ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ NANG ỐNG MẬT CHỦ Ở TRẺ EM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị nang ống mật chủ ở trẻ em":

Kết quả ban đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Kết quả ban đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Bài viết trình bày đánh giá kết quả ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em.

Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG pptx

ĐIỀU TRỊ U NANG ỐNG MẬT CHỦ HOÀN TOÀN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG PPTX

Results: male/female was 3,5/1. Age: 5,48 ± 4,02 years. The range operating time was 189,2 ± 8,23M. There was no mortality and reoperation. The hospital stay was 7 ± 2,5 day.Conclusion: Laparoscopic treatment of choledochal cyst is safe, feasible and efficient in medical high-tech center.1. ĐẶT VẤN ĐỀ:Nang ống mật chủ là một bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp của đường mật, được biểu hiện bởi tình trạng giãn thành dạng túi hay dạng nang bẩm sinh của đường mật ngoài gan và/hoặc đường mật trong gan. Là một trong những nguyên nhân gây vàng da ngoại khoa phổ biến [1][2].Vấn đề chẩn đoán sớm, chính xác và can thiệp ngoại khoa sớm nhất là rất cần thiết để tránh nguy cơ ung thư hóa đường mật [9]. Trong những năm gần đây với sự phát triển vượt bậc của phẫu thuật nội soi cùng với những ưu việt của nó thì phẫu thuật điều trị nang ống mật chủ bằng phương pháp nội soi đã trở thành một lựa chọn của các phẫu thuật viên [5]. Một số tác giả trong nước và trên thế giới đã báo cáo một số kinh nghiệm và kết quả cắt nang ống mật chủ nội soi. Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế đã triển khai cắt nang ống mật chủ nội soi từ năm 2006. Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh u nang ống mật chủ hoàn toàn bằng phẫu thuật nội soi”.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐối tượng: Bao gồm 27 bệnh nhân được phẫu thuật cắt nang ống mật chủ hoàn toàn bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 4 năm 2013 tại Bệnh Viện Trung Ương Huế.Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc có tái khám. Kỹ thuật mổ:Tư thế bệnh nhân và vị trí phẫu thuật viên.Bệnh nhân được đặt tư thế nằm ngữa, đầu cao và nghiêng trái (T). Phẫu thuật viên và người phụ mổ một cầm camera đứng bên trái bệnh nhân, phụ mổ hai đứng bên phải. Máy nội soi được đặt bên phải (P) bệnh nhân.Chúng tôi sử dụng 4 trocar. Một trocar 10mm ngay dưới rốn dùng cho optique. Một trocar 10mm hoặc 5mm dưới mũi ức và hơi lệch trái, hai trocar 5mm dưới sườn phải.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện phạm ngọc thạch (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh nhược cơ (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong điều trị viêm túi mật cấp do sỏi (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TÚI MẬT CẤP DO SỎI (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm túi mật cấp là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính của túi mật, nguyên nhân thường gặp là do sỏi túi mật, ngoài ra còn do nhiều nguyên nhân khác như thiếu máu cục bộ, rối loạn vận động của túi mật và ống túi mật, tổn thương hóa học trực tiếp, nhiễm trùng hay ký sinh trùng... [82]. 90%-95% các trường hợp viêm túi mật cấp có sự hiện diện của sỏi, 5%-10% còn lại là viêm túi mật cấp không do sỏi [17], [22], [36], [82], [93], [114], [127]. Bệnh lý sỏi đường mật rất phổ biến ở Việt Nam, về vị trí sỏi: trước đây sỏi túi mật có tỷ lệ thấp 10%, sỏi ống mật chủ rất cao 80% và sỏi đường mật trong gan khá cao 30-50%. Các tỷ lệ này hiện nay đang thay đổi với ưu thế là bệnh lý sỏi túi mật [17] và người ta cũng nhận thấy tỷ lệ viêm túi mật cấp do sỏi ngày càng tăng [82]. Jean-Louis Petit là người đề xuất ra phẫu thuật túi mật vào năm 1733 đã đề nghị lấy sỏi mật và dẫn lưu túi mật. Sau đó John Stough Bobbs năm 1867 đề nghị mổ lấy sỏi túi mật mà không dẫn lưu túi mật. Năm 1882, Carl Langenburch một phẫu thuật viên người Đức đã tiến hành thành công trường hợp cắt túi mật mở đầu tiên để điều trị bệnh lý sỏi túi mật và trong 100 năm sau đó cắt túi mật mở đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý sỏi túi mật [119]. Với sự ra đời của phẫu thuật nội soi, năm 1985 tại Đức, Erich Muhe đã mổ thành công trường hợp cắt túi mật nội soi đầu tiên trên thế giới [92], [100], và năm 1987 tại Lyon (Pháp), Philip Mouret đã tiến hành thành công trường hợp cắt túi mật nội soi đầu tiên của mình [102]. Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều ưu điểm cho bệnh nhân so với phẫu thuật mở như: ít đau sau mổ, ít nhiễm trùng vết mổ, nhanh trung tiện trở lại, thời gian nằm viện ngắn, sớm quay trở lại lao động, tính thẩm mỹ cao... nên nó nhanh chóng được chấp nhận và trở thành tiêu chuẩn vàng mới trong điều trị các bệnh lý của túi mật cũng như dược áp dụng trên rất nhiều loại bệnh lý khác [8], [10], [11], [12], [16]. Tại Việt Nam, phẫu thuật cắt túi mật nội soi được thực hiện lần đầu tiên bởi Nguyễn Tấn Cường vào năm 1992 tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là Bệnh viện Việt Đức (1993), Bệnh viện Quân Y 103 - Học Viện Quân Y (1996) và Bệnh viện Trung ương Huế (1999),… Ngày nay nó đã được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cắt túi mật nội soi trên thế giới cũng như Việt Nam [12], [16], [28]. Điều trị viêm túi mật cấp do sỏi bao gồm các phương pháp nội khoa và ngoại khoa. Điều trị nội khoa được ưu tiên cho các trường hợp không có chỉ định mổ như các bệnh nhân trong tình trạng quá nặng, có các bệnh lý kết hợp khác không đảm bảo an toàn cho cuộc mổ và để điều trị chuẩn bị trước phẫu thuật. Phẫu thuật cắt túi mật nội soi là một phương pháp điều trị ngoại khoa của bệnh lý này mà đã là “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị bệnh lý túi mật chưa biến chứng.. Trong thời kỳ đầu triển khai phẫu thuật nội soi, các phẫu thuật viên thường e ngại khi phải mổ nội soi cho các trường hợp viêm túi mật cấp vì tình trạng toàn thân và tại chỗ của bệnh nhân. Về toàn thân là hội chứng nhiễm trùng rầm rộ, nguy cơ gây ra các biến chứng nặng nề như nhiễm trùng máu hay sốc nhiễm trùng. Tại chỗ là sự viêm nhiễm của túi mật làm biến đổi của các cấu trúc giải phẫu dẫn đến khó khăn cho việc phẫu tích và làm gia tăng nguy cơ gây ra những tai biến nghiêm trọng cũng như làm gia tăng tỷ lệ chuyển mổ mở nên trong giai đoạn đầu của phẫu thuật nội soi viêm túi mật cấp do sỏi được xem là một chống chỉ định. Viêm túi mật cấp do sỏi được điều trị nội khoa và cắt túi mật nội soi được tiến hành sau 6 – 8 tuần khi tình trạng viêm nhiễm đã ổn định [55], [68], [84], [85], [88]. Cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật, trang thiết bị, máy móc và kinh nghiệm của phẫu thuật viên, cắt túi mật nội soi ngày càng được áp dụng để điều trị bệnh lý viêm túi mật cấp do sỏi [10], [39], [47], [56] tuy nhiên đây vẫn là một phẫu thuật khó, tỷ lệ tai biến và chuyển mổ mở còn cao đòi hỏi phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm và các thay đổi kỹ thuật cần thiết. Chính vì vậy, việc nghiên cứu phẫu thuật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi là một vấn đề cấp thiết. Vấn đề là: mổ vào thời điểm nào sẽ đưa lại kết quả tốt nhất, các yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả và dẫn đến phải thay đổi kỹ thuật mổ thông thường là vấn đề cần nghiên cứu do đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong điều trị viêm túi mật cấp do sỏi” nhằm các mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu thời điểm phẫu thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật mổ cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi. 2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật cắt túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi và một số yếu tố liên quan đến kết quả.
Xem thêm

152 Đọc thêm

Tài liệu KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH QUA NGẢ NỘI SOI Ổ BỤNG docx

TÀI LIỆU KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH QUA NGẢ NỘI SOI Ổ BỤNG DOCX

KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH QUA NGẢ NỘI SOI Ổ BỤNG Nguyễn Hoàng Bắc* TÓM TắT Đặt vấn đề: Phương pháp điều trị phổ biến nhất đối với sỏi đường mật chính là mở ống mật chủ lấy sỏi, sau đó dẫn lưu ống mật chủ bằng ống T. Thời gian nằm viện kéo dài, phải chăm sóc ống dẫn lưu và có thể có những biến chứng do đặt ống dẫn lưu. Khâu kín ống mật chủ sẽ là tối ưu khi có đủ các điều kiện cần thiết của phẫu thuật nói chung và phẫu thuật nội soi nói riệng trong điều trị sỏi đường mật chính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu những bệnh nhân mở ống mật chủ điều trị sỏi đường mật chính qua phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ 1-2001 đến 5-2005. Tổng số bệnh nhân là 172. Trong đó có: 162 trường hợp mở ống mật chủ lấy sỏi (bao gồm 114 đặt ống dẫn lưu T - 70,4%, và 48 khâu kín ống mật chủ – 29,6%) 8 trường hợp lấy sỏi qua ống túi mật và 2 trường hợp chuyển mổ mở. Kết quả: Trong nhóm khâu kín ống mật chủ có 3 trường hợp tụ dịch sau mổ (2 điều trị nội khoa, 1 chọc hút qua siêu âm), 1 rò mật (2,1%) tự khỏi, 1 sót sỏi (2,1%). Thời gian nằm viện trung bình sau mổ là 4,9 ngày. Nhóm đặt ống dẫn lưu T có 1 tụ dịch dưới gan (1,1%), 1 rò mật (1,1%) tự khỏi, sót sỏi sau mổ 58 trường hợp (50,8%), nằm viện sau mổ 7,6 ngày. Kết luận: Khâu kín ống mật chủ khi đảm bảo đã lấy sạch sỏi, không hẹp và tắc đoạn cuối ống mật chủ. Phương pháp này an toàn và hiệu quả, rút ngắn thời gian nằm viện, phục hồi nhanh. SUMMARY CLOSURE OF THE COMMON BILE DUCT INSTANTANEOUSLY AFTER LAPAROSCOPIC CBD EXPLORATION IN TREATMENT OF CHOLEDOCHOLITHIASIS Nguyen Hoang Bac * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 10 - No 3- 2006: 137 – 141 Background: The most common purpose of choledocholithiasis surgical management was treatent to extract the stone, then to drain the common bile duct (CBD) T-tube. This procedure required long hospital stay, T- tube care and obviously T-tube complicatication treatment. Instantaneosly closed the CBD after stones removal in some identified conditions should be studied as an optimal choice for choledocholithiasis surgical treatment.
Xem thêm

5 Đọc thêm

PHẪU THUẬT NỘI SOI MỞ THÔNG SÀN NÃO THẤT III VÀ SINH THIẾU U VÙNG TUYẾN TÙNG

PHẪU THUẬT NỘI SOI MỞ THÔNG SÀN NÃO THẤT III VÀ SINH THIẾU U VÙNG TUYẾN TÙNG

PHẪU THUẬT NỘI SOI MỞ THÔNG SÀN NÃO THẤT III VÀ SINH THIẾT U VÙNG TUYẾN TÙNG TÓM TẮT: Mục tiêu: Đánh giá vai trò của phẫu thuật nội soi trong điều trị u vùng tuyến tùng. Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu trên 24 bệnh nhân u vùng tuyến tùng đã được điều trị tại BV Chợ Rẫy từ tháng 10 – 2006 đến tháng 10 - 2009. Tất cả bệnh nhân đều có dãn não thất. Phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất III và sinh thiết u được thực hiện trong cùng một thì mổ. Kết quả: Đầu nước được kiểm soát 87,5% trường hợp với thời gian theo dõi trung bình là 24 tháng. Tỉ lệ sinh thiết dương tính là 91,7%. Biến chứng tạm thời là 21%, không có di chứng thần kinh vĩnh viễn. Tử vong là 4,2%. Kết luận: Ngày nay, với ứng dụng phẫu thuật nội soi cho u vùng tuyến tùng cho thấy ưu điểm rõ rệt, tránh được những trường hợp mổ hở hay xạ trị mù không cần thiết và cải thiện tiên lượng điều trị. Từ khóa: u vùng tuyến tùng, đầu nước, nội soi thần kinh, u mầm bào, mở thông não thất. ABSTRACT ENDOSCOPIC THIRD VENTRICULOSTOMY AND BIOPSY OF PINEAL REGION TUMORS Dang Do Thanh Can, Lai Huynh Thuan Thao, Tran Hoang Ngoc Anh, Pham Anh Tuan, Vo Van Nho, Vo Tan Son * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 214 - 218 Object: The purpose of this report is to evaluate the role of neuroendoscopic procedures in the management of pineal region tumors. Methods: This prospective study is based on a consecutive series of 24 patients with pineal region tumors who were admitted in Cho Ray hospital from Oct 2006 to Oct 2009. All the patients had hydrocephalus. The neuroendoscopic surgery was first applied for third ventriculostomy and followed tumor biopsy in a single sitting.
Xem thêm

16 Đọc thêm

đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI LẤY SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

đặt vấn đề Sỏi đường mật là bệnh lý thường gặp ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. ở các nước phương Tây, phần lớn là sỏi cholesterol được hình thành do rối loạn chuyển hoá, thường gặp ở túi mật, còn sỏi OMC thường là thứ phát do sỏi túi mật di chuyển xuống, sỏi trong gan chiếm một tỷ lệ rất thấp [75]. Tại Mỹ một đánh giá tổng thể vào năm 1968 cho thấy có hơn 7% dân số mắc bệnh sỏi mật, tại Pháp sỏi mật là nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong các trường hợp nhập viện sau thoát vị bẹn và viêm ruột thừa [74], [75] ở các nước nhiệt đới nói chung và Việt Nam nói riêng, sỏi mật được hình thành trong đường mật do nguyên nhân nhiễm khuẩn là chủ yếu. Sỏi thường gặp ở nhiều vị trí khác nhau trong hệ thống đường mật [1], [3], [4], [5], [7], [11], [12], nên việc điều trị triệt để gặp nhiều khó khăn, đặc biệt sỏi OMC phối hợp với sỏi trong gan chiếm tỷ lệ cao từ 73-91% [27], [28], [39]. Khoảng gần hai mươi năm nay, nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ cao được áp dụng trong chẩn đoán và điều trị như: áp dụng của siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán bệnh sỏi mật, nội soi đường mật trong mổ, siêu âm trong mổ, tán sỏi điện thuỷ lực, lấy sỏi theo đường xuyên gan qua da, nội soi can thiệp, phẫu thuật nội soi ổ bụng… ở nước ta đã có những tiến bộ đáng kể. Đặc biệt trong điều trị sỏi đường mật chính, do sử dụng kỹ thuật công nghệ cao mà các kỹ thuật ít sang chấn ngày càng được áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả điều trị cao như: lấy sỏi ngược dòng qua nội soi đường mật, phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính ngoài gan… Bên cạnh đó, các biến chứng và tai biến của các phương pháp cũng đ ược đề cập tới như: chảy máu, nhiễm trùng đường mật ngược dòng, thủng tá tràng, viêm tụy và tử vong … [2]. Phẫu thuật nội soi đường mật chính để lấy sỏi đã được thực hiện từ 17 năm nay trên thế giới [26], và ở Việt Nam phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính được áp dụng từ năm 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh và tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội năm 1999 có ưu điểm nổi bật là kỹ thuật ít sang chấn, tôn trọng cấu trúc giải phẫu đường mật, chống nhiễm khuẩn ngược dòng, đồng thời với việc lấy sỏi. Đã có một số báo cáo khoa học về phẫu thuật sỏi đường mật chính bằng nội soi [1], [4], [15]. Để góp phần nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật lấy sỏi đường mật chính có hoặc không cắt túi mật qua phẫu thuật nội soi ổ bụng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tổng kết để rút ra được những chỉ định cụ thể, những số liệu về kết quả phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật chính với đề tài: "Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính" nhằm hai mục tiêu: 1. Nhận xét về ứng dụng phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính. 2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Việt Đức từ năm 2003 đến tháng 10 năm 2008.
Xem thêm

107 Đọc thêm

Xử lý sỏi ống mật chủ pps

XỬ LÝ SỎI ỐNG MẬT CHỦ PPS

Xử lý sỏi ống mật chủ A-Tình Huống Lâm Sàng: Trong 3 thập kỉ vừa qua, những bước phát triển quan trọng trong việc xử lý các bệnh lý liên quan đến sỏi mật đã mở rộng ranh giới những chọn lựa phù hợp để đánh giá và điều trị sỏi ống mật chủ (SOMC). Chi phi y tế cao đi kèm với bệnh lý này (> 6 tỷ USD một năm chỉ tính riêng cho nước Mỹ) khiến cần thiết phải có những khuyến cáo mới cho việc xử lý về mặt lâm sàng. Chụp mật tuỵ ngược dòng qua nội soi ERCP hiện nay đã được sử dụng rộng rãi và thường quy và phẫu thuật nội soi đã hầu như loại bỏ nhu cầu mổ hở cắt túi mật. Những kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mới đã giúp quan sát đường mật dễ dàng và ít xâm lấn bao gồm chụp đường mật bằng cộng hưởng từ và siêu âm qua nội soi (EUS). Sau đây là những hướng dẫn và khuyến cáo mới nhất của BSG (British Society of Gastroenterology) về xử trí sỏi ống mật chủ. B- Các Điểm Chủ Yếu +Cần phối hợp nhiều chuyên khoa để cùng xử lý những trường hợp bệnh lý gan mật. +Siêu âm bụng không phải là phương pháp nhạy bén để phát hiện sỏi OMC, nhưng có thể sử dụng bước đầu để tầm soát. +Siêu âm qua nội soi và chụp đường mật bằng cộng hưởng từ (MR cholangiography) đều rất hiệu quả trong xác định sỏi OMC. Các yếu tố đặc thù cho từng bệnh nhân, khả năng trang thiết bị tại chỗ và yếu tố con người sẽ hướng dẫn việc lựa chọn giữa 2 phương pháp này. +Nếu có thể được, cần tiến hành lấy sỏi những bệnh nhân qua đánh giá, có triệu chứng nghi ngờ do sỏi OMC . +Cắt cơ vòng OMC và lấy sỏi qua nội soi được khuyến cáo như điều trị bước đầu bệnh nhân có sỏi OMC hậu cắt túi mật. +Trừ phi có lý do chính đáng cho thấy không nên mổ, phẫu thuật cắt túi mật được khuyến cáo trên tất cả các bệnh nhân có sỏi OMC kèm sỏi túi mật có triệu chứng.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ngoại khoa bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi trẻ em (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA BỆNH DỊ DẠNG NANG TUYẾN BẨM SINH Ở PHỔI TRẺ EM (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh (DDNTBS) ở phổi là một bệnh lý xảy ra do rối loạn phát triển của tổ chức phế quản - phổi từ trong thời kỳ bào thai. Bệnh đã được Stoerk mô tả lần đầu năm 1897, đến năm 1949 thì các tác giả Ch’in K.Y. và Tang M.Y. đặt tên “Congenital cystic adenomatoid malformation” (CCAM) cho bệnh lý này [8], [14], [49], [72], [129]. Tỉ lệ mắc bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi là 1/12 000 trẻ sinh sống [100]. Siêu âm thai trước sinh có thể phát hiện được thương tổn của bệnh từ tuần thứ 15 - 33 của thai kỳ và có 45 - 60% trường hợp có thoái triển trong thời kỳ bào thai [35], [137]. Bệnh xảy ra không thấy có sự khác biệt về chủng tộc, giới tính hay bên tổn thương [80]. Nguyên nhân gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng [108], [142], [143], [147]. Dị dạng nang tuyến bẩm sinh có thể ở ngoài hay trong một, hay nhiều thùy phổi [69], [129]. Bệnh cũng có thể kết hợp với các dị tật khác như nang phế quản, teo phế quản, bất thường nhiễm sắc thể [29], [42], [49], [61], [78], [93], [112], [129], [136], [141]. Thương tổn dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi có đặc điểm là tăng thể tích, chiếm chỗ và cản trở chức năng phổi, có thể gây tử vong sớm sau khi sinh [41], [52], [79], [126]. Tỉ lệ tử vong đến 28,6% [76]. Trẻ không có biểu hiện lâm sàng khi sinh thì 10,3% có biểu hiện trong tuần đầu [119] và có 71% bệnh nhân sơ sinh có triệu chứng sớm sau sinh [87]. Một số trường hợp có thể lớn lên mà không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và chỉ tình cờ phát hiện bệnh khi chụp X quang lồng ngực [103], [106]. Có 4% thương tổn dị dạng nang tuyến bẩm sinh có thể thoái triển trong thời gian từ 6 tháng đến 9 tháng tuổi [26]. Nhiễm trùng hô hấp là nguy cơ thường gặp của bệnh, xảy ra với 100% bệnh nhân có triệu chứng từ 6 tháng tuổi [89]. Tình trạng viêm mạn tính có ở 79% bệnh nhân được phẫu thuật trong 3 tháng tuổi và ở 89% bệnh nhân có triệu chứng, có biểu hiện viêm tại chỗ khi phẫu thuật trong 15 ngày tuổi [107]. Bệnh nhân không có triệu chứng, thì 50% có biểu hiện viêm mạn tính tại chỗ thương tổn, khi phẫu thuật trước 6 tháng tuổi [28]. Thương tổn ở phổi có thể bị nhiễm lao, nấm, làm cho việc chẩn đoán và điều trị trở nên phức tạp hơn [34], [45], [146]. Mặt khác, nhiều nghiên cứu đã thấy tình trạng các thương tổn ác tính kèm theo, trong đó có đến 4% bệnh nhân dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi có tổn thương của u nguyên bào phổi, màng phổi [17], [22], [86], [100]. Chính vì những đặc điểm nói trên của bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh, mà hiện nay hầu hết các nghiên cứu đều chủ trương phẫu thuật cắt bỏ sớm khối tổn thương, dự phòng các biến chứng, giúp chẩn đoán sớm tổn thương ác tính, đồng thời sớm phục hồi sau phẫu thuật và chức năng hô hấp, do khả năng phát triển bù trừ của phổi trong giai đoạn dưới 10 tuổi [7], [23], [47], [80], [119]. Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của phương pháp phẫu thuật nội soi ở các chuyên ngành ngoại khoa khác nhau thì việc ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong điều trị bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới công bố với những ưu điểm nổi bật là: giảm thiểu xâm hại thành ngực, hồi phục sau phẫu thuật nhanh, giảm thiểu các biến dạng lồng ngực và hiện nay là phương pháp được nhiều phẫu thuật viên lựa chọn tại các trung tâm y khoa có uy tín trên thế giới [66], [77], [82], [83], [101], [115], [116], [131]. Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi trẻ em đã được công bố [1], [5], [8], [11], [13]. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu hệ thống và đầy đủ về chẩn đoán cũng như kết quả điều trị bệnh. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ngoại khoa bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi trẻ em” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi trẻ em. 2. Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả điều trị ngoại khoa bệnh dị dạng nang tuyến bẩm sinh ở phổi trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Xem thêm

164 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị bệnh nang gan tại Bệnh viện HN Việt – Đức

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ BỆNH NANG GAN TẠI BỆNH VIỆN HN VIỆT – ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ Nang gan đơn thuần được xếp vào nhóm các bệnh lành tính của gan [ 58], bệnh hầu hết là bẩm sinh và rất hay gặp, tỷ lệ gặp trong dân chúng là 2,5% đến 5% [ 33],[57]. Bệnh chủ yếu gặp ở phụ nữ lớn tuổi và thường không có triệu chứng lâm sàng trong suốt cuộc đời hoặc nếu có thì các triệu chứng gây ra bởi nang gan thường biểu hiện muộn sau tuổi 40 [ 14],[15],[36],[39],[54],[62]. Nói chung các triệu chứng này liên quan đến kích thước và thể tích của nang và là hậu quả của nang gan chèn ép đến phần gan lành và chèn ép đến các cơ quan lân cận [ 14],[46]. Thời kỳ đầu nang gan thường được phát hiện rất muộn khi bệnh nhân có các triệu chứng như đau nhiều hạ sườn phải, tự sờ thấy khối ở hạ sườn phải và nghĩ đến u gan. Hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ [ 14]. Ngày nay cùng với sự phát triển và hiểu biết của nền y học với những ứng dụng rộng rãi của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như: siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), chụp cộng hưởng từ (MIR: Magnetic Resonnance Imaging) … Bệnh nang gan trước đây cho là hiếm gặp nay đã được phát hiện nhiều hơn [ 5],[9],[54]. Bệ nh nang gan được đ iề u trị nộ i khoa có can thiệ p khi phối hợp chọ c hút và tiêm các chấ t gây xơ dưới hướng dẫ n củ a siêu âm đ ã được thông báo có được kế t quả trong mộ t số trường hợp [ 4],[7],[13],[15],[33]. Như ng điề u trị bằ ng phẫ u thuậ t vẫ n là sự lựa chọ n tố t nhấ t trong đ iề u trị bệ nh nang gan không do ký sinh trùng. Điều trị ngoại khoa bệnh nang gan được đặt ra khi có các triệu chứng lâm sàng ảnh hưởng đến cuộc sống người bệnh hay khi nang rất lớn dọa vỡ vào ổ bụng. Có rất nhiều phẫu thuật đã được mô tả [60], nhưng thực tế chỉ có ba loại phẫu thuật được sử dụng nhiều nhất. Đó là phẫu thuật cắt chỏm nang gan, cắt bỏ toàn bộ nang gan hay cắt bỏ một phần gan có nang theo phương pháp Tôn Thất Tùng. Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật cũng như ứng dụng vào lĩnh vực y tế, nhất là sự phát triển của phẫu thuật nội soi được thực hiện lên hầu hết các hệ cơ quan của cơ thể. Phẫu thuật nội soi giúp cho bệnh nhân hồi phục sức khỏe nhanh hơn, giảm chi phí điều trị và trả bệnh nhân sớm về với cộng đồng. Do đó hầu hết các bệnh nang gan có chỉ định phẫu thuật đều được các phẫu thuật viên lựa chọn phương pháp phẫu thuật nội soi điều trị cho bệnh nhân. Để góp phần nghiên cứu thêm về bệnh nang gan và góp phần vào việc đánh giá phương pháp điều trị thích hợp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị bệnh nang gan” tại Bệnh viện HN Việt – Đức nhằm hai mục tiêu: 1. Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị bệnh nang gan. 2. Đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi điều trị bệnh nang gan.
Xem thêm

110 Đọc thêm

KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT

KHÂU KÍN ỐNG MẬT CHỦ THÌ ĐẦU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT

biến chứng cả hai nhóm( )10. Xuất viện sớm, hậu phẫu nhẹ nhàng những bệnh nhân khâu kín ống mật chủ làm tăng giá trị của phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật chính. KếT LUậN Khâu kín ống mật chủ phải được chỉ định chặt chẽ. (1) đảm bảo đã lấy sạch sỏi đường mật, (2) không hẹp và tắc đoạn cuối ống mật chủ, (3) không nhiễm trùng đường mật. Khâu kín ống mật chủ an toàn và hiệu quả, rút ngắn thời gian nằm viện, phục hồi nhanh, trở lại hoạt động bình thường sớm hơn, giảm chi phí điều trị đáng kể cho những bệnh nhân mở ống mật chủ lấy sỏi qua nội soi. TÀI LIệU THAM KHảO 1. Gharaibeh K.I.A., (2000). “Biliary leakage following T tube removal”. Int Surg, 85: 57-63. 2. Kent Seale, Walter P. Ledet (1999). “Primary common bile duct closure”. Arch Surg, 134: 22-24. 3. Lange V, Rau HG, Schardey HM, Meyer G (1993). “Laparoscopic stenting for protection of common bile duct sutures”. Surg. Laparosc. Endosc. 3, pp. 466-469. 4. Lê Lộc, Phạm Như Hiệp (2002). “Bước đầu điều trị phẫu thuật nội soi lấy sỏi ống mật chủ đơn thuần tại bệnh viện TW Huế”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học tham gia hội nghị ngoại khoa quốc gia Việt Nam lần thứ XII, tr. 51-55.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cập nhật ngoại khoa về chẩn đoán và điều trị u trung thất doc

CẬP NHẬT NGOẠI KHOA VỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT

lượng các khó khăn khi đặt nội khí quản gây mê. PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT Hiện nay, phẫu thuật NSLN được xem như phương pháp chẩn đoán và điều trị u trung thất thay thế phương pháp mổ mở kinh điển trong nhiều trường hợp: * Sinh thiết và thám sát đánh giá khả năng cắt trọn u qua nội soi hay mổ hở, * Cắt tuyến hung (có hoặc có bệnh nhược cơ), * Cắt u trung thất trước dạng nang, * Cắt nang hay u mở màng ngoài tim, * U thần kinh có kích thước ≤ 3cm vùng trung thất sau [14] . Tuy nhiên, phẫu thuật nội soi vẫn còn hạn chế đối với một số trường hợp: như với u trung thất xâm lấn đến các cấu trúc sống còn hoặc trường hợp u lớn, dính vào các cấu trúc xung quanh. Hơn nửa, đối với một số trường hợp u ác tính cần phải phẫu thuật triệt để thì nên mổ mở. Luciano Solaini [13] nghiên cứu 52 trường hợp (1992 – 1996) phẫu thuật NSLN chẩn đoán và điều trị u trung thất cho KQ chẩn đoán đạt được 100%, thám sát đánh giá khả năng và cắt trọn u qua nội soi 9 trường hợp, không trường hợp nào phải mở ngực. Marcelo Inaco Cirino [9] nghiên cứu 73 trường hợp từ 1983 – 1999: 21 BN được chẩn đoán bằng phương pháp cổ điển và 52 BN được phẫu thuật nội soi. Chẩn đoán tế bào học đạt KQ 100%. Cắt trọn u qua nội soi thành công 43 trường hợp, 9 trường hợp chuyển sang mổ mở vì u quá lớn, dính vào các cấu trúc xung quanh và khó khăn khi bóc tách. Akihiko Kitami [3] nghiên cứu 34 trường hợp từ 1993 – 2002 phẫu thuật NSLN đã đi đến kết luận có thể cắt trọn u thần kinh, trung thất sau với kích thước ≤ 6cm qua phẫu thuật nội soi lồng ngực. Nghiên cứu của chúng tôi tại BVCR [1,2] trong 3 năm (12/2003 đến 12/2005) có 55 BN u trung thất được điều trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực: 23 nam và 32 nữ, tuổi trung bình 40,75 ± 15,36 (14 – 74). 18 trường hợp u trung thất trước trên, 23 u tuyến hung, 4 u trung thất giữa, 10 u trung thất sau. 37 trường hợp u dạng đặc (67,3%), 18 u dạng nang (32,7%). Kích thước 4,74 ± 1,43cm (2 – 7cm). Với u ≤ 3cm: 100%cắt trọn (12 BN); 3 -5 cm: 96% cắt trọn (25 BN); 5 -7cm: 44,5% cắt trọn 44,5% (18 BN). Phẫu thuật nội soi hoàn toàn 100% trường hợp u ≤ 5cm, có hỗ trợ 10 trường hợp (55,5%) với u có kích thước 5 -7cm, chuyển
Xem thêm

11 Đọc thêm

PHẪU THUẬT NỘI SOI TAI ĐIỀU TRỊ XẸP NHĨ PGS.TS NGUYỄN TẤN PHONG

PHẪU THUẬT NỘI SOI TAI ĐIỀU TRỊ XẸP NHĨ PGS.TS NGUYỄN TẤN PHONG

7008090-400-2000ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPPhương pháp phẫu thuật:Giai đoạn IVCholesteatoma túiPars tensa retraction pocket

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ U BUỒNG TRỨNG LÀNH TÍNH TẠI BỆNH VIỆN 198 TỪ 1 2006 ĐẾN 12 2010

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ U BUỒNG TRỨNG LÀNH TÍNH TẠI BỆNH VIỆN 198 TỪ 1 2006 ĐẾN 12 2010

qua.- Sự phát triển không ngừng dựa vào bề dày lich sử từ nội soi thăm khámđến nội soi chẩn đoán và ngày càng được hoàn thiện với nội soi phẫu thuật [16].- Thăm khám nội soi sớm nhất được Hyppocrates mô tả (460- 375 trướccông nguyên).Ông mô tả dụng cụ banh trực tràng. Sau đó Pompeii đã ứng dụngdụng cụ này để thăm khám trực tràng và âm đạo [29].- Năm 1806 Phillipe Bozzini (người Đức) đã dùng một ống thẳng bằngthiếc, một ngọn nến và một cái gương để soi trực tràng và bàng quang. Nửa thếkỷ sau năm 1865 Desormeaux đã giới thiệu tại viện hàn lâm y học Paris kỹ thuậtsoi bàng quang. Ông đã sử dụng ống nội soi này để kiểm tra trong lòng bàngquang [28][36].- Năm 1869 Pantaleoni đã kết hợp một đèn đốt cồn và nhựa thông đểchiếu sáng khi nội soi. Ông đã điều chỉnh gương phóng đại cho soi buồng tử cungvà có thể quan sát polype tử cung của một phụ nữ 60 tuổi sau mãn kinh ra máuvà đốt polype bằng Nitrat bạc [28][36].- Năm 1901 George Kelling Hamburg (Đức) là người đầu tiên dùng ốngsoi bàng quang và bơm hơi phúc mạc đẻ tiến hành soi ổ bụng trên chó. Sau 9 nămChristian Jacobaeus (Thuy Điển) dùng kính soi bàng quang để soi ổ bụng và lồngngực trên người. Năm 1924 Richard zollikofer đã khuyên nên dung khí Carbonicthay th ế khí trời được sử dụng trong nội soi vì khí này hấp thu và khuyếch tánnhanh [21].- Năm 1937 Hope đã sử dụng nội soi ổ bụng để chẩn đoán thai ngoàitử cung.- Năm 1946 Palmer đề xuất tư thế Trandelenburg (đầu thấp) rất thuận lợicho việc quan sát các tạng trong ổ bụng vùng tiểu khung khi nội soi.- Vấn đề đặc biệt là năm 1952 Forrestier và cộng sự đã phát minh và sửdụng ánh sáng lạnh hạn chế gây bỏng và giúp cho việc quan sát tốt hơn. Năm1960 Harold H.Hopkings ch ế tạo ra kính soi dùng hệ thống thấu kính hình que.
Xem thêm

70 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI MỘT LỖ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI (TT)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI MỘT LỖ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI (TT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Lịch sử phẫu thuật nội soi hiện đại được đánh dấu bởi ca cắt túi mật nội soi đầu tiên của bác sĩ Muhe người Đức thực hiện vào ngày 12 tháng 9 năm 1985, tuy nhiên lúc bấy giờ ít được mọi người biết đến do thiếu thông tin liên lạc đại chúng. Ngày 17 tháng 3 năm 1987, Philippe Mouret thực hiện thành công ca cắt túi mật nội soi tại Lyon – Pháp, chính thời khắc này được nhiều tác giả xem là dấu mốc của phẫu thuật nội soi hiện đại. Kể từ đó, phẫu thuật nội soi đã không ngừng phát triển trên khắp thế giới và cắt túi mật nội soi đã được chứng minh ưu điểm hơn so với mổ mở, đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị các bệnh lý túi mật lành tính. Năm 1997, Navara đã tiến hành ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên trên thế giới. Ông đã sử dụng 2 trocar 10mm kết với khâu treo túi mật để bộc lộ tam giác gan mật.Đến năm 2007, Podolsky ER trình bày kỹ thuật cắt túi mật nội soimột lỗ với 3 trocar 5mm đặt qua một đường mổ xuyên qua rốn mà không cầnkhâu treo túi mật. Ở Việt Nam, sau hội nghị nội soi và phẫu thuật nội soi Châu Á Thái Bình Dương lần thứ X (ELSA) năm 2010 tổ chức tại Hà Nội, phẫu thuật nội soi một lỗ được triển khai gần như cùng lúc tại các trung tâm phẫu thuật lớn ở cả ba miền. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn còn thiếu các nghiên cứumô tả một cách đầy đủ về quy trình kỹ thuật, khả năng ứng dụng và kết quả của cắt túi mật nội soi một lỗ đối với người Việt Nam. Xuất phát từ đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội”với hai mục tiêu như sau: 1. Nghiên cứu ứng dụng và xây dựng quy trình cắt túi mật nội soi một lỗ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. 2. Đánh giá kết quả cắt túi mật nội soi một lỗ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Xem thêm

Đọc thêm

Tài liệu Điều trị viêm mũi xoang mãn tính có Políp mũi bằng phẫu thuật nội soi triệt để pptx

TÀI LIỆU ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MÃN TÍNH CÓ POLÍP MŨI BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TRIỆT ĐỂ PPTX

hoặc 2 bên lại càng khó điều trò hơn. Với phương pháp phẫu thuật kinh điển, tỷ lệ tái phát khá cao trong một thời gian ngắn (>95%) trong thời gian 1 năm. Phương pháp mổ nội soi mang lại kết quả tốt hơn so với phương pháp cũ. Hiện nay phẫu thuật nội soi dần dần thay thế hẳn phương pháp củ, chủ yếu là phẫu thuật nội soi chức năng (FESS). Tuy nhiên phương pháp này không thể giải quyết tốt bệnh lý viêm mũi xoang mãn tính có polyps nhất là đối với bệnh lý này tại Việt Nam, thường bệnh nhân để bệnh giai đoạn nặng lúc đến điều trò. Vì vậy chúng tôi dùng một một phương pháp mổ nội soi triệt để nhằm không để polyps tái phát mà vẩn duy trì được những chức năng sinh lý tự nhiên của mũi xoang, chúng tôi gọi là phương pháp mổ nội soi mũi xoang triệt để (radical endoscopic sinus surgery, viết tắt là RESS). Trong nghiên cứu này chúng tôi nhằm nghiên cứu lại sự ưu việt của RESS trong điều trò viêm mũi xoang mãn tính (VMXMT) có polyps trên 72 bệnh nhân. * Khoa Tai Mũi Họng - Bệnh Viện An Bình TP. Hồ Chí Minh Chuyên đề Tai Mũi Họng - Mắt 124Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Xem thêm

4 Đọc thêm

Khi nào nên phẫu thuật xoang? ppsx

KHI NÀO NÊN PHẪU THUẬT XOANG? PPSX

Việt Nam, viêm mũi xoang gặp 15-20% dân số. Bệnh khởi phát dưới ảnh hưởng của khí hậu, môi trường, độ ẩm, điều kiện sống, sinh hoạt, sự mẫn cảm của cơ địa… và rất hay tái phát. Việc điều trị thường kéo dài 3-6 tháng, thậm chí có người phải điều trị nhiều năm liên tục với những thuốc Tây y đắt tiền. Mỗi đợt thuốc có thể tốn hàng triệu đồng khiến nhiều bệnh nhân không “theo” được. Từ lâu, dân gian đã lưu truyền tác dụng chữa viêm mũi xoang của cây hoa cứt lợn (còn có tên là hoa ngũ sắc, hoa ngũ vị, cây cỏ hôi; tên khoa học là Ageratum conyzoides). Cứt lợn là một loại cây nhỏ, thân nhiều lông mềm, cao chừng 25-50 cm, mọc hoang khắp nơi, nhiều nhất là nông thôn. Hoa nhỏ màu tím, xanh. Cây phát triển rất dễ mọi loại đất, có những nơi mọc khắp cánh đồng. Người ta hái toàn cây, cắt bỏ rễ, dùng tươi hay khô. Cây cứt lợn có hàm lượng tinh dầu cao. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy nó có tác dụng chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong cả đợt cấp và mạn tính. Cách sử dụng: Chọn lấy cây tươi về ngâm rửa sạch rồi để ráo, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau khoảng 15-20 phút. Rút bông ra để dịch mủ từ trong xoang và mũi giải phóng ra ngoài rồi xì nhẹ nhàng. Tránh xì mũi mạnh vì lúc đó, mủ từ trong mũi xoang có thể đi qua đường nối thông giữa mũi và tai (gọi là vòi nhĩ) gây viêm tai giữa cấp. Hiện nay đã có một số thuốc chiết xuất từ cây cứt lợn, bào chế dưới dạng dung dịch nhỏ mũi, rất thuận tiện cho người sử dụng. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ tai mũi họng để có chẩn đoán chính xác (loại trừ trước các khối u mũi xoang) và hướng dẫn cách theo dõi khi tự dùng thuốc nhà.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nội soi ổ bụng và nội soi buồng tử cung trước TTTON/CP docx

NỘI SOI Ổ BỤNG VÀ NỘI SOI BUỒNG TỬ CUNG TRƯỚC TTTON/CP DOCX

hiện việc đánh giá siêu âm hình thái chi tiết trước mọi “khối u buồng trứng”. Khi phẫu thuật, cố gắng thực hiện việc đánh giá một cách khách quan điểm số ODT nhằm có được một quyết định “trên bàn mổ”. Chúng tôi chủ trương thực hiện cắt bỏ ODT thì đầu khi điểm số Mage xấu, để không phải mổ lại second-look cắt ODT trước các chu kỳ TTTON/CP sau này. Điều trị ngoại khoa PCOS được chỉ định do thất bại điều trị nội khoa. Nếu thất bại, chỉ định TTTON/CP được đặt ra cho những bệnh nhân này. Với những trường hợp chỉ định TTTON/CP trực tiếp, chúng tôi đề nghị một giai đoạn điều trị ngoại khoa trước một chu kỳ TTTON/CP có hay không chuẩn bị với Metformin. Chúng tôi không chống lại chỉ định TTTON/CP trực tiếp sau thất bại của COHS - IUI, tuy nhiên việc đối phó với OHSS dẫn đến những bất lợi nặng nề trong tương quan giá thành - hiệu quả của điều trị. Trước một trường hợp u lạc nội mạc tử cung buồng trứng tái phát sau phẫu thuật một bệnh nhân có chỉ định TTTON/CP, chúng tôi đề nghị một thái độ tích cực cẩn trọng, dựa vào kích thước của khối LTNMTC. Với LTNMTC kích thước nhỏ buồng trứng, bệnh nhân được chuẩn bị trước bằng GnRH-a kéo dài nhiều chu kỳ, tiếp nối chu kỳ TTTON/CP. Với nang lạc tuyến to, cần tiến hành phẫu thuật second-look sau chuẩn bị với GnRH-a, tiếp sau đó bằng điều trị Add-back và TTTON/CP. Trong trường hợp chỉ định IVF?ET cho LTNMTC thâm nhiễm sâu vùng chậu chúng tôi không chủ trương phẫu thuật trước chu kỳ TTTON/CP, nhưng chúng tôi đề nghị một điều trị add-back với GnRH-a đủ dài tiếp nối ngay sau đó bằng một chu kỳ TTTON/CP. Soi buồng tử cung trước TTTON/CP được chỉ định khi (1) nội mạc tử cung mỏng bất thường, nhất là khi có tiền sử can thiệp thủ thuật trên buồng tử cung, (2) nội mạc tử cung dầy bất thường, (3) phản âm bất thường của nội mạc tử cung giai đoạn tiền phóng noãn, (4) cấu trúc phản âm bất thường lòng tử cung. Kết luận: Nội soi phẫu thuật trước một chu kỳ TTTON chuyển phôi tại Việt Nam mang nét đặc thù riêng, cần tiến đến một sự đồng thuận dựa trên cơ sở dữ liệu của Y học
Xem thêm

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề