VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH ":

Vữa xơ động mạch doc

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH

Vữa xơ động mạch Vữa xơ động mạch là gì? Có phải là xơ cứng động mạch không? Ðộng mạch là những ống đưa máu từ tim đi cung cấp oxy và các chất bổ cho toàn cơ thể, khác với tĩnh mạch là các ống đưa máu trở về tim. Ở người bình thường trẻ tuổi mặt trong các động mạch nhìn nhẵn bóng; còn các động mạch bị vữa xơ mặt trong thấy những chỗ nổi lên, đó là những mảng vữa xơ. Gọi là mảng vữa xơ (atheroma) vì nó có một vỏ ngoài bằng những sợi xơ cứng, bao bọc lấy một lõi,gồm một số chất mỡ, một số tế bào bị hủy hoại và cả những sợi xơ nữa, lổn nhổn như* cháo, như* vữa. Tóm lại, màng vữa xơ =lõi vữa + vỏ xơ. Vì các chất mỡ có nhiều ống lõi của mảng vữa xơ nên có tác giả là xơ mỡ động mạnh cũng đúng (Hình 3) Hình 3 Còn chữ xơ cứng động mạch là một chữ chung chung, để chỉ tất cả các trường hợp động mạch bị cứng trong đó vữa xơ động mạch là phổ biến và gây nhiều tai hại nhất. Cụm từ xơ cứng động mạch ngày nay rất ít khi dùng đến. Người trẻ tuổi có bao giờ bị vữa xơ động mạch không? Các nghiên cứu từ nửa thế kỷ nay đều cho biết vữa xơ động mạch xuất hiện từ khi người ta còn rất trẻ, đến 20 - 30 tuổi đa số đã bị vữa xơ động mạch rồi. Tất nhiên khi mới xuất hiện ở người trẻ, mặt trong các động mạch chưa có những mảng vữa xơ thật sự như tả ở trên, mà chỉ mới nhìn thấy các dải mỡ màu vàng, chưa lồi lên lẫn vào lòng động mạch, đó là vữa xơ động mạch độ 1. Sau này, với thời gian và tuổi tác, các dải này mới dày lên thành các mảng vữa xơ lồi lên (độ 2) có khi ngấm cả calci (độ 3), hoặc loét ra (độ 4). Như vậy người trẻ tuổi cũng đã có vữa xơ động mạch rồi. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quý Tảo cho biết từ 25 đến 20 tuổi, 50% người Việt Nam có vữa xơ động mạch, còn từ 30 tuổi trở lên thì 100% đều có bệnh này Tuy nhiên, bệnh vữa xơ động mạch ở người trẻ ít khi thể hiện ra, và cũng rất ít khi biến chứng như ở người nhiều tuổi cho nên cũng có thể nối rằng vữa xơ động mạch là bệnh chủ yếu ở người già.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Vữa xơ động mạch (Atherosclerosis) (Kỳ 1) pot

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH (ATHEROSCLEROSIS) (KỲ 1) POT

Vữa xơ động mạch (Atherosclerosis) (Kỳ 1) PGS.TS. Ng.Phú Kháng (Bệnh học nội khoa HVQY) Vữa xơ động mạch (VXĐM) là quá trình bệnh diễn ra song song để tạo thành mảng vữa và xơ cứng động mạch. 1. Yếu tố nguy cơ. Cho đến nay, người ta chưa biết nguyên nhân gây bệnh VXĐM, nhưng đã biết được những yếu tố nguy cơ (risk fartors). - Tuổi ≥ 55, động mạch giảm khả năng đàn hồi, cứng động mạch do quá trình lão hoá, đây là một trong những yếu tố của VXĐM. - Nam giới bị VXĐM với tỷ lệ cao hơn nữ giới, nhưng đến khi nữ giới ở tuổi tiền mạn kinh thì tỷ lệ bị VXĐM giữa nam và nữ là ngang nhau. - Yếu tố di truyền và tính gia đình: còn đang được tiếp tục nghiên cứu giải mã gen, nhưng trong thực tế thấy rằng có nhiều gia đình có nhiều thế hệ bị VXĐM chưa được nghiên cứu giải thích vì sao ? - Hút thuốc lá: mỗi ngày ≥ 10 điếu sẽ gây tăng hoạt tính thần kinh giao cảm, gây co động mạch, giảm tính đàn hồi, tạo điều kiện thuận lợi cho VXĐM. - Tăng huyết áp (≥ 140/90mmHg) lâu ngày kéo dài sẽ thúc đẩy VXĐM phát sinh, phát triển những biến chứng. - Béo: những người có chỉ số khối lượng cơ thể ≥ 30. - Tăng lipit máu: tăng cholesterol ≥ 5,5mmol/l, tăng triglycerit ≥ 2,3mmol/l, tăng VLDL và LDL, giảm HDL - Tăng glucose máu lúc đói (6,1-6,9mmol/l), rối loạn dung nạp glucose máu (khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose máu thì glucose máu 7,8-10,9mmol/l); đái tháo đường, nhất là đái tháo đường típ 2 (glucose máu lúc đói ≥ 7mmol/l, hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose máu ≥ 11mmol/l). - ít hoạt động thể lực: đối với những người bị bệnh ở cơ quan hoạt động, liệt , những trí thức, những nhà quản lý, làm việc văn phòng 6-8 giờ/ngày, ít hoạt động thể lực, dễ bị VXĐM hơn so với những người lao động
Xem thêm

6 Đọc thêm

Vữa xơ động mạch (Atherosclerosis) (Kỳ 2) pot

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH (ATHEROSCLEROSIS) (KỲ 2) POT

Vữa xơ động mạch (Atherosclerosis) (Kỳ 2) PGS.TS. Ng.Phú Kháng (Bệnh học nội khoa HVQY) 3. Mô bệnh học. Quá trình tạo thành mảng vữa xơ tiến triển qua nhiều mức độ, dựa vào hình ảnh mô bệnh học theo phân độ tổn thương của Stary, hình ảnh tổn thương của mảng vữa xơ động mạch được chia ra 8 độ: Độ 1: tế bào có bọt. Độ 2: dải mỡ và tế bào có bọt. Độ 3: dải mỡ nằm ngoài tế bào số lượng ít. Độ 4: dải mỡ nằm ngoài tế bào số lượng nhiều. Độ 5: tổn thương sợi, tạo màng lớp vỏ bọc nhân là lipit. Độ 6: mảng vữa xơ có huyết khối hoặc xuất huyết. Độ 7: vôi hoá do lắng đọng canxi. Độ 8: lipit của mảng vữa xơ được thay bằng chất tạo keo. 4. Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của vữa xơ động mạch. Phụ thuộc vào vị trí và mức độ gây hẹp lòng động mạch của mảng vữa xơ. + Vữa xơ động mạch não: Hay gặp là động mạch não giữa, giai đoạn đầu chỉ là rối loạn chức năng hưng phấn và ức chế do thiếu máu não, về sau có những cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, nặng nhất là tắc mạch não gây đột qụy thiếu máu (tùy thuộc vị trí, kích thước tổn thương theo WHO-1999) để gây ra những bệnh cảnh tổn thương khác nhau: bại, liệt, hôn mê, tử vong Chẩn đoán dựa vào: siêu âm xuyên sọ, chụp động mạch não, chụp não cắt lớp vi tính (CT- Scanner) 15 ngày đầu có vùng giảm tỷ trọng < 40 Hu, chụp não cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) + Vữa xơ động mạch mắt: tùy độ tổn thương có thể gây rối loạn thị lực, mù loà do tổn thương võng mạc do thiếu máu nuôi; chẩn đoán nhờ soi đáy mắt. + Vữa xơ động mạch cảnh: hay gặp mảng vữa xơ ở động mạch cảnh chung, động mạch cảnh trong; hẹp nhẹ < 70% đường kính không gây triệu
Xem thêm

7 Đọc thêm

Vữa xơ động mạch (Atherosclerosis) ppsx

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH (ATHEROSCLEROSIS) PPSX

ứng. + Vữa xơ động mạch thân: gây hẹp động mạch thân, bệnh nhân bị tăng huyết áp mức độ nặng kèm theo suy thân. Chẩn đoán nhờ siêu âm Doppler (đo chỉ số trở kháng RI > 0,7; hoặc chụp động mạch thân cản quang). + Vữa xơ động mạch vành: Động mạch vành trái hay bị vữa xơ hơn động mạch vành phải, có thể vữa xơ một nhánh hay nhiều nhánh mạnh, tùy mức độ để tạo ra bệnh cảnh của thiếu máu cơ tim cục bộ như: . Cơn đau thắt ngực ổn định. . Cơn đau thắt ngực không ổn định. . Thiếu máu cơ tim cục bộ thể câm. . Nhồi máu cơ tim cấp. Chẩn đoán bệnh dựa vào lâm sàng, điện tim đồ (lúc tĩnh, gắng sức, hollter, kích thích nhĩ ), siêu âm tim, xạ hình tim , nhưng quyết định nhất là chụp động mạch vành. + Vữa xơ động mạch chủ: Mảng vữa xơ có thể ở đoạn gần, có thể ở đoạn xa, hay cả 2 đoạn, gây phình hoặc phình bóc tách, thậm chí gây vỡ động mạch chủ làm bệnh nhân đột tử (phân loại bệnh theo Debakey). Chẩn đoán nhờ X quang, chụp X quang cản quang động mạch chủ, MRI, siêu âm mạch + Vữa xơ động mạch chi dưới: Có thể gặp vữa xơ động mạch đùi chung, động mạch đùi nông hoặc động mạch đùi sâu, động mạch chày, động mạch mác, động mạch khoeo Biểu hiện lâm sàng điển hình là cơn đau cách hồi, về sau hoại tử đầu chi, có khi phải cắt cụt (phân loại bệnh theo Fontein). Chẩn đoán bệnh nhờ siêu âm Doppler, hoặc chụp động mạch cản quang. 5. Điều trị. Bệnh vữa xơ động mạch là bệnh chưa biết nguyên nhân nên không điều trị khỏi
Xem thêm

12 Đọc thêm

BỆNH VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH doc

BỆNH VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH DOC

bào bị vỡ, đổ cholesterol ra ngoài làm cho lớp dưới nội mạc dày lên, cản trở dinh dưỡng của các tổ chức dễ gây hoại tử tế bào; phản ứng của cơ thể làm tổ chức liên kết phát triển, khu trú đám vữa lại và tạo nên các vạch lipid hay các mảng vữa xơ đặc trưng của bệnh. Những nghiên cứu sau này cho thấy LDL có trong các tế bào bọt lại là loại LDL đã bị "biến đổi" do đã xảy ra quá trình oxy-hoá, acetyl-hoá trong máu lưu hành và chỉ các tế bào cơ trơn và đại thực bào mới có những thụ thể đặc hiệu cho các LDL "biến đổi" đó. Các nghiên cứu sau này còn cho thấy tình trạng rối loạn lipid máu có thể gây vữa xơ ngay trên nội mạc lành do làm sản sinh nhiều LDL nhỏ và đặc, các LDL này dễ chui vào lớp dưới nội mạc, tại đây sẽ bị monocyt - đại thực bào, tế bào nội mạc oxy-hoá và thu nhận để trở thành tế bào bọt. Những năm gần đây, người ta nói nhiều đến vai trò một số vi khuẩn, virus đặc biệt là Chlamydia pneumoniae, cytomegalovirus vì đã thấy sự có mặt của chúng trong mảng vữa xơ qua phản úng chuổi trùng hợp CRP, các kỹ thuật hoá miễn dịch, kính hiển vi điện tử Tuy nhiên vai trò của các vi khuẩn, virus như thế nào trong bệnh VXĐM thì còn cần được nghiên cứu nhiều. IV. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ Các nghiên cứu lớn trên thế giới trong lúc đi tìm nguyên nhân gây bệnh VXĐM đã phát hiện thấy có một số yếu tố tuy không phải là nguyên nhân nhưng lại có nhiều ảnh hưởng đến sự hình thành, sự phát triển của bệnh, đó là các yếu tố nguy cơ của bệnh. Có nhiều yếu tố nguy cơ trong đó đáng lưu ý: - Tuổi: càng nhiều tuổi, VXĐM càng phát triển và càng nặng ; từ tuổi 40 trở đi các biểu hiện của vữa xơ các động mạch vành, động mạch não xuất hiện với các biến chứng ngày càng phức tạp. - Giới: nữ có tổn thương vữa xơ chậm hơn nam từ 10 đến 15 năm, biến chứng của bệnh cũng xuất hiện chậm hơn nhưng từ sau tuổi mãn kinh thì tiến triển của bệnh như nhau ở cả hai giới. - Yếu tố di truyền: yếu tố di truyền có lẽ có vai trò nhất định, có những gia đình có nhiều người bị nhồi máu cơ tim, thiểu năng vành; bố mẹ bị bệnh mạch vành sớm (<50 tuổi ở bố, <60 tuổi ở mẹ) thì nguy cơ mắc bệnh ở con tăng gấp 2 lần.
Xem thêm

16 Đọc thêm

BÀI GIẢNG VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH (ATHEROSCLEROSIS)

BÀI GIẢNG VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH (ATHEROSCLEROSIS)

VệếA Xễ ẹONGMAẽCH( Atherosclerosis)PGS TS Voừ Quaỷng• Danh từ vữa xơ động mạch ( VXĐM) bắt nguồn từchữ Hy lạp (Greek) ám chỉ xơ cứng (sclerosis“hardening” ) và tập trung mỡ (athere “gruel”) ở lớpáo trong của động mạch.• Thế kỷ 19 đã có 2 tác giả đưa ra giả thuyết:- Giả thuyết tạo mảng (incrustationhypothesis) của Rotansky, Duguid (1852)- Giả thuyết Lipid (Lipid hypothesis) củaVirchow (1856)• Artchnikow làm thực nghiệm cho thỏ ăn chế độ giàucholesterol và mỡ bão hòa đã gây tổn thương cho độngmạch, lắng đọng nhiều mỡ và đã xác đònh cholesterol làthủ phạm.• Thế kỷ 20, Ross (1986) là người kết hợp hai giả thuyếttrên và đưa ra giả thuyết đáp ứng với tổn thương( Response – to – injury)• Những hiểu biết về sinh học mạch máu, đặc biệt là vai tròcủa lớp tế bào nội mạc (TBNM) bò tổn thương đã dẫn đếncấu tạo mảng VXĐM.• 1. Sinh bệnh học của VXĐM
Xem thêm

33 Đọc thêm

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH pptx

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH PPTX

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH Mục tiêu - Nắm vững một số giả thuyết về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ vữa xơ động mạch. - Vận dụng được các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong chẩn đoán vữa xơ động mạch. - Nắm vững nguyên tắc điều trị, các phương tiện điều trị chính. - Biết vận dụng các biện pháp cụ thể đặc biệt là các thuốc điều trị lipid máu trong xử trí và dự phòng xơ vữa động mạch Nội dung I. ĐẠI CƯƠNG Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “ Vữa xơ động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ các chất lipid, các phức bộ glucid, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và cặn lắng acid, các hiện tượng này kèm theo sự thay đổi ở lớp trung mạc”. Nói chung vữa xơ động mạch là hiện tượng xơ hóa thành động mạch bao gồm các động mạch trung bình và động mạch lớn. Biểu hiện chủ yếu là sự lắng đọng mỡ và các màng tế bào tại lớp bao trong thành động mạch gọi là mãng vữa. Vữa xơ động mạch đã được phát hiện ở các xác ước Ai cập từ 50 năm trước Công nguyên. VXĐM gây ra 2 biến chứng nguy hiểm là nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não. Ở các nước công nghiệp 50% tử vong do tim mạch trong đó nguyên nhân VXĐM chiếm 50%. Tại Mỹ ở người trên 60 tuổi có 88% VXĐM, ở người già hơn thì không người nào không bị VXĐM. Bệnh tuy vậy vẫn gặp ở người trẻ. Trên 300 lính Mỹ tuổi trung bình 22 chết trong chiếïn tranh ở Triều tiên, khi mổ tử thi thấy 77% bị VXĐM với mức độ nhiều hay ít. Ở nước ta chưa có số liệu toàn dân. II. NGUYÊN NHÂN- CƠ CHẾ BỆNH SINH 1. Cơ chế bệnh sinh 1.1. Nhắc lại cấu tạo thành động mạch
Xem thêm

18 Đọc thêm

Vữa xơ động mạch máu

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH MÁU

Vữa xơ động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ các chất lipid, các phức bộ glucid, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và cặn lắng acid, các hiện tượng này kèm theo sự thay đổi ở lớp trung mạc

5 Đọc thêm

Vữa xơ động mạch vành - Nhồi máu cơ tim doc

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH VÀNH NHỒI MÁU CƠ TIM

Vữa xơ động mạch vành - Nhồi máu cơ tim Những mạch máu nhỏ ngoằn ngoèo, trên mặt ngoài quả tim là những động mạch vành gọi như vậy vì chúng chia nhau đi một vòng ở phần trên quả tim, như vành nón, vành mũ. Những động mạch bé nhỏ đó có nhiệm vụ rất lớn, là dẫn máu đến cơ tim tức là phần thịt (cơ = thịt) của quả tim. Khi đến cơ tim, máu đem đến các chất cần thiết cho cơ tim nhưng cần thiết nhất là oxy để cung cấp năng lượng cho các tế bào tim sống và hoạt động được. Chỉ cần 5-6 giờ không có oxy là các tế bào của tim bị hoại tử, nghĩa là chết ngay. Cơ tim là một trong những cơ quan làm việc "vất vả" nhất và do đó cũng "xài" nhiều oxy nhất. Về trọng lượng, tim người Việt Nam chỉ nặng có 250g tức là chỉ già 40/00 (bốn phần nghìn) trọng lượng cơ thể 60 kg nhưng nó làm việc không ngừng nên có công suất rất lớn. Mỗi phút tim đập trung bình 70 nhát, như vậy trong 24 giờ tức 1440 phút nó phải đập 70 x 1440 = 100.800 nhát. Nếu mỗi nhát đập tim tống vào mạch máu 70 ml máu, thì mỗi ngày đêm nó phải bơm hơn 7000 lít máu. Ròng rã như vậy từ khi lọt lòng mẹ (đúng ra là cả trước khi lọt lòng mẹ nữa), cho đến hơi thở cuối cùng, công sức tim bỏ ra không phải nhỏ, không có oxy làm sao tim có thể đảm đương một khối lượng lớn công việc như vậy được. Ðấy là những con số lúc nghỉ. Còn nhiều lúc, tim phải bơm máu nhiều hơn, phải "tăng năng suất", thí dụ: khi ăn, công của tim phải tăng 30%; khi xúc động lo lắng, tăng 50-100%, khi lao động chân tay nặng nhọc tăng gấp 7 đến 10 lần. Cả khi trời nóng, hoặc thời kỳ có thai tim đều phải làm việc nhiều
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tài liệu Vòng eo "bánh bao" pdf

TÀI LIỆU VÒNG EO "BÁNH BAO" PDF

Vòng eo "bánh bao"! Thức ăn nhanh dễ gây béo phì Người ta gọi béo phì, đề kháng insulin, đái tháo đường và vữa xơ động mạch là bốn "sát thủ” thầm lặng. "Sát thủ” đầu tiên là béo phì. Thừa cân béo phì được xem như nhân tố nghiễm nhiên dẫn tới đái tháo đường type 2. Béo phì do đâu mà có? Khó có câu trả lời hoàn chỉnh, càng khó thấy hết những hậu quả sau 5, 10 năm. Theo IOTF (International Obesity Task Force), thế giới có khoảng 1,7 tỉ người thừa cân béo phì. Cuộc điều tra tại Mỹ trên người lớn cho thấy sau 20 năm, tỉ lệ thừa cân béo phì tăng đến mức chóng mặt. Đặc biệt tại Nhật Bản, đất nước "rong tảo", tức là chế độ ăn rất chặt chẽ giúp kiểm soát cân nặng, tỉ lệ thừa cân béo phì năm 1970 ở trẻ trai 9 tuổi là 2%, năm 1997 là 9,7%. Nguyên nhân hàng đầu của thừa cân béo phì là lối sống với một bộ tứ khác gọi là 4M, gồm viễn thông di động, giàu có, xe hơi, thức ăn nhanh (Mobile phone, Money, Mercedes, McDonalds). Các nguyên nhân khác bao gồm độc thân, thiếu ngủ, cai thuốc, mang thai khi đã lớn tuổi... Gen (tạm hiểu là yếu tố di truyền): 69% người béo phì có bố hoặc mẹ béo phì. Gen ảnh hưởng đến sự ngon miệng, sự chuyển hóa. Yếu tố gen phải kết hợp với các yếu tố khác. Bệnh lý: bao gồm suy giáp, bệnh Cushing, rối loạn trung tâm no, các thuốc chống trầm cảm, thuốc ngừa thai, chống viêm. Hai "sát thủ” giấu mặt
Xem thêm

7 Đọc thêm

Thức ăn nào có lợi cho sức khỏe người cao tuổi? pdf

THỨC ĂN NÀO CÓ LỢI CHO SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI

Thức ăn nào có lợi cho sức khỏe người cao tuổi? Sự suy giảm của hệ thống tiêu hóa, răng miệng và không ít những bệnh lý mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch, rối loạn mỡ máu khiến người cao tuổi có những khó khăn khi lựa chọn thức ăn. Nhiều người lo lắng quá đến mức quá kiêng khem dẫn đến cơ thể bị thiếu hụt chất dinh dưỡng. Vậy người cao tuổi nên lựa chọn những thức ăn thế nào cho phù hợp? Thức ăn giàu chất xơ là lựa chọn hàng đầu Đây là nhóm thức ăn được khuyến cáo cần thiết sử dụng cho nhiều bệnh mạn tính đang có xu hướng gia tăng như tim mạch, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid Tất cả các chế độ điều trị không dùng thuốc cho những bệnh nhân này đều đề cập đến dinh dưỡng giàu chất xơ. Trong đó các chuyên gia cũng chú trọng nhiều hơn đến chất xơ có trong sản phẩm tự nhiên hơn là chất xơ có trong các thức ăn chế biến sẵn. Rau quả tươi, nhất là những rau màu xanh thẫm như cải xanh, súp lơ đều giàu chất xơ. Không chỉ có tác dụng ngăn chặn tăng đường huyết sau ăn, ổn định huyết áp, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, kiểm soát cholesterol, triglycerid mà chất xơ còn vô cùng quan trọng cho người mắc các bệnh đường tiêu hoá như táo bón, trĩ, dự phòng ung thư đại tràng, chống táo bón, giúp vi khuẩn đường ruột cân bằng. Súp lơ xanh chứa nhiều chất xơ. Bổ sung các vi chất bằng thức ăn Hiện là nhóm thức ăn chức năng phổ biến nhất. Việc bổ sung vi chất có tính toàn cầu như bổ sung iốt, sắt, vitamin A vào thực phẩm đã có tác dụng phòng được các bệnh bướu cổ, thiếu máu thiếu sắt, nguy cơ mù loà do thiếu vitamin A. Nhiều quốc gia đã có chủ trương bổ sung iốt vào muối ăn, sắt vào gia vị, vitamin A vào đường. Thức ăn được bổ sung vitamin, khoáng chất nhiều là bột mì, gạo, muối, bột trẻ em, sữa, nước uống, gia vị, đường. Nước trái cây là thức uống được khuyến nghị bổ sung các nhu cầu về vitamin C, E, beta - caroten. Sữa có bổ sung acid folic, vitamin và khoáng chất cho phụ nữ có thai cũng được sử dụng ở nhiều nước. Thực phẩm có bổ sung canxi, vitamin D cho người già, phụ nữ mãn kinh đề phòng loãng xương.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương hệ động mạch cảnh trong ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não (TT)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương hệ động mạch cảnh trong ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não (TT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ não là một bệnh khá phổ biến trên thế giới và Việt Nam gây tỷ lệ tử vong cao đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư, để lại di chứng nặng nề. Đột quỵ nhồi máu não (NMN) chiếm 87% trong tổng số đột quỵ não. Vữa xơ động mạch là nguyên nhân chính của NMN, có 5 nhóm nguyên nhân chính theo phân loại của TOAST, trong đó vữa xơ động mạch lớn gồm có vữa xơ động mạch trong sọ (Intracranial Atherosclerosis - ICAS) và vữa xơ động mạch ngoài sọ (Extracranial Atherosclerosis - ECAS). Ở Hoa Kỳ người da đen và gốc Tây Ban Nha, người châu Á tỷ lệ ICAS cao, ngược lại người da trắng ECAS lại cao hơn. Ở nước ta nghiên cứu chủ yếu chú trọng đến ECAS, dễ bỏ sót ICAS trên cùng bệnh nhân, sẽ ảnh hưởng đến chiến lược dự phòng và điều trị. Cùng với sự phát triển của chụp mạch cản quang (DSA) và các phương tiện chẩn đoán hiện đại, không xâm lấn như chụp CLVT đa dãy mạch sẽ giúp cho các nhà lâm sàng có cái nhìn toàn diện hơn về vữa xơ hệ động mạch cảnh, từ đó có chiến thuật hợp lý trong điều trị để giảm nguy cơ đột quỵ, nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Chính vì lý do đó đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương hệ động mạch cảnh trong ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não” với hai mục tiêu sau: 1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố nguy cơ, hình ảnh cắt lớp vi tính 64 dãy ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não có vữa xơ hệ động mạch cảnh trong. 2. Nhận xét mối liên quan giữa lâm sàng với hình ảnh tổn thương hệ động mạch cảnh trong ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não.
Xem thêm

Đọc thêm

Biểu hiện của tăng huyết áp ppt

BIỂU HIỆN CỦA TĂNG HUYẾT ÁP PPT

Biểu hiện của tăng huyết áp Phần lớn tăng huyết áp không có triệu chứng. Các dấu hiệu nhức đầu, chóng mặt, choáng váng, buồn nôn, mửa, mỏi mệt…không phải là biểu hiện chỉ của mỗi tăng huyết áp. Khi có triệu chứng tăng huyết áp, thường lúc này đã là biến chứng hoặc tình trạng tăng huyết áp đã nặng. Mối nguy hiểm Tác hại của tăng huyết áp (biến chứng tăng huyết áp) xảy ra chủ yếu ở tim, não, thận, mắt, mạch máu. Tại tim, tăng huyết áp gây ra - Tim lớn (lâu ngày gây suy tim). - Bệnh mạch vành gồm thiếu máu cơ tim im lặng, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và đột tử do tim. Tại não, tăng huyết áp gây ra - Cơn thiếu máu não thoáng qua. - Suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ. - Đột quỵ (tai biến mạch máu não) gồm nhồi máu não (nhũn não) và xuất huyết não (chảy máu não, đứt mạch máu não). - Bệnh não do tăng huyết áp (nôn mửa, chóng mặt, co giật, hôn mê…). Thận: gây bệnh thận giai đoạn cuối và cuối cùng là suy thận. Mắt: gây mờ mắt, mù gọi là bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp. Mạch máu: tăng huyết áp gây phồng lóc động mạch chủ, vữa xơ động mạch, viêm tắc động mạch chân. Tất cả biến chứng này có thể sẽ nặng dần và gây ra hậu quả nghiêm trọng: (1) về mặt sức khỏe làm bệnh nặng dần, tàn tật nhiều (62% đột quỵ và
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đề tài nghiên cứu bài thuốc Ôn đởm thang điều trị Rối loạn lipid máu

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU BÀI THUỐC ÔN ĐỞM THANG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU

CÁC CHỮ VIẾT TẮTBMI: Body-mass-index (chỉ số khối lượng cơ thể)BN: Bệnh nhânBMV: Bệnh mạch vànhCT: Cholesterol toàn phầnĐTĐ: Đái tháo đườngĐT: Điều trịHA: Huyết ápLP: LipoproteinNST: Nhiễm sắc thểRLLPM: Rối loạn lipid máuTBMMN: Tai biến mạch máu nãoTHA Tăng huyết ápTG TriglyceridVXĐM Vữa xơ động mạchYHCT Y học cổ truyềnYHHĐ Y học hiện đạiĐẶT VẤN ĐỀHội chứng rối loạn lipid máu (RLLPM) là một trong các yếu tố nguy cơquan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển bệnh vữa xơ động mạch. Hiệnnay vữa xơ động mạch là một bệnh đang được chú ý ở người cao tuổi bởi cácbiến chứng và hậu quả của bệnh rất nặng như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạchmáu não, dẫn đến tử vong nhanh chóng hoặc tàn phế, giảm sức lao động suốtđời.Tỷ lệ mắc vữa xơ động mạch ngày càng tăng ở các nước đặc biệt ở cácnước phát triển và đang phát triển. Theo Tổ chức Y tế thế giới: gần 50% cáctrường hợp tử vong là do các bệnh tim mạch. Thống kê ở Mỹ (1995), mỗinăm có khoảng hơn 1 triệu bệnh nhân phải nong động mạch vành hoặc mổlàm cầu nối chủ vành. Ở Pháp, mỗi năm có khoảng 10.000 ca nhồi máu cơ timvà 50.000 ca tử vong có liên quan đến VXĐM [11], [16], [26]. Ở Việt Nam, bệnh VXĐM trước đây hiếm gặp, nhưng trong thập kỉ gần đây
Xem thêm

50 Đọc thêm

Ăn uống để phòng bệnh tim mạch pps

ĂN UỐNG ĐỂ PHÒNG BỆNH TIM MẠCH

Hút thuốc lá được coi là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với bệnh mạch vành. Nhiều nghiên cứu cho thấy: hút thuốc lá không những gây tổn thương màng trong các động mạch mà còn sinh ra chất nicotin gây tǎng nhịp tim và THA, tǎng nhu cầu oxy của các cơ tim. Chất oxyt cacbon trong khói thuốc làm giảm khả nǎng vận chuyển oxy của máu. Nicotin và các chất độc hại khác trong khói thuốc còn là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tǎng độ kết dính của tiểu cầu và làm giảm các lipoprotein có tỷ trọng cao, hậu quả là gây vữa xơ mạch máu, chít hẹp lòng mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đẩy nhanh quá trình lão hóa các cơ quan trong cơ thể… Vai trò của dinh Nghiên cứu của Bệnh viện Bạch Mai cho thấy: tổn thương giải phẫu bệnh ở bệnh nhân vữa xơ động mạch vào thập kỷ 60 thì 95% có tổn thương động mạch não, 5% có tổn thương động mạch vành; nhưng đầu thập kỷ 80, kết quả là 85% có tổn thương động mạch não và 15% có tổn thương động mạch vành. Vào những năm 60, tỷ lệ tăng huyết áp của Việt Nam chỉ vào khoảng 1% dân số, còn hiện nay, theo số liệu của Viện Tim mạch, tỉ lệ này cao hơn 10%, như vậy tăng huyết áp đã trở thành một vấn đề sức khỏe cần chú ý ở Việt Nam. dưỡng được chú ý đến khi người ta nhận thấy ở Italia, Hi Lạp là các nước mà tỷ lệ người
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tài liệu Stress và bệnh tim mạch – Kỳ II ppt

TÀI LIỆU STRESS VÀ BỆNH TIM MẠCH – KỲ II PPT

Stress và bệnh tim mạch – Kỳ II Stress làm tăng tần số co bóp cơ tim dễ gây đột qụy. Kỳ II: Quả tim bị tổn thương khi bị stress Căng thẳng tâm lý thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch Căng thẳng tâm lý được cho là một yếu tố gây bệnh vữa xơ động mạch quan trọng. Những người hiểu biết về stress, có sức khỏe và tâm lý vững vàng sẽ dễ dàng vượt qua được những tác động của stress và vui tươi trong cuộc sống. Ngược lại, những người có cơ thể ốm yếu, suy sụp, không vượt qua và thích ứng nổi thì dễ phát sinh bệnh tật và có thể bị ảnh hưởng lớn bởi stress, dẫn đến đột tử khi gặp những cú sốc quá lớn trong cuộc đời. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1998, sức khỏe của những người có công ăn việc làm thì tốt hơn những người thất nghiệp. Nhưng sự tổ chức công việc của xã hội, kiểu quản lý và những mối quan hệ xã hội tại nơi làm việc đều ảnh hưởng đến sức khỏe. Kiểm soát công việc kém có liên quan trực tiếp, rõ ràng với đau thắt lưng, nghỉ ốm và bệnh tim mạch. Kiểm soát tốt công việc làm giảm 2,3 lần nguy cơ bị các bệnh tim mạch. Bên cạnh 3 yếu tố nguy cơ chủ yếu gây vữa xơ động mạch là tăng cholesterol máu, tăng huyết áp và hút thuốc lá, căng thẳng tâm lý cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Căng thẳng về tâm lý gây tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và do vậy gây ảnh hưởng xấu đến thành mạch, làm rối loạn tuần hoàn và tăng nguy cơ gây tổn thương các tế bào nội mạc, làm tăng tính thấm của tế bào nội mạc và do vậy làm tăng nguy cơ lắng đọng LDL-C gây hình thành và phát triển vữa xơ động mạch. Có thể đột tử vì stress Đột tử là nguyên nhân gây tử vong phổ biến của các bệnh nhân bị vữa xơ động mạch, đặc biệt là vữa xơ động mạch vành. Do vậy tác động tích cực lên quá trình vữa xơ động mạch sẽ làm giảm nguy cơ đột tử. Có giả thuyết cho rằng khi bị căng thẳng về tâm lý cấp tính có thể gây rung thất và đột tử, do kích hoạt hệ thống
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tài liệu Hội chứng lỗ khuyết não pptx

TÀI LIỆU HỘI CHỨNG LỖ KHUYẾT NÃO PPTX

Hội chứng lỗ khuyết não Người ta gọi lỗ khuyết não (lacunar syndrom) là các hốc nhỏ ở mô não bị nhồi máu hoại tử do tắc các nhánh xuyên vào của động mạch não có đường kính từ 108-400micromet. Những lỗ khuyết này có khi rất nhỏ nên không biểu hiện triệu chứng. Lỗ khuyết não hình thành như thế nào? Lỗ khuyết não cần được phân biệt với chảy máu não. Lỗ khuyết não được hình thành là do tắc các động mạch xuyên nhỏ có đường kính 50-150micromet. Có khoảng 80% toàn bộ nhồi máu lỗ khuyết được tìm thấy ở quanh não thất, trong chất trắng não, hạch nền hoặc đồi thị, còn 20% khu trú ở tiểu não và cầu não. Các lỗ khuyết não là các khoang rỗng có bờ không đều, kích thước thường nhỏ hơn 10mm, nếu to hơn được gọi là siêu lỗ khuyết (superlacunar). Số lượng các lỗ khuyết được xác định là giảm dần theo thứ tự từ nhân bào sẫm, nhân đuôi, đồi thị nền cầu não, bao trong, cuộn chất trắng. Ở các động mạch xuyên bị tắc nghẽn có hoại tử fibrin và có thâm nhiễm hyalin vào thành mạch, lớp áo giữa thành mạch mô chun bị thâm nhiễn làm giảm tính đàn hồi nên bị phình ra. Thành mạch tăng tính thấm, hồng cầu, protein huyết tương sẽ ngấm vào dưới lớp áo nội mạc. Khi đó, mạch máu có thể bị vỡ hoặc tắc nghẽn, tạo thành ổ xuất huyết hoặc ổ nhũn não nhỏ. Sau một thời gian, nếu không được điều trị kịp thời, vành hoại tử này sẽ trở thành lỗ khuyết não. Nguyên nhân tạo thành lỗ khuyết não là gì? Nguyên nhân tạo thành lỗ khuyết não thường thấy là tăng huyết áp và vữa xơ động mạch, trong đó tăng huyết áp chiếm 81% trường hợp bệnh nhân nhồi máu lỗ khuyết. Vữa xơ và các huyết khối là nguyên nhân cơ bản còn trong các trường hợp khác có thoái hóa mỡ hyalin (lipohyalin) cùng với tắc các mạch máu nhỏ. Hội chứng lỗ khuyết não có biểu hiện gì? Các triệu chứng được biểu hiện tùy theo vị trí lỗ khuyết. Phần lớn các trường hợp, bệnh cảnh thường gặp là: - Bại vận động (liệt nhẹ) đơn thuần nửa người (mặt, tay, chân) là do vị trí lỗ
Xem thêm

6 Đọc thêm

THUẬT NGỮ HÀNG HẢI G

THUẬT NGỮ HÀNG HẢI G

   THUËT NG÷ Kü THUËT ANH - VIÖT   G - GGalley Nhà bếpGalvanization (Sự) mạ kẽmGalvanize, to Mạ kẽmGalvanized annealed copper wire Dây đồng mạ kẽmGalvanized steel wire Dây thép mạ kẽmGalvanizing (Việc) mạ kẽmGang control Điều khiển nhómGangway Lối đi, cầu điGangway ladder Cầu thang của cầu điGangway port Cửa của cầu điGap Khoảng tống, khe hở (hàn)Gap length Độ rộng khe hởGas Khí (ga)Gas burner Thiết bị, dầu đốt khíGas cock Van khíGas compressor Máy nén khí (ga)Gas concentration Tập trung khí (ga)Gas - cut edge Mép cắt bằng khí đốtGas cutting Cắt bằng khí đốtGas cylinder Chai, bình khí (ga)Gas dangerous space Khu vực nguy hiểm khí (ga)Gas detection Phát hiện khí (ga)Gas detection equipment Thiết bị dò, phát hiện khí (ga)Gas detection system Hệ thống dò, phát hiện khí (ga)Gas detecter Thiết bị dò, phát hiện khí (ga)Gas detecter probe Đầu dò, phát hiện khí (ga)Gas detecter read-out location Vị trí theo dõi, quan sát thiết bị dò khí (ga)Gas detecter record Ghi lưu kết quả của thiết bị dò khí (ga)Gas discharge Xả khí (ga)
Xem thêm

5 Đọc thêm

TUYỂN TẬP CÁC ĐỀ THI MÔN VẬT LÝ 2016 2017 .ĐỀ 1

TUYỂN TẬP CÁC ĐỀ THI MÔN VẬT LÝ 2016 2017 .ĐỀ 1

A. φ1 = π/6 và φ2 = -π/3.B. φ1 = -π/6 và φ2 = π/3.C. φ1 = -π/3 và φ2 = π/6.D. φ1 = -π/4 và φ2 = π/4.Câu 28. Trên đoạn mạch xoay chiều không phân nhánh có bốn điểm theo đúng thứ tự A, M, N và B. Giữa haiđiểm A và M chỉ có điện trở thuần, giữa hai điểm M và N chỉ có tụ điện, giữa hai điểm N và B chỉ có cuộncảm. Đặt vào hai đầu đoạn mạch một điện áp xoay chiều 240 V – 50 Hz thì u MB và uAM lệch pha nhau π/3, uABvà uMB lệch pha nhau π/6. Điện áp hiệu dụng trên R làA. 80 (V).B. 60 (V).C. 80 (V).D. 60 (V).Câu 29. Cho mạch điện xoay chiều AB mắc nối tiếp gồm điện trở thuần R, cuộn cảm thuần L và tụ điện C. Khiđó điện áp hiệu dụng ở hai đầu điện trở R là 200 V. Khi điện áp tức thời ở hai đầu đoạn mạch là 100 V thì điệnáp tức thời giữa hai đầu điện trở và điện áp tức thời hai đầu cuộn cảm đều là -100 V. Tính điện áp hiệu dụng ởhai đầu đoạn mạch AB.A. 582 V.B. 615 V.C. 300 V.D. 200 V.Câu 30. Dùng một mạch dao động LC lí tưởng để thu cộng hưởng sóng điện từ, trong đó cuộn dây có độ tựcảm L không đổi, tụ điện có điện dung C thay đổi được. Mỗi sóng điện từ đều tạo ra trong mạch dao động mộtsuất điện động cảm ứng. Xem rằng các sóng điện từ có biên độ cảm ứng từ đều bằng nhau. Khi điện dung củatụ điện C1 = 2 μF thì suất điện động cảm ứng hiệu dụng trong mạch do sóng điện từ tạo ra là E 1 = 8 μV. Khiđiện dung của tụ điện C2 = 8 μF thì suất điện động cảm ứng hiệu dụng do sóng điện từ tạo ra làA. 32 μV.B. 4 μV.C. 16 μV.D. 2 μV.Câu 31. Người ta truyền tải điện năng từ A đến B bằng hệ thống dây dẫn từ có điện trở 5 Ω thì cường độ dòng
Xem thêm

5 Đọc thêm

NGN CỦA VNPT41

NGN CỦA VNPT41

việc triển khai VoATM, VoIP ở mức quá giang để xử lý lưu lượngInternet, kết nối lưu lượng mạng di động,… và các lưu lượng khôngthể dự báo trước (số liệu).- Xây dựng một mạng đường trục duy nhất. Triển khai các cổng tíchhợp VoATM-GW VoIP-GW các giao thức chuyển mạch mềm(MEGACO MGCCP SIP SIGTRAN BICC…), định hướng chuyểnmạch quá giang sang NGN. Đồng thới lắp đặt các cổng điều khiểnphương tiện MGC, thực hiện chuyển đổi NGN ở cấp quá giang.4.2.1.2 Đối với mạng truy nhập- Đầu tiên là bắt đầu triển khai một số dịch vụ đa phương tiện: Dịch vụtruy nhập băng rộng ADSL, đồng thời đưa vào sử dụng chuyển mạchmềm và khối tập chung thuê bao thế hệ mới có hỗ trợ băng rộng.- Tiếp theo sẽ triển khai tiếp các ứng dụng đa phương tiện cho ADSLUMTS và điện thoại IP. Khi giá thành của chuyển mạch sử dụng trongNGN đã thấp hơn so với chuyển mạch kênh, QoS trong NGN đã đượcchuẩn hoá ta sẽ triển khai thêm các đường dây điện thoại hay kết nốikhách hàng từ bộ tập chung thuê bao truyền thống đến mạng truy nhậpNGN. Đồng thời ta sẽ lặp đặt chuyển mạch mềm cho tổng đài nội hạtvà lắp đặt các Access Gateway để nối mạng hiện tại với mạng lõichuyển mạch gói NGN.4.2.1.3 Yêu cầu với mạngPhải đáp ứng về độ tin cậy và khả năng mở rộng. Các dịch vụ mạng phảiđược tối ưu hoá trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên mạng.4.2.2 Nhà cung cấp dịch vụ mạng mới ISP/ASP (Internet Service provider/ Application Service provider)Do các nhà khai thác này đã có sẵn hạ tầng chuyển mạch gói nên họ rấtthuận lợi trong việc xây dựng NGN.Khi tiến hành xây dựng mạng thế hệ sau họ có thể lắp đặt các cổng điềukhiển phương tiện MGC, các server truy nhập mạng NAS (Network Acess Server),và các server truy nhập băng rộng BRAS (Broadband Remote Acess Server), đồng
Xem thêm

16 Đọc thêm