ĐO LƯỜNG CHỈ SỐ CLCS SK Ở BỆNH NHÂN ĐỢT CẤP GIÃN PHẾ QUẢN ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI BẰNG BỘ CÂU HỎI ST GEORGES PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Đo lường chỉ số CLCS SK ở bệnh nhân đợt cấp giãn phế quản điều trị tại khoa hô hấp bệnh viện bạch mai bằng bộ câu hỏi st georges phiên bản tiếng việt":

Nghiên cứu áp dụng bộ câu hỏi St.George''''s đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh giãn phế quản tại khoa hô hấp bệnh viện Bạch Mai

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG BỘ CÂU HỎI ST.GEORGE''''S ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH GIÃN PHẾ QUẢN TẠI KHOA HÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI

- tổn thơng giải phẫu bệnh lý 7 1.2. Nguyên nhân và phân loại giãn phế quản 9 1.2.1. Nguyên nhân 9 1.2.2. Phân loại giãn phế quản 11 1.2.3. Chẩn đoán giãn phế quản 121.3. Tổng quan về các phơng pháp đánh giá khó thở bệnh giãn phế quản 16 1.4. Tổng quan về chất lợng cuộc sống và chất lợng cuộc sống liên quan sức khoẻ 16 1.4.1. Thang đo tổng quát 20 1.4.2. Thang đo chuyên biệt 20 Chơng 2: Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 232.1. Đối tợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23 2.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23 2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 23 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 23 2.1.4. Số lợng bệnh nhân: 24 2.2. Thiết kế nghiên cứu 24 2.3. nội dung nghiên cứu 24 2.3.1. Thu thập thông tin về GPQ gồm 242.3.2. Đo lờng chỉ số CLCS-SK cho bệnh nhân giãn phế quản bằng thang đo chuyên biệt SGRQ 24 2.4. Phơng pháp nghiên cứu 25 2.4.1. Khai thác các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh GPQ25 2.4.2. Đo lờng CLCS - SK cho bệnh nhân GPQ dựa vào thang đo SGRQ 26 2.4.3. Cách thu thập số liệu 262.5. Phơng pháp xử lý và phân tích số liệu 27 2.6. Các thuật toán sử dụng trong nghiên cứu 27 2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28 Chơng 3: Kết quả nghiên cứu 293.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu 29 3.1.1. Phân loại đối tợng nghiên cứu theo giới 293.1.2. Phân loại đối tợng nghiên cứu theo lứa tuổi 29 3.1.3. Phân loại đối tợng nghiên cứu theo nghề hiện tại của bệnh nhân.303.1.4. Lý do khám bệnh 30 3.1.5. Tình trạng hút thuốc lá 31 3.1.6. Triệu chứng lâm sàng 31 3.1.7. Triệu chứng cận lâm sàng 32 3.2. Đo lờng các chỉ số CLCS - SK của nhóm giãn phế quản bằng bộ câu hỏi ST.GEORGES phiên bản tiếng việt 36 3.2.1. Tần suất xuất hiện triệu chứng ho trong năm qua 36 3.2.2. Tần suất xuất hiện triệu chứng ho khạc đờm trong năm qua 37 3.2.3. Tần suất xuất hiện triệu chứng khó thở trong năm qua. 37 3.2.4. Số lần bệnh nhân bị nguy hiểm hoặc rất khó chịu vì bệnh phổi trong năm qua 38 3.2.5. Những hoạt động thờng làm cho bệnh nhân bị khó thở theo thang đo ST.GEORGES 38 3.2.6
Xem thêm

92 Đọc thêm

Nghiên cứu điều trị hạ natri máu ở bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn bằng dung dịch natriclorua 2% tại trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ HẠ NATRI MÁU Ở BỆNH NHÂN BỊ RẮN CẠP NIA CẮN BẰNG DUNG DỊCH NATRICLORUA 2% TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN BẠCH MAI

7 Sinh sản: giao phối vào tháng 1, tháng 2, đẻ trứng vào tháng 5 - 6, đẻ từ 4 - 16 trứng. Nọc rắn: có chức năng bất động, tiêu hoá con mồi, tự vệ và đe doạ kẻ thù. + Tính chất: 9 Tiết ra từ tuyến nọc riêng, nối với răng độc bằng một ống dẫn[46]. 9 Nọc độc đợc tiết là chất lỏng, trong hơi vàng độ dính cao, 50 - 70% là nớc, tỷ trọng là 1,01 - 1,03, sau 24 giờ nọc biến chất có mùi thối. 9 Liều gây chết rắn cạp nia 1,5 mg 9 Nọc rắn khuếch tán theo bạch mạch (là chủ yếu) và tĩnh mạch. + Thành phần và tác dụng của nọc rắn cạp nia: [6], [13], [8], [46], [48]: 9 Độc tố thần kinh (Neurotoxins): các độc tố này có tác dụng nh cura gây liệt mềm, liệt cơ hô hấp và tổn thơng trung tâm hô hấp hành não. Nó gây gián đoạn dẫn truyền thần kinh cơ cả trớc synape và sau synape: Độc tố tác dụng vào điểm nối thần kinh cơ trớc synape: các độc tố này gây tổn thơng trục đầu mút thần kinh trớc synape của cơ vân. Tác dụng này dẫn tới hiện tợng giải phóng chất dẫn truyền thần kinh trong một khoảng thời gian ngắn, theo sau là ngừng giải phóng tất cả các chất dẫn truyền thần kinh gây ra liệt khó hồi phục. Trên lâm sàng biểu hiện là liệt mềm tiến triển. Huyết thanh kháng nọc có tác dụng chậm, độc tố tồn tại nhiều ngày nhiều tuần, tuy vậy việc dùng huyết thanh kháng nọc sớm có thể tránh đợc liệt toàn thân nặng nề. Các độc tố này đợc bắt nguồn từ phospholipase A2 nhng không có đặc tính enzyme. Các độc tố này thấy nhiều rắn cạp nia, cũng có thể thấy rắn cạp nong. 8Độc tố tác dụng vào điểm nối thần kinh cơ sau synape: đó là các polypeptide tác dụng gây liệt mềm cơ vân tiến triển nhng tác dụng ngoài
Xem thêm

87 Đọc thêm

một số điểm mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

không khí). Khẳng định chẩn đoán dựa vào sự rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn thấy được bằng đo phế dung kế với nghiệm pháp giãn phế quản. giai đoạn đầu không nhất thiết phải có các triệu chứng lâm sàng. Đây là điểm mới cơ bản giúp chẩn đoán sớm bệnh.Nghiệm pháp giãn phế quản- Chuẩn bị : Nghiệm pháp giãn phế quản được tiến hành khi lâm sàng bệnh nhân ổn định và không bị nhiễm khuẩn đường hô hấp. Bệnh nhân không dùng thuốc giãn phế quản đường phun hít trước đó 6 giờ, thuốc giãn phế quản cường β2 tác dụng kéo dài trước đó 12 giờ, hoặc theophylline thải chậm trước đó 24 giờ.- Tiến hành : Đo FEV1 với phế dung kế trước khi dùng thuốc giãn phế quản. Thuốc giãn phế quản được dùng với bình xịt định liều qua buồng đệm hoặc khí dung để đảm bảo thuốc đưa được vào phế quản. Liều dùng là 400 µg thuốc cường β2 tác dụng nhanh (salbutamol : Ventoline), 80 µg thuốc kháng cholinergic (Ipratropium bromide : Atrovent) hoặc phối hợp cả hai. Đo lại FEV1 thời điểm 30- 45 phút sau khi dùng thuốc .- Kết quả: sự tăng FEV1 trên 200 ml và trên 12% của trị số FEV1 trước khi dùng thuốc giãn phế quản được coi là có ý nghĩa. Nếu FEV1 hồi phục trở lại trị số lý thuyết thì bệnh nhân đó sẽ được coi là bị hen phế quản.II.2. Chẩn đoán giai đoạnChiến lược đưa ra 4 giai đoạn tính từ giai đoạn 0 (nguy cơ, giai đoạn này tương ứng với viêm phế quản mạn tính đơn thuần trước kia) tới giai đoạn 3. Các tiêu chuẩn xếp giai đoạn được trình bày bảng 1.III. ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNHIII.1. Giảm các yếu tố nguy cơGOLD nhấn mạnh đến việc giảm các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là vấn đề
Xem thêm

4 Đọc thêm

Bệnh đường hô hấp tấn công người già và trẻ em docx

BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TẤN CÔNG NGƯỜI GIÀ VÀ TRẺ EM DOCX

cho bệnh nhân sử dụng các thuốc người bệnh vẫn sử dụng như thuốc xịt, bơm giãn phế quản, dùng các thiết bị hỗ trợ hô hấp nhằm tránh biến chứng suy hô hấp. Cần đặc biệt chú ý không tự sử dụng thuốc mà không phải do bác sĩ kê đơn, trong trường hợp hết thuốc người bệnh đang dùng phải nhanh chóng đưa họ đến cơ sở y tế mà bệnh nhân đã khám trước đó hoặc cơ sở y tế gần nhất. Riêng với trẻ em, nhất là trẻ nhỏ chưa biết diễn tả biểu hiện của bản thân, quan sát của người nhà nhiều khi mang tính chủ quan, do vậy khi thấy bất cứ biểu hiện nào khác thường của trẻ cần đưa trẻ đến bệnh viện để được thăm khám sớm và có biện pháp điều trị thích hợp.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Nhận xét đặc điểm lâm sàng và điều trị ngộ độc thuốc diệt chuột nhập lậu từ Trung Quốc doc

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC THUỐC DIỆT CHUỘT NHẬP LẬU TỪ TRUNG QUỐC DOC

Theo dõi chặt các chức năng sống: mạch, huyết áp, nhịp tim, nớc tiểu và xét nghiệm: CK, điện não Các biện pháp hỗ trợ khác: 1. Suy thận cấp: lọc màng bụng, thận nhân tạo nếu điều trị khác không có kết quả 2. Viêm cơ tim: truyền dobutamine 2-15àg/kg/phút Ngoại tâm thu thất trên 10% tần số tim: tiêm xylocaine 0,05-0,10g tĩnh mạch. TCNCYH 19 (3) - 2002 4. Xử trí suy hô hấp cấp tiến triển (nếu có). 5. Các loại vitamin B. Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Gia Bình, Nguyễn Văn Chi (1998), Nhận xét về tình hình ngộ độc thuốc chuột tàu tại khoa Hồi sức cấp cứu A9 - Bệnh viện Bạch Mai từ 1994 - 6/1998, Hội thảo lần thứ II về cấp cứu ngộ độc, trang 38 - 44. 2. Nguyễn Thị Dụ (2000) Tình hình ngộ độc cấp Việt Nam và khoa Chống độc bệnh viện Bạch Mai, Hội thảo về chiến lợc giám sát và phòng chống hành vi tự sát. Trờng Đại học Y Hà Nội 15/12/2000. 3. Vũ Văn Đính, Phạm Văn Vững (1998), Xử trí ngộ độc thuốc chuột tàu, Hội thảo lần thứ II về cấp cứu ngộ độc, Uông Bí 8/1998: 45 - 47. 4. Nguyễn Thị Minh Tâm (2002), Đánh
Xem thêm

9 Đọc thêm

Nhận xét kết quả bước đầu ứng dụng cai thở máy sớm bằng phương pháp hỗ trợ áp lực tự động ở bệnh nhân đợt cấp COPD

NHẬN XÉT KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG CAI THỞ MÁY SỚM BẰNG PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ ÁP LỰC TỰ ĐỘNG Ở BỆNH NHÂN ĐỢT CẤP COPD

Đặt vấn đề Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD ) là bệnh lý hay gặp ở các khoa hồi sức cấp cứu, với tỉ lệ phải đặt ống nội khí quản và thở máy khá cao đặc biệt là trong các trường hợp nặng. Các yếu tố mất bù làm khởi phát đợt cấp COPD bao gồm: Mệt cơ hô hấp, nhiễm khuẩn hô hấp, suy tim, tràn khí màng phổi, rối loạn điện giải, suy dinh dưỡng. Điều trị đợt cấp COPD thường kéo dài, chi phí tốn kém, tỉ lệ tử vong cao hay gặp ở các bệnh nhân phải thở máy dài ngày. Vấn đề cai thở máy ( CTM ) trong đợt cấp COPD được thở máy xâm nhập gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm, thiếu trang thiết bị, bệnh lý nền quá nặng, chưa đánh giá đầy đủ các yếu tố dự đoán kết quả CTM và chậm trễ CTM. CTM sớm sẽ tránh được các nguy cơ: Viêm phổi liên quan đến thở máy, nhiễm khuẩn bệnh viện, shock nhiễm trùng, chấn thương áp lực, rối loạn chức năng cơ hoành... Trước đây có nhiều quan điểm và phương pháp CTM gồm: ống chữ T ( T-piece ), áp lực đường thở dương liên tục ( CPAP ), áp lực đường thở dương liên tục có hỗ trợ áp lực ( CPAP + PS ), thông khí hỗ trợ áp lực ( PSV ), thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng thì ( SIMV ), thử nghiệm thở tự nhiên ( SBT ). Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng, hiện nay CTM với phương pháp hỗ trợ áp lực tự động bằng phương thức SmartCaređ/PS của máy thở EvitaXL là phương pháp được nhiều tác giả ủng hộ vì có ưu điểm: An toàn trong quá trình CTM, giảm gánh nặng cho nhân viên y tế, giảm thời gian CTM, giảm tổng thời gian thở máy, giảm tổng thời gian điều trị, tỷ lệ CTM thành công cao và hạn chế các biến chứng trong quá trình CTM [13]. Qua các nghiên cứu trước đây, có nhiều chỉ số dự đoán kết quả CTM và rút ống nội khí quản. Tuy nhiên trong quá trình CTM ở bệnh nhân đợt cấp COPD có thở máy xâm nhập thì một số chỉ số có ý nghĩa dự đoán kết quả CTM với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương tính và giá trị dự đoán âm tính cao như: áp lực bít đường thở 0,1 giây ( P ), áp lực hít vào tối đa ( MIP ), chỉ số thở nhanh nông ( RSBI = f/Vt ) [11], [18], [33], [42], [54]. 0.1 Trên thực tế hiện nay, phần lớn các bệnh nhân đợt cấp COPD có mệt cơ và kiệt sức hô hấp cần phải thở máy xâm nhập, nhận biết các dấu hiệu và tiến hành CTM sớm còn chưa được tích cực. Trong quá trình CTM trước đây đã tốn nhiều công sức và thời gian của bác sĩ và điều dưỡng, mặt khác dễ dẫn tới chậm trễ hoặc CTM đến kiệt sức. Qua các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã cho thấy CTM theo phương pháp hỗ trợ áp lực tự động bằng phương thức SmartCaređ/PS tỏ ra an toàn và hiệu quả cao [39], [45], [53]. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau: 1. Nhận xét kết quả bước đầu ứng dụng CTM sớm theo phương pháp hỗ trợ áp lực tự động, bằng phương thức SmartCaređ/PS ở bệnh nhân đợt cấp COPD có thở máy xâm nhập. 2. Bước đầu nhận xét ý nghĩa của một số chỉ số dự đoán kết quả CTM theo phương pháp hỗ trợ áp lực tự động ở bệnh nhân đợt cấp COPD có thở máy xâm nhập.
Xem thêm

103 Đọc thêm

CHI PHÍ TRỰCTIẾP ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI TRUNG TÂMHÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 20132015

CHI PHÍ TRỰCTIẾP ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI TRUNG TÂMHÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 20132015

năm 2015 ................................................................................. 39Biểu đồ 3.7: Tỷ trọng các chi phí điều trị nội trú bệnh COPD giai đoạn2013-2015................................................................................. 401ĐẶT VẤN ĐỀBệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Choronic Obstructive Pulmonary Disease- COPD) là một trong những nguyên nhân hàng đầu về gánh nặng bệnh tật vàtử vong trên toàn thế giới vì tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điềutrị cao và hậu quả gây tàn phế [1], [2], bệnh đang trở thành một thách thức lớnđối với sức khoẻ toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 1990,COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 6 và là nguyên nhân gây tàn phếđứng thứ 12 [3]. Trong năm 2000, khoảng 2,7 triệu ngƣời chết vì COPD, mộtnửa trong số đó Tây Thái Bình Dƣơng mà phần lớn xảy ra Trung Quốc.Mỗi năm có khoảng 400.000 ngƣời chết vì COPD các nƣớc công nghiệp,khoảng 650.000 ngƣời chết Đông nam châu Á, phần lớn Ấn độ [4]. Dựđoán đến năm 2020 tỷ lệ tử vong do COPD sẽ tăng lên đứng thứ 3 và lànguyên nhân thứ 5 trong các bệnh gây nên tàn phế trên toàn thế giới [4].Tại Việt Nam, theo một số nghiên cứu cho thấy COPD cũng có chiềuhƣớng tăng theo xu hƣớng chung của thế giới. Kết quả của nghiên cứu cấpquốc gia cho thấy tỷ lệ mắc COPD dân số trên 40 tuổi là 4,2%. COPD luônchiếm tỷ lệ lớn trong các khoa Hô hấp tại các bệnh viện, là gánh nặng cho nềnY tế Việt Nam. Tại Trung tâm Hô hấp, bệnh viện Bạch Mai từ 1996 –2000,COPD chiếm 25,1% [5]. Tại khoa Lao – Bệnh phổi, bệnh viện 103 từ 2001–2010, nhóm bệnh phế quản có tỷ lệ cao nhất: 35,5% với 49,5% là COPD [6].COPD đƣợc coi là một gánh nặng không chỉ về tỷ lệ tử vong mà còn đốivới nền kinh tế. Năm 2010, ƣớc tính chi phí dành cho COPD trên toàn cầuvào khoảng 2,1 nghìn tỷ USD, một nửa trong số đó xảy ra các nƣớc đang
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu mối quan hệ giữa Cholinesterase huyết tương với các đặc điểm lâm sàng trong ngộ độc cấp Phospho hữu cơ doc

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHOLINESTERASE HUYẾT TƯƠNG VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TRONG NGỘ ĐỘC CẤP PHOSPHO HỮU CƠ DOC

phải dùng PAM sớm mới có hiệu quả. Tuy nhiên PAM vẫn phải đợc dùng trong những ngày sau vì trên thực tế PAM không thể trung hoà hết độc chất trong ngày đầu và ngày thứ hai đợc. Các tỉ lệ bệnh nh liệt cơ (36,7%) và suy hô hấp (53,3%) không khác so với các nghiên cứu trớc đây, nhng thời gian suy hô hấp, thời gian nằm viện đều ngắn hơn rõ rệt (4,18 ngày so với 6,9 và 5,7 ngày so với 8,84). Tỉ lệ tử vong cũng giảm rõ rệt (3,3% so với 13%). Liều atropin trung bình dùng cho một bệnh nhân cũng giảm từ 224 xuống còn 99 mg (các số liệu so sánh là của các nghiên cứu thực hiện tại khoa hồi sức cấp cứu A9 trớc đây [1,2,3]). Tất cả các yếu tố tiên lợng kể trên cho thấy kết quả rõ ràng của việc dùng PAM liều cao có tác dụng rất tốt cho điều trị NĐC PPHC. Đặc biệt hơn nữa là cùng với việc dùng PAM liều cao, chúng tôi không thấy một trờng hợp liệt cơ do hội chứng trung gian (HCTG) nào xuất hiện, khác với tỉ lệ 15,63% HCTG trên tổng số liệt cơ trớc đây (2). Kết quả và nhận định của chúng tôi cũng khác so với các tác giả nớc ngoài: S. Thompson, J. V. Peter, K. Thomas và cộng sự truyền PAM với liều 12g/ngày trong 4 ngày liên tục (tổng liều 48g) cho tất cả các bệnh nhân NĐC PPHC dẫn đến kết quả tiên lợng xấu có nhiều liệt cơ do HCTG hơn so với nhóm không dùng PAM với p = 0,08 [8]. H. J. De
Xem thêm

8 Đọc thêm

Khi nào bệnh nhân gout cần dùng Colchicine? pdf

KHI NÀO BỆNH NHÂN GOUT CẦN DÙNG COLCHICINE? PDF

Khi nào bệnh nhân gout cần dùng Colchicine? Colchicine là thuốc trị bệnh gout cổ điển nhưng không phải là thuốc được lựa chọn để điều trị gout cấp. Thuốc hiệu quả nhất trong vòng 12 – 24 h đầu tiên của cơn gout cấp, nhưng sau đó tác dụng giảm dần theo tình trạng viêm kéo dài. Ngoài ra khi được dùng để điều trị cơn gout cấp Colchicine gây những tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, đặc biệt là nôn và tiêu chảy 80% bệnh nhân. Để điều trị gout cấp Colchicine được dùng uống với liều 0,5-0,6mg mỗi giờ cho đến khi bệnh nhân có tác dụng phụ đường tiêu hóa. Liều tổng và số lần uống cần giảm bệnh nhân suy gan, suy thận và thông thường thì không nên dùng Colchicine trong những trường hợp này. Bệnh nhân có thể phòng tránh đợt gout cấp bằng cách uống 1 viên Colchicine duy nhất khi xuất hiện triệu chứng đau đầu tiên. Colchicine không được dùng khi độ lọc cầu thận(GFR) dưới 10ml/phút và nên giảm liều xuống ít nhất một nửa khi GFR thấp hơn 50ml/phút., Colchicine cũng nên tránh dùng bệnh nhân rối loạn chức năng gan, tắc mật và tiêu chảy nhiều. Đáp ứng lâm sàng khi dùng Colchicine không phải là đặc hiệu cho gout và còn có thể gặp bệnh nhân giả gout, bệnh lý khớp sarcoid, viêm khớp vẩy nên và viêm gân vôi hóa.
Xem thêm

6 Đọc thêm

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ MẮC HEN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ MẮC HEN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Khi trẻ bị bệnh bố, mẹ trẻ thường cố gắng tìm hiểu các thông tin về bệnh quanhân viên y tế, các phương tiện thông tin và qua bạn bè người thân, Nghiên cứucủa Zhang L tại Bồ Đào Nha cho thấy nguồn cung cấp thông tin về bệnh HPQcho bố, mẹ bệnh nhi chủ yếu là từ bác sĩ (80,8%) [28].Tham gia câu lạc bộ Hen:Khi trẻ bị bệnh tham gia câu lạc bộ hen, người trực tiếp chăm sóc trẻ có thểhọc hỏi thêm kinh nghiệm phòng bệnh từ những bệnh nhân khác và có thểtrao đổi thông tin về bệnh trực tiếp với cán bộ y tế.Một số nghiên cứu về hen phế quản:Về kiến thức phòng chống hen của người dân: Theo Asthma insight andReality study – Asia Pacific (2006): Tỷ lệ người dân Việt Nam chưa biết bệnhhen có thể điều trị, khống chế được chiếm 88%, tự mua thuốc điều trị hoặcmua thuốc theo đơn cũ: 43%, không điều trị dự phòng: 89% [29].Khi tìm hiểu kiến thức của bố, mẹ bệnh nhi hen tại khoa Nhi, Bệnhviện trung tâm Maputo (Mozambique), các tác giả đã tiến hành nghiên cứu ở152 cha, mẹ bệnh nhân bị bệnh hen phế quản đến khám, chữa bệnh, cho thấykiến thức về hen rất nghèo nàn: 11% cha, mẹ bệnh nhân nghĩ rằng bệnh hen làbệnh truyền nhiễm, 4% nghĩ rằng bệnh lây truyền bởi thức ăn ô nhiễm, hơnmột nửa bố, mẹ bệnh nhân nghĩ rằng trẻ không thể làm chủ cuộc sống bìnhthường, thậm chí trong những khoảng thời gian ngoài cơn, một số không có nhậnthức đúng về cơn hen phế quản, việc sử dụng thuốc còn thiếu hiểu biết [30].Năm 2003, Lai CK nghiên cứu tình hình bệnh hen 3207 trẻ em mắchen tại các nước thuộc Châu Á Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam. Kết20quả cho thấy, có tới 44,3% trẻ bị hen phải thức dậy vào ban đêm vì khó thở, tỷlệ cơn hen phải nhập viện khá cao: 2/5 cơn, tỷ lệ sử dụng corticoide dạng hítlà 13,6%, sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh là 56,3% và có 36,5%
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp “vàng” cho bệnh nhân đột quỵ não

GIẢI PHÁP “VÀNG” CHO BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NÃO

trị mới này cho biết, có rất nhiều nguy cơ dẫn đến tắc mạch máu não. Đó là tuổi cao, tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch (đặc biệt rung nhĩ), hút thuốc lá, nghiện rượu, béo phì, đái tháo đường, hẹp động mạch cảnh... Để có cơ may được điều trị hiệu quả, người bệnh cần nhận biết sớm các dấu hiệu của bệnh như: Đột ngột yếu hoặc tê bì mặt, tay hoặc chân, đặc biệt hay xảy ra một bên của cơ thể; Đột ngột rối loạn ý thức; Có bất thường về lời nói hoặc hiểu lời nói; Chóng mặt hoặc mất thăng bằng; Đau đầu dữ dội xảy ra đột ngột mà không rõ căn nguyên. Đột phá trong điều trị tai biến mạch máu não Theo các chuyên gia hồi sức cấp cứu và tim mạch, hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam, tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong thứ 2 sau các bệnh lý tim mạch. Bệnh nhân không chỉ là người cao tuổi mà ngày một trẻ hóa. Bản chất của nhồi máu não là do giảm đột ngột lượng máu đến não, có thể do tắc nghẽn hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn mạch máu do cục máu đông, làm cho tế bào não không được tưới máu, không được nuôi dưỡng, làm giảm ôxy... Quá trình này nếu kéo dài sẽ làm tổn thương tế bào não, thậm chí làm chết tế bào và gây ra các hậu quả mà biểu hiện bằng các dấu hiệu khi ta quan sát, tiếp xúc với người bệnh như đột ngột liệt một bên tay, chân, nói ngọng, nói khó, không nói được, không thể nhận biết được bản thân và người xung quanh. Theo ThS. Mai Duy Tôn, cùng với các biện pháp cấp cứu, điều trị bệnh triệt để nhất hiện nay là dùng thuốc tiêu sợi huyết sớm trong vòng 3 giờ đầu kể từ khi có triệu chứng đầu tiên, nếu bệnh nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chỉ định và không có các chống chỉ định. Đây là một phương pháp điều trị mới đang được áp dụng tại một số bệnh viện phía Nam, còn tại miền Bắc, phương pháp này cũng đang được áp dụng điều trị tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh nhân khi có chỉ định dùng thuốc sẽ được truyền trong vòng 1 giờ, trong thời gian dùng thuốc và sau dùng thuốc, bệnh nhân sẽ được chăm sóc và theo dõi sát tại các đơn vị hồi sức. Theo kết quả công bố của rất nhiều nước trên thế giới cho thấy, những bệnh
Xem thêm

5 Đọc thêm

Thuốc điều trị bệnh gout và những lưu ý khi sử dụng pdf

THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH GOUT VÀ NHỮNG LƯU Ý KHI SỬ DỤNG

Bệnh nhân dùng probenecid cần uống 2 lít nước mỗi ngày khi bắt đầu điều trị để bảo đảm đủ nước tiểu tránh nguy cơ sỏi thận. Sulfinpyrazone Sulfinpyrazone là một chất làm tăng bài tiết Acid Uric qua nước tiểu có tác dụng kháng tiểu cầu nhưng ít dùng vì nguy cơ ức chế tủy xương. Allopurinol Allopurinol ngăn chặn xanthine oxidase và làm giảm sản xuất Acid Uric. Do đó, nên được dùng các bệnh nhân sản xuất quá nhiều Acid Uric và bệnh nhân có nguy cơ hội chứng phân giải khối u (tumor lysis syndrome) để đề phòng ngộ độc thận trong khi đang điều trị ung thư. Đây là thuốc hiệu quả nhất để làm giảm lượng Acid Uric trong huyết thanh. Tuy nhiên, rượu có thể làm giảm hiệu quả của allopurinol. Khoảng 3-10% bệnh nhân dùng allopurinol bị khó tiêu, nhức đầu, tiêu chảy hoặc nổi sẩn, mẩn ngứa. Hiếm gặp hơn là trường hợp phản ứng quá mẫn với allopurinol với tỉ lệ tử vong khoảng 20-30%. Các biểu hiện của phản ứng quá mẫn là sốt, hoại tử biểu bì nhiễm độc, suy tủy, tăng eosinophil, phản ứng bạch cầu, suy thận, suy gan, và viêm mạch máu. Corticoids thường được dùng trong trường hợp phản ứng quá mẫn. Phản ứng quá mẫn với allopurinol thường gặp bệnh nhân suy thận, bệnh nhân dùng lợi tiểu, và bệnh nhân khởi đầu bằng viên allopurinol hàm lượng 300 mg. Allopurinol cần được ngưng khi bệnh nhân nổi sẩn ngứa. Trong đa số trường hợp nên bắt đầu bằng liều 100mg mỗi ngày và điều chỉnh liều mỗi tháng tùy theo mức Acid Uric cho đến khi đạt mục tiêu 5-6 mg/dl. Lưu ý vấn đề tương tác thuốc. Ví dụ, allopurinol kéo dài thời gian bán hủy của azathioprine và 6-mercaptopurine, làm tăng độc tính của của cyclophosphamide. Dùng chung với ampicillin tăng nguy cơ sẩn ngứa. Một khi mục tiêu Acid Uric đã đạt và giữ được ổn định trong 6 tháng, ngưng colchicine dự phòng đợt cấp. Nên tránh dùng các thuốc làm tăng Acid Uric bệnh nhân bị Gout. Tránh
Xem thêm

8 Đọc thêm

Ho có phải là một bệnh? ppsx

HO CÓ PHẢI LÀ MỘT BỆNH? PPSX

nguy hiểm cho tính mạng người bệnh. Ví dụ một người bị ho do hen phế quản mà tự ý mua thuốc ho hoặc dược tá chỉ vì mục đích bán được thuốc, không biết chống chỉ định khi dùng thuốc ho có dẫn chất của thuốc ức chế hô hấp thì cực kỳ nguy hiểm. Do vậy người bệnh cần khám bệnh cơ sở y tế để xác định nguyên nhân gây ho (tức là xác định bệnh gì) và phải điều trị đúng bệnh thì vừa khỏi bệnh và vừa hết ho. Một điều lưu ý nữa là không phải người bệnh nào bị ho cũng dùng kháng sinh vì kháng sinh chỉ dùng khi biết chắc chắn là có nhiễm khuẩn. Nếu do virut thì không cần thiết dùng kháng sinh, trừ khi có bội nhiễm vi khuẩn. Nên vệ sinh răng, họng, miệng hằng ngày. Nếu có nghiện thuốc lá, thuốc lào nên bỏ đặc biệt là những người bị bệnh hen, bệnh tim, bệnh viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, bệnh lao phổi và trong nhà có trẻ em thì việc bỏ thuốc lá, thuốc lào càng sớm càng tốt. Cần vệ sinh môi trường, hoàn cảnh trong từng gia đình, thôn xóm, khu phố, phường. Những vùng nông thôn đang dùng bếp củi, bếp rơm rạ nên sử dụng loại bếp ít khói.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Trời rét đậm, trẻ mắc bệnh hô hấp tăng doc

TRỜI RÉT ĐẬM TRẺ MẮC BỆNH HÔ HẤP TĂNG

Trời rét đậm, trẻ mắc bệnh hô hấp tăng Tuần qua, thời tiết trở lạnh đột ngột khiến số lượng trẻ nhập viện có xu hướng tăng. Đáng lo ngại, nhiều trường hợp nhập viện muộn, đặc biệt là trẻ sơ sinh dẫn đến biến chứng viêm phổi, viêm tiểu phế quản, sốt cao, co giật… Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) mỗi ngày tiếp nhận khoảng 200 trẻ đến khám và 100 lượt điều trị nội trú, gấp 1,5 lần so với những ngày trước đó. Trong khi, khoa chỉ có 60 giường nên nhiều trẻ phải nằm ghép giường. Phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai cho biết kiểu thời tiết lạnh giá vào đêm và sáng sớm, oi bức vào ban ngày là nguyên nhân chính khiến số trẻ nhập viện tăng mạnh. Trẻ đến khám chủ yếu do mắc các bệnh như: nhiễm khuẩn hô hấp, tiêu chảy do rotavirus, sốt virus… Trong đó, mỗi ngày có đến 15 trường hợp phải nhập viện điều trị nội trú do sốt cao, co giật, biến chứng viêm màng não, biến chứng viêm phổi. Bác sĩ Vũ Thị Thúy Lan, Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cũng cho biết, đây là thời điểm thuận lợi cho virus đường hô hấp phát triển, trong đó có virus hợp bào hô hấp (RSV), cả người lớn và trẻ em đều có thể nhiễm virus này. Với người lớn, trẻ lớn thường chỉ có biểu hiện cảm, ho nhẹ, tuy nhiên trẻ sơ sinh, đặc biệt trẻ nhỏ 1,5 -2 tháng tuổi bị suy hô hấp nặng và nhanh. “Trẻ nhỏ không có phản xạ ho, khạc như người lớn, nên dễ bị viêm tắc đờm, dẫn đến xẹp phổi. Trong khi đó, kháng sinh lại ít có tác dụng, bệnh lâu khỏi”, bác sĩ Lan nói. Khi con bị sốt virus cha mẹ cần tránh dùng thuốc kháng sinh vì không có tác dụng mà lại hại người. Trẻ có thể bị sốt đến 5 ngày liền nên nếu uống thuốc kháng sinh liên tục càng khiến trẻ mệt hơn, bệnh lâu khỏi. Điều quan trọng là dùng thuốc hạ sốt để tránh trẻ bị sốt cao dẫn đến co giật và bổ sung thêm nước. Ngoài ra, số trẻ bị hen đến khám và nhập viện cũng tăng mạnh do trời lạnh khiến các bé bị khởi phát cơn hen nặng, đột ngột. Có trẻ 1-2 năm khỏi, tự dưng đợt này lại lên cơn hen. Tại miền Trung, trời rét buốt cũng làm nhiều trẻ em bị nhiễm lạnh và phát sinh nhiều bệnh như viêm phổi, ho sốt, viêm phế quảnKhoa Nhi (Trung tâm phụ sản – nhi Đà Nẵng) gần một tuần nay có rất đông phụ
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tài liệu Khi nào bệnh nhân gout cần dùng colchicine? Tinh thể acid làm sưng các khớp doc

TÀI LIỆU KHI NÀO BỆNH NHÂN GOUT CẦN DÙNG COLCHICINE? TINH THỂ ACID LÀM SƯNG CÁC KHỚP DOC

máu, nó có thể gây viêm tắc tĩnh mạch. Mất bạch cầu hạt là biến chứng quan trọng nhất khi dùng colchicine tĩnh mạch. Cần đếm bạch cầu hạt trước khi tiêm truyền. Các biến chứng khác bao gồm đông máu nội mạc rải rác (DIC), suy thận, độc tế bào gan, co giật và shock. Điều trị phòng ngừa đợt gout cấp Giảm lượng uric acid bằng allopurinol hoặc probenecid có thể làm bùng phát đợt gout cấp. Khi sử dụng dự phòng, colchicine có thể làm giảm đợt cấp xuống 85%. Liều dự phòng colchicine tiêu chuẩn là 0,6mg ngày 2 lần. Khi suy thận cần giảm liều hoặc dùng cách nhật. Nếu so sánh với 80% bệnh nhân có nguy cơ tác dụng phụ trên đường tiêu hoá khi dùng colchicine cho đợt gout cấp thì liều lượng colchicine dự phòng chỉ gây tác dụng phụ trên 4% bệnh nhân mà thôi. Sử dụng colchicine kéo dài có thể dẫn đến yếu cơ kết hợp với tăng creatine kinase do thuốc gây bệnh lý thần kinh cơ, đặc biệt những bệnh nhân suy thận. Nếu bệnh nhân không dùng được colchicine, có thể thay thế bằng NSAID để dự phòng, ví dụ indomethacin 25mg, ngày 2 lần. Dự phòng bằng colchicine có thể bắt đầu ngay đợt cấp của gout. Giảm lượng uric acid Trong nhiều trường hợp, các bệnh nhân bị đợt gout cấp lần đầu cần phải được điều trị bằng các thuốc hạ uric acid, do nguy cơ tái phát những đợt cấp về sau và do nguy cơ hình thành những tophi phá huỷ xương và bao hoạt dịch, ngay cả khi không có những đợt viêm cấp. Một số nhà khớp học cho rằng nên chờ đợt cấp thứ 2 để bắt đầu điều trị giảm mức uric acid vì không phải bệnh nhân nào cũng có đợt viêm cấp thứ 2 và do bệnh nhân cần được thuyết phục phải điều trị suốt đời. Quyết định này còn tuỳ thuộc một phần vào lượng uric trong máu (mức > 9mg/dL là báo hiệu cho thấy khả năng sẽ có tái phát và hình thành tophi). Trong tất cả các trường hợp, nguy cơ và lợi ích cần được cân nhắc dựa trên
Xem thêm

5 Đọc thêm

Khi nào bệnh nhân gout cần dùng colchicine? pdf

KHI NÀO BỆNH NHÂN GOUT CẦN DÙNG COLCHICINE? PDF

suy gan, suy thận. Khi dùng tiêm tĩnh mạch, pha loãng colchicine trong dung dịch NaCl đẳng trương và bơm chậm trong thời gian 10 - 20 phút, sau đó không tiếp tục dùng colchicine nữa trong ít nhất 1 tuần. Nếu thuốc thoát khỏi thành mạch, nó có thể gây hoại tử mô. Trong mạch máu, nó có thể gây viêm tắc tĩnh mạch. Mất bạch cầu hạt là biến chứng quan trọng nhất khi dùng colchicine tĩnh mạch. Cần đếm bạch cầu hạt trước khi tiêm truyền. Các biến chứng khác bao gồm đông máu nội mạc rải rác (DIC), suy thận, độc tế bào gan, co giật và shock. Điều trị phòng ngừa đợt gout cấp Giảm lượng uric acid bằng allopurinol hoặc probenecid có thể làm bùng phát đợt gout cấp. Khi sử dụng dự phòng, colchicine có thể làm giảm đợt cấp xuống 85%. Liều dự phòng colchicine tiêu chuẩn là 0,6mg ngày 2 lần. Khi suy thận cần giảm liều hoặc dùng cách nhật. Nếu so sánh với 80% bệnh nhân có nguy cơ tác dụng phụ trên đường tiêu hoá khi dùng colchicine cho đợt gout cấp thì liều lượng colchicine dự phòng chỉ gây tác dụng phụ trên 4% bệnh nhân mà thôi. Sử dụng colchicine kéo dài có thể dẫn đến yếu cơ kết hợp với tăng creatine kinase do thuốc gây bệnh lý thần kinh cơ, đặc biệt những bệnh nhân suy thận. Nếu bệnh nhân không dùng được colchicine, có thể thay thế bằng NSAID để dự phòng, ví dụ indomethacin 25mg, ngày 2 lần. Dự phòng bằng colchicine có thể bắt đầu ngay đợt cấp của gout. Giảm lượng uric acid Trong nhiều trường hợp, các bệnh nhân bị đợt gout cấp lần đầu cần phải được điều trị bằng các thuốc hạ uric acid, do nguy cơ tái phát những đợt cấp về sau và do nguy cơ hình thành những tophi phá huỷ xương và bao hoạt dịch, ngay cả khi không có những đợt viêm cấp. Một số nhà khớp học cho rằng nên chờ đợt cấp thứ 2 để bắt đầu điều trị giảm mức uric acid vì không phải bệnh nhân nào cũng có đợt viêm cấp thứ 2 và do bệnh nhân cần được
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghiên cứu so sánh 2 thang điểm PRAM và PASS trong đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ từ 18 tháng đến 7 tuổi tại Trung tâm Nhi Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế

NGHIÊN CỨU SO SÁNH 2 THANG ĐIỂM PRAM VÀ PASS TRONG ĐÁNH GIÁ CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP Ở TRẺ TỪ 18 THÁNG ĐẾN 7 TUỔI TẠI TRUNG TÂM NHI KHOA - BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, hiện có khoảng 300 triệu người trên thế giới đang hứng chịu bệnh hen phế quản. Gần 250.000 người phải chết sớm mỗi năm vì bệnh, trong khi hầu hết những cái chết này có thể phòng tránh được [22]. Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do hen phế quản có xu hướng ngày càng tăng, nhất là ở trẻ em. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, thống kê trong 20 năm (1980 – 2010) cho thấy, số trẻ em mắc hen phế quản đã tăng lên gấp 3 – 4 lần [9]. Hơn 50% số trẻ vào cấp cứu vì cơn hen phế quản cấp ở độ tuổi trước tuổi đi học [28]. Sự đánh giá đầy đủ mức độ nặng cơn hen phế quản cấp quan trọng trong bước đầu quản lý bệnh nhân cũng như cho biết mức độ đáp ứng với điều trị trên lâm sàng. Tuy nhiên, điều đó khó hơn khi đánh giá ở trẻ. Bằng kinh nghiệm lâm sàng của người thầy thuốc thường không đủ để quyết định mức độ tắc nghẽn đường thở, mà cần phải có những công cụ khách quan như phế dung kế và lưu lượng đỉnh kế hỗ trợ thêm. Hướng dẫn quốc gia về điều trị cơn hen phế quản cấp của Mỹ cũng cho rằng, đo lưu lượng đỉnh thở ra (PEFR - Peak Expiratory Flow Rate) hay các phương pháp thăm dò chức năng hô hấp khách quan khác, đo lường mức độ tắc nghẽn đường thở giá trị hơn sự thăm khám lâm sàng. Tuy nhiên, các phương pháp này luôn khó đạt được trong cơn hen phế quản cấp, đặc biệt càng khó hơn khi áp dụng ở trẻ nhỏ, hoặc các trẻ xa lạ với kỹ thuật đo lưu lượng đỉnh hay phế dung kế này, vì trẻ khó lĩnh hội, do đó thiếu khả năng phối hợp. Mặt khác, các phương tiện này không sẵn có thường xuyên tại phòng cấp cứu và việc sử dụng chúng phải do những người đã được huấn luyện thực hiện. Những lý do trên càng củng cố thêm cho việc cần có một thang điểm lâm sàng để quản lý bệnh nhi cũng như để phục vụ trong nghiên cứu lâm sàng [39], [40]. Với sự thiếu vắng một tiêu chuẩn khách quan và được chuẩn hoá, trên thế giới đã có nhiều thang điểm khác nhau được triển khai để đánh giá mức độ nặng cơn hen phế quản cấp. Trong các thang điểm đó, chúng tôi tìm thấy hai thang điểm được công nhận có hiệu lực, có thể áp dụng trong đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ nhỏ, là: thang điểm đánh giá hô hấp trẻ trước tuổi đi học (Preschool Respiratory Assessment Measure - PRAM) và thang điểm đánh giá mức độ nặng hen phế quản trẻ em (Pediatric Asthma Severity Score - PASS). Đã có nhiều công trình trong nước nghiên cứu về các mặt khác nhau của bệnh hen phế quản nói chung cũng như về cơn hen phế quản cấp nói riêng. Trong đó, hướng dẫn của Chương trình hành động toàn cầu về hen phế quản – GINA (Global Initiative for Asthma) được sử dụng như cẩm nang đầu tay bởi hầu hết các tác giả. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về áp dụng thang điểm trong đánh giá mức độ nặng cơn hen phế quản cấp ở trẻ, đặc biệt ở nhóm trẻ nhỏ. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu so sánh 2 thang điểm PRAM và PASS trong đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ từ 18 tháng đến 7 tuổi tại Trung tâm Nhi Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế”, nhằm hai mục tiêu: 1.Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thang điểm PRAM, thang điểm PASS trong cơn hen phế quản cấp ở trẻ 18 tháng - 7 tuổi vào điều trị tại Trung tâm Nhi Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế. 2.So sánh và đối chiếu mức độ phù hợp của 2 thang điểm PRAM và PASS với cách phân loại của GINA trong đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ 18 tháng - 7 tuổi vào điều trị tại Trung tâm Nhi Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế.
Xem thêm

93 Đọc thêm

Món ăn phòng, trị viêm phế quản doc

MÓN ĂN PHÒNG TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN

Món ăn phòng, trị viêm phế quản Mùa đông đang đến gần, khi thời tiết trở lạnh, người già và trẻ nhỏ rất dễ mắc bệnh viêm phế quản. Để điều trị, có thể dùng các món ăn bài thuốc… Viêm phế quản là một bệnh lý của đường hô hấp, trong đó niêm mạc của phế quản trong phổi bị viêm. Khi niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dày lên, làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, gây ra ho và có thể kèm theo đờm đặc. Bệnh diễn biến theo 2 dạng: cấp tính (thường kéo dài dưới 6 tuần) và mãn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, những bệnh nhân bị hen phế quản (hen suyễn) thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen… Viêm phế quản có thể điều trị bằng thuốc (tây y hoặc đông y), bên cạnh đó, dùng các món ăn bài thuốc vẫn là cách an toàn hơn. Một số món ăn có thể dùng cho người bệnh này như dưới đây: - Cháo hành: Hành lá, hành củ vừa đủ, gạo nếp 60 g, vài lát gừng tươi. Chế biến: hành cắt đoạn dài 2 – 3 cm, hành củ cắt nhỏ, rồi đem nấu cháo với gạo nếp, gừng, nêm nếm vừa dùng. Ăn lúc cháo còn nóng, ăn xong đắp chăn cho ra mồ hôi. Những người ho do táo nhiệt, người hay ra nhiều mồ hôi thì không nên dùng. - Cháo hạnh nhân: Hạnh nhân 15 g, gạo trắng 50 g. Chế biến: hạnh nhân bỏ vỏ, nghiền với nước, rồi gạn lấy nước này đem nấu cháo với gạo, nêm ít gia vị. Ăn lúc cháo nóng, vào sáng sớm và chiều tối. Món cháo này có công dụng giảm ho, khó thở, ngực bứt rứt.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tài liệu Cháo rau cải cúc tốt cho người viêm phế quản docx

TÀI LIỆU CHÁO RAU CẢI CÚC TỐT CHO NGƯỜI VIÊM PHẾ QUẢN DOCX

Cháo rau cải cúc tốt cho người viêm phế quản Mùa đông đang đến gần, khi thời tiết trở lạnh, người già và trẻ nhỏ rất dễ mắc bệnh viêm phế quản. Để điều trị, có thể dùng các món ăn bài thuốc… Viêm phế quản là một bệnh lý của đường hô hấp, trong đó niêm mạc của phế quản trong phổi bị viêm. Khi niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dày lên, làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, gây ra ho và có thể kèm theo đờm đặc. Người già và trẻ em dễ mắc bệnh viêm phế quản khi trời lạnh Bệnh diễn biến theo 2 dạng: cấp tính (thường kéo dài dưới 6 tuần) và mãn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, những bệnh nhân bị hen phế quản (hen suyễn) thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen… Viêm phế quản có thể điều trị bằng thuốc (tây y hoặc đông y), bên cạnh đó, dùng các món ăn bài thuốc vẫn là cách an toàn hơn. Canh và cháo cải cúc không đơn thuần là một loại thực phẩm mà còn là một vị thuốc dân gian khi mùa đông giá rét tới. Cải cúc (tần ô) không đơn thuần là một loại thực phẩm mà còn là một vị thuốc hữu dụng. Cải cúc là một vị thuốc rất hữu dụng Cải cúc có vị ngọt, hơi đắng, the, thơm, rất giàu protein, các axit amin và các loại vitamin rất tốt cho phòng chữa bệnh do giá lạnh từ trong và ngoài cơ thể. Những người mắc bệnh viêm phế quản nhánh cấp tính nếu ăn cháo rau cải cúc sẽ rất có lợi. Cách chế biến món cháo này cũng rất đơn giản. Để nấu cho một người ăn, bạn chỉ cần: rau cải cúc 200g, đường phèn 100g, gạo tẻ 100g. Sau đó, bạn rửa sạch rau
Xem thêm

3 Đọc thêm

khảo sát sử dụng ks trong điều trị vp trẻ em tại bv bạch mai năm 2006

KHẢO SÁT SỬ DỤNG KS TRONG ĐIỀU TRỊ VP TRẺ EM TẠI BV BẠCH MAI NĂM 2006

các trường hợp đã phối hợp với Aminosid trước khi v|o viện; (2) Tất cả 303 trẻ viêm phổi v|o viện đều được điều trị KS từ 2 tới 32 ng|y, trung bình l| 8,71 ± 4,23 ng|y, dù có tới 131 trẻ ít khả năng nhiễm vi khuẩn m| chỉ có 54 trẻ (17,8%) có nhiều khả năng nhiễm vi khuẩn., trong đó phần lớn (68,7%) được điều trị bằng một loại KS; 30,3% được điều trị bằng từ 2 loại KS trở lên. (3) KS điều trị ban đầu phổ biến nhất tại bệnh viện l| Cephalosporin thế hệ 1 (48,5%), KS thay thế chủ yếu l| Cephalosporin thế hệ 3 (31,0%). Không có sự kh{c biệt về thời gian cũng như số nhóm thuốc được chỉ định điều trị cho hai nhóm ít v| nhiều khả năng nhiễm vi khuẩn. (4) Có 15,2 % trẻ được phối hợp KS ngay khi nhập viện, giữa Cephalosporin (thế hệ 1, 2 v| 3) với aminosid. Thời gian sử dụng aminosid trung bình là 6,0 ± 2,4 ngày, trong đó có 55,8% được sử dụng kéo d|i trên 5 ng|y. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Bourrillon A. (2007), “Antibiothérapie par voie générale des infections des voies aériennes inférieures de l’enfant en pratique courante.Pneumonies aiguies communautaires”, Agence Français de Sécurité Sanitaire des Produits de Santé. http://www.umvf.fmt.rnu.tn/campus-pediatrie/cycle2/poly/1100faq.asp. 2 Duffy L B, Michelow I C, Rollins N K et al. (2004), “Epidemiology and clinical characteristics of community-acquired pneumonia in hospitalized children”, Pediatrics
Xem thêm

6 Đọc thêm

Cùng chủ đề