CẢM NHẬN CỦA ANH CHỊ VỀ HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ QUA HAI TÁC PHẨM ‘TỰ TÌNH II’ CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ ‘THƯƠNG VỢ’ CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG.

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người phụ nữ qua hai tác phẩm ‘Tự tình II’ của Hồ Xuân Hương và ‘Thương vợ’ của Trần Tế Xương.":

Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người phụ nữ qua hai tác phẩm ‘Tự tình II’ của Hồ Xuân Hương và ‘Thương vợ’ của Trần Tế Xương.

Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người phụ nữ qua hai tác phẩm ‘Tự tình II’ của Hồ Xuân Hương và ‘Thương vợ’ của Trần Tế Xương.

Từ lâu, đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa đã trở nên phổ biến trong các tác phẩm văn học. đặc biệt trong các tác phẩm thơ ca trung đại, hình ảnh người phụ nữ xưa hiện lên với hình ảnh tủi khổ, cô độc và đầy bẽ bàng qua ngòi bút của tác giả tiêu biểu như Nguyễn Du, Nguyễn Dữ,… tuy nhiên , bên cạnh sự cảm thông trước những số phận bất hạnh ấy, họ cũng đã cho ta thấy những đức tính, những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ phong kiến tượng trưng cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Những điều trên được thể hiện rõ nét qua hai tác phẩm tiêu biểu, đó là ‘Tự Tình II’ của Hồ Xuân Hương và thương vợ của Trần Tế Xương.
Xem thêm

Đọc thêm

CẢM NHẬN BÀI THƠ TỰ TÌNH II CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

CẢM NHẬN BÀI THƠ TỰ TÌNH II CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM ĐỀ 1: Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương1.Hoàn chỉnh kết cấu, đủ 3 phần MB, TB và KB: 0,5 điểm2.Xác định đúng yêu cầu của đề: phân tích nội dung và nghệ thuật: 0, 5 điểm3.Nội dung:- MB: Giới thiệu được những thông tin về tên, quê, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tg.Giới thiệu tên và nội dung của tác phẩm: 0,5 điểm.- TB: 5,0 điểm+ 1. Phân tích nội dung bài thơ theo bố cục1.1. Hai câu đầu: Hoàn cảnh tự tình của nhân vật trữ tình:Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,Trơ kái hồng nhan với nước non.- Người tự tình ngồi một mình trong đêm khuya khoắt trong cái tĩnh lặng. Thời gian người tựtình xuất hiện đó là một đêm khuya. Đêm là khoảng thời gian con người cần được nghỉ ngơisau một ngay làm việc vất vả. Đêm khoảng thời gian sum họp vợ chồng, là thời điểm củahạnh phúc lứa đôi. Hình ảnh ng phụ nữ xuất hiện trong đêm khuya khoắt, vắng lặng và sựxuất hiện của người phụ nữa ấy đã gieo vào lòng người đọc một nỗi cảm thương sâu sắc.- Sự xuất hiện của âm thanh tiếng trống canh. Tiếng trống canh được tác giả cảm nhận rấttinh tế đó là tiếng trống văng vẳng là tiếng trống dồn dập . bằng việc sử dụng từ láy văngvẳng tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại, đólà một âm thanh khá âm vang và đầy hối hả: âm thanh của tiếng trống canh dồn. Tg lấycái động là âm thanh của tiếng trống canh dồn dập để tả cái lĩnh lặng của thời gian vàkhông gian trong đêm khuya và để gợi cái tĩnh lặng trong tâm hồn của người phụ nữ.- Hình ảnh người phụ nữ ngồi lặng lẽ, trơ trọi một mình: Trơ cái hồng nhan với nước non.Tg đã đảo từ “trơ” lên đầu câu nhằm nhấn mạnh nỗi cô đơn, sự vô cảm, lạnh lùng, thờ ơtrước những đớn đau đã trở nên quá quen thuộc. . Tác giả nhận thấy mình thật trơ trọi trongđêm trường, thật trơ trọi giữa cuộc đời. Từ “trơ” đặt ở đầu câu cộng với cách ngắt nhịp1/3/3 như nhấn mạnh vào nỗi cay đắng, sự tủi hổ và bẽ bàng của cái hồng nhan. Tự nhậnmình là cái hồng nhan điều đó thể hiện ro ý thức của nhân vật tự tình về nhan sắc củamình về giá trị của bản thân. Nhưng giá trị của người có nhan sắc cũng chỉ như một sự vậttầm thường trơ trọi giữa nước non. Không chỉ có nghệ thuật đảo ngữ, sự sáng tạo về nhịpthơ mà trong câu thơ trên còn có cả nghệ thuật đối. Tác giả đã tạo được một vế đối hài hòa
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tài liệu bài viết số 1 lớp 11 docx

TÀI LIỆU BÀI VIẾT SỐ 1 LỚP 11 DOCX

mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong bà. Nhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào, thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có những phẩm chất đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu thương , lòng nhân hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Câu thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh năm chẳng nề hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng nuôi đủ vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sự vất vả, gian lao đức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Còn với Tự Tình II, dù đớn đau đến mức nào thì trong sâu thẳm trái tim bà, dù yếu ớt đến đâu cũng loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình: “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.” Một hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh, không chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy. Ở đây, Hồ Xuân Hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những phản ứng tích cực, bà không buông xuôi, đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách thay đổi vận mệnh, cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Hai câu thơ tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm cuả cảnh vật đó đã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Hàng loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên đầu câu. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, mà là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải “đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu dã làm nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây mà cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Chỉ những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đấy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở nên vô cùng sống động. Cự động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những gì gò bó đẻ dược tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hoà hợp với con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm nhân vật. Và ta cũng thấy được tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lệ phong kiến, cũng như những số phận hẩm hiu đang tàn
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cảm nhận về bài thơ “Thương vợ” của Trần Tú Xương

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “THƯƠNG VỢ” CỦA TRẦN TÚ XƯƠNG

Cảm nhận về bài thơ “Thương vợ” của Trần Tú XươngI/Mở bài :- Tú Xương là nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc của nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thếkỉ XX đồng thời cũng là tác giả của những vần thơ trữ tình đằm thắm , thiết tha .- “Thương vợ” là một sáng tác tiêu biểu cho bút pháp trữ tình trong thơ Tú Xương.- Bài thơ đã khắc họa chân dung bà Tú vất vả đảm đang , giàu đức hi sinh và bộc lộ sự cảm thông , lòng yêu thương trân trọng ngợi ca người vợ của nhà thơ .II/Thân bài :1/ Giới thiệu chung :- Trong thơ trung đại Việt Nam , các nhà thơ –nhà nho ít khi viết về cuộc sống tình cảm đời tư của mình , càng hiếm khi viết về người vợ . Thơ văn xưa coi trọng mục đích giáo huấn , dùng văn thơ để dạy đời , tỏ chí “văn dĩ tải đạo” , “thi dĩ ngôn chí” , với những đề tài phổ biến như : chí làm trai , nợ công danh , chí kinh bang tế thế hoặc những ưu tư về thời cuộc …- Cũng trong xã hội xưa , vị thế cảu người phụ nữ ít được coi trọng , thậm chí còn bị coi rẻ .- Tú Xương thì khác . Ông có nhiều bài thơ viết về vợ với những câu đầy thương mến , hóm hỉnh :“Có một cô lái , nuôi một thầy đồ ,Quần áo rách rưới , ăn uống xô bồ”Đây là lời đáp của bà Tú khi được ông Tú hỏi về câu đối vừa mới viết :“ Thưa rằng hay thực là hay ,Không hay sao lại đỗ ngay tú tài ,Xưa nay em vẫn chịu ngài”- Trong một loạt bài thơ Tú Xương viết về vợ , Thương vợ được coi là tác phẩm tiêu biểu hơn cả . Bài thơthể hiện cả hai mặt trong thơ Tú Xương , vừa ân tình vừa hóm hỉnh .- Thương vợ được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng ngôn ngữ rất sinh đọng tự nhiên , mang đậm sắc thái dân gian , mang nét riêng độc đáo của thơ Tú Xương .2/ Hai câu đề : Quanh năm buôn bán ở mom sông ,Nuôi đủ năm con với một chồng .- Câu thơ mở đầu cất lên thật tự nhiên , dường như không chút gọt giũa mà nói được bao điều về hình ảnhvà công việc làm ăn của bà Tú .
Xem thêm

3 Đọc thêm

TỰ TÌNH II - HỒ XUÂN HƯƠNG

TỰ TÌNH II - HỒ XUÂN HƯƠNG

1(Baøi II)Hoà Xuaân Höông 2I. Tìm hieåu chung1. Taùc giaû(Sgk) 3I. Tìm hiểu chung1. Tác giả(Sgk)-S ng cu i TK 18, đ u TK 19, quê Nghệ An, sống ở ố ố ầThăng Long, tại Cổ Nguyệt đường.-Hay chữ, phóng khoáng- Cuộc đời tình duyên éo le, ngang trái.-Sáng tác: Lưu hương ký gồm 24 bài thơ chữ Hán và 26 bài chữ Nôm, 46 bài thơ Nôm (tương truyền).- Nội dung: thương cảm đối với người phụ nữ và khẳng đònh, đề cao vẻ đẹp, khát vọng của họ.- Là một hiện tượng độc đáo: viết về phụ nữ vừa trào phúng vừa trữ tình, đậm chất văn học dân gian.Dựa vào phần tiểu dẫn SGK, em trình bày sơ lược vài nét về nữ só Hồ Xuân Hương?- Được tôn là “ Bà chúa thơ Nôm” (Xuân Diệu) 4•Tự tình I
Xem thêm

14 Đọc thêm

KTCL ĐẦU NĂMVĂN 11

KTCL ĐẦU NĂMVĂN 11

ĐỀ KIỂM TRA CHẤT LƯNG ĐẦU NĂMKHỐI 11MÔN NGỮ VĂNTHỜI GIAN LÀM BÀI 90 PHÚTĐỀ 1Câu 1: (2điểm) Nêu những yêu cầu chung khi sử dụng tiếng Việt? Câu 2: : (3điểm)Hãy viết bài tham gia cuộc vận động tìm giải pháp đảmbảo an toàn giao thông. Câu 3: (5 điểm)Cảm nhận của anh (chò) về bài thơ “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,Mảnh tình san sẻ tí con con!”(SGK Ngữ Văn 11-tập 1)--------------------------Hết--------------------------ĐÁP ÁN KIỂM TRA CHẤT LƯNG ĐẦU NĂMMÔN NGỮ VĂN KHỐI 11ĐỀ 1Câu 1: Yêu cầu chung khi sử dụng tiếng Việt? (2điểm)-Về ngữ âm và chữ viết-Về từ ngữ-Về ngữ pháp-Về phong cách ngôn ngữCâu 2: : Hãy viết bài tham gia cuộc vận động tìm giải pháp đảm bảo antòan giao thông. (3điểm)* Mở bài: 0.5 điểm
Xem thêm

6 Đọc thêm

hình ảnh người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương

HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

2. Sự nghiệp sáng tác Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cáchthơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là mộttrong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam, “là nhà thơ độc đáo có một không haitrong lịch sử văn học dân tộc” Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữNôm truyền miệng. Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không thể hiện rõ cátính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ Xuân Hương chủyếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà. Cách tả cảnh, tả tình, cách dùng từ trong thơ Nôm của bà có một không hai, vô cùngsống động và đặc sắc. X.Diệu đánh giá thơ Hồ X.Hương là "tót vời của nguồn thơ nôm na bìnhdân". Xuân Hương là một nữ sĩ có thiên tài và giàu tình cảm, nhưng “vì số phận hẩm hiu, thân thếlong đong, nên trong thơ của bà hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai, nhưng bài nào cũngchứa chan tình tự” Thơ Xuân Hương cũng rắc rối, phức tạp như chính cuộc đời bà. Số bài thơ còn lại cho đếnnay chủ yếu nhờ vào sự lưu truyền, bảo vệ của nhân dân nên có nhiều dị bản. Giáo viên: Trần Nam Phong8Trường THPT Đức Thọ Giáo án dạy khối Ngữ văn 11 Số thơ Nôm lâu nay được coi là của nữ sĩ khoảng năm mươi bài. Ðây là tập thơ Nôm luậtÐường xuất sắc của nền văn học dân tộc (Tập thơ Xuân Hương thi tập) Ngoài tập thơ này còn cótập thơ Lưu Hương ký mang bút danh của nữ sĩ do ông Trần Thanh Mại phát hiện vào năm1964 gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm. Với một nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ viết vềtâm sự và những mối tình của mình với những người bạn trai. Có thế nói “Sự nghiệp của Hồ Xuân Hương là ngọn hải đăng” như lời đề tựa thứ hai củatuyển tập Hồ Xuân Hương bằng tiếng Pháp. II. Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương 1. Người phụ nữ với số phận nhỏ bé, bất hạnh
Xem thêm

8 Đọc thêm

TỰ TÌNH - HỒ XUÂN HƯƠNG

TỰ TÌNH - HỒ XUÂN HƯƠNG

Hai câu đầu, một câu tả cảnh, một câu tả người. Mối quan hệ giữacảnh và tình cần được chú ý...Phân tích bài thơ “Tự tình II” của Hồ Xuân HươngBÀI LÀMHai câu đầu, một câu tả cảnh, một câu tả người. Mối quan hệ giữa cảnh và tình cần được chú ý. Khônggian là đêm khuya thanh vắng, tiếng trống cầm canh vang lên như tăng thêm sự vắng lặng, tô đậm trạngthái cô đơn của Xuân Hương. Tiếng trống dồn cũng gây ấn tượng về nhịp đi gấp gáp của thời gian, cảnhmột mình nhà thơ trơ trọi ngồi trong đêm sắp tàn, xung quanh thiểu vắng dấu hiệu của người tri ki, chỉ cótạo vật vô tình (nước non). Hai chữ “hồng nhan” thường được người xưa liên hệ với bạc phận. Nhưng lờithơ không chỉ là buồn tủi, bẽ bàng mà còn thể hiện một bản lĩnh, một cá tính. “Trơ” còn có nghĩa là tháchthức, là đương đầu với số phận, dấu hiệu của khát vọng sống có tình yêu xứng đáng.Hai câu thơ tiếp theo cũng tả cảnh và tả người nhưng đặt người trong một tượng quan với cảnh khác haicâu đầu. Có thể hiểu “say lại tỉnh ” như là cái vòng luẩn quẩn của tình cảnh nhà thơ, hình tượng vầngtrăng “khuyết chưa tròn” gợi liên tưởng về tuổi xuân trôi qua mà nhân duyên của nhà thơ không trọn vẹn.Người buồn lấy rượu để giải sầu nhưng sầu không thể dứt, như rượu uống mà không hề say. ‘say lại tỉnh”.Trăng đang tàn và khuyết. Tuy thế, trăng sẽ tròn lại được nhưng tuổi xuân của con người liệu có lặp lại?Đã buồn, nhìn trăng lại buồn hơn.Hai câu thơ số 5 và 6 tả cảnh nhưng trong cảnh vẫn ngụ tình. Hình tượng “ xiên ngang mặt đất” và “đâmtoạc chân mây” khá đặc sắc. Cảnh thiên nhiên trong hai câu thơ không phẳng lặng mà cựa quậy, trỗi dậy,tương tự như người phụ nữ trong thơ không cam chịu cô đơn, bất hạnh mà xã hội và số phận đã an bài,muốn bứt phá bật dậy tìm hạnh phúc cho bản thân. Đến rêu là loài yếu mềm mà “xiên ngang mặt đất” đểtrỗi dậy, đến đá tường như lặng im mà cũng “đâm toạc chân mây” phải một sức sống, một tình đời mạnhmẽ đến mức nào thì nhà thơ mới nhìn ra được cảnh trí sống động như vậy. Hoàn cảnh đáng buồn của bảnthân không thể làm tê liệt tinh yêu cuộc sống của tác giả.Hai câu kết bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Xuân đi rồi xuân lại có nghĩa khái quát chỉ thời gian trôiqua,nhưng mang âm vị cay đắng chán ngán vì chỉ tuổi trẻ và hạnh phúc đang đi qua, không bao giờ trởlại (không phải là thu đi rồi thu về mà chính là mùa xuân vì mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ và tình yêu- trong tiếng Hán có chữ xuân có một nghĩa là xuân tình ). Tuổi trẻ của nhà thơ đang trôi qua mà nhà thơkhông có được một tình yêu xứng đáng. Mảnh tình diễn tả tình yêu nhỏ bé thảm hại. Hai chữ san sẻngầm chỉ báo cho ta phán đoán rằng tác giả đang trong thân phận lẽ mọn hoặc hầu thiếp. Nếu đúng nhưvậy thì bài thơ là một tiếng nói táo bạo. Người phụ nữ trong bài thơ dám nói lên tiếng nói chán ghét, phản
Xem thêm

1 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII XIX QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM THƠ TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11

CHUYÊN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII XIX QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM THƠ TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11

Đề 1: Cái tôi cá nhân thèm yêu, khát sống trong Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương và Vội vàng của Xuân Diệu.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tự tình” (II) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Đề 3:
Đừng nói: Trao cho tôi đề tài
Hãy nói: Trao cho tôi đôi mắt
( Raxun Gamzatop)
Anhchị hiểu lời khuyên đó như thế nào? Bằng hiểu biết về tác phẩm Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Tú Xương), anhchị hãy chỉ ra những điểm tương đồng của hai tác phẩm và làm sáng tỏ “đôi mắt” riêng của mỗi nhà thơ.
Đề 4:Bàn về thơ, Xuân Diệu có nói: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”
Anhchị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương, anhchị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề 5:Thơ nữ viết về tình yêu thường thể hiện sâu sắc bản lĩnh và ý thức về hạnh phúc của chính người phụ nữ.
Hãy phân tích, so sánh bài thơ Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Sóng của Xuân Quỳnh để làm rõ nét chung và nét riêng trong tâm sự tình yêu của hai nữ tác giả ở hai thời đại khác nhau.
Đề 7:Nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp Jean – Michel Maulpoix cho rằng:
“Thơ là tự truyện của khát vọng”.
AnhChị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua việc cảm nhận bài thơ “Tự Tình II” của Hồ Xuân Hương và liên hệ với một số bài ca dao than thân có mở đầu bằng “Thân em..”, hãy làm sáng tỏ ý kiến.
Đề 8:Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”.
Đề 9: Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”.
Đề 10: Bản lĩnh cá nhân của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”.
Đề 11: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”.
Đề 12: Có ý kiến cho rằng: “Bài ca ngất ngưởng” thể hiện tâm hồn tự do phóng khoáng cùng thái độ tự tin của Nguyễn Công Trứ giữa cuộc đời.
Từ tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng”, anhchị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Đề 13: Nhân cách nhà Nho chân chính trong hai bài thơ: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm và Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) – Cao Bá Quát.
Đề 14: Có ý kiến cho rằng: “Sa hành đoản ca” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) là tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể. Ý kiến khác khẳng định: Tác phẩm (“Sa hành đoản ca”) là tiếng thở than oán, oán trách của Cao Bá Quát về bi kịch của bản thân nhà thơ. Bằng cảm nhận về tác phẩm Sa hành đoản ca (“Bài ca ngắn đi trên bãi cát” – Cao Bá Quát), anhchị hãy trình bày suy nghĩ về các ý kiến trên.
Đề 15: Nỗi niềm tâm sự của Cao Bá Quát trong bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”.
Đề 16: Hình ảnh người lữ khách trong “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát.
Đề 17: Bài học nhân sinh rút ra từ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát
Đề 18: Nhà thơ nổi tiếng người Đức Bertold Brecht cho rằng: Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc. Ðẹp nhất là khi anh tạo nên được ánh sáng ban ngày, thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc nhưng đó chính là ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích nhất cho con người.
AnhChị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua hai bài thơ Thương vợ của Tú Xương và Câu cá mùa thucủa Nguyễn Khuyến, hãy làm sáng tỏ.
Đề 19: Nhận xét về thơ Nguyễn Khuyến, trong bài “Nguyễn Khuyến – thi hào dân tộc”, tác giả Vũ Thanh viết: “Buồn là âm hưởng rõ nét xuyên suốt đời thơ Nguyễn Khuyến”.
Bằng hiểu biết của mình về thơ Nguyễn Khuyến, anhchị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Đề 20: Nhà văn I.X Tuốcghênhép nói: “Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì người nào khác”
(Dẫn theo Khrapchenco – Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học – Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1978).
Anhchị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ “cái giọng riêng biệt” của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương qua hai bài thơ “Câu cá mùa thu” và “Thương vợ”.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ ĐỌC HIỂU NGỮ VĂN 11

ĐỀ ĐỌC HIỂU NGỮ VĂN 11

Câu 6: Hãy liên kể tên một số tác phẩm khác cùng viết về thân phận người phụ nữ mà em đãhọc?ĐÁP ÁNCâu 1: Nhan đề bài thơ “Tự tình II”: tự bộc lộ tâm tình. Ở đây nhà thơ tự đối diện với chínhmình để tự vấn, xót thương (0,5 điểm)Câu 2: Gợi bước đi vội vã, dồn dập, gấp gáp của thời gian, gợi không gian quạnh hiu, vắng lặng(0,5 điểm) và tâm trạng rối bời, lo âu, buồn bã, cô đơn của con người khi ý thức được sự trôichảy của thời gian, của đời người (0,5 điểm).Câu 3: Từ “trơ”:Nghĩa trong câu thơ: trơ trọi, cô đơn, có gì như vô duyên, vô phận, rất bẽ bàng và đángthương (0,5 điểm).– Sự bền gan, thách thức, sự kiên cường, bản lĩnh của con người (0,5 điểm).Câu 4: – Miêu tả hình ảnh thiên nhiên như muốn vùng lên, phá ngang, phẫn uất với đất trời (0,25điểm)– Đó là hình ảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang sẵn niềm phẫn uất và sự bộc lộ cátính, bản lĩnh không cam chịu như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương (0,25 điểm).Câu 5: phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 0,25đ/ phương thức biểu cảm 0,25đCâu 6: Một số tác phẩm viết về thân phận người phụ nữ: Bánh trôi nước (Hồ XuânHương), Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều) (0,5điểm)ĐỀ 3Nêu các phương thức biểu đạt chính, phong cách ngôn ngữ,các kiểu câu ( xét về mục đích nói )trong đoạn văn, ý nghĩa của đoạn văn sau:1.”Hai đứa trẻ”-Thạch LamTừ” Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ” đến “muỗi đã bắt đầu vo ve” (trang 122)2.”Chữ người tử tù”-Nguyễn Tuân“Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn…run run bưng chậu mực”(trang 148)3.”Chí Phèo” – Nam Cao
Xem thêm

8 Đọc thêm

Bánh trôi nước của hồ xuân hương

Bánh trôi nước của hồ xuân hương

Người phụ nữ xưa luôn bị phân biệt đối xử bất công. Có lẽ chính bởi vậy mà có rất nhiều các áng văn thơ và cả trong văn học dân gian đều có những câu thơ than thân trách phận của người phụ nữ. Và ta có thể kể tên một số các bài thơ điển hình khi nói về thân phận của người phụ nữ như Bánh trôi nước và Tự tình II của Hồ Xuân Hương. Hồ Xuân là một trong những thi sĩ đã có rất nhiều sáng tác nổi tiếng về đề tài phụ nữ.Nổi bật trong sáng tác thơ của bà là tiếng nói thương cảm của người phụ nữ, là sự khẳng định đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ họ. Thơ bà là tiếng nói đòi quyền sống tự do thể hiện khát khao hạnh phúc.
Xem thêm

Đọc thêm

"Tự Tình" và "Thương vợ", hình ảnh người phụ nữ!!!

"TỰ TÌNH" VÀ "THƯƠNG VỢ", HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ!!!

Phân tích hình ảnh người phụ nữ qua hai bài thơ “Tự tình” và “Thương vợ”Gợi ý:Trong những năm từ thế kỉ mười bảy đến cuối thế kỉ mười chín, dưới sự suy tàn mục nát của chế độ phong kiến, số phận người phụ nữ bị gần như bị vùi dập trong vũng bùn đau khổ bởi lễ giáo phong kiến “trọng nam khinh nữ” hà khắc. Họ phải chịu chói buộc trong chế độ xã hội nam quyền độc đoán, đa thê… cùng với sự áp đặt của lễ giáo phong kiến: “Tam tòng, tứ đức” ( tam tòng là: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; tứ đức là: công, dung, ngôn, hạnh). Họ hầu như không có quyền quyết định cuộc đời mình mà phải an phận, phục tùng và cam chịu. Vì thế, họ gặp rất nhiều đau khổ trong cuộc sống, tình duyên thì lận đận, phải chịu cuộc đời làm lẻ, làm thiếp cho người ta… Cảm thông với số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, nhiều nhà văn nhà thơ đã thay họ đứng lên nói lên tiếng lòng của mình. Trong đó có Hồ Xuân Hương với “Tự tình” và Trần Tế Xương cùng “Thương vợ”.Hai tác phẩm trên là lời khẳng định về nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ xưa. Họ đều là những con người đa tài, đa sắc như Hồ Xuân Hương đã gọi “hồng nhan” hay là tảo tần, thủy chung, và giàu đức hi sinh như Tú Xương lên tiếng.Nếu như Bà chúa thơ nôm với cái tài và cái ngông của mình dám thách thức với cả trời đất, thiên nhiên để nói lên cái đẹp cái tài hoa của người phụ nữ trong xã hội bấy giờ:“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồnTrơ cái hồng nhan với nước non” (Tự tình II)Thì đến với Tú Xương lại thể hiện tâm thế và vị thế của một người mẹ hiền một người vợ đảm. Vì chồng, thương con mà bà cam chịu với cuộc sống khó khăn, vất vả:“Lặn lội than cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò đông”(Thương vợ)Nhưng dân gian ta đã có câu: “Hồng nhan bạc phận”. Hồ Xuân Hương càng thể hiện cái tài, cái hồng nhan bao nhiêu thì lại càng làm nổi lên tâm trạng buồn đau, oán hận, cô độc trong đêm khuya vắng. Sự bẽ bàng, tủi hổ của Hồ Xuân Hương nói riêng cũng chính là của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại ấy nói chung . Những con người hạnh phúc ít ỏi, duyên nợ hẩm hiu: “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. Tuổi xuân thì qua đi mà hạnh
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hình ảnh của người phụ nữ xưa qua bai thơ tự tình hai và thương vợ

HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ XƯA QUA BAI THƠ TỰ TÌNH HAI VÀ THƯƠNG VỢ

Thu thập thông tin để đánh giá mức độ kiến thức một số lớp 11 giữa HKI năm học 2011 2012
Đề hướng vào một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình Ngữ văn HS mới được học trong chương trình lớp 11, với mục đích kiểm tra năng lực tạo lập văn bản, năng lực cảm nhận hình tượng văn học của HS thông qua hình thức kiểm tra tự luận.
Cụ thể, đề kiểm tra nhằm đánh giá trình độ học sinh theo các chuẩn sau:
Làm văn:
+ Nắm vững cách làm một bài văn NLVH: từ phân tích đề, lập dàn ý, vận dụng thao tác lập luận phân tích (chủ đạo) để làm rõ thân phận và phẩm chất người phụ nữ qua hai bài thơ: Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương
Xem thêm

6 Đọc thêm

Cảm nhận"Thương vợ"của Tú Xương

CẢM NHẬN"THƯƠNG VỢ"CỦA TÚ XƯƠNG

Cảm nhận về bài thơ Thương vợ của nhà thơ Tú Xương I/ Mở bài - Tú Xương là nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc của nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đồng thời cũng là tác giả của những vần thơ trữ tình đằm thắm , thiết tha. - “Thương vợ” là một sáng tác tiêu biểu cho bút pháp trữ tình trong thơ Tú Xương. - Bài thơ đã khắc họa chân dung bà Tú vất vả đảm đang , giàu đức hi sinh và bộc lộ sự cảm thông , lòng yêu thương trân trọng ngợi ca người vợ của nhà thơ. II/ Thân bài 1/ Giới thiệu chung - Trong thơ trung đại Việt Nam , các nhà thơ –nhà nho ít khi viết về cuộc sống tình cảm đời tư của mình , càng hiếm khi viết về người vợ . Thơ văn xưa coi trọng mục đích giáo huấn , dùng văn thơ để dạy đời , tỏ chí “văn dĩ tải đạo” , “thi dĩ ngôn chí” , với những đề tài phổ biến như : chí làm trai , nợ công danh , chí kinh bang tế thế hoặc những ưu tư về thời cuộc …- Cũng trong xã hội xưa , vị thế cảu người phụ nữ ít được coi trọng , thậm chí còn bị coi rẻ. - Tú Xương thì khác . Ông có nhiều bài thơ viết về vợ với những câu đầy thương mến , hóm hỉnh : “Có một cô lái , nuôi một thầy đồ , Quần áo rách rưới , ăn uống xô bồ” Đây là lời đáp của bà Tú khi được ông Tú hỏi về câu đối vừa mới viết : “ Thưa rằng hay thực là hay ,Không hay sao lại đỗ ngay tú tài , Xưa nay em vẫn chịu ngài” - Trong một loạt bài thơ Tú Xương viết về vợ , Thương vợ được coi là tác phẩm tiêu biểu hơn cả . Bài thơ thể hiện cả hai mặt trong thơ Tú Xương , vừa ân tình vừa hóm hỉnh. - Thương vợ được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng ngôn ngữ rất sinh đọng tự nhiên , mang đậm sắc thái dân gian , mang nét riêng độc đáo của thơ Tú Xương. 2/ Hai câu đềQuanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. - Câu thơ mở đầu cất lên thật tự nhiên , dường như không chút gọt giũa mà nói được bao điều về hình ảnh và công việc làm ăn của bà Tú. - Từ “quanh năm” diễn tả sự triền miên về thời gian , từ ngày này sang ngày khác , tháng này qua
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tài liệu Soạn bài Thương vợ - Trần Tế Xương potx

TÀI LIỆU SOẠN BÀI THƯƠNG VỢ - TRẦN TẾ XƯƠNG POTX

Soạn bài Thương vợ - Trần Tế Xương THƯƠNG VỢ (Trần Tế Xương ) I.Tìm hiểu chung. - Trần Tế Xương ( 1870 – 1907 ), quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định. - Ông để lại khoảng 100 bài, chủ yếu là thơ Nôm, gồm nhiều thể thơ và một số bài văn tế, phú, câu đối,… - Sáng tác của ông gồm hai mảng: trào phúng và trữ tình. - Đề tài người vợ. Ông có một đề tài về bà Tú. Bà Tú thường chịu nhiều vất vả gian truân trong cuộc đời. Bà đã đi vào thơ ông với tất cả niềm yêu thương, trân trọng của chồng. II.Phân tích. Tình thương vợ sâu nặng của ông Tú thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. 1.Hình ảnh bà Tú qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Bài soạn đề + đáp án thi HKI910-11)

BÀI SOẠN ĐỀ + ĐÁP ÁN THI HKI910-11)

Sở GD & ĐT Bình Thuận ĐỀ THI HỌC KÌ I - NĂM HỌC 2010 - 2011 Trường THPT Nguyễn Huệ Môn thi: Ngữ Văn 11 (Thời gian: 90’ Không kể thời gian phát đề)ĐỀ A:I . Lý thuyết ( 3 điểm )Câu 1. ( 1.0 điểm) Phân tích giá trị nghệ thuật của thành ngữ in đậm trong câu văn sau:[…] Nó còn mê mình thì nó nói hươu nói vượn, lấy nó rồi, nó lại chán ngay đấy…. ( Nguyễn Đình Thi- Vỡ bờ)Câu 2. ( 2.0 điểm ) Xác định phương thức chuyển nghĩa của những từ in đậm trong các câu sau:a. “Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông”.( Bạch Cư Dị- Tì Bà Hành)b. Bạn tôi là một chân hậu vệ vững chắc của đội bóng.II . Tự luận ( 7 điểm )(Học sinh chỉ chọn một trong hai câu dưới đây)Câu 1. Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân.Câu 2. Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương.Quanh năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một chồng.Lặn lội thân cò khi quãng vắng,Eo sèo mặt nước buổi đò đông.Một duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản công.Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,Có chồng hờ hững cũng như không.( sgk Ngữ văn 11, tập 1-tr.29,30)ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂMNGỮ VĂN 11
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bài thơ vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống

BÀI THƠ VỪA NÓI LÊN BI KỊCH DUYÊN PHẬN VỪA CHO THẤY KHÁT VỌNG SỐNG

Luận văn về bài thơ Tự tình II trong số chùm ba bài thơ của Hồ Xuân Hương nói lên khao khát, khát vọng sống của Hồ Xuân Hương trong văn học lớp 11. Có thể phục vụ cho bài kiểm tra một tiết hoặc nghị luận văn học hay soạn bài trước khi lên lớp.

3 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ “TỰ TÌNH” CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

PHÂN TÍCH BÀI THƠ “TỰ TÌNH” CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

Hai câu thơ này cũng có thể hiểu là đảo ngữ: rêu từng đám xiên ngang mặt đất, còn đá mấy hòn vươn lênđâm toạc chân mây. Và đó không phải là hình ảnh của ngoại cảnh, mà là hình ảnh của tâm trạng, một tâmtrạng bị dồn nén, bức bối muốn đập phá, muốn làm loạn, muôn được giải thoát khỏi sự cô đơn, chánchường. Nó thể hiện cá tính mạnh mẽ, táo bạo của chính Hồ Xuân Hương.Những dồn nén, bức bối, đập phá của tâm trạng nhà thơ bất ngờ bộc phát, và cũng bất ngờ lắng dịu,nhường chỗ cho sự trở lại của nỗi buồn chán và bất lực, chấp nhận và cam chịu. Câu thơ Ngán nỗi xuân đixuân lại lại chứa đựng biết bao nhiêu là thời gian và sự chán ngán kéo dài. Cuộc đời cứ trôi đi, thời giancứ trôi đi, tình yêu và hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút. Tác giả đã đi, tình yêu mà hạnh phúc thì chỉđược hưởng tí chút. Tác giả đã dùng từ mảnh tình để nói cái tình bé như mảnh vỡ. Lại nói san sẻ - Chắc làsan sẻ với chồng, san sẻ với vợ cả chăng? Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ, như một tổng kết, như một lờithan thở thầm kín của người phụ nữ có số phận lẽ mọn về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi không trọn vẹntrong xã hội xưa.Bài thơ là lời than thở cho số phận hẩm hiu của người phụ nữ chịu cảnh lẽ mọn, thể hiện thái độ bi quan,chán nản của tác giả và thân kiếp thiệt thòi của con người.Đặc sắc nhất về nghệ thuật của bài thơ là sử dụng những từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh. Tác giảchủ yếu sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với sắc thái đặc tả mạnh, bằngnhững động từ chỉ tình thái: dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc, đi, lại lại, san sẻ, ... và tính từ chỉ trạngthái: say, tỉnh, khuyết, tròn... để miêu tả những cảm nhận về sự đời và số phận.Hình ảnh trong bài thơ gây ấn tượng rất mạnh bởi nghệ thuật đặc tả. Nhà thơ thường đẩy đối tượng miêutả tới độ cùng cực của tình trạng mang tính tạo hình cao. Nói về sự cô đơn, trơ trọi đến vô duyên củangười phụ nữ thì: Trơ cái hồng nhan với nước non. Mấy chữ xiên ngang, đâm toạc đều là những hànhđộng mạnh mẽ như muốn tung phá, đầy sức sống thể hiện những cảm xúc trẻ trung.Tác phẩm trình bày một cách nghệ thuật mối mâu thuẫn giữa khát vọng hạnh phúc lứa đói trọn vẹn củangười phụ nữ trong cảnh lẽ mọn với hiện thực phũ phàng là sống trong cô đơn, mòn mỏi mà họ phải chịuđựng, giữa mong ước chính đáng được sống trong hạnh phúc vợ chồng với việc chấp nhận thân phận thiệtthòi do cuộc sống đem lại.Bài thơ bày tỏ sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với nỗi bất hạnh của người phụ nữ, phê phán gay gắtchế độ đa thê trong xã hội phong kiến, đồng thời thể hiện rõ sự bất lực và cam chịu của con người trước
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 LỚP 11 MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG THPT THUẬN THÀNH 3

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 LỚP 11 MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG THPT THUẬN THÀNH 3

Tham khảo Đề thi giữa học kì 1 lớp 11 môn Ngữ Văn trường THPT Thuận Thành 3 – Đề gồm 2câu, thời gian làm bài thi: 90 phút.→ Đề thi kiểm tra giữa kì 1 lớp 11 môn Toán trường THPT Thuận Thành 3SỞ GD& ĐT BẮC NINHTRƯỜNG THPT THUẬN THÀNH SỐ 3ĐỀ THI KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ INĂM HỌC: 2014- 2015Môn: Văn Lớp: 11(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề)Câu 1 (2,0 điểm).“Gạo đem vào giã bao đau đớnGạo giã xong rồi trắng tựa bôngSống ở trên đời người cũng vậyGian nan rèn luyện ắt thành công “.(Nghe tiếng giã gạo–Nhật kí trong tù– Hồ Chí Minh)1. Anh(chị) hãy xác định nội dung chính của bài thơ trên?2. Anh(chị) hãy xác định thể thơ, phương thức biểu đạt của bài thơ trên?Câu 2 (8,0 điểm).“Quanh năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một chồng.Lặn lội thân cò khi quãng vắng,Eo sèo mặt nước buổi đò đông.Một duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản công.”(Thương vợ- Trần Tế Xương)Từ vẻ đẹp của hình tượng bà Tú trong đoạn thơ trên, anh(chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về vẻ đẹpngười phụ nữ hiện đại hôm nay?—————-Hết—————–Thí sinh không được sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.Tải về máy tính: de thi giua ki 1 mon Van khoi 11 _Dethikiemtra.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bài văn mẫu Bài văn mẫu: Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ Tự tình và Thương vợ

BÀI VĂN MẪU BÀI VĂN MẪU: HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ QUA 2 BÀI THƠ TỰ TÌNH VÀ THƯƠNG VỢ

Bài văn mẫu: Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ "Tự tình" và "Thương vợ"BÀI LÀMNữ sĩ Hồ Xuân Hương có chùm thơ “Tự tình” 3 bài. Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm thơ trữ tình ấy. Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật đã Việt hoá một cách tài ba, có điều chùm thơ mang một giọng điệu trữ tình thảm thiết, nhiều cay đắng tủi hờn, phản ánh tâm trạng của một người phụ nữ quá lứa lỡ thì, duyên ôi phận ẩm. Bài thơ “Tự tình” này thể hiện đậm nét cốt cách thi sĩ của Bà chúa thơ Nôm.Tự tình nghĩa là tự phô bày, tự giãi bày những tình cảm ẩn chứa trong lòng, tự mình thổ lộ cho mình biết, cho mình hay. Tự tình mang tính hướng nội, nên rất chân thực, sâu sắc và cảm động. Nội dung “Tự tình” là tuổi tác và tình duyên.Mở đầu bài thơ, hai đâu đề gợi ra một không gina bao la, mờ mịt từ trên bom thuyền ở nơi dòng sông đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ thao thức suốt những canh dài. Tiếng gà gáy “văng vẳng” như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng “oán hận” , của người phụ nữ thao thức suốt những canh trường. Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáy sang canh, rồi “trông ra” màn đêm mịt mùng. Màn đêm như bủa vây người phụ nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,Oán hận trông ra khắp mọi chòm”.Hai câu 3, 4 trong Phần thực, tác giả tảo ra hai hình ảnh “mõ thảm” và “chuông sầu” đối nhau, hô ứng nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng mình đang sống trong cảnh ngộ qúa lứa lỡ thì, trắc trở trong tình duyên. Vần thơ đầy ám ảnh. Phủ định để khẳng định tiếng “cốc” của “mõ thảm”, tiếng “om” của “chuông sầu”. Nữ sĩ đã và đang trải qua những đêm dài thao thức và cô đơn, đau cho nỗi đau của đời mình cô đơn như “mõ thảm” chẳng ai khua “mà cũng cốc”, tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn như “chuông sầu” , chẳng dánh “cớ sao om”. Nỗi oán hận, đau buồn sầu tủi như thấm sâu vào vào đáy dạ, tê tái xót xa, như đang tỏa rộng trong không gian “khắp
Xem thêm

4 Đọc thêm