm cùng kỳ năm trước: Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục duy trì ở mức 14% trong tháng 8, tỷ lệ thất nghiệp trung bình của Italy trong tháng 8 đã giảm xuống 12,3%, tỷ lệ thất nghiệp tại Đức giảm xuống mức 6,5%.3.Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc.Trong 10 tháng đầu 2008, Trung Quốc có thêm 10,2 triệu người mất việc, chủ yếu ở những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một cuộc khảo sát của Đại học Tây Nam Bộ Tài chính trong năm 2011, tổng số người thất nghiệp thành thị Trung Quốc hơn 2770 người. Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong tỷ lệ thất nghiệp khu vực phía tây, phía đông, miền trung và miền tây là 6,9%, 8,3% và 14,1%. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị của Trung Quốc vào tháng Bảy năm 2012 là 8,05%, cao hơn 0,5 điểm phần trăm cao hơn so với tháng 7 năm 2011.Tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc đã trở thành tâm điểm của sự chú ý bên ngoài năm 2013 khi chính phủ cấp cao Trung Quốc cho biết tỷ lệ thất nghiệp khảo sát Trung Quốc là 5%, tỷ lệ thất nghiệp đăng ký thành thị của Trung Quốc là 4,1%. Tuy nhiên theo điều tra của Trường Đại học Tài chính Trung Quốc cho 8000 hộ gia đình, vào tháng Sáu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp thành thị đạt 8,05 phần trăm, gần như gấp 2 lần tỷ lệ thất nghiệp đăng ký chính thức 4,1% , Trung Quốc tỷ lệ thất nghiệp 160 triệu lao động nhập cư đã tăng lên 6 phần trăm, trong tháng Tám năm 2011 là 3,4%, đây không phải là cuộc chiến đầu tiên về dữ liệu số liệu chính thức, trong năm 2009, Bộ đã công bố trong năm 2008 tỷ lệ thất nghiệp là 4,2%, trong khi số liệu điều tra CASS 9,4%, một sự khác biệt của hơn gấp đôi.4.Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á Biểu đồ 5 Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á năm 2010.CHƯƠNG 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAMI.Khái quát tình hình kinh tế.Sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính, nợ công toàn cầu đã góp phần làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam như làm cho lạm phát và mặt bằng lãi suất ở mức cao, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư giảm, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút, đồng tiền VNĐ giảm giá. Tất nhiên những vấn đề nêu trên không phải tất cả do khủng hoảng kinh tế, tài chính, nợ công gây nên mà còn do nhiều nguyên nhân khác từ bản thân nền kinh tế với những khoản nợ xấu trong các doanh nghiệp nhà nước.1.Chưa thể phục hồi.Năm năm sau cơn lũ, nước ở Việt Nam dường như rút chậm hơn. Bởi đến nay tăng trưởng kinh tế vẫn chưa thể phục hồi, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bất ổn khi lạm phát và lãi suất cho vay cao, nợ xấu trở nên nhức nhối, thu nhập tăng chậmvà đời sống người dân khó khăn… Biểu đồ 5: Tăng trưởng GDP và lạm phát những năm gần đây (đơn vị: %)nguồn: Tổng cục Thống kê“Con hổ của châu Á” là cụm từ quen thuộc mà giới đầu tư quốc tế dành để nói về Việt Nam những năm 2006 2007, gắn với nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng cùng triển vọng từ cánh cửa WTO vừa mở. Nhưng, ảnh hưởng khủng hoảng ập tới, sự đứt gãy đến ngay trong năm 2008. Đến năm 2010, hướng phục hồi gợi mở, nhiều nhận định đều chung lạc quan: những gì khó khăn nhất đã qua, hay nền kinh tế đã chạm đáy. Năm 2011 và 2012, triển vọng phục hồi càng xấu đi. Đến nay, với những gì đã trải qua trong 2013, “tinh thần” tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu 5,5% dường như đã sẵn sàng.Trong báo cáo “Tình hình kinh tế 6 tháng và tháng 6 năm 2014” được công bố ngày 27, NFSC đánh giá tăng trưởng và sản xuất tiếp tục cải thiện. Tăng trưởng GDP 6 tháng2014 đạt 5,2%, cao hơn so với mức 4,9% của cùng kỳ 2 năm trước. Biểu đồ 6: tăng trưởng hàng quý 2010 2014 , % tăng cùng kì GDP giá 20102.Lạm phát bùng nổ.Đánh dấu năm đầu tiên chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, lạm phát tại Việt Nam bùng nổ trong năm 2008. Tình hình có vẻ nhanh chóng được kiểm soát trong năm 2009, nhưng ngay sau đó là cú hồi mã thương nhức nhối năm 2010 và 2011. Năm 2012 và cả 2013, lạm phát đã hạ nhiệt nhanh. Biểu đồ 7: Lạm phát và lạm cơ bản 62013 62014,% tăng GPI so cùng kỳ3. Sản xuất công nghiệp giảm mạnh. Biểu đồ 9: Sản xuất công nghiệp lao đao, tồn kho lớnNguồn: Tổng cục Thống kê. Đơn vị: %Theo báo cáo do Tổng cục Thống kê vừa công bố, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Việt Nam trong tháng 52014 đứng ở mức 130,2 điểm, tăng 2% so với tháng 4 và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Biểu đồ 10: Chỉ số sản xuất công nghiệp 2014Ngoài ra, theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 tháng đầu năm 2014, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam tính chung cả cấp mới và tăng vốn là 6,85 tỷ USD, bằng 64,7% so với cùng kỳ 2013.Theo Báo cáo, vốn thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2014, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã giải ngân được 5,75 tỷ USD, tăng 0.9 % so với cùng kỳ năm 2013.4.Lãi suất cho vay leo thang. Biểu đồ 11: Tín dụng và lãi vay bình quânNguồn dữ liệu: Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt NamCuộc khủng hoảng nổ ra, Việt Nam nhanh chóng có ứng xử mà điển hình là gói kích cầu 1 tỷ USD qua bù lãi suất. Gói hỗ trợ này là tác động chính đối với lãi suất cho vay khá mềm trong năm 2009. Tuy nhiên, những năm sau đó lãi suất cho vay liên tục leo thang, đặc biệt là sự ngột ngạt năm 2011. Nửa cuối 2012 và đến 2013 lãi suất cho vay mới bắt đầu hạ nhiệt khi lạm phát được kiềm chế.5. Doanh nghiệp thua lỗ ngày càng tăng. Biểu đồ 12: Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ (đơn vị: %), nguồn: xử lý dữ liệu từ khảo sát doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kêLà những đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng, nhưng dường như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ban đầu khá mờ nhạt,xét ở mức độ kinh doanh thua lỗ. Dữ liệu khảo sát hàng năm của Tổng cục Thống kê cho thấy, tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp chỉ thực sự tăng vọt từ năm 2011, đặc biệt là ở khối ngoài quốc doanh. Còn dữ liệu cập nhật gần nhất ở nguồn khác, theo báo cáo của Tổng cục Thuế, trong quý 12012 có đến 70% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ.II.Cung cầu lao động và thực trạng thất nghiệp của Việt Nam.1.Cung cầu lao động.Tại Việt Nam hiện nay, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh. Số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam đã và đang ở trong thời kỳ dân số vàng. Cơ cấu dân số vàng của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục diễn ra trong giai đoạn 20102030. Đây thực sự là cơ hội lớn để phát triển kinh tế đất nước nếu Việt Nam đầu tư thỏa đáng vào nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn và giải quyết tốt việc làm cho lực lượng lao động trẻ ngày càng đông.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01012014 là 53,65 triệu người, tăng 864,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến 01012014 là 47,49 triệu người, tăng 409,2 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2013, trong đó nam chiếm 53,9%; nữ chiếm 46,1%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2013 ước tính 52,40 triệu người, tăng 1,36% so với năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,9% tổng số, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,1%, giảm 0,1 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm.Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 ước tính 34,2%, trong đó khu vực thành thị là 47,4%; khu vực nông thôn 28,6% (Năm 2012 các tỷ lệ tương ứng là: 33,7%; 46,8% và 28%).Suy thoái kinh tế năm 20082009 dẫn đến sự thay đổi sâu sắc giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, cầu lao động ở nhiều ngành giảm. Lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với tình trạng của nền kinh tế là tài chính và bất động sản. Sự ảm đạm của thị trường chứng khoán và sự đóng băng của thị trường bất động sản trong hơn một năm qua đã làm nhu cầu về lao động giảm mạnh. Thông số nhân lực trực tuyến Quí II2008 cho thấy sự trồi sụt của thị trường chứng khoán khiến chỉ số cầu nhân lực của ngành này giảm 63% so với Quí I. Trong suốt nửa cuối năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 nhân lực của ngành này tiếp tục sụt giảm cùng với sự suy giảm liên tục của thị trường. Cùng tình trạng này là lao động trong ngành công nghệ thông tin. Xu hướng thuê phần mềm và các dịch vụ hỗ trợ làm cho các công ty về công nghệ thông tin giảm nhu cầu về các chuyên gia công nghệ. Theo ông Phạm Ngọc Tuấn, Tổng giám đốc Sài Gòn Postel Corporation, cho biết, số nhân lực công nghệ thông tin tại các công ty vào năm 2010 sẽ giảm 30% so với năm 2015 và sẽ có khoảng 1015% lao động lĩnh vực này thất nghiệp. Suy thoái kinh tế còn tác động mạnh đến ngành xây dựng, du lịch.Sự sụt giảm mạnh của 2 ngành này trong năm 2008 còn được tiếp diễn trong năm 2009. Các chuyên gia cho biết nhu cầu lao động trong ngành xây dựng và dịch vụ sẽ suy giảm.Một số ngành khác tăng “đột biến” trong năm 2010 như Marketing, dịch vụ, phục vụ, vệ sinh công nghiệp… Đặc biệt, nhu cầu tăng mạnh đối với các lĩnh vực giúp việc gia đình, chăm sóc người già, vệ sinh công nghiệp, phục vụ, bán hàng… Đây cũng là những ngành nghề hiện nguồn cung còn rất ít ỏi, nhiều khả năng chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu.Biểu đồ 13: các ngành nghế có chỉ số nhu cầu nhân lực cao nhất năm 2010 Biểu đồ 14: Các nghành nghề có chỉ số cung nhân lực cao năm 2010 Khi suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn còn tiếp diễn làm ảnh hưởng tới kinh tế trong nước, gia tăng tình trạng thất nghiệp. Hàng chục ngàn đơn vị, doanh nghiệp giải thể, ngưng hoạt động hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh. Vì vậy thị trường lao động có nhiều biến động, sự chênh lệch về cungcầu lao động thể hiện rõ, bên cạnh đó tình trạng lao động “nhảy việc” không ngừng gia tăng đặc biệt là lao động phổ thông làm ở các ngành nghề như dệt, may, xây dựng, bán hàng…. Biểu đồ 15: tỷ lệ các nghành nghề có nhu cầu tuyển dụng năm 20122.Tỉ lệ thất nghiệp .Theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, những tháng cuối năm 2008, cả nước có gần 30.000 lao động tại các doanh nghiệp bị mất việc làm. Tính đến hết năm 2008, đã có 11 Liên đoàn Lao động tỉnh, thành báo cáo số lượng người mất việc là: Hà Nội 4.600 người, Bà Rịa – Vũng Tàu 1.624 người, Đà Nẵng 933 người, Vĩnh Phúc 500 người, Hải Phòng 900 người, Quảng Nam 8.000 người, Bình Dương 915 người, Đồng Nai 7.000 người, TP.HCM 8.000 người và Công đoàn Giao thông Vận tải 4.300 người. Các ngành bị cắt giảm nhiều lao động là dệt may, da giày, điện tử.Năm 2010, cả nước hiện có hơn 46 triệu người trong độ tuổi lao động. Thị trường lao động năm 2010 diễn ra nhiều biến động về chênh lệch cung – cầu. Đầu năm 2010, sự mất cân bằng giữa nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu trình độ chuyên môn và ngành nghề, với nhu cầu lao động phổ thông chiếm 71,16% so với tổng nhu cầu là nét chủ đạo.Ngày 3112, Tổng cục Thống kê cho biết tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%.So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02%. Năm 2009, các tỷ lệ tương ứng là 2,9%; 4,6%; 2,25%.Năm 2011: Theo Tổng cục Thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2011 ước tính 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 là 2,27%, từ mức 2,88% năm 2010, thấp nhất trong 4 năm gần đây.Trong năm 2012: Cả nước có tới gần 50.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng sản xuất kinh doanh, làm cho gần 41.000 lao động ở 60 tỉnh, thành mất việc làm. Theo số liệu Tổng cục thống kê vừa công bố năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 1,99%, giảm so với mức 2,27% năm 2011. Nên mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm năm 2012 giảm nhẹ so với các tỷ lệ tương ứng của năm 2011 nhưng tỷ lệ lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm 2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012.Năm 2013: Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính là 2,28%, tăng đáng kể so với mức 1,99% của năm 2012. Trong đó tỷ lệ thất nghiệp tăng ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính 2,77%, tăng 0,03% so với 2012. Biều đồ 16: Tỷ lệ thất nghiệp năm 2013 so sánh với 2012.Báo cáo cũng cho biết, năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 1524 ước tính 6,36%. Cả hai khu vực đều có tỷ lệ tăng so với năm ngoái, trong đó thành thị tăng thêm gần 2%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2013 ước tính 1,21%, cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng nhẹ so với cuối 2012.Phó Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội – Bộ LĐTBXH cho biết, trong năm 2013, dù tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cải thiện so với năm 2012 nhưng chưa có tác động mạnh đến khả năng tạo việc làm của nền kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm chưa được cải thiện. Tính riêng quý IV2013, cả nước có 900.000 người thất nghiệp (tăng 48.000 người so với cùng kỳ 2012) và hơn 1,2 triệu lao động trong độ tuổi thiếu việc làm. Trong đó, ngoại trừ tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ giảm, còn lại tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đều tăng cao.Cụ thể, ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng nghề, tỷ lệ thất nghiệp là 7,68%, tăng 1,3 lần so với IV2012 (tương đương 8.300 người); tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng là 6,74%, tăng 1,3 lần (khoảng 19.200 người); tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động có trình độ đại học trở lên là 4,25%, tăng 1,7 lần, nghĩa là có thêm 72.000 lao động thuộc nhóm này bị thất nghiệp so với số thất nghiệp ở quý IV2012. Đặc biệt, nhóm thanh niên từ 2024 tuổi tốt nghiệp cao đẳng và đại học trở lên (sinh viên mới ra trường) có tỷ lệ thất nghiệp rất cao, lên tới 20,75%. Điểm đáng chú ý là trong nhóm thất nghiệp, số lao động bị thất nghiệp dài hạn từ một năm trở lên chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 44,2%, tăng 2,4 lần so với cùng kỳ năm 2012. Tỷ lệ này ở nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn nhiều so với không có chuyên môn kỹ thuật: 54,4% so với 39,6%. Năm 2014: Mới đây, Bộ LĐTBXH đã công bố tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong quý II2014 là 1,84%, giảm mạnh so với quý I và thuộc nhóm các nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới. Cụ thể: Tổng số người thất nghiệp giảm gần 174.000 người so với quý 12014 và giảm 155.000 người so với quý 22013”.Lao động không có chuyên môn kỹ thuật thất nghiệp giảm nhiều nhất về số lượng (giảm 108.000 người), tiếp đến là nhóm trình độ cao đẳng (giảm 171.000 người).Về số lao động trình độ đại học trở lên thất nghiệp giảm 15.400 người so với quý 12014 (162.000 người).Đến thời điểm 172014, cả nước có hơn 871.000 người trong độ tuổi lao động thất nghiệp (số liệu làm tròn), trong đó: 479.000 người ở thành thị, 521.000 người không có chuyên môn kỹ thuật, 147.000 người có trình độ đại học trở lên. Biểu đồ 17: Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2008 62013Nhìn vào số liệu thống kê, có vẻ như tình hình lao động việc làm tại Việt Nam đã “miễn dịch” với tnhất sau khủng hoảng, 2011 và 2012, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị còn cải thiện rõ nét. Điều này dường như mẫu thuẫn với tình trạng phá sản của doanh nghiệp hay sa thải lao động nổi cộm những năm gần đây, cụ thể: Năm 2011 là một năm khó khăn của nền kinh tế thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện nguồn vốn tín dụng hạn hẹp, lãi suất đã bắt đầu giảm xuống nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, giảm hiệu quả, thậm chí bị thua lỗ. Tính hết năm 2011, tổng doanh nghiệp đã giải thể là 79.014 doanh nghiệp. Cụ thể, doanh nghiệp tư nhân đã giải thể 2.082 doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên là 16.748 doanh nghiệp, công ty TNHH 2 thành viên trở lên là 18.826 doanh nghiệp. Nhiều nhất là số công ty cổ phần với 41.357 doanh nghiệp, ít nhất là công ty hợp danh với chỉ một doanh nghiệp.Khoảng 55.000 doanh nghiệp giải thể năm 2012. Đáng “giật mình” là số lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng từ 7,9 triệu người năm 2011 lên 8,3 triệu người năm 2012 (tăng 4,2% sau 1 năm). Số người được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trong 3 năm 2010 2012 tăng từ 145.000 lên 410.000, rồi tới 461.000 cuối năm qua.Cơ quan giám sát đánh giá, tuy số người hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp chỉ tăng khoảng 50.0tăng tới 133% (từ 1.126 tỷ đồng lên mức 2.625 tỷ đồng trong cả năm 2012). Theo Tổng cục Thống kê, ước tính năm 2013 số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm nay là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước.Xét riêng trong quý 1 năm 2013 có tới 15.283 doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 6,8 %; vốn đăng ký giảm hơn 16%. So với quý trước, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 9,4%; vốn đăng ký giảm 26,7 %. Về cơ cấu theo ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, một số lĩnh vực truyền thống có số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (giảm 20,5%). Kinh doanh bất động sản giảm gần 19%. Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm tới 34,7%. Thông tin và truyền thông giảm 29,5%; Xây dựng giảm 18,1%...Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, đa số lĩnh vực king kỳ năm 2012.Cụ thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 5.970 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 11,5%). Lĩnh vực xây dựng có 2.296 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 17,6%). Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.966 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 5,2%). Lĩnh vực dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 942 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 22,3 %).So với quý 12012, trong 3 tháng đầu năm 2013 nhiều lĩnh vực có số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng đột biến như tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 134,4%; giáo dục và đào tạo tăng hơn 51%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng gần 548 %; kinh doanh bất động sản tăng 47,6%...Thứ trưởng Bộ Tài chính, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng, số doanh nghiệp phá sản (đã hoàn thành thủ tục phá sản), ngừng hoạt động (đăng ký tạm thời đóng mã số thuế với cơ quan thuế) theo các báo cáo thống kê chính thức chỉ là “phần nổi” phản ánh thực trạng khó khăn của doanh nghiệp. Còn trên thực tế, số lượng doanh nghiệp thchịu thuế (hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ) còn lớn hơn rất nhiều.Từ đầu năm nay, số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn đã tăng 12,9% so cùng kỳ, lên 44.500 doanh nghiệp.Một số ngành thể hiện sự tái cơ cấu mạnh qua số liệu doanh nghiệp giải thể, rút khỏi thị trường. Có thể kể đến ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí có số doanh nghiệp giải thể, tăng 46,5% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 26,2% về số doanh nghiệp dừng hoạt động. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 23,9% và tăng 6,3%; kinh doanh bất động sản tăng 21,5% và tăng 11,2%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 18,8% và tăng 30,9%; thông tin và truyền thông tăng 7,9% và tăng 30,9%. Đáng lưu ý, theo phân tích của PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐTBXH), trong quý I2014, lao động một số ngành nghề có biến động lớn so với quý IV2013. Trong đó, giảm nhiều nhất là ngành xây dựng với 488 nghìn người; ngành “công nghiệp chế biến chế tạo” giảm 257 nghìn người; ngành “bán buôn và bán lẻ” giảm 218 nghìn người. Điều này phản ánh đúng thực trạng hoạt động khó khăn của những ngành nghề nói trên trong 3 tháng đầu năm nay. Xét cụ thể hơn, nghề “nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bán hàng có kỹ thuật” là nghề giảm nhiều lao động nhất 430 nghìn người; nghề “thợ thủ công có kỹ thuật và các thợ kỹ thuật khác có liên quan” giảm 387 nghìn người, cao hơn nhiều so với mức giảm 28 nghìn người trong quý IV2013.Một số ngành vẫn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh như bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy; dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác; xây dựng... Một số nguyên nhân chính của việc các công ty phá sản là khó tiếp cân với đồng vốn trong thời điểm kình tế khó khăn, cầu trong và ngoài nước giảm, khó mua nguyên liệu đầu vào, bất ổn knh tế vĩ mô...Với số lượng công ty phá sản nhiều như vậy đã ảnh hưởng lớn làm giảm cầu lao động tại các ngành trong nền kinh tế.Câu hỏi đặt ra ở đây là gì: Vì sao tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam lại thấp như vậy? – sự thật đằng sau những con số ?Trước đó, những bchính xác của con số này trên Quốc hội. Cụ thể, tại phiên thảo luận Hội trường ngày 3052013, đại biểu Nguyễn Văn Hiến cho rằng các con số như doanh nghiệp giảm quy mô thì tỷ lệ thất nghiệp đáng ra phải tăng nhưng báo cáo cho thấy, tỷ lệ này lại giảm dần trong 3 năm qua, từ 2,8% năm 2010 xuống 1,99% năm 2012.Lý giải cho vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho rằng phần lớn doanh nghiệp mới thành lập sử dụng lao động từ khu vực nông thôn chuyển sang, khi công ty giải thể, phá sản, số lao động này lại quay về làm nông nghiệp và họ vẫn đươc coi là người “có việc làm”. Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết thêm, việc điều tra lao động thường diễn ra trong vòng 7 ngày, nếu trong khoảng thời gian đó người trong độ tuổi không ia với những hạn chế về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các phúc lợi xã hội khác, đơn giản là nhiều người không thể tồn tại nổi nếu bị “thất nghiệp công việc chất lượng kém, trả lương thấp trong nền kinh tế phi chính thức hoặc chấp nhận những thỏa thuận làm việc một cách không chính thức. Và họ đều là những đối tượng thuộc diện “có việc làm” trong các cuộc điều tra của về thất nghiệp của Tổng cục Thống kê. Ví dụ: Một người đang làm việc bình thường nếu đột nhiên không có việc làm. Họ có thể chấp nhận làm công việc phổ thông ở chợ lao động để có tiền nuôi gia đình, dù đó là công việc có thu nhập thấp”.Chính vì vậy, tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam năm nào cũng thấp.Ngược lại, ở những nước phát triển với hệ thống bảo trợ xã hội tiên tiến và mức sống caotìm những công việc mà họ mong muốn. Bởi vậy, việc so sánh tỷ lệ thất nghiệp giữa các quốc gia có đặc điểm xã hội, kinh tế và thế chế rất khác nhau là khập khiễng và có thể dẫn đến những thông điệp sai lầm.Mặc dù các chuyên gia cho rằng việc thống kê tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo rằng, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay không thể hiện được mức độ không sử dụng được đầy đủ tiềm năng của lực lượng lao động. “Tỷ lệ thất nghiệp chỉ có thể cho thấy số lượng những người không có việc làm nhưng sẵn sàng làm việc và đang tìm việc. Tỷ lệ thất nghiệp không tính đến những người muốn làm việc nhưng đã từ bỏ công cuộc tìm việc do chỉ số thể hiện được chất lượng việc làm. Chẳng hạn, những chỉ số như tỷ lệ lao động nghèo, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương, tỷ lệ nền kinh tế phi chính thức, tỷ lệ ngành nông nghiệp trong số việc làm, năng suất lao động và lương bình quân.Chính vì vậy, tiêu chuẩn quốc tế về thống kê tỉ lệ thất nghiệp đã thay đổi trong Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ 19 vào tháng 102013. Theo định nghĩa mới, những người có việc làm là những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc kiếm lợi nhuận. Như vậy một số lượngng trong ngành nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp hay dùng để trao đổi hàng hóa sẽ không còn được xem là có việc làm.“Điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể về tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam, nơi phần lớn người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp tự cung tự cấp với rất ít hoặc không có sự kết nối với nền kinh tế thị trường”.ILO khuyến khích các quốc gia, nếu có thể thực hiện, thì nên bắt đầu sử dụng các chỉ số về việc làm mới này. những phương pháp thống kê hiện tại, nhằm giúp công chúng có thời gian để hiểu về những thay đổi trong công tác thống kê lực lượng lao động.Vậy, thông qua các cuộc điều tra về tỉ lệ thất nghiệp cho thấy rằng tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam đang giảm dần q kinh tế. Tuy nhiên khi phân tích và làm rõ bản chất thì ta mới hiểu rõ được không phải là như vậy. Tỉ lệ thất nghiệp thực tế của Việt Nam hiện nay còn rất cao và phụ thuộc lớn vào nền kinh tế trong và ngoài nước. Nguồn nhân lực của chúng ta dồi dào, trẻ và năng động, nhưng chất lượng lại đang có vấn đề. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề còn thấp. Hiện nay, chúng ta dường như mới thống kê được số lượng người lao động đã qua đào tạo nghề, nhưng chất lượnh giá cụ thể. Trong điều kiện nền kinh tế vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng XHCN thì tạm thời phải chấp nhận thực trạng lao động vẫn chủ yếu là phổ thông. Nhưng, xu hướng là phải cải tiến quy trình côncông cuộc hội nhập, thúc đẩy KT XH phát triển. Giống như các quốc gia khác trên thế giới, VN cũng đang phải đương đầu với vấn đề thiếu việc làm. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất và cắt giảm nhân công khiến cho số người thất nghiệp không ngừng gia tăng. Chính vì vậy, việc làm và thất nghiệp đã và đang là vần đề xã hội cấp thiết đối với nước ta. III.Một số nghành điển hình.1. Ngành xây dựng.Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, xây dựng là một trong những ngành bị ảnh hưởng sớm nhất và sẽ phục hồi chng có số người thất nghiệp lớn trong tổng số người thất nghiệp. Tại Anh, sản lượng ngành xây dựng quý 22012 giảm 8% so với cùng kỳ năm 2011, tương tự, tại Mỹ giảm 12,7%, trong đó khối doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng khá nặng nề, khối doanh nghiệp nhà nước có được sự phục hồi nhanh chóng hơn nhờ được hỗ trợ từ các gói kích thích kinh tế từ các chính phủ.Tại Việt Nam, sau sự ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua đã ảnh hưởng rất lớn tới ngành xây dựng. Tác động tiêu cực đó khiến cho cầu lao động về ngành này cũng giảm hơn trước. Tính đến 31122012, tổng số doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh BĐS có lãi là 37.197 doanh nghiệp; số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ là 17.000 doanh nghiệp; Tổng số các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh BĐS dừng hoạt động hoặc giải thể là 2.637 doanh nghiệp, trong đó có 2.110 doanh nghiệp xây dựng, 511, tỷ lệ doanh nghiệp xây dựng dừng hoạt động, giải thể tăng 6,2%, doanh nghiệp kinh doanh BĐS giải thể tăng 24,1%.Với các số liệu thống kê ở trên không chỉ riêng ngành bất động sản mà còn nhiều ngành khác trong ngành xây dựng gặp nhiều khó khăn tương tự. Khiến cho tỷ lệ thất nghiệp cũng đang gia tăng. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với công nhân muốn tìm kiếm việc làm trong ngành xây dựng hiện nay.2.Nghành tài chính ngân hàng.Từ năm 20052011, số lượng nhân viên ngân hàng đã tăng gần như gấp đôi từ 125.000 người lên hơn 200.000 người. Tuy nhiên, xu hướng này sẽ không thể tiếp diễn trong gần đây.Theo một khảo sát của một hãng kiểm toán cho thấy,.. số ngân hàng không tăng số lượng nhân viên trong năm 2013. Đáng chú ý hơn, trong số 54% ngân hàng dự kiến tăng số lượng nhân viên, có đến 90% cho biết “mức độ tăng sẽ không nhiều”. Trong nhiều trường hợp, cái “tăng không nhiều” trên lại là do việc mở thêm chi nhánh đã được cấp phép từ năm 2012. Biểu đồ 19: Biến động nhân sự 6 tháng đầu năm 2013Thống kê tnhư Vietinbank, BIDV, ACB và Eximbank đã cắt giảm nhân sự. Năm 2012, ACB và Vietinbank là 2 ngân hàng dẫn đầu hệ thống về tuyển nhân sự mới với lần lượt 1.663 người và 1.218 người. Tuy nhiên, sau khi tuyển dụng ồ ạt, ACB là ngân hàng cắt giảm mạnh tay nhất khi có tới 7% tổng số nhân viên tương đương 568 người. Nhân viên Vietinbank cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự khi trong quý I và II đã có 189 người bị cắt giảm dù mức lãi ròng trong quý II2013 của ngân hàng này đã tăng gấp 3,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Eximbank giảm 29 việc làm trong quý I và con số này tăng nhẹ lên 36 trong quý II. 4 tháng đầu năm 2013 BIDV đã giảm 285 nhân viên. Một trong những nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho tình hình trên là do kinh tế “ảm đạm”, ngân hàng nhà nước hạn chế cho phép các ngân hàng mở rộng mạng lưới. Ngoài ra, báo cáo của hãng kiểm toán KPMG còn chỉ ra một nguyên nhân nữa làng sẽ hạn chế.Theo thống kê, từ đầu năm 2013 đến nay, tài chính ngân hàng là một trong 5 ngành nghề có mức cắt giảm nhân lựccao nhất, khoảng 36%...Đáng lo ngại hơn nữa là ngành ngân hàng đang là đích nhắm của rất nhiều thí sinh khi đăng ký thi đại học, việc đtế nào cũng có khoa ngân hàng. Lượng tuyển sinh mỗi năm cũng lên đến hàng vài nghìn người. Điều này dẫn đến khủng hoảng thừa, mất cân bằng nhân lực. Có lẽ trong vài năm tới, sinh viên ngân hàng sẽ còn thất nghiệp dài dài khi ra trường nếu không muốn làm trái nghề, trái ngành.Nghiên cứu của Viện Nhân lực Ngân hàng Tài chính chỉ rõ số sinh viên (SV) ngành tài chính ngân hàng không xin được việc trong 4 năm tới là khoảng 13.000 người. Trong năm 2014, dự báo khoảng 40% SV tốt nghiệp ngành này sẽ phải làm trái ngành hoặc thất nghiệp.3.Nghành môi giới chứng khoán.Năm 2011 và 2hải để công ty cắt giảm chi phí, cũng vì kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ, doanh thu ít khiến cho thu nhập của nhân viên bị cắt giảm, hoặc do bản thân nhân viên chứng khoán tự cảm thấy “chán” với thị trường và chuyển hướng nghề nghiệp.Thống kê cho thấy trừ các công ty lớn nằm trong top 10 môi giới tăng nhân sự, còn lại hầu hết các công ty nhỏ đều cắt giảm 3040% nhân sự, như trường hợp của Chứng khoán Sài Gòn Thương Tín năm 2012 cắt giảm 91 nhân viên (giảm từ 211 người xuống 120 người), chứng khoán Phú Hưng cắt giảm 108 nhân sự (giảm từ 354 người xuống 246 người), chứng khoán Kenaga giảm từ 25 người xuống còn 17 người, chứng khoán Âu Việt cuối năm 2010 có 85 nhân viên, năm 2011 còn 31 nhân viên và năm 2012 còn 22 nhân viên…Tuy nhiên sang đến năm 2013, tình hình nhân sự tại các CTCK dường như đang ấm dần trở lại cùng với đà tăng về thanh khoản cũng như điểm số của VNIndex. Hàng loạt công kỳ khủng hoảng) cũng như phát triển và mở rộng bộ phận môi giới.Trước tác động của khủng hoảng khiến hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm sút, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã phải tính đến bài toán tái cấu trúc hoạt động. Thực tế có ý kiến cho rằng tái cấu trúc doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc phải cắt giảm hàng loạt nhân sự, bởi việc cắt giảm nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể làm phá vỡ mọi hoạt động của doanh nghiệp do những xung đột về văn hóa.Tuy nhiên theo một khảo sát của Cộng đồng Nhân sự Việt Nam (Hrlink.vn) năm 2013 về hiện tượng dư thừa nhận sự với gần 450 doanh nghiệp, có đến 40% doanh nghiệp cho rằng đang thừa nhân sự do hiệu quả của năng lực quản trị nhân sự chưa tốt.Trong đó, chỉ có khoảng 26,06% dự định sẽ cắt giảm nhân sự, và có đến hơn 50% không cắt giảh nghiệp chưa quan tâm đến công tác quản trị nhân sự, việc tái cấu trúc lại hoạt động gắn với cơ cấu lại nguồn lực con người là việc mà các doanh nghiệp phải tính đến và làm thận trọng.Kết luậnThất nghiệp,vấn đề cả thế gới đang quan tâm không chỉ có ở Việt Nam chúng ta.Trên thực tế ta không thể xoá bỏ tận gốc của thất nghiệp được mà ta chỉ có thể giải quyết nạn thất nghiệp trong một phạm vi nào đấy mà thôi . Và với quan điểm đã được đưa ra, “Trong bối cảnh suy thoái kinh tế giai đoạn hiện nay, Việt Nam không tránh khỏi các tác động tiêu cực khiến cầu về lao động tại tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều giảm dẫn đến thất nghiệp gia tăng”, qua quá trình tìm hiểu đề tài nhóm 7 đưa ra những ý kiến riêng của mình nhằm chứng minh quan điểm ệt Nam cũng không ngoại lệ. Suy thoái kinh tế đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến cầu lao động xong sự sụt giảm này xảy ra không đồng đều ở tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh. Thứ hai, thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế tồn tại ở mọi quốc gia và chịu sự ảnh hưởng lớn từ nền kinh tế. Giảm cầu lao động trong thời kì kinh tế khó khăn là một nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam tăng trong thời gian gần đây.Thứ ba, việc so sánh tỷ lệ thất nghiệp giữa các quốc gia có đặc điểm xã hội, kinh tế và thể chế rất khác nhau là khập khiễng và có thể dẫn đến những thông điệp sai lầm.Thế kỉ 21 đang bước đi những bước đầu tiên. Quá trình hội nhập của Việt Nam trong thế kỉ 21 thế kỉ công nghệ thông tin cũng đang dần được mở rộng. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thực sự là điều kiện kiên quyết để Việt Nam có thế phát triển và quá trình hội nhập cũng không tránh khỏi những khó khăn, thử thách như chịu ảnh hưởng từ suy thoái nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng tới chính trị, văn hóa... nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ đi cơ hội, thời cơ của mình. Trái lại, chúng ta hòa nhập chứ không hòa tan, các doanh nghiệp của Việt Nam không tự chôn mình mà tìm ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. Nói một cách chung nhất chúng ta hãy tranh thủ thời cơ, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh quá trình chủ động hội nhập hơn nữa.Danh mục tài liệu tham khảo.
Xem thêm

28 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN KỊNH TẾ PHÁT TRIỂN TÌNH HÌNH THẤT NGHIỆP CỦA LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI Ở KHU VỰC THÀNH THỊ GIAI ĐOẠN 2005-2014 Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN MÔN KỊNH TẾ PHÁT TRIỂN TÌNH HÌNH THẤT NGHIỆP CỦA LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI Ở KHU VỰC THÀNH THỊ GIAI ĐOẠN 2005-2014 Ở VIỆT NAM

Kinh tế phát triểnNhóm 32Chủ đề: Tình hình thất nghiệp của lựclượng lao động trong độ tuổi ở khu vựcthành thị giai đoạn 2005-2014 ở ViệtNamI. Đặt vấn đềTrong điều kiện kinh tế thị trường, thất nghiệp là vấn đề mangtính toàn cầu, nó không loại trừ một quốc gia nào, cho dù quốcgia đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp pháttriển. Đối với Việt Nam, xuất phát từ một nước nghèo, có nềnkinh tế kém phát triển, dân số tăng nhanh trong nhiều thập kỷqua, thất nghiệp, đặc biệt là thất nghiệp ở khu vực thành thị đanglà một vấn đề gây sức ép rất lớn đối với các nhà hoạch định chínhsách cũng như sự lo lắng đối với từng người lao động. Xuất pháttừ điều đó, nhóm em đã chọn đề tài: “ Tình hình thất nghiệp củalực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị từ năm2005-2014” để nghiên cứu nhằm khái quát một số vấn đề về thấtnghiệp, phân tích đánh giá thực trạng thất nghiệp ở khu vực thànhthị Việt Nam và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệthất nghiệp ở khu vực này.II. Nội dung1 . Thực trạng thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở thành thị- Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độtuổi ở khu vực thành thị Việt Nam có xu hướng giảm, song tốcđộ giảm chậm.
Xem thêm

13 Đọc thêm

HỆ THỐNG HÓA CƠ SỞ LÝ LUẬN , THỰC TIỄN THẤT NGHIỆP , CÁC CHÍNH SÁCH BHTN TRÊN CƠ SỞ TỐNG HỢP THÔNG TIN

HỆ THỐNG HÓA CƠ SỞ LÝ LUẬN , THỰC TIỄN THẤT NGHIỆP , CÁC CHÍNH SÁCH BHTN TRÊN CƠ SỞ TỐNG HỢP THÔNG TIN

hocthuat.vn –Tài liệu online miễn phíĐề án môn họcLỜI MỞ ĐẦUBảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đốivới người lao động. Trong quá trình thực hiện, chế độ BHXH không ngừngđược bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhằm đảm bảoquyền lợi đối với người lao động .Trong các chế độ của hệ thống BHXH có chế độ bảo hiểm thất nghiệp.Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp đểhọ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từđó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơhội mới về việc làm.Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể.Tuy nhiên những mặt trái của nền kinh tế thị trườngđã bộc lộ khá rõ, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp. Nhà nước đã giải quyếtvấn đề này bằng nhiều biện pháp như chính sách dân số, kinh tế, …Mặc dù hiện nay nước ta chưa triển khai BHTN song những năm vừaqua Nhà nước, ngành lao động- thương binh xã hội đã có nhiều đề án và đề tàinghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này để chuẩn bị triển khai trongnhững năm sắp tới. Đây là vấn đề bức xúc và tất yếu, là trách nhiệm của cảNhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.Để triển khai BHTN, phải xây dựng được chính sách hay pháp lệnh vềBHTN, tạo hành trang pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện. Hy vọngrằng BHTN sẽ sớm được triển khai ở Việt Nam góp phần giải quyết căn bệnhcố hữu do cơ chế thị trường đẻ ra, đó là thất nghiệp.Mục tiêu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận , thực tiễn Thất nghiệp ,các chính sách BHTN trên cơ sở tống hợp thông tin.Kết cấu của đề tài : Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tàigồm 3 phần chính :I. Một số vấn đề về thất nghiệp.II. Bảo hiểm Thất nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Xem thêm

29 Đọc thêm

Thất nghiệp. Thực trạng và giải pháp

THẤT NGHIỆP. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

12 Đọc thêm

THẤT NGHIỆP VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

THẤT NGHIỆP VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

vừa và nhỏ,có thể đầu tư thêm vốn cho các doanh nghiệp có nhu cầu về vay vốnđể mở rộng sản xuất, mua trang thiết bị máy móc ..vvNhư chúng ta đã biết Việt nam là nước có tỷ lệ dân số tăng khá nhanh trongkhu vực cũng như trên thế giới,đứng thứ nhất trong khu vực và đứng thứ 5 trênthế giới về tỷ lệ sinh đẻ.Theo số liệu mới nhất thì dân số Việt Nam năm 2001 lêntới con số gần 80 triệu người dự báo trong vài năm tới dân số Việt Nam có thể9THUVIENNET.COM.VNhocthuat.vn –Tài liệu online miễn phílên tới con số 100 triệu người.Dân số ngày càng tăng trong khi đó diện tích đấtnông nghiệp ngày càng giảm đi , như vậy thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ ngày càng caohơn.Năm 2001 chúng ta có tới 6,28% dân số không có công ăn việc làm(hơn 20nghìn người)đây là một con số khá cao.Tuy nhà nước ta cũng đã có những biệnpháp đối với việc kế hoạch hoá gia đình như giảm tỷ lệ sinh đẻ,thực hiện kếhoạch hoá gia đình mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1 - 2 con,giảm tỷ lệ kết hôn ở tuổicòn quá trẻ,nhưng do chưa nhận thức được vấn đề cấp bách ở đây nên tỷ lệ sinhcòn khá cao.Hơn nữa do phong tục tập quán,chế độ phong kiến vẫn còn,nhấtthiết phải có con trai nối dõi, có nếp,có tẻ đã dẫn tới việc gia tăng dân số tớichóng mặt.Dân số tăng nhanh dẫn tới tình trạng như sự quan tâm,cũng như giáodục con cái cuă các gia đình giảm hẳn.Các điều kiện về ăn uống,sinh hoạt khôngđược tốt đặc biệt là các vùng ở nông thôn , miền núi vấn đề này cần có sự quantâm của chính phủ hơn nữa.Nó dẫn tới tình trạng trẻ em không được tới trường > làm tăng tỷ lệ mù chữ lên cao,dẫn tới thất nghiệp cao .Nhưng nhờ có sự can thiệp của chính phủ,các chính sách cũng như các biệnpháp giải quyết thất nghiệp,chính điều đó cũng đã phần nào giải quyết được tìnhtrạng thất nghiệp.Từ đầu năm 2000 đến nay có hơn 120 doanh nghiệp ký đượchợp đồng và đưa được trên 68000 lao động đi làm việc ở nước ngoài(năm 2000đưa hơn 31000,năm 2002gần37000)đã mang lại khoảng 1,2 tỷ USD làm tăng
Xem thêm

17 Đọc thêm

KINH TẾ VĨ MÔ - THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT

KINH TẾ VĨ MÔ - THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT

Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản[cần dẫn nguồn]. Ở xã hội cộng đồng xã hội nguyên thủy, việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc. Trong xã hội phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm. Ngay cả trong xã hội nô lệ, chủ nô cũng không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời gian dài. Các nền kinh tế theo học thuyết Mác-Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động).

Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp. Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp.

Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau. Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ). Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu). Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu, thuế, các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường). Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện. Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản. Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp.

Sau 4 năm tác nghiệp, sự tiếc nuối của mọi người đối với người thất nghiệp đại học cũng là minh chứng.

Việc áp dụng nguyên lý cung - cầu vào thị trường lao động giúp lý giải tỷ lệ thất nghiệp cũng như giá cả của lao động.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ở Châu Phi, Trung Đông và Châu Mỹ Latinh chỉ ra, ở các nước đang phát triển, tình trạng thất nghiệp cao trong phụ nữ và thanh niên còn là hậu quả của những quy định về trách nhiệm chủ lao động.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Vấn đề thất nghiệp và tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới và phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao . Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, trong những năm gần đây đất nước ta đã đạt được một số thành tựu trong nhiều lĩnh vực như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu… Bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta cũng vấp phải nhiều khó khăn như thất nghiệp, việc làm, lạm phát…
Trong khuôn khổ bài viết này chỉ đi vào phân tích vấn đề thất nghiệp và tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
Thất nghiệp là vấn để được cả thế giới quan tâm. Bởi nó có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân và nền kinh tế của đất nước. Thất nghiệp là vấn đề không thể tránh khỏi, bất kì một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển hay không phát triển thì đều tồn tại vấn đề thất nghiệp, nó chỉ khác nhau về mức độ thấp hoặc cao. Thất nghiệp diễn ra còn kéo theo nhiều hệ lụy như gia tăng các tệ nạn xã hội, xói mòn nếp sống lành mạnh của người dân, phá vỡ nhiều mối quan hệ, gia tăng tình trạng đói nghèo… làm ảnh hưởng xấu đến toàn xã hội.
Đề tài này nghiên cứu nhằm đưa ra nhận thức đúng đắn về tình trạng thất nghiệp hiện tại của nước ta hiện nay, đồng thời từ đó đưa ra các giải pháp, chính sách hợp lý để tạo công ăn việc làm cho người dân và những người thất nghiệp. Trong đề tài này Nhóm 5 xin trình bày những quan điểm của nhóm về thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 20122014
Đề tài gồm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận chung
Chương II: Thực trạng và nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương III: Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng thất nghiệp ở nước ta hiện nay









Chương I: Cơ sở lý luận chung
1.1 Lý luận về thất nghiệp
Để có cơ sở đầy đủ về thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp cần tìm hiểu thêm về cơ cấu lực lượng lao động qua sơ đồ sau:
















Những người trong độ tuổi lao động là những người có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định đã ghi trong hiến pháp (theo luật Việt Nam: công dân được tính trong độ tuổi lao động là từ 15tuổi trở lên và có khả năng lao động)
Lực lượng lao động: là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có vệc làm nhưng đang tìm việc làm.
Người có việc làm là những người đang làm việc tại các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội… được trả lương. Những người làm các công để thu lọi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính họ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng. Hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay thu nhập gia đình không được nhận tiền công hay hiện vật.
Người thất nghiệp: là những người hiện đang chưa có việc làm nhưng có nhu cầu và đang nỗ lực tìm kiếm việc làm.
Ngoài những người có việc làm và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động được coi là những người không thuộc lực lượng lao động bao gồm người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động như ốm đau, bệnh tật… và một số bộ phận không muốn tìm việc làm với nhiều lý do khác nhau.
1.2 Phân loại các hình thức thất nghiệp
1.2.1 Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp
Thất nghiệp theo giới tính( nam nữ)
Thất nghiệp theo lứa tuổi.( tuổi – nghề)
Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.( thành thị nông thôn,..)
Thất nghiệp chia theo ngành nghề.( ngành kinh tế, ngành hàng, nghề nghiệp)
Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc…
1.2.2 Phân loại theo lý do thất nghiệp
Trong khái niệm thất nghiệp, cần phải phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc.Trong nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề , cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người, vì vậy người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp trá hình.
Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó như di chuyển, sinh con… thất nghiệp loại này thường tạm thời.
Thất nghiệp không tự nguyện: là thất nghiệp ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động…
Thất nghiệp trá hình là dạng thất nghiệp của những ngời lao động không được sử dụng đúng hoặc được sử dụng dưới mức khả năng làm việc. Nó bao gồm cả những người là nghề nông trong thời điểm nông nhàn (đôi khi những người này được tách riêng thành những người thất nghiệp theo thời vụ)
Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn . Có những người ( bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc . Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc ( hay còn có thể có những nguyên nhân khác).
Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm . Nó luôn biến động theo thời gian. Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa.
Nếu ta coi thất nghiệp như một bể chứa những người không có việc làm thì đầu vào của dòng thất nghiệp là những người ra nhập quân đội này và đầu ra là người rời khỏi thất nghiệp.Trong cùng thời kì khi dòng vào lớn hơn dòng ra thì quy mô thất nghiệp và tăng lên và ngược lại, quy mô thất nghiệp giảm xuống. Khi dòng thất nghiệp cân bằng thì quy mô thất nghiệp sẽ không đổi, tỷ lệ thất nghiệp tương đối ổn định. Dòng thất nghiệp nói trên cũng đồng thời phản ánh sự vận động hoặc những biến động của các thị trường lao động. Quy mô thất nghiệp còn gắn với khoảng thời gian thất nghiệp trung bình. Trong một đợt thất nghiệp, mỗi người có khoảng thời gian thất nghiệp lien tục nhất định. Độ dài thời gian này có sự khác nhau giữa các cá nhân. Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân thời gian thất nghiệp của toàn bộ số người thất nghiệp trong cùng 1 thời kỳ.
1.2.3:Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp.
Trong khi tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp hiện nay thì nó được chia làm 4 loại:
Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống.Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác ; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…
Thất nghiệp có tính cơ cấu : Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung – cầu lao động ( giữa các ngành nghề , khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải. Chính vì vậy , thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài , nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.
Thất nghiệp do thiếu cầu : Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống . Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu . Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề.
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ với mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia ( Chính phủ hoặc công đoàn ) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.
Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động ( có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao động đang cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thi trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó là then chốt để nắm bắt tình hình chung của thị trường lao động.
Thất nghiệp tự nhiên và nhân tố ảnh hưởng
: Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng. Tại mức đó , tiền lương và giá cả là hợp lý bới các thị trường đều đạt cân bằng dài hạn. Số người thất nghiệp tự nhiên sẽ là tổng số thất nghiệp tự nguyện, những người chưa có những điều kiện mong muốn để tham gia vào thị trường lao động.
Tai mức W, số việc làm đạt mức cao nhất có thể có mà không phá vỡ sự cân bằng nên tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên còn được gọi là tỷ lệ thất nghiệp khi đạt được sự toàn dụng nhân công. Tổng số người làm việc được xác định tại điểm N khi có qui định mức lương tối thiểu cao hơn mức lương cân bằng. Ở mức N tiền lương được ổn định bởi sự cân bằng của thị trường lao động , không có những cú sốc đối với tổng cầu và tổng cung ngắn hạn, thi trường hàng hóa đạt cân bằng và giá cả ở trạng thái ổn định.Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được gọi là tỷ lệ thất nghiệp mà ở mức đó không có sự gia tăng lạm phát. ở các nước phát triển, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là 310%( Nhật gần 3%; Mỹ 6%...).tỷ lệ này có xu hướng gia tăng theo thời gian. Mức thất nghiệp thực tế có thể cao hơn hoặc bằng hoặc thấp hơn mức thất nghiệp tự nhiên.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp tự nhiên
Khoảng thời gian thất nghiệp
Tần số thất nghiệp
1.3 Tác động của thất nghiệp đối với nền kinh tế xã hội
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế –xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Ngược lại, thất nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy , cần phân tích rõ tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế –xã hội đối với thất nghiệp và ngược lại, ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế –xã hội; hạn chế những tác động đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.
1.3.1 Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến ( bờ vực) của lạm phát.
Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kích thích phát triển kinh tế – xã hội.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả và vân dụng cặp phạm trù này để phân tích vấn đề thất nghiệp của sinh viên ra trường hiện nay

NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ VÀ VÂN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NÀY ĐỂ PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN RA TRƯỜNG HIỆN NAY

Sinh viên ra trường hiện nay đang là vấn đề rất đáng báo động trong xã hội. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Nguyên nhân của việc thất nghiệp của sinh viên là do đâu? Hậu quả để lại là gì? Vấn đề đó đã gây thiệt hại gì cho những sinh viên đó và sự phát triển kinh tế của đất nước? Và chúng ta cần phải làm gì để khắc phục tình trạng trên? Vấn đề này luôn được đánh giá từ nhiều góc độ, vì vậy để đảm bảo được tính khách quan khi nhìn nhận và đánh giá vấn đề, em xin mạnh dạn chọn đề tài : “ Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả và vân dụng cặp phạm trù này để phân tích vấn đề thất nghiệp của sinh viên ra trường hiện nay”. Do trình độ hiểu biết của em còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu xót. Vì vậy, em kính mong thầy (cô) góp ý, bổ sung để bài làm của em tốt hơn trong những lần sau
Xem thêm

10 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THỰC TRẠNG SINH THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THỰC TRẠNG SINH THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG

LỜI NÓI ĐẦU:Từ ngày đất nước ta có sự đổi mới về kinh tế , chuyển từ kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch toán nên đất nước cũng có nhiều thay đổi. Sự thay đổi này đã mang lại cho đất nước nhiều thành tựu về kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính hai mặt của vấn đề thì cơ chế thị trường bên cạnh những mặt được thì cũng còn những mặt chưa được : Một trong những mặt chưa được đó là những mặt đó là tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng tăng, vấn đề xã hội mà gần như không có trong nền kinh tế bao cấp.Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượng laođộng trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo. Vì vậy đây là nguồn nhân lực rấtquan trọng cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả. Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vấn đề này nguyên nhân do đâu, phải chăng là: Trình độ của sinh viên không đáp ứng được yêu cầu ngày một cao của côngviệc, do chất lượng đào tạo thấp của các trường đại học,cao đẳng? Do lượng cung lớn hơn cầu về nguồn lao động? Do chính sách của nhà nước chưa hợp lý trontrong việc sử dụng lao động? Do sự chủ quan của sinh viên không muốn công tác tại những vùng xa, khókhăn? Vấn đề này được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau vì mỗi người có một quan điểm khác nhau. Điều này xảy ra là vì về mặt nhận thức chủ thể chưa nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, tổng thể mà chỉ nhìn ở một phía nhất định.Do vậy bài tiểu luận này em sẽ vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề và đưa ra một vài giải pháp. Phần nội dung của bài tiểu luận sẽ gồm các mục sau : Chương I. Cơ sở lý luận của đề tàiChương II: Phân tích thực trạng và nguyên nhân của vấn đề sinh viên thất nghiệp sau khi ra trường Chương III: Một số giải pháp giảm tỉ lệ thất nghiệp đối với sinh viên hiện nayTrong lần viết bài tiểu luận này của em chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết. Em kính mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của thầy để em có thể hoàn thiện tốt hơn trong bài viết sau. Em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

14 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU NHU CẦU ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

NGHIÊN CỨU NHU CẦU ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

1.1TÍNH CấP THIếT CủA Đề TÀI
Sinh viên Việt Nam được các tổ chức tuyển dụng đánh giá là những người chăm học, có kiến thức, vững vàng về chuyên môn của mình. Nhưng tại sao vẫn tồn tại một số lượng lớn sinh viên khi ra trường vẫn thất nghiệp hoặc có việc làm nhưng khả năng thích ứng với công việc thấp? Vậy điều họ thiếu là gì? Theo đánh giá từ các nhà tuyển dụng thì vấn đề mà đa số sinh viên Việt Nam gặp phải đó là thiếu kỹ năng mềm. Hiện nay, sinh viên mới chỉ chú trọng trong việc học tập, tìm hiểu các kiến thức chuyên ngành trên giảng đường mà bỏ qua việc trang bị cho mình các kỹ năng mềm cần thiết cho công việc tương lai. Điều này cũng xuất phát một phần từ lỗ hổng của hệ thống giáo dục chú trọng vào đào tạo kiến thức, không quan tâm nhiều tới việc tạo ra môi trường và cơ hội để sinh viên có thể hiểu rõ được tầm quan trọng của kỹ năng mềm. Với thực trạng như vậy, khi sự cạnh tranh của các ứng viên tuyển dụng ngày càng khốc liệt, yêu cầu của các nhà tuyển dụng ngày càng cao, cần những con người làm việc hiệu quả thì việc sinh viên phải tự trang bị cho mình các kỹ năng mềm trước khi ra trường được xem như là điều tất yếu, là một lợi thế so với các ứng viên khác, và do đó dần xuất hiện nhu cầu được học, trau dồi kỹ năng mềm đối với mỗi sinh viên. Đối với một trường đại học đào tạo các ngành về kinh tế như trường đại học Kinh tế Quốc dân thì sinh viên lại càng cần bổ sung kỹ năng mềm, không chỉ trên lớp mà còn thông qua các hoạt động ngoại khóa. Để có thể hiểu rõ hơn nhu cầu này của sinh viên, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần thiết phải đi vào nghiên cứu với đề tài :“NGHIÊN CỨU NHU CẦU ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN”.
Xem thêm

63 Đọc thêm

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam Đề tài: Thực trạng thất nghiệp tại việt nam
Xem thêm

11 Đọc thêm

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP, BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP, BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

Mục lụcChương I:Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam đối với sinh viên đại học và sau đại học I.Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam đối với sinh viên bậc đại học và sau đại học1. Bối cảnh thất nghiệp và việc làm đối với sinh viên bậc đại học và sau đại học ở Việt Nam, so sánh với thế giới 2. Mức độ đáp ứng của lực lượng lao động với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, so sánh với thế giới II.Nguyên nhân, tác hại 1.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam của sinh viên2.Tác hại thất nghiệp của sinh viên Chương II:Đào tạo đại học và sau đại học ở Việt NamI.Thực trạng giảng dạy trong các trường đại học và thực tế học tập của sinh viên hiện nay II.Những tác động tích cực của giáo dục đại học và sau đại học tới thị trường lao động Việt Nam 1. Giảm tình trạng thất nghiệp 2. Cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho xã hội Chương III: Chiến lược phát triển giáo dục đại học hiện nay I. Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục II. Đổi mới đội ngũ quản lý, giảng dạy Chương I: :Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam đối với sinh viên đại học và sau đại họcI.Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam đối với sinh viên bậc đại học và sau đại học1. Bối cảnh thất nghiệp và thiếu việc làm đối với sinh viên bậc đại học và sau đại học ở Việt Nam, so sánh với thếgiới Kết quả điều tra Theo khảo sát của Bộ LĐTBXH, cả nước hiện chỉ có 18,7% số lao động nông thôn đã được học nghề. Con số này sẽ còn giảm đi nếu công tác dạy nghề cho người lao động (NLĐ) không được chú trọng và bản thân NLĐ không nhận thức hết được ý nghĩa của việc học nghề.Việt Nam hiện có tỉ lệ dân số vàng cao, đồng nghĩa với việc số người trong độ tuổi LĐ dồi dào. Tuy nhiên, đa số là LĐ chưa qua đào tạo nghề (chiếm 70%). Lực lượng này gọi chung là LĐPT hay LĐ chân tay.Làm thế nào để tạo việc làm cho LĐPT và sử dụng LĐPT sao cho hiệu quả, giảm tỉ lệ thất nghiệp là việc cần chú ý.Nhưng tình trạng đáng báo động ở đây là nguồn lao động trẻ hiện đang theo học ở các trường cao đẳng, đại học và sau đại học những lao động tương lai đã và đang được đào tạo lại có số người thất nghiệp khá caoCứ 10 người tốt nghiệp đại học (ĐH) thì khoảng 1 người thất nghiệp. Số liệu này (do Tổng cục Thống kê công bố mới đây).So sánh các năm gần đây thì thấy rõ tỉ lệ SV tốt nghiệp ĐH ra trường không có việc làm tăng mạnh cả về tỉ lệ phần trăm và con số tuyệt đối. Theo đó, năm 2010, người có trình độ ĐH ở độ tuổi 2129 thất nghiệp chỉ chưa đầy 60.000 người (chiếm 6,84%), nhưng đến năm 2013, số người thất nghiệp có trình độ ĐH ở độ tuổi dưới 30 đã tăng lên thành 101.000 người (9,89%). Riêng quý 32013, tỉ lệ này còn tăng lên mức 11,75%.Thực tế, tình trạng SV ra trường thất nghiệp dài đã bộc lộ quá rõ ràng ngay trong những cảnh báo về ngành nghề khó xin việc của chính Bộ GDĐT trong hai năm tuyển sinh trở lại đây. Từ năm 2013, Bộ GDĐT đã thông báo tình hình đào tạo các ngành nghề và tạm dừng mở mới các ngành đào tạo đang thừa “đầu ra” (tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, kế toán...), hạn chế thành lập mới các trường đại học đào tạo các ngành này. Cũng từ năm 2013, bộ lại tiếp tục yêu cầu giảm chỉ tiêu ngành đào tạo sư phạm. Lãnh đạo Trường ĐH Xây dựng Hà Nội cũng thông báo SV xây dựng ra trường đã rất khó kiếm việc làm và tình trạng sẽ còn rất bi đát trong những năm tiếp theo. Ở bậc học trung cấp, ngành điều dưỡng, kế toán... cũng được thông báo dư thừa nhân lực so với nhu cầu.Trong khi đó, nhìn con số thống kê về số SV tốt nghiệp ĐH trong 10 năm qua, không thể không khỏi giật mình. Trong 10 năm, các trường ĐH mở ra quá nhiều, tốc độ tăng quá nhanh khiến cho quy mô SV tăng cao, kéo theo số lượng SV tốt nghiệp hằng năm tăng mạnh.Tỉ lệ sinh viên đã tốt nghiệp mà thất nghiệp lên tới 9,89% là điều dễ hiểu trong giai đoạn nền kinh tế đang gặp khó khăn như hiện nay. Nó thể hiện tình trạng: nguồn nhân lực đã được đào tạo bậc đại học dư thừa so với nhu cầu, tốc độ phát triển kinh tế chưa đáp ứng nhu cầu việc làm. 2. Mức độ đáp ứng của lực lượng lao động với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệpHiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao. Không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo dục đại học còn thấp; kết cấu hạ tầng còn rất thấp kém; tỷ lệ lao động mới qua đào tạo mới chỉ có từ 30 đến 40%; trình độ ngoại ngữ, khả năng sử dụng máy tính, công nghệ thông tin kém…Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%. Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1410. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 1112 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94... Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ thuật công nghệ, nông lâm ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó các ngành xã hội luật, kinh tế, ngoại ngữ... lại quá cao. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực. Những lĩnh vực hiện đang thiếu lao động như: Kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, cơ khí chế tạo...Về quy mô, tổng số sinh viên cả nước là 1,7 triệu em trong khi năm 1997 là hơn 700.000 và năm 1987 là 130.000 . Qui mô đào tạo nghề hàng năm luôn ở mức 1,5 triệu (1 triệu lao động thông qua đào tạo nghề và 0,5 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng) lượt người được qua đào tạo nghề. Điều này cho thấy nỗ lực to lớn của chính phủ trong việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên với quy mô đào tạo như vậy, chỉ khoảng 13% số người trong độ tuổi 1824 đang theo học trong các trường đại học và cao đẳng và tỷ lệ lao động thông qua đào tạo nghề chỉ ở mức 26%. Trong khi các doanh nghiệp đang có nhu cầu nhân lực rất lớn cho sự phát triển của mình thì vẫn còn 10 triệu lao động không có việc làm.Chất lượng đào tạo không phù hợp và chưa đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệpThực tế ở Việt Nam hiện nay chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, đào tạo chưa theo sát thực tế, không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, và kém xa so với các nước trong khu vực; chất lượng các trường đại học và trường đào tạo nghề chưa đồng nhất, do cung không đủ cầu nên nhiều trường còn kém chất lượng nhưng vẫn tồn tại; nhiều trường không quan tâm tới nhu cầu của doanh nghiệp mà chỉ dạy những điều mình có. Năm 1987, một giảng viên đào tạo bình quân 6,6 sinh viên, năm 2009 một giảng viên đào tạo tới 28 sinh viên . Sau 22 năm, số sinh viên tăng 13 lần, số trường tăng 3,7 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. 20 năm qua, số giảng viên có trình độ tiến sĩ chỉ đạt hơn 10% .Điều tra của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho thấy cả nước có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng nghề mình đã học, trong khi đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu lực nguồn lực chuyên nghiệp .Trong khi đó trên 43,760 triệu người, chiếm 81,75% lực lượng lao động, chưa được đào tạo. Số lao động qua đào tạo (chỉ tính số có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật) chiếm khiêm tốn, khoảng 18,25% tổng số lao động và tăng rất chậm (năm2010 là 14,7%).Đến 172014, có trên 22 triệu người không có chuyên môn kỹ thuật hoặc có chuyên môn kỹ thuật nhưng không có chứng chỉ bằng cấp (trên biểu đồ là phần màu xanh lá cây đậm), đang làm những nghề đòi hỏi có chuyên môn kỹ thuật (đặc biệt là các nghề “lao động có kỹ thuật trong nông nghiệp”, “thợ thủ công có kỹ thuật” và “thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy móc”). Theo đánh giá của ILO, hệ quả của tình trạng này là năng suất lao động của Việt Nam ở vào mức thấp nhất của Châu Á Thái Bình Dương.Trái lại, có tới 0,75 triệu người có trình độ đại học và trên đại học (trên biểu đồ là phần màu ghi sáng) đang làm các nghề yêu cầu chuyên môn thấp hơn (đặc biệt là các nghề“nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bán hàng có kỹ thuật”, “nhân viên chuyên môn sơ cấp, kỹ thuật làm việc tại văn phòng, bàn giấy” và “chuyên môn kỹ thuật bậc trung”).II. Nguyên nhân, tác hại 1.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam của sinh viên:Về phía bản thân sinh viên:Quyền đăng ký tuyển sinh và lựa chọn ngành đào tạo do người học tự quyết định. Xã hội hiện nay vẫn còn tư duy tập trung cho con đi học những ngành nghề hiện tại đang được đánh giá cao, không tính đến tương lai khi tốt nghiệp ra trường. Nếu xét tới năng lực, trình độ và kỹ năng của các sinh viên khi ra trường hiện nay đang có những sự trì trệ. Một lỗi rất lớn của sinh viên Việt Nam khi tốt nghiệp đó là sự bị động, họ cũng thường có xu hướng dựa vào hoặc ỷ lại vào bố mẹ, tận dụng các mối quan hệ của bố mẹ hoặc chờ đợi một công ty, cơ quan nào đó đến tìm mình. Việc lý tưởng hóa công việc cũng là điều các sinh viên hay mắc phải. Khi mới ra trường, bạn là một người có kiến thức nhưng lại thiếu kinh nghiệm, trong khi công việc ở những vị trí quan trọng với mức lương hấp dẫn đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này. Sinh viên cần giảm sự lý tưởng hóa và kỳ vọng khi bắt đầu công việc mới, hãy chấp nhận vị trí khởi nghiệp là một nhân viên bình thường, sau đó trải qua quá trình làm việc thực tế, tích lũy kinh nghiệm, bạn sẽ dễ dàng có cơ hội thăng tiến và được ngồi vào vị trí mà bạn mong muốn.Về phía những người đứng đầu ngành giáo dục:Họ lý giải về điều này như thế nào? Từ khi tiến hành đổi mới, Nhà nước không phân công công tác cho các Sinh viên tốt nghiệp ra trường, dẫn đến quy mô, cơ cấu đào tạo của các trường đại học, cao đẳng không ăn khớp với nhu cầu của thị trường lao động. Hiện nay, hệ thống quản lý lao động và việc làm ở cấp trung ương không cung cấp thông tin dự báo nguồn nhân lực theo trình độ và ngành đào tạo trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, không đưa ra các cảnh báo kịp thời cho các nhà trường và xã hội. Các cơ sở giáo dục đại học tổ chức đào tạo chủ yếu dựa vào năng lực đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất, không tổ chức nghiên cứu để cập nhật, phát triển các chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội (chỉ đào tạo những ngành trường có khả năng, chưa đào tạo những ngành xã hội cần). Trong thời gian vừa qua, việc giao chỉ tiêu tuyển sinh chủ yếu căn cứ vào năng lực đào tạo của cơ sở giáo dục đại học mà chưa tính đến nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội. 2. Hậu quả để lại: Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng. Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe.Theo một số quan điểm, rằng sinh viên nhiều khi phải chọn công việc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó. Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v..).Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội, sinh viên buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực. Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng. Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp là cần thiết.Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uấtChương II:Đào tạo đại học và sau đại học ở Việt NamI.Thực trạng giảng dạy trong các trường đại học và thực tế học tập của sinh viên hiện nay Giáo dục Đại học Việt Nam đã được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây, ngân hàng thế giới đã đầu tư cho giáo dục Việt Nam qua nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu đô la nhưng tình hình Giáo dục Đại học Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, 3 trong số những bất cập đó liên quan đến: Mục tiêu, chương trình và phương pháp.1 Mục tiêuCho tới thời điểm hiện nay, các trường Đại học Việt Nam vẫn chưa xác định mục tiêu cụ thể để đào tạo sinh viên. GS TSKH Vũ Minh Giang Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội (2006) lập luận rằng các trường đại học trên thế giới thường hướng đến 3 mục tiêu chính sau để đào tạo sinh viên: Trang bị kiến thức nghề nghiệp chuyên môn; Hướng dẫn sinh viên ứng dụng chuyên môn đã học vào công việc thực tế; nâng cao trình độ nhận thức văn hóa cho sinh viên trong khi đó các trường đại học Việt Nam lại hướng đến những mục tiêu to lớn, không cụ thể như: trung thành với tổ quốc, xây dựng xã hội chủ nghĩa... nên nhiều lúc chính cả thầy và trò còn mơ hồ về mục tiêu dạy và học của mình.Theo GS TSKH Vũ Minh Giang, nếu lấy 3 mục tiêu của các trường đại học trên thế giới áp dụng cho các trường đại học Việt Nam thì sẽ thấy:Mục tiêu 1: Giảng viên Việt Nam thường dạy cho sinh viên những kiến thức cụ thể, những hiểu biết mà mình tích lũy được trong kinh nghiệm giảng dạy mà không chú trọng đến việc dạy nghề cho sinh viên.Mục tiêu 2: Các giảng viên Việt Nam thường ít cập nhật kiến thức chuyên môn liên quan đến nhu cầu thực tế. Bài giảng của thầy đôi khi không còn phù hợp với tình hình xã hội hiện tại. Nếu sinh viên chỉ học ở trường, không có điều kiện va chạm với cuộc sống bên ngoài thì khả năng thích ứng với nhu cầu xã hội là thấp vì khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế là khá xa.Mục tiêu 3: Sinh viên đại học đương nhiên phải có trình độ nhận thức văn hóa cao, cụ thể là phải có những phẩm chất đặc biệt. Các trường đại học Việt Nam cho rằng việc giáo dục phẩm chất cho sinh viên thuộc về trách nhiệm của các bậc học phổ thông trước đó hoặc thuộc về chính bản thân sinh viên nên đã không chú trọng rèn luyện khía cạnh này.Từ phân tích trên cho thấy Giáo dục Đại học Việt Nam chưa có giải pháp để đào tạo theo nghĩa toàn diện vì chúng ta chưa có mục tiêu cụ thể.2 Chương trìnhHiện nay, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn còn kém hiệu quả. Nguyên nhân do Bộ khống chế quá chặt về chương trình khung và yêu cầu các trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc.Trao đổi về vấn đề này, Thầy Ngô Đăng Thành, giảng viên Trường ĐH Kinh tế TP. HCM đã có ý kiến: Kiến thức chuyên ngành sinh viên được học quá ít. Ví dụ, một chương trình cử nhân, bao gồm 125130 tín chỉ tất cả các môn, trong đó có khoảng 8090 tín chỉ là môn chung. Các môn chung của ngành cũng khoảng 20 tín chỉ. Cho nên những kiến thức sẽ học để sau này sinh viên đi làm thực tế chỉ còn khoảng 20 tín chỉ nữa, tương đương với 45 môn. (Nguyễn Hoàng Hạnh, 2008)GSTSKH Đỗ Trần Cát, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho rằng Bộ phải xem xét và phân bổ lại chương trình học. Ví dụ đối với môn chung như triết học, kinh tế chính trị trong các trường đại học nên phân bố số tiết ít hơn, để dành thời gian giảng dạy các môn chuyên ngành sẽ thiết thực hơn. (H.L.Anh D. Hằng, 2005)Còn ThS. Đào Đức Tuyên, Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ (Trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM) phát biểu: môn Giáo dục thể chất được quy định trong chương trình khung của Bộ, nên chăng đổi lại thành môn tự chọn vì như vây sinh viên có thể chọn những môn thể thao phù hợp với điều kiện sức khỏe và thể lực của mình. Môn Giáo dục quốc phòng cũng vậy, nên chuyển sang thành môn tự chọn vì một tháng học ròng rã cả lý thuyết lẫn thực hành như hiện nay thực sự không cần thiết đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ (H.L.Anh D. Hằng, 2005).Thiết nghĩ, Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học phải tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại học chủ động biên soạn chương trình. Chương trình khung của Bộ là chương trình chuẩn để các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi trường đại học sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng. Đối với những môn chuyên ngành, trường sẽ giao cho khoa chủ động xây dựng chương trình. Như vậy chương trình giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào nhu cầu thực tế của xã hội và trình độ của sinh viên, khoa sẽ điều chỉnh và cải tiến chương trình học một cách khoa học và kịp thời.3 Phương phápHiện nay giảng viên tại các trường đại học Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống thầy đọc, trò chép. Giảng viên lý giải rằng biết rằng phương pháp này khiến sinh viên không hứng thú nhưng họ phải truyền đạt hết nội dung giáo trình cho sinh viên theo số tiết mà Bộ đã quy định.Sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trong các trường đại học hiện nay chỉ mang tính hình thức. Thiết bị giảng dạy như: máy chiếu, video ... chỉ là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy nhưng quan trọng hơn cả là việc ý thức được giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm thể hiện qua việc cải tiến về phương pháp và chương trình học thì vẫn chưa được chú trọng.Một bất cập nữa là phương pháp đánh giá, kiểm tra ở các trường đại học. Hiện tại các trường đại học đánh giá sinh viên qua 2 kỳ thi: Kiểm tra giữa kỳ chiếm 30%40% điểm số và thi cuối kỳ chiếm 60%70% là không hợp lý vì không phát huy được tinh thần tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Theo ý kiến của ThS. Đào Đức Tuyên, Bộ nên quy định bài thi cuối kỳ chỉ chiếm 30% điểm số, 30% điểm số còn lại căn cứ vào đề tài nghiên cứu, tham gia vào giờ học ở lớp của sinh viên để cho điểm. Việc đánh giá không nên dựa hoàn toàn vào bài thi mà cần đánh giá sinh viên trong suốt quá trình học tập (H.L.Anh D. Hằng, 2005). Những con số đáng sợ sau là minh chứng cho những bất cập của Giáo dục Đào tạo Việt Nam: Hơn 50% sinh viên được khảo sát không thật tự tin vào các năng lựckhả năng học của mình. Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học; Gần 70% cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu; Gần 55% sinh viên được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.(Theo một nghiên cứu mới đây về phong cách học của sinh viên của PGS.TS Nguyễn Công Khanh (2008, được trích trong Mai Minh, 2008)Tóm lại, các trường đại học ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên. Những thay đổi này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường, giảng viên và sinh viên. Biết rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải làm ngay vì nhà nước đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội. Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dụcĐào tạo, các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu cho mình.II.Những tác động tích cực của giáo dục đại học và sau đại học tới thị trường lao động Việt Nam 1.Giảm tình trạng thất nghiệpTỷ lệ thất nghiệp giảmDẫn chứng, TS Nguyễn Thị Lan Hương cho biết, đến tháng 72014, cả nước có hơn 871.000 người trong độ tuổi lao động thất nghiệp (số liệu làm tròn), trong đó: 479.000 người ở thành thị, 521.000 người không có chuyên môn kỹ thuật, 147.000 người có trình độ đại học trở lên. Như vậy, tổng số người thất nghiệp giảm gần 174.000 người so với quý 12014 và giảm 155.000 người so với quý 22013Một trong những điểm đáng chú ý là lao động trình độ đại học trở lên thất nghiệp giảm 15.400 người so với quý 12014 (162.000 người). Mặc dù hiện chưa thể nói chính xác nguyên nhân, song theo đại diện Bộ LĐTBXH thì lí do khiến tỷ lệ cử nhân thất nghiệp giảm là vì họ chấp nhận làm công việc không đúng trình độ. Ngoài ra, đó cũng có thể coi là tín hiệu tích cực do kinh tế phục hồi.Có không ít ý kiến nghi ngờ về tỷ lệ thất ngiệp giảm ở lao động có trình độ, bởi trên thực tế bức tranh” việc làm vẫn còn khá ảm đạm. Liên quan tới băn khoăn này, bà Hương cũng phải thừa nhận: Để có câu trả lời chính xác về sự thay đổi cần sự nghiên cứu kỹ lưỡng hơn”.Lao động có trình độ thất nghiệp dường như không còn là điều gây sốc, mà theo nhiều chuyên gia đây là tất yếu của hệ quả việc đào tạo chỉ chạy theo số lượng trong nhiều năm qua. Kết quả nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy, năng suất lao động của người Singapore năm 2013 cao gấp 15 lần năng suất lao động của người Việt Nam. Thậm chí, năng suất lao động của người Việt Nam cũng chỉ bằng 15 so với Malaysia và 25 so với Thái Lan hai quốc gia thu nhập trung bình khác thuộc khối ASEAN. Một trong những lý do lao động Việt Nam không thất nghiệp sau tốt nghiệp đại học là do họ chấp nhận làm việc của mình có thể không đúng chuyên ngành học hay cũng có thể đó là công việc với mức lương thấp.Một số doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng về nhân viên cũng là điều đáng mừng song cần khắc phục tình trạng làm việc đúng ngành,đúng nghề của mình để chất lượng công việc có hiệu quả cao,góp phần nâng cao hiệu quả công việc và giúp con người cảm thấy hài long hơn với việc của mình.2.Cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho xã hộiHiện nay, công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang là một tất yếu của sự phát triển triển, nó trở thành làn sóng mạnh mẽ tác động đến tất cả các nước trên thế giới cũng như mọi mặt của đời sống xã hội. Kinh nghiệm cũng như thực tiễn đã chỉ ra rằng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có mối quan hệ chặt chẽ với sự nghiệp GD ĐT. Có thể nói rằng đào tạo giáo dục đại học là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ cũng như sự thành công trong việc tạo ra nguồn lao động chất lượng cho xã hội góp phần sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Kinh nghiệm một số nước cho thấy rằng phát triển nguồn lực chính là chìa khóa cho sự phát triển bền vững, Nhật Bản là một ví dụ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Nhật bị tàn phá, khó khăn, thiếu thốn đủ thứ, kinh tế kiệt quệ, khoảng 80 vạn người dân thiếu gạo(ăn khoai, sắn...). Nhưng sau đó kinh tế Nhật Bản lại phục hồi nhanh chóng (1945 –1654) và phát triển với tốc độ thần kỳ (1954 –1973), trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới (sau Mỹ). Đó chính là kết quả của việc phát huy tối đa vai trò nguồn lực trong sự phát triển đất nước. Sự phát triển nguồn nhân lực do tích hợp nhiều nhân tố: giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm và cả sự giải phóng con người. Trong đó, giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng nhấtĐến nay, giáo dục đại học (ĐH) đã cung cấp hàng triệu lao động có trình độ khác nhau với số lượng ngày càng tăng, chất lượng dần được nâng cao, trở thành nòng cốt của quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Đến hết năm 2013, cả nước có 426 trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ), đào tạo 2.177.299 sinh viên theo học. Số sinh viên tính chung các hệ đạt 248vạn dân, trong đó tính riêng hệ chính quy là 189 sinh viênvạn dân. Quy mô đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ là 102.983 người; trong đó nghiên cứu sinh tiến sĩ là 8.067 người. Đáng chú ý, đội ngũ cán bộ giảng dạy ĐH, CĐ ngày càng có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu giảng dạy, đào tạo nhân lực.Cả nước có 87.160 giảng viên gồm: bậc ĐH có 15% giảng viên trình độ TS, có chức danh GS, PGS là 5,2%; bậc CĐ có tỷ lệ 2,62% giảng viên là TS, có chức danh GS, PGS là 0,5%. Đội ngũ giảng viên ĐH trong những năm qua đã được bổ sung nhiều giảng viên trẻ có trình độ TS và được đào tạo có chất lượng ở nhiều trường đại học lớn trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu và công bố quốc tế. Ở các trường ĐH, CĐ tỷ lệ sinh viêngiảng viên ngày càng giảm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó, các trường ĐH có tỷ lệ 23 sinh viêngiảng viên và các trường CĐ là 27 sinh viêngiảng viên.Đáng chú ý, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, Chương III: Chiến lược phát triển giáo dục đại học hiện nayI. Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục 1. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần đảm bảo các yêu cầu • Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân.• Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, các giải pháp đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.• Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cần vừa kế thừa, củng cố, phát huy các thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới, vừa kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương. Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình khắc phục, vượt qua để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới.2.Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức Những cơ hội:•Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế xã hội trong 10 năm qua, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 2020 là những tiền đề cơ bản để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.• Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội phát triển đất nước trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng và hội nhập quốc tế mạnh mẽ. Những thách thức:• Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của Nhà nước và phần đông gia đình còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, đặt ra nhiệm vụ nặng nề và thách thức lớn đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo.• Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đều giữa các địa phương vẫn tiếp tục là nguyên nhân dẫn đến thiếu bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục và khoảng cách chất lượng giáo dục giữa các đối tượng người học và các vùng miền.• Tư duy bao cấp, sức ì trong nhận thức, tác phong quan liêu trong ứng xử với giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, không theo kịp sự phát triển nhanh của kinh tế xã hội và khoa học công nghệ; bệnh thành tích, hư danh, chạy theo bằng cấp trong cán bộ và người dân chậm được khắc phục.• Khoảng cách phát triển về kinh tế xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo giữa nước ta và các nước tiên tiến trong khu vực, trên thế giới có xu hướng gia tăng. Hội nhập quốc tế và sự phát triển của kinh tế thị trường đang làm nảy sinh nhiều nguy cơ tiềm ẩn như sự thâm nhập lối sống không lành mạnh, xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc; sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục kém chất lượng, lạm dụng dạy thêm, học thêm, chạy trường, chạy điểm..3.Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học• Mục tiêu cụ thể là: Tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất, năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hoá các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.•Nội dung mới so với trước đây: Coi trọng việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trước kì thi đại học, cao đẳng để giúp họ có được định hướng đúng đắn về cơ hội nghề nghiệp trong tương lai. Tránh tình trạng thi theo xu hướng nghề nghiệp của những năm trước mà không bắt kịp được hiện tại và tương lai tuyển dụng của cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp. Giáo dục đại học không chỉ tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài mà phải đặc biệt coi trọngphát triển phẩm chất, năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phải phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó có một số trường ngang tầm khu vực và quốc tế.II.Đổi mới đội ngũ quản lí, giảng dạy1. Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giảng viên và cán bộ quản lýa) Với giảng viên và cán bộ quản lí Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học, bảo đảm đủ về số lượng ( giảm tỉ lệ một giáo viên phải dạy quá nhiều sinh viên), nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế hợp đồng dài hạn; bảo đảm sự bình đẳng giữa giảng viên biên chế và hợp đồng, giữa giảng viên ở cơ sở giáo dục công lập và ở cơ sở giáo dục ngoài công lập. Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với giảng viên bao gồm tiêu chuẩn giảng viên, định mức lao động, điều kiện làm việc, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chế độ nghỉ dạy dài hạn để trao đổi học thuật và cơ chế đánh giá khách quan kết quả công việc. Ban hành chính sách, chế độ kiêm nhiệm giảng dạy. Đổi mới quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo hướng giao cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn và điều kiện chung do Nhà nước quy định. Định kỳ đánh giá để bổ nhiệm lại hoặc miễn nhiệm các chức danh giáo sư, phó giáo sư. Cải cách thủ tục hành chính xét công nhận giảng viên, giảng viên chính.b) Công tác quy hoạch, đào tạo Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học. Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng Internet. Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước.2. Đổi mới tổ chức triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ: Nhà nước đầu tư nâng cấp, xây dựng mới một số cơ sở nghiên cứu mạnh trong các cơ sở giáo dục đại học, trước mắt tập trung cho các trường trọng điểm. Khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học. Khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục. Thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Quy định cụ thể nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của giảng viên, gắn việc đào tạo nghiên cứu sinh với việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ. Có chính sách phù hợp để sinh viên, học viên cao học tích cực tham gia nghiên cứu khoa học. Bố trí tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hàng năm để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được quy định trong Luật Khoa học và Công nghệ.3. Đổi mới cơ chế quản lý Cải tổ giáo dục bằng cách sử dụng ngân sách phù hợp: bởi Việt Nam đầu tư 95% cho công lập Đại học và sau đại học, điều đó làm cho nền giáo dục không vận hành theo cơ chế thị trường, cụ thể là sinh viên không phải khách hàng→ chất lượng dịch vụ thấp→chất lượng đào tạo chưa đảm bảo Nhà nước bớt can thiệp vào nền kinh tế, để kinh tế phát triển theo đúng nguyên tắc thị trường→người lao động tự tạo động cơ hoàn thiện mình để đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Từ đó nâng cao được chất lượng sinh viên ra trường. Xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Bảo đảm vai trò kiểm tra, giám sát của cộng đồng; phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là các hội nghề nghiệp trong việc giám sát chất lượng giáo dục đại học. Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển; chỉ đạo triển khai hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định giáo dục đại học; hoàn thiện môi trường pháp lý; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra; điều tiết vĩ mô cơ cấu và quy mô giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong từng thời kỳ. Xây dựng Luật giáo dục đại học.Kết luận: Nên tư nhân hóa việc học4. Về hội nhập quốc tế: Xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực hợp tác và sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam thực hiện các hiệp định và cam kết quốc tế.
Xem thêm

26 Đọc thêm