CÁC YÊU CẦU VỀ NGÔN NGỮ VĂN BẢN PHÁP LUẬT.DOC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Các yêu cầu về ngôn ngữ văn bản pháp luật.doc":

PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT VÀ LÍ GIẢI CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẶT RA NHỮNG YÊU CẦU ĐÓ

PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT VÀ LÍ GIẢI CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẶT RA NHỮNG YÊU CẦU ĐÓ

quốc tế, đồng thời cải thiện được mức sống người dân. Do đó, xuất phát từ điều kiệnkinh tế - xã hội của đất nước, cũng như xu thế của thời đại, Việt Nam phải tiến hànhhội nhập với các tổ chức trên thế giới. Khi Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổchức trên thế giới như ASEAN, APEC, ASEM, WTO.. thì một vấn đề cấp bách đặt ravới chúng ta là phải tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, tạo cơsở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết. Tức là, chúng ta phải tiến hành rà soát, soạnthảo các văn bản pháp luật có nội dung tương thích với các điều ước quốc tế mà ViệtNam đã tham gia hoặc ký kết.Sự tương thích của văn bản pháp luật với điều ước quốc tế mà Việt Nam thamgia hoặc ký kết chủ yếu được đặt ra với các văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, trướchết, văn bản pháp luật phải có nội dung phù hợp, tương ứng với các chuẩn mực vàthông lệ quốc tế.Trong xu hướng hội nhập và phát triển, tính tương thích trong văn bản pháp luậtđược đánh giá là vấn đề quan trọng khi các nước tham gia và ký kết trong khuôn khổcác tổ chức diễn đàn khu vực và thế giới. Do đó, xây dựng các văn bản pháp luật thốngnhất với các điều ước quốc tế có giá trị bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viênnói chung và với Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, ngày 11/07/2007, Việt Nam đã trởthành thành viên chính thức của tổ chức WTO. Vì vậy, ban hành các văn bản pháp luậtcàng đòi hỏi phải có phù hợp, tương ứng cao với nội dung điều ước mà Việt Nam đãký kết.Ví dụ: Chúng ta đã có quy định về việc loại bỏ yêu cầu bắt buộc đối với giấy phépđầu tư trong việc thực hiện chương trình nội địa hóa đối với các dự án: sản xuất, lắpgiáp ô tô, xe máy, các mặt hàng cơ khí, điện, điện tử. Quy định này đã đảm bảo sự phùhợp trong thực tiễn, loại bỏ những thủ tục rườm rà, tạo điều kiện để phát triển kinh tế.Hay Các quy định về quyền Sở hữu trí tuệ . Cùng với Bộ Luật Dân Sự năm 2005, LuậtSở hữu trí tuệ năm 2006, Chính phủ đã ban hành một số văn bản hướng dẫn chi tiết cácquyền và thực thi quyền Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam như các Nghị định số120/2005/NĐ-CP;100/2006/NĐ-CP;103/2006/NĐ-CP;104/2006/NĐCP,105/2006/NĐCP;106/2006/NĐ-CP. Với hệ thống văn bản pháp luật về vấn đề này, nước ta đã tiệm
Xem thêm

16 Đọc thêm

CÔNG TÁC SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ TẠI CỤC TRỒNG TRỌT – BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN _ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CÔNG TÁC SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ TẠI CỤC TRỒNG TRỌT – BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN _ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6. Giả thuyết nghiên cứu 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
8. Cấu trúc của đề tài 5
B. PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ CỦA CỤC TRỒNG TRỌT 7
1.1. Những vấn đề chung về hệ thống văn bản quản lý 7
1.1.1. Khái niệm văn bản, văn bản quản lý, văn bản quản lý nhà nước 7
1.1.2. Chức năng của văn bản quản lý 9
1.1.2.1. Chức năng thông tin 9
1.1.2.2. Chức năng quản lý 10
1.1.2.3. Chức năng pháp lý 10
1.1.3. Phân loại hệ thống văn bản quản lý 11
1.1.3.1. Văn bản quy phạm pháp luật 11
1.1.3.2. Văn bản hành chính 11
1.1.3.3. Văn bản chuyên ngành 13
1.2. Những yêu cầu về công tác soạn thảo và ban hành văn bản 13
1.2.1. Yêu cầu về thẩm quyền 13
1.2.2. Yêu cầu về nội dung 13
1.2.3. Yêu cầu về hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản 14
1.2.4. Yêu cầu về ngôn ngữ 15
1.2.5. Yêu cầu về quy trình soạn thảo và ban hành văn bản 17
1.3. Khái quát về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 19
1.3.1. Vị trí và chức năng 19
1.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn 20
1.3.3. Cơ cấu tổ chức 22
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ CỦA CỤC TRỒNG TRỌT – BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 24
2.1. Thẩm quyền ban hành các loại văn bản quản lý của Cục Trồng trọt 24
2.2. Nội dung văn bản quản lý của Cục Trồng trọt 25
2.3. Hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản của Cục Trồng trọt 26
2.4. Ngôn ngữ văn bản quản lý của Cục Trồng trọt 35
2.5. Quy trình soạn thảo và ban hành văn bản quản lý của Cục Trồng trọt 36
2.6. Đánh giá về công tác soạn thảo và ban hành văn bản quản lý của Cục Trồng trọt 47
2.6.1. Ưu điểm 47
2.6.2. Hạn chế 49
2.6.2.1. Về nội dung văn bản 49
2.6.2.2. Về hình thức, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản 50
2.6.2.3. Về văn phong, ngôn ngữ trong văn bản 53
2.6.2.4. Về quy trình soạn thảo và ban hành văn bản 54
2.6.3. Nguyên nhân 55
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ CỦA CỤC TRỒNG TRỌT 58
3.1. Đảm bảo thực hiện đúng quy trình soạn thảo và ban hành văn bản 58
3.2. Xác định và tìm hiểu rõ thẩm quyền ban hành văn bản 59
3.3. Đảm bảo các yêu cầu về nội dung và thể thức của văn bản 59
3.4. Kiểm tra và xử lý văn bản vi phạm pháp luật 60
3.5. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác soạn thảo và quản lý văn bản 61
3.6. Thực hiện tốt công tác lưu trữ tại Cục Trồng trọt 63
3.7. Một số giải pháp khác 64
3.8. Một số mẫu văn bản tham khảo cho Cục Trồng trọt. 64
C. PHẦN KẾT LUẬN 76
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Xem thêm

81 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Bài viết số 5

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : BÀI VIẾT SỐ 5

BÀI VIẾT SỐ 5 (Văn thuyết minh) I – ĐỀ BÀI THAM KHẢO 1. Giới thiệu về ca dao Việt Nam. 2. Trình bày một số đặc điểm cơ bản của văn bản văn học. 3. Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. 4. Thuyết minh yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học. 5. Thuyết minh về đặc điểm của thể loại phú. II – HƯỚNG DẪN 1. Đây là kiểu bài văn thuyết minh về một thể loại văn học, vấn đề văn học; cần phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp thuyết minh thích hợp với từng đối tượng để làm bài. Trong các đề bài trên, đề (1) và đề (5) có đối tượng thuyết minh là thể loại văn học; các đề (2), (3), (4) thuộc dạng thuyết minh về một vấn đề văn học. 2. Để giải quyết được yêu cầu của đề bài, cần chuẩn bị tri thức cũng như tính toán cách làm bài theo các bước sau: a) Huy động tư liệu, tìm hiểu tri thức về đối tượng thuyết minh (thể loại hoặc vấn đề văn học). b) Lựa chọn nội dung thông tin chính xác, khách quan về đối tượng thuyết minh để trình bày trong bài văn. c) Lập dàn ý cho bài văn theo bố cục 3 phần: - Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng cần thuyết minh. - Thân bài: Trình bày nội dung thông tin về đối tượng thuyết minh theo trình tự nhất định (trình tự lô gích của đối tượng hoặc trình tự nhận thức, quan hệ nhân – quả,…). - Kết bài: Có thể đưa ra nhận định chung về đối tượng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đối tượng đã thuyết minh. d) Viết bài văn thuyết minh với dàn ý đã lập. 3. Định hướng về nội dung thông tin để giải quyết các đề cụ thể: a) Giới thiệu về ca dao Việt Nam: - Ca dao là gì? Tham khảo: Ca dao (còn gọi là phong dao) được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu; trong trường hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca. Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, từ ca dao đã dần dần chuyển nghĩa. Hiện nay, từ ca dao thường được dùng để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống. (Theo Nhiều tác giả, Từ điển Thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004) - Ca dao Việt Nam có đặc điểm gì về nội dung? Ca dao là thơ trữ tình – trò chuyện diễn tả tình cảm, tâm trạng của một số kiểu nhân vật trữ tình: người mẹ, người vợ, người con,… trong quan hệ gia đình; chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu lứa đôi; người phụ nữ, người dân thường,… trong quan hệ xã hội. Nó không mang dấu ấn tác giả như thơ trữ tình (của văn học viết) mà thể hiện tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và có cách thể hiện tình cảm, thế giới nội tâm mang tính chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương,… của các kiểu nhân vật này. Tuy nhiên, dù mang tính chất chung nhưng mỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo, sáng tạo, thể hiện được sự phong phú, da dạng của sắc thái tình cảm. (…) - Ca dao Việt Nam có những nét đặc sắc gì về nghệ thuật? Hơn 90% các bài ca dao đã sưu tầm được đều sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Ngoài ra, ca dao còn có các dạng hình thức khác như thơ song thất lục bát (câu thơ bảy tiếng kết hợp với câu thơ sáu – tám tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ năm tiếng). Ca dao rất giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và biểu tượng mang tính truyền thống như hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò, chiếc khăn,… - những hình ảnh quen thuộc, gắn với cuộc sống của người bình dân. Các hình thức lặp lại cũng là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của ca dao: lặp kết cấu, lặp hình ảnh, lặp hình thức mở đầu hoặc lặp từ, cụm từ,… Được tổ chức dưới hình thức thơ ca nhưng ngôn ngữ của ca dao vẫn rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm chất địa phương và dân tộc. - Vai trò thẩm mĩ của ca dao? Mỗi người, bất kể giàu nghèo, sang hèn,… đều có thể lấy ca dao là tiếng nói tâm tư, tình cảm của mình, có thể soi lòng mình trong ca dao. Cho nên, ca dao còn được coi là “thơ của vạn nhà”, là gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc; nơi lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, nguồn mạch vô tận cho thơ ca,… b) Về đặc điểm cơ bản của văn bản văn học: - Văn bản văn học là gì? Văn bản văn học (còn gọi là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương) có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, văn bản văn học là tất cả các văn bản sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (tức là tạo ra những hình tượng bằng tưởng tượng). Văn bản văn học theo nghĩa hẹp vừa có ngôn từ nghệ thuật vừa có hình tượng nghệ thuật. - Văn bản văn học có đặc điểm gì về ngôn từ? + Ngôn từ văn học được tổ chức đặc biệt, có tính nghệ thuật và thẩm mĩ. + Ngôn từ văn học là chất liệu để sáng tạo hình tượng, xây dựng thế giới tưởng tượng. + Do yêu cầu sáng tạo hình tượng, ngôn từ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa. - Văn bản văn họic có đặc điểm gì về hình tượng? + Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc. + Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt. Đọc – hiểu văn bản văn học là thực hiện quá trình giao tiếp giữa người đọc và tác giả. - Văn bản văn học có đặc điểm gì về ý nghĩa? + Ý nghĩa của hình tượng văn học chính là ý nghĩa của đời sống được nhà văn gợi lên qua hình tượng. + Ý nghĩa của hình tượng văn học thể hiện qua nhân vật, sự kiện, cảnh vật, chi tiết, qua sự sắp xếp, kết cấu của các bộ phận văn bản và qua cách sử dụng ngôn từ. + Có thể chia ý nghĩa của hình tượng thành các lớp: đề tài, chủ đề, cảm hứng, tính chất thẩm mĩ, triết lí nhân sinh. - Văn bản văn học có đặc điểm gì về cá tính sáng tạo của nhà văn? + Văn bản văn học nào cũng do tác giả viết ra và ít nhiều đều để lại dấu ấn của người sáng tạo ra văn bản. + Đặc điểm về cá tính sáng tạo của tác giả vừa tạo nên sự phong phú, đa dạng vừa đem lại tính độc đáo cho văn bản văn học. - Những hiểu biết về đặc điểm của văn bản văn học có tác dụng gì? + Định hướng về thao tác đọc – hiểu văn bản văn học cụ thể. + Định hướng về thao tác cảm thụ, đánh giá văn bản văn học cụ thể. c) Về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là gì? Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch). Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả. - Tính thẩm mĩ của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. - Tính đa nghĩa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. - Đặc điểm về dấu ấn riêng của tác giả trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả. - Tác dụng của những hiểu biết về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: + Tác dụng đối với hoạt động đọc – hiểu văn bản văn học. + Tác dụng đối với hoạt động sáng tạo văn bản văn học. d) Về yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học: - Bản chất của hoạt động đọc văn bản văn học là gì? Khi đọc văn bản văn học, dù với bất kì mục đích nào, người đọc đều thực hiện việc tiếp nhận các giá trị tư tưởng, nghệ thuật; giao lưu tư tưởng, tình cảm với tác giả, với những người đã đọc trước; bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm với văn bản văn học. - Những yêu cầu chính của việc đọc – hiểu văn bản văn học: Người đọc phải trải qua quá trình đọc – hiểu: từ hiểu văn bản ngôn từ, hiểu ý nghĩa của hình tượng, hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả; từ đó hình thành sự đánh giá đối với văn bản và đạt đến mức độ thưởng thức các giá trị của văn bản. - Làm thế nào để hình thành được kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học? Người đọc chẳng những phải thường xuyên đọc nhiều tác phẩm văn học mà còn phải biết tra cứu, học hỏi, biết tưởng tượng, suy ngẫm, tạo thành thói quen phân tích và thưởng thức văn học. e) Về đặc điểm của thể loại phú, xem bài Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản trái pháp luật

CHỦ THỂ CÓ THẨM QUYỀN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ VĂN BẢN TRÁI PHÁP LUẬT

Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản pháp luật sai trái

Câu 24. Trong trường hợp nào thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản pháp luật sai trái? Cho ví dụ.

BÀI LÀM

Tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản pháp luật là hai trong sáu cách thức xử lí các loại văn bản pháp luật khiếm khuyết (Ngoài ra còn còn hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế, sửa đổi bổ sung). Để lựa chọn cách thức xử lí phù hợp đối với từng loại văn bản, chúng ta cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố như tính chất khiếm khuyết và mức độ khiếm khuyết trong văn bản pháp luật, thẩm quyền xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền .


Từ những căn cứ trên có thể kết luận các trường hợp mà chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp đình chỉ, tạm đình chỉ văn bản pháp luật sai trái như sau:


Trường hợp áp dụng biện pháp đình chỉ văn bản pháp luật sai trái:

Theo từ điển Tiếng Việt, “đình chỉ” được hiểu là “ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hoặc vĩnh viễn” . Như vậy, “đình chỉ” với tư cách là một biện pháp xử lí các loại văn bản pháp luật khiếm khuyết có thể được định nghĩa là việc ngừng việc thi hành các văn bản pháp luật khiếm khuyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đình chỉ thi hành văn bản pháp luật là biện pháp xử lí được áp dụng với tư cách là biện pháp bổ sung hoặc biện pháp độc lập.

Với tư cách là biện pháp bổ sung, đình chỉ thi hành được sử dụng kèm theo việc hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế văn bản pháp luật. Như vậy, đình chỉ thi hành sẽ được áp dụng với tất cả các loại văn bản pháp luật mà có thể áp dụng biện pháp hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế, bao gồm cả ba loại văn bản pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính. Trong trường hợp này, chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế đồng thời có thẩm quyền đình chỉ một loại văn bản pháp luật cụ thể mới có quyền áp dụng biện pháp đình chỉ như một biện pháp bổ sung. Đối với các cơ quan không có thẩm quyền xử lí văn bản pháp luật sai trái bằng biện pháp hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế thì có thể áp dụng biện pháp đình chỉ như một biện pháp độc lập để tạm thời chấm dứt hiệu lực của văn bản và yêu cầu cấp có thẩm quyền xử lí.

Ví dụ: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1995QĐUBND ngày 2482009 về việc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do UBND tỉnh ban hành. Theo đó, Bãi bỏ Quyết định số 072007QĐUBND ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hộ tịch. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã có quyết định đình chỉ việc thi hành văn bản trên.

Với tư cách là biện pháp độc lập, đình chỉ thi hành được áp dụng trong hai trường hợp là: Đình chỉ để chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật và đình chỉ để tạm dừng hiệu lực của băn bản pháp luật, chờ cấp có thẩm quyền xử lí.

Đối với trường hợp áp dụng biện pháp đình chỉ để chấm dứt hiệu lực văn bản thì chỉ áp dụng với văn bản quy phạm pháp luật và do các cơ quan có thẩm quyền đình chỉ văn bản quy phạm pháp luật áp dụng bao gồm: Thủ tướng Chính phủ ,Bộ trưởng Bộ Tư Pháp , chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ,... Văn bản pháp luật sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm quyết định đình chỉ có hiệu lực.

Ví dụ: Bộ trưởng Bộ Tư pháp Uông Chu Lưu đã ký quyết định số 1212QĐBTP ngày 952006 đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung 14 văn bản trái pháp luật về xử lý vi phạm hành chính do các địa phương ban hành gồm 3 văn bản của UBND tỉnh Sơn La, 1 của UBND tỉnh Lạng Sơn, 3 của UBND tỉnh Cà Mau, 1 của UBND tỉnh Yên Bái, 2 của UBND thành phố Hồ Chí Minh và 3 của UBND thành phố Đà Nẵng.

Đối với trường hợp đình chỉ thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí thì phải tuân theo nguyên tắc: Các văn bản trái luật phải bị đình chỉ thi hành ngay và phải bị bãi bỏ hoặc hủy bỏ kịp thời . Cụ thể như sau: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận thấy văn bản pháp luật có các dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng có thể ra quyết định đình chỉ thi hành văn bản và yêu cầu cấp trên có thẩm quyền hủy bỏ; khi nhận nhận thấy phần lớn văn bản pháp luật có sự khiếm khuyết thì có thể ra quyết định đình chỉ và yêu cầu cấp trên có thẩm quyền bãi bỏ, thay thế bằng văn bản khác .

Ví dụ: Bộ trưởng bộ Tư pháp có thẩm quyền đình chỉ và kiến nghị thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quyết định chỉ thị trái pháp luật do UBND cấp tỉnh ban hành liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lí nhà nước ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền đình chỉ và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh trái với văn bản về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ; chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ .

Văn bản pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực còn không bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực.

Trường hợp áp dụng biện pháp tạm đình chỉ văn bản pháp luật sai trái:

Theo từ điển Tiếng Việt “tạm” là “làm việc gì đó ngừng lại trong một thời gian, khi có điều kiện sẽ thay đổi” . Do đó, “tạm đình chỉ văn bản pháp luật” có thể được hiểu là “ngừng việc thi hành văn bản pháp luật trong một gian nhất định”.

Khác với biện pháp đình chỉ văn bản pháp luật, tạm đình chỉ thi hành là biện pháp xử lí độc lập, chỉ áp dụng đới với các văn bản áp dụng pháp luật. Cụ thể, tạm đình chỉ thi hành được áp dụng trong hai trường hợp sau đây:

Thứ nhất, chủ thể không có thẩm quyền xử lí văn bản áp dụng pháp luật nhưng có cơ sở cho rằng văn bản đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì có quyền tạm đình chỉ việc thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí. Văn bản pháp luật bị tạm đình chỉ, hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, tiếp tục có hiệu lưc khi cấp có thẩm quyền tuyên bố không hủy bỏ văn bản đó.

Ví dụ: Khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định: “Người đã kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó. Thời hạn tạm đình chỉ thi hành án không quá 6 tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án…”.

Thứ hai, chủ thể có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ việc thi hành văn bản trong thời gian nhất định nếu có cơ sở cho rằng, việc thi hành văn bản pháp luật có thể gây cản trở hoạt động công quyền. Việc tạm đình chỉ nhằm mục đích giúp cho hoạt động công quyền được diễn ra thuận lợi hơn. Trường hợp này, người ra quyết định tạm đình chỉ phải ra văn bản bãi bỏ việc tạm đình chỉ đó nếu xét thấy việc tạm đình chỉ không còn cần thiết. Văn bản đã bị tạm đình chỉ sẽ tiếp tục có hiệu lực.

Ví dụ: Khoản 4 Điều 10 Nghị định 712009NĐCP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định Chánh Thanh tra Sở có quyền: “Kiến nghị Giám đốc Sở tạm đình chỉ việc thi hành quyết định của đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở khi có căn cứ cho rằng các quyết định đó trái pháp luật hoặc gây cản trở hoạt động thanh tra”.

Nói tóm lại, việc lựa chọn biện pháp xử lí kỉ luật phù hợp với từng trường hợp là rất quan trọng. Chúng ta phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau để đảm bảo việc áp dụng đúng thẩm quyền cũng như đem lại hiệu quả cao nhất, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Bài tập nhóm Xây dựng văn bản pháp luật: Thẩm định văn bản pháp quy phạm pháp luật

BÀI TẬP NHÓM XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT: THẨM ĐỊNH VĂN BẢN PHÁP QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật bài tập nhóm xây dựng văn bản pháp luật

A. MỞ ĐẦU

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một giai đoạn trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp. Như vậy, để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cần phải có đầy đủ các khâu đoạn trong đó có việc thẩm định. Thực chất của công tác thẩm định là khắc phục những hạn chế, bất cập của việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để hiểu hơn về hoạt động thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động này nhóm chúng em chọn đề tài: “Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Cho ví dụ minh họa” .

B. NỘI DUNG

I. Thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

1. Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản pháp luật.

Hiện nay thuật ngữ thẩm định có nhiều cách hiểu khác nhau. Với cách hiểu thông thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích thẩm định là “xem xét để xác định về chất lượng”. Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp biên soạn, đã đưa ra cách hiểu:

“Thẩm định có ý nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó. Hoạt động này do tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện ... Việc thẩm định có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác nhau như thẩm định dự án, thẩm định báo cáo, thẩm định hồ sơ, thẩm định thiết kế, thẩm định đồ án quy hoạch, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ...”.

Như vậy, thẩm định trước hết là hoạt động của một chủ thể được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá văn bản theo những tiêu chí nhất định. Tính đúng đắn của văn bản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc loại, tính chất của văn bản. Xét về bản chất, thẩm định là việc kiểm tra trước nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những sai trái có thể có trong dự thảo.

Theo Điều 1, Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 052007QĐTTG ngày 1012007 của Thủ tướng Chính phủ: Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức của dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật.

Như vậy, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức, kỹ thuật soạn thảo của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động thuộc quy trình xây dựng văn bản. Hoạt động này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền tiến hành, nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan và chính xác dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, phê chuẩn.

2. Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Hoạt động thẩm định có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản.

Trước hết, hoạt động thẩm định là giải pháp nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật, đóng vai trò đi trước, là phương thức mang tính chất phòng ngừa và đạt hiệu quả rất cao. Hoạt động thẩm định góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trước khi ban hành.

Ý kiến thẩm định nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, quản lý nhà nước, với hệ thống pháp luật. Khi một văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định và ý kiến thẩm định có giá trị thì sẽ tạo ra một văn bản có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu chất lượng của Báo cáo thẩm định không đưa ra được những đánh giá chuẩn mực, xác đáng thì thậm chí sẽ gây thiệt hại lớn cho cơ quan quản lý cũng như đối tượng điều chỉnh.

Thẩm định giúp chủ thể ban hành sẽ dễ dàng tiếp cận tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh nhất có trọng tâm đúng pháp luật. Với tư cách là những đánh giá, xem xét rất cơ bản trung thực khách quan về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra nhận xét nên thẩm định còn mang tính chất định hướng chỉ dẫn và cung cấp các thông tin dưới góc độ pháp lý cần thiết cho chủ thể ban hành dự thảo cũng như chủ thể soạn thảo. Trong qúa trình thẩm định cơ quan thẩm định có thể phát hiện được những bất hợp lý, bất hợp pháp mà cơ quan soạn thảo đã vô tình hoặc cố ý tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp có nhiểu quan điểm trái chiều nhau về cùng một vấn đề, kết quả thẩm định là cơ sở để xem xét ban hành văn bản.

Thẩm định còn tạo ra cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để Báo cáo thẩm định có chất lượng, cơ quan thẩm định, soạn thảo văn bản, cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.

Trên thực tế nếu Báo cáo thẩm định thực sự khách quan có căn cứ khoa học hợp lý văn bản được ban hành sẽ có hiệu lực và hiệu quả cao. Bên cạnh đó thẩm định còn là cơ hội để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức. Có thể người có kiến thức luật nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn về đối tượng điều chỉnh của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ngược lại. Qua đó, có thể nâng cao chất lượng xây dựng văn bản.

II. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Mặc dù thẩm định được coi là hoạt động quan trọng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, song Báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp địa phương chỉ được coi là tài liệu có tính chất tham mưu, không có tính chất bắt buộc cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành phải thực hiện.

Báo cáo thẩm định là văn bản giúp Hội đồng thẩm định ghi chép và tổng kết lại kết quả của quá trình thẩm định. Báo cáo thẩm định được xây dựng khoa học thì mới phản ánh được chính xác và đầy đủ tất cả những vấn đề của hoạt động thẩm định. Nếu hoạt động thẩm định tốt mà báo cáo thẩm định không tốt thì nhiệm vụ thẩm định để xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật cũng không đạt được kết quả cao.

Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định được pháp luật quy định sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định. Đối với cơ quan ban hành, báo cáo thẩm định là một tài liệu trong hồ sơ trình để ban hành văn bản và chỉ xem xét khi có văn bản thẩm định của cơ quan tư pháp. Dưới góc độ pháp lý quy định như vậy rất chặt chẽ, bảo đảm phát huy tối đa giá trị tham mưu, tư vấn của hoạt động thẩm định trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định còn được thể hiện thông qua chất lượng của Báo cáo thẩm định. Chất lượng của Báo cáo thẩm định phải thể hiện được cả giá trị tham mưu, tư vấn cả về mặt pháp lý và giá trị thực tế, nếu không hoạt động thẩm định chỉ được coi là hoạt động mang tính hình thức, làm cho đúng thủ tục chứ không có vị trí quan trọng. Trong khi đó trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính khả thi là một tiêu chí không bắt buộc thẩm định, làm giảm giá trị tham mưu về khả năng thực thi đối với báo cáo thẩm định.

III.Ví dụ về hoạt động thẩm định và báo cáo thẩm định dự thảo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

1. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động.

Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Dự thảo BLLĐ mới sẽ gồm 17 chương với 276 điều (BLLĐ hiện hành có 198 điều), tại mỗi chương, dự thảo quy định từng vấn đề thành các mục riêng rất cụ thể, chi tiết, trong đó có riêng một điều (Điều 5) giải thích một số thuật ngữ nhằm làm rõ thêm những vấn đề trước đây đang còn nhiều cách hiểu khác nhau.

Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động lao động do Bộ tư pháp tiến hành.

Ngày 06 tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1165QĐBTP về việc thành lập Hội đồng thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định bao gồm 11 thành viên là đại diện của các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Tư pháp do đồng chí Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 08 tháng 7 năm 2011, Hội đồng đã tiến hành thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Hội đồng thẩm định đã tiến hành thẩm định và tập trung vào các vấn đề sau: sự cần thiết ban hành Bộ luật; phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự án Bộ luật; sự phù hợp của dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ và tính khả thi của dự án Bộ luật; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề khác có liên quan đến dự án Bộ luật.

2. Báo cáo thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động.

Trên cơ sở hoạt động thẩm định dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi được tiến hành bắt đầu từ ngày 08072011 thì ngày 11 7 2011 Hội đồng thẩm định đã trình Báo cáo số 111 BCHĐTĐ về việc thẩm định dự án Bộ luật lao động sửa đổi.

Báo gồm một số nội dung sau: I. Về sự cần thiết ban hành Bộ luật Lao động; II. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụngIII. Về sự phù hợp của nội dung dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của dự án Bộ luật với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; IV. Về tính khả khi của dự án Bộ luật; V. Về các vấn có ý kiến còn khác nhau; VI. Về nội dung của dự án Bộ luật; IX. Nhận xét chung; VII. Về hồ sơ và trình tự soạn thảo

3.Ý nghĩa của hoạt động dự thảo Bộ luật lao động và ý nghĩa của báo cáo thẩm định.

Hoạt động thẩm định đã xem xét, đánh giá dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi trên nhiều mặt khác nhau, việc thẩm định sẽ giúp tìm ra những điểm hợp lí và không hợp lí, những vấn đề còn nhiều ý kiến tranh luận, phương hướng giải quyết. Qua đó sẽ tư vấn giúp những nhà lập pháp xây dựng được một Bộ luật lao động tiến bộ, chặt chẽ và khoa học, khắc phục được những hạn chế của Bộ luật lao động hiện hành, đồng thời theo kịp và dự liệu được các tình huống sẽ xảy ra trong thực tế liên quan đến những vấn đề mà Bộ luật lao động điều chỉnh. Cũng từ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí khoa học, đúng đắn, thúc đẩy đất nước phát triển. Mặt khác hoạt động thẩm định còn tạo ra cơ chế giám sát giữa các cơ quan xây dựng dự thảo và cơ quan thanh tra, giám sát, các cơ quan có liên quan....

Báo cáo thẩm định của hội đồng thẩm định đã ghi chép, tổng kết đầy đủ, chính xác hoạt động thẩm định dự thảo văn Bộ luật lao động sửa đổi.

Báo cáo thẩm định cũng là cơ sở để trình lên Chính phủ, Bộ lao động thương binh và xã hội về hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định, qua đó góp phần xây dựng được Bộ luật lao động mới tốt hơn.

C. KẾT LUẬN

Thẩm định là hoạt dộng đánh giá, góp phần hoàn thiện nội dung cũng như hình thức dự thảo văn bản pháp luật. Chất lượng thẩm định dự thảo văn bản pháp luật có ý nghĩa đối với công tác xây dựng văn bản pháp luật, đặc biệt là chất lượng xây dựng văn bản. Ngược lại, nếu thẩm định không chính xác, hời hợt có thể làm mất giá trị, ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Tuy nhiên, trong công tác thẩm định dự thảo văn bản pháp luật hiện nay còn tồn tại những hạnchế nhất định như: nội dung thẩm định còn nặng về hình thức, chất lượng thẩm định đôi khi không đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thẩm định chưa khoa học, sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thẩm định chưa chặt chẽ…
Xem thêm

9 Đọc thêm

Vấn đề thẩm định thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật

VẤN ĐỀ THẨM ĐỊNH THẨM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Vấn đề thẩm định thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật Bài tập học kỳ môn Xây dựng văn bản pháp luật
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật
Vấn đề thẩm định thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Trong quá trình soạn thảo để ban hành ra một văn bản quy phạm pháp luật sẽ có những trường hợp mắc lỗi trong văn bản, những lỗi đó dù nhỏ nhưng cũng có thể gây ra hậu quả khó lường trong thực tiễn áp dụng. Do đó, để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót đó, đồng thời hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định việc thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật. Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một trong những thủ tục quan trọng của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bởi là một khâu quan trọng nên trách nhiệm của những chủ thể thực hiện công việc thẩm tra, thẩm định càng trở nên quan trọng hơn nữa.

NỘI DUNG

1, Khái quát chung về thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thẩm tra và thẩm định là những hoạt động tương tự nhau về chuyên môn nhưng có một số điểm khác biệt. Mọi dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều được thẩm định nhưng riêng đối với các dự án văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn được thẩm tra bởi các cơ quan chuyên trách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Về phạm vi, thẩm tra và thẩm định đều xem xét tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo, bên cạnh đó thẩm định còn xem xét về sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng và phạm vi điều chỉnh, kĩ thuật soạn thảo văn bản; thẩm tra còn xem xét về tính chính trị, tính hợp lí và tính khả thi của dự thảo.

Nguyên tắc thẩm tra, thẩm định là bảo đảm tính khách quan và khoa học; tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn thẩm định dự án, dự thảo; bảo đảm sự phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ tư pháp, phối giữa Bộ tư pháp với cơ quan liên quan; bảo đảm sự trao đổi, thảo luận tập thể trong đơn vị được giao thẩm định dự án, dự thảo.

2, Trách nhiệm của các chủ thể trong việc thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

2.1 Bộ tư pháp

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, dự thảo nghị định, dự thảo quyết định.

Trong việc thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Bộ tư pháp có trách nhiệm:

 Tổ chức thẩm định dự án, dự thảo đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng của báo cáo thẩm định.

 Tổ chức nghiên cứu các nội dung liên quan đến dự án, dự thảo;

 Tổ chức các hội thảo về nội dung của văn bản được thẩm định trước khi nhận hồ sơ thẩm định;

 Tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức có liên quan,các chuyên gia, các nhà khoa học;

 Tham gia với các cơ quan chủ trì soạn thảo khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo;

 Tham gia các hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập trong quá trình soạn thảo dự án, dự thảo;

 Đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cở đại diện phối hợp thẩm định;

 Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo và cung cấp thông tin tìa liệu có liên quan đến dự án, dự thảo;

 Mời đại diện các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học có liên quan tham gia hoạt động thẩm định.

Cụ thể trong quá trình triển khai thẩm định của Bộ tư pháp, các chủ thể có trách nhiệm như sau:

Đối với Bộ trưởng Bộ tư pháp phụ trách chung về công tác thẩm định dự án, dự thảo.

Đối với Thứ trưởng thường trực phụ trách chung công tác thẩm định khi Bộ trưởng vắng mặt, giải quyết công việc liên quan đến công tác thẩm định được phân công cho Thứ trưởng khác phụ trách khi Thứ trưởng đó vắng mặt. Các thứ trưởng giúp Bộ trưởng trực tiếp phụ trách công tác thẩm định dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực theo sự phân công của Bộ trưởng. Đối với dự án, dự thảo quan trọng, phức tạp, Thứ trưởng phụ trách có trách nhiệm báo cáo Bộ trưởng và xin ý kiến chỉ đạo về ý kiến thẩm định.

Đối với các đơn vị thuộc Bộ: Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo và dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ tư pháp. Trong trường hợp dự thảo quyết định, dự thảo thông tư có nội dung phức tạp, Vụ trưởng vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có thể yêu cầu các đơn vị phối hợp thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Trường hợp các đơn vị khác được giao chủ trì tổ chức thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ tư pháp thì trình tự, thủ tục thẩm định được áp dụng theo các quy định của Nghị định số 242009NĐCP. Trong quá trình thẩm định dự thảo quyết định, thông tư, đơn vị chủ trì thẩm định có thể tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định. Trong trường hợp vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật được phân công chủ trì soạn thảo quyết định, thông tư thì Bộ trưởng quyết định đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định.

Đối với thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định: Trong việc thẩm định dự án, dự thảo được phân công Thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức có trách nhiệm:

+ Phân công một lãnh đạo đơn vị phụ trách việc tổ chức thẩm định dự án, dự thảo;

+ Đề nghị các đơn vị liên quan phối hợp thẩm định khi xét thấy cần thiết;

+ Đề xuất việc yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo trước khi thẩm định;

+ Đề nghị cơ quan soạn thảo cung cấ thông tin và tài liệu có liên quan đến dự an, dự thảo được thẩm định;

+ Đề xuất việc tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo trong những trường hợp cần thiết;

+ Tổ chức hoặc đề xuất lãnh đạo tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định với sự tham gia của cơ quan chủ trì soạn thảo và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lí.

2.2 Pháp chế bộ, ngành

Tổ chức pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

• Trong việc thẩm định dự thảo thông tư, tổ chức pháp chế có trách nhiệm sau đây:

 Thẩm định dự án, dự thảo đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng của báo cáo thẩm định.

 Tổ chức nghiên cứu các nội dung liên quan đến dự thảo;

 Tham gia cùng đơn vịchur trì soạn thảo khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo;

 Yêu cầu đơn vị chủ trì thuyết trình về dự thảo;

 Đề nghị đơn vị chủ trì soạn thảo cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến dự thảo;

 Phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo trong quá trình soạn thảo thông tư;

 Đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phân công các đơn vị khác phối hợp thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học trong những trường hợp dự thảo có nội dung phức tạp.

• Đơn vị chủ trì soạn thảo thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm:

 Mời đại diện tổ chức pháp chế tham gia các hoạt động soạn thảo dự thảo;

 Gửi đầy đủ hồ sơ thẩm định đến tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến dự thảo thông tư theo yêu cầu của tổ chức pháp chế;

 Thuyết trình về dự thảo thông tư khi có yêu cầu của tổ chức pháp chế;

 Phối hợp với tổ chức pháp chế nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lí dự thảo trên cơ sở ý kiến thẩm định;

 Giải trình bằng văn bản về việc tiếp thu, không tiếp thu ý kiến thẩm định và báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, đồng thời gửi bản giải trình đến tổ chức pháp chế.

• Các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

 Cử đại diện có trình độ chuyên môn có trình độ phù hợp phối hợp thẩm định theo đề nghị của tổ chức pháp chế;

 Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc thẩm định theo yêu cầu của tổ chức pháp chế.

2.3 Cơ quan chủ trì soạn thảo

Để hoạt động soạn thảo được đảm bảo chất lượng, hiệu quả cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đối với công tác thẩm định như sau:

 Gửi đầy đủ hồ sơ thẩm định theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và cung cấp các tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo theo yêu cầu của cơ quan thẩm định.

 Trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề có liên quan đến nội dung của dự thảo, dự án theo yêu cầu của cơ quan thẩm định.

 Cử đại diện có trình độ chuyên môn phù hợp tham gia Hội đồng thẩm định và các cuộc họp thẩm định theo đề nghị của Bộ tư pháp.

 Mời đại diện Bộ tư pháp, Văn phòng Chính phủ soạn thảo dự án, dự thảo.

 Phối hợp với Bộ tư pháp, Văn phòng Chính phủ nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lí dự án, dự thảo trên cơ sở ý kiến thẩm định để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

 Tiếp thu và giải trình ý kiến thẩm định, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định gửi dự thảo đã được chỉnh lí và văn bản tiếp thu giải trình đến Bộ tư pháp và Văn phòng Chính phủ, đăng tải dự thảo đã được chỉnh lí trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định trên trang Thông tin điện tử của Chính phủ, của cơ quan mình.

2.4 Hội đồng thẩm định

Bộ trưởng Bộ tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định trong những trường hợp sau đây:

 Thẩm định dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và dự thảo Nghị định có nội dung phức tạp và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực.

 Thẩm định dự thảo do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo.

Hội đồng thẩm định gồm Chủ tịch hội đồng thẩm định, Thư kí Hội đồng và các thành viên khác là đại diện Bộ tư pháp, Văn phòng Chính phủ và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học. Tổng số thành viên của Hội đồng thẩm định ít nhất là 9 người. Đối với trường hợp thẩm định dự án, dự thảo của Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Bộ tư pháp không quá 13 tổng số thành viên. Nếu thẩm định dự án, dự thảo liên quan đến nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, không do Bộ tư pháp soạn thảo thì đại diện Bộ tư pháp không quá 12 tổng số thành viên.

Cuộc họp Hội đồng thẩm định diễn ra dưới sự chủ trì của Chủ tịch hội đồng thẩm định và sự tham gia của ít nhất 12 tổng số thành viên Hội đồng thẩm định. Thành viên Hội đồng thẩm định không thể tham gia cuộc họp phải gửi Chủ tịch Hội đồng thẩm định ý kiến thẩm định của mình bằng văn bản.

2.5 Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

“Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra” (khoản 1 Điều 32 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008)

Các cơ quan thẩm tra này có trách nhiệm yêu cầu cơ quan soạn thảo báo cáo về những vấn đề thuộc nội dung của dự án; tự mình hoặc cùng cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan thẩm tra yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

3, Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể

Việc thẩm tra, thẩm định có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể giúp cho việc phát hiện ra những kẽ hở của Luật được nhanh chóng để khắc phục, hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật.

Trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể giúp cho những người làm luật có trách nhiệm cao hơn nữa đối với văn bản mà mình soạn thảo ra, là động lực để người soạn thảo làm việc có hiệu quả hơn.

Trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể giúp cho Nhà nước phát huy tốt hơn nữa việc quản lí hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sắp được thông qua, đảm bảo văn bản đó được soạn thảo có hiệu quả.

4, Một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả việc đảm bảo trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể được thực hiện tốt hơn

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của chủ thể trong công tác thẩm tra, thẩm định.

Thứ hai, đảm bảo những chủ thể tiến hành thẩm tra, thẩm định là những người có nhân cách tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tầm nhìn sâu rộng trên lĩnh vực tiến hành thẩm định.

Thứ ba, tạo điều kiện tốt nhất cho việc thẩm tra, thẩm định cả về mặt vật chất và tinh thần.

Thứ tư, luôn kiểm tra gắt gao quá trình thẩm tra, thẩm định để quá trình này được tiến hành đúng trình tự.

KẾT LUẬN

Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trong quá trình xây dựng văn bản.Để công tác thẩm tra, thẩm định đạt hiệu quả cao nhất, đảm bảo phát huy tốt sự quản lí của Nhà nước thì việc quy định trách nhiệm cho các chủ thể thực hiện công tác thẩm tra, thẩm định nhiệm vụ rất quan trọng, có thể coi gần như là trọng tâm của việc xây dựng văn bản pháp luật.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Viết bài tập làm văn số 5 lớp 10

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 5 LỚP 10

I – ĐỀ BÀI THAM KHẢOrnrn1. Giới thiệu về ca dao Việt Nam.rnrn2. Trình bày một số đặc điểm cơ bản của văn bản văn học.rnrn3. Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. 4. Thuyết minh yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học. 5. Thuyết minh về đặc điểm của thể loại phú. II – HƯỚNG DẪN 1. Đây là kiểu bài văn thuyết minh về một thể loại văn học, vấn đề văn học; cần phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp thuyết minh thích hợp với từng đối tượng để làm bài. Trong các đề bài trên, đề (1) và đề (5) có đối tượng thuyết minh là thể loại văn học; các đề (2), (3), (4) thuộc dạng thuyết minh về một vấn đề văn học. 2. Để giải quyết được yêu cầu của đề bài, cần chuẩn bị tri thức cũng như tính toán cách làm bài theo các bước sau: a) Huy động tư liệu, tìm hiểu tri thức về đối tượng thuyết minh (thể loại hoặc vấn đề văn học). b) Lựa chọn nội dung thông tin chính xác, khách quan về đối tượng thuyết minh để trình bày trong bài văn. c) Lập dàn ý cho bài văn theo bố cục 3 phần: - Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng cần thuyết minh. - Thân bài: Trình bày nội dung thông tin về đối tượng thuyết minh theo trình tự nhất định (trình tự lô gích của đối tượng hoặc trình tự nhận thức, quan hệ nhân – quả,…). - Kết bài: Có thể đưa ra nhận định chung về đối tượng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đối tượng đã thuyết minh. d) Viết bài văn thuyết minh với dàn ý đã lập. 3. Định hướng về nội dung thông tin để giải quyết các đề cụ thể: a) Giới thiệu về ca dao Việt Nam: - Ca dao là gì? Tham khảo: Ca dao (còn gọi là phong dao) được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu; trong trường hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca. Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, từ ca dao đã dần dần chuyển nghĩa. Hiện nay, từ ca dao thường được dùng để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống. (Theo Nhiều tác giả, Từ điển Thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004) - Ca dao Việt Nam có đặc điểm gì về nội dung? Ca dao là thơ trữ tình – trò chuyện diễn tả tình cảm, tâm trạng của một số kiểu nhân vật trữ tình: người mẹ, người vợ, người con,… trong quan hệ gia đình; chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu lứa đôi; người phụ nữ, người dân thường,… trong quan hệ xã hội. Nó không mang dấu ấn tác giả như thơ trữ tình (của văn học viết) mà thể hiện tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và có cách thể hiện tình cảm, thế giới nội tâm mang tính chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương,… của các kiểu nhân vật này. Tuy nhiên, dù mang tính chất chung nhưng mỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo, sáng tạo, thể hiện được sự phong phú, da dạng của sắc thái tình cảm. (…) - Ca dao Việt Nam có những nét đặc sắc gì về nghệ thuật? Hơn 90% các bài ca dao đã sưu tầm được đều sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Ngoài ra, ca dao còn có các dạng hình thức khác như thơ song thất lục bát (câu thơ bảy tiếng kết hợp với câu thơ sáu – tám tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ năm tiếng). Ca dao rất giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và biểu tượng mang tính truyền thống như hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò, chiếc khăn,… – những hình ảnh quen thuộc, gắn với cuộc sống của người bình dân. Các hình thức lặp lại cũng là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của ca dao: lặp kết cấu, lặp hình ảnh, lặp hình thức mở đầu hoặc lặp từ, cụm từ,… Được tổ chức dưới hình thức thơ ca nhưng ngôn ngữ của ca dao vẫn rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm chất địa phương và dân tộc. - Vai trò thẩm mĩ của ca dao? Mỗi người, bất kể giàu nghèo, sang hèn,… đều có thể lấy ca dao là tiếng nói tâm tư, tình cảm của mình, có thể soi lòng mình trong ca dao. Cho nên, ca dao còn được coi là “thơ của vạn nhà”, là gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc; nơi lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, nguồn mạch vô tận cho thơ ca,… b) Về đặc điểm cơ bản của văn bản văn học: - Văn bản văn học là gì? Văn bản văn học (còn gọi là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương) có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, văn bản văn học là tất cả các văn bản sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (tức là tạo ra những hình tượng bằng tưởng tượng). Văn bản văn học theo nghĩa hẹp vừa có ngôn từ nghệ thuật vừa có hình tượng nghệ thuật. - Văn bản văn học có đặc điểm gì về ngôn từ? + Ngôn từ văn học được tổ chức đặc biệt, có tính nghệ thuật và thẩm mĩ. + Ngôn từ văn học là chất liệu để sáng tạo hình tượng, xây dựng thế giới tưởng tượng. + Do yêu cầu sáng tạo hình tượng, ngôn từ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa. - Văn bản văn họic có đặc điểm gì về hình tượng? + Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc. + Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt. Đọc – hiểu văn bản văn học là thực hiện quá trình giao tiếp giữa người đọc và tác giả. - Văn bản văn học có đặc điểm gì về ý nghĩa? + Ý nghĩa của hình tượng văn học chính là ý nghĩa của đời sống được nhà văn gợi lên qua hình tượng. + Ý nghĩa của hình tượng văn học thể hiện qua nhân vật, sự kiện, cảnh vật, chi tiết, qua sự sắp xếp, kết cấu của các bộ phận văn bản và qua cách sử dụng ngôn từ. + Có thể chia ý nghĩa của hình tượng thành các lớp: đề tài, chủ đề, cảm hứng, tính chất thẩm mĩ, triết lí nhân sinh. - Văn bản văn học có đặc điểm gì về cá tính sáng tạo của nhà văn? + Văn bản văn học nào cũng do tác giả viết ra và ít nhiều đều để lại dấu ấn của người sáng tạo ra văn bản. + Đặc điểm về cá tính sáng tạo của tác giả vừa tạo nên sự phong phú, đa dạng vừa đem lại tính độc đáo cho văn bản văn học. - Những hiểu biết về đặc điểm của văn bản văn học có tác dụng gì? + Định hướng về thao tác đọc – hiểu văn bản văn học cụ thể. + Định hướng về thao tác cảm thụ, đánh giá văn bản văn học cụ thể. c) Về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là gì? Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch). Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả. - Tính thẩm mĩ của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. - Tính đa nghĩa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. - Đặc điểm về dấu ấn riêng của tác giả trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả. - Tác dụng của những hiểu biết về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: + Tác dụng đối với hoạt động đọc – hiểu văn bản văn học. + Tác dụng đối với hoạt động sáng tạo văn bản văn học. d) Về yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học: - Bản chất của hoạt động đọc văn bản văn học là gì? Khi đọc văn bản văn học, dù với bất kì mục đích nào, người đọc đều thực hiện việc tiếp nhận các giá trị tư tưởng, nghệ thuật; giao lưu tư tưởng, tình cảm với tác giả, với những người đã đọc trước; bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm với văn bản văn học. - Những yêu cầu chính của việc đọc – hiểu văn bản văn học: Người đọc phải trải qua quá trình đọc – hiểu: từ hiểu văn bản ngôn từ, hiểu ý nghĩa của hình tượng, hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả; từ đó hình thành sự đánh giá đối với văn bản và đạt đến mức độ thưởng thức các giá trị của văn bản. - Làm thế nào để hình thành được kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học? Người đọc chẳng những phải thường xuyên đọc nhiều tác phẩm văn học mà còn phải biết tra cứu, học hỏi, biết tưởng tượng, suy ngẫm, tạo thành thói quen phân tích và thưởng thức văn học. e) Về đặc điểm của thể loại phú, xem bài Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh. loigiaihay.com
Xem thêm

4 Đọc thêm

10 GIAI ĐOẠN PHẢI TRẢI QUA KHI HỌC NGÔN NGỮ MỚI

10 GIAI ĐOẠN PHẢI TRẢI QUA KHI HỌC NGÔN NGỮ MỚI

điểm xuất hiện thất bại đầu tiên. Trước tiên, bạn sẽ phải vượt qua cảm giác hoảng sợ vì không nhớđược những gì đã học. Các từ vựng dường như khác hẳn với những gì bạn quen thuộc và bạn khôngthể kết nối chúng được với nhau. Đấy là chưa kể đến việc chia động từ. Ở giai đoạn này, bạn rất dễnản lòng và muốn dừng lại tất cả.4. Nhút nhátChúng ta đều biết rằng chìa khóa để tiến bộ nhanh chóng khi học một ngôn ngữ là thực hành - sẽ hiệuquả hơn nếu được thực hành với người bản xứ. Nghe có vẻ đơn giản nhưng khi đưa vào thực tế thì đólà một cái gì hoàn toàn khác. Thực tế là chúng ta đều có tính nhút nhát khó thay đổi. Rất khó khăn đểchúng ta vượt qua chính mình và thể hiện những mặt dễ bị tổn thương của bản thân. Một bí quyết làhãy luôn hỏi chính mình: “Điều gì có thể xảy ra nếu tôi mắc lỗi?”. Câu trả lời sẽ là - không có gìkhủng khiếp cả.5. Không hiểu gìBạn cuối cùng cũng tìm ra được sự can đảm để làm một điều gì mới. Bạn đã tập nhẩm trong đầu tấtcả những gì muốn nói rất nhiều lần và thậm chí thực hành trước gương để trông mình tự nhiên nhấtVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phícó thể khi nói. Cuối cùng, bạn có cơ hội để sử dụng kiến thức nói chuyện với một người phụ nữ tạiquầy đăng ký, với người qua đường hay với người phục vụ ở nhà hàng. Bạn tưởng tượng rằng cuộcnói chuyện đó đầy hào hứng. Nhưng điều gì đã thực sự xảy ra? Sau khi nghe một câu nói đã được cânnhắc kỹ của bạn với một nụ cười rực rỡ, người nói chuyện cùng bạn trả lời và bạn không hiểu bất kỳmột điều gì.6. Thất vọngBây giờ đến một giai đoạn thực sự quan trọng. Bạn buồn rầu hỏi bản thân: “Làm gì bây giờ?”. “Tôiđã học ngoại ngữ này nhiều tháng và không hiểu một từ nào khi có người nói chuyện với tôi. Tôihoàn toàn không có khả năng học ngoại ngữ. Thế đó. Tôi không muốn học nữa”.7. Khám pháVà sau đó điều kỳ diệu xảy ra. Nó đến một cách bất ngờ khi bạn từ bỏ hy vọng, đột nhiên bạn hiểu ra.Tất cả mọi thứ dường như đang theo thứ tự và bạn không còn có ý nghĩ cố gắng thoát khỏi khi hỏimột người lạ ngẫu nhiên về điều gì đó trên đường. Đã đến lúc đi tiếp.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Những điểm khác biệt của hai biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết hủy bỏ và bãi bỏ

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA HAI BIỆN PHÁP XỬ LÍ VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHIẾM KHUYẾT HỦY BỎ VÀ BÃI BỎ

Những điểm khác biệt của hai biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết hủy bỏ và bãi bỏ Bài tập cá nhân môn Xây dựng văn bản pháp luật
Chuyên mục Bài tập cá nhân, Xây dựng văn bản pháp luật
VBPL là những văn bản được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu quản lí và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Do vậy, VBPL đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quản lý xã hội của Nhà nước, có tác động không nhỏ đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Với một vai trò to lớn như vậy nhưng trên thực tế, vẫn còn tồn tại những VBPL “còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh” không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu. Đó là những VBPL khiếm khuyết. Và để khắc phục, điều 9 Luật ban hành VBQPPL đã quy định 6 cách thức xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết, trong đó có hai phương pháp khá phổ biến là hủy bỏ và bãi bỏ.

Để phân biệt hai biện pháp này hay nói cách khác là điểm khác nhau cơ bản giữa hai biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ, chúng ta có thể dựa trên các tiêu chí:

1.Thứ nhất là: Khái niệm :

Biện pháp hủy bỏ là biện pháp xử lý được áp dụng đối với VBPL bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính có những dấu hiệu vi phạm luật nghiêm trọng.
Còn biện pháp bãi bỏ có thế được hiểu như là biện pháp xử lý “bỏ đi, không thi hành nữa”.

2.Thứ hai là : Đối tượng :

Đối tượng của phương pháp hủy bỏ là cả 3 loại văn bản : quy phạm pháp luật, áp dụng và văn bản hành chính.

Trong khi đó, đối tượng của phương pháp bãi bỏ chỉ là văn bản quy phạm pháp luật.

3.Thứ ba là : Dấu hiệu :

Dấu hiệu để văn bản khiếm khuyết trở thành đối tượng của biện pháp hủy bỏ là văn bản đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Ví dụ như : có nội dung trái pháp luật, trái thẩm quyền về nội dung ; sai phạm thủ tục ban hành,... làm mất cơ sở pháp lý của việc giải quyết công việc pháp sinh.

Bên cạnh đó, những văn bản nào có dấu hiệu khiếm khuyết như có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng hay đại đa số nội dung không phù hợp quyền và lợi ích chính đáng của đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản. Hay nếu văn bản đó có nội dung không phù hợp với nội dung văn bản do cấp trên ban hành, hoặc phần lớn nội dung không phù hợp với thực trạng kinh tế xã hội,... thì sẽ đều bị bãi bỏ.

Ví dụ như năm 2006, thành phố Đã Nẵng đã phải hủy bỏ một số quyết định như quyết định số 1372001QĐUB ngày 1192001 về việc xử phạt hành chính và thu phạt trực tiếp đối với vi phạm hành chính trong quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hay UBND huyện giao Phòng VHTT huyện Tân Kỳ ra thông báo hủy bỏ và thu hồi Công văn số 05VHTT ngày 303 về quản lý hoạt động báo chí trên địa bàn huyện. Tất cả những văn bản này đều được hủy bỏ với lý do nội dung những quyết định này trái luật.

Còn ví dụ như quyết định số 332008QĐ – BYT về việc ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã bị bãi bỏ, không được thi hành với lý do đã vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích chính đáng của công dân khi tham gia giao thông và đồng thời cũng vi phạm thẩm quyền ban hành khi mà chủ thể ban hành là Bộ y tế trong khi vấn đề được điều chỉnh là thuộc thẩm quyền của Bộ giao thông vận tải.

4.Thứ tư là : Thởi điểm mất hiệu lực của VBPL khi áp dụng các biện pháp xử lý :

VBPL bị hủy bỏ sẽ bị hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản đó được quy định là có hiệu lực pháp lý, nghĩa là văn bản đó không được thừa nhận giá trị ở mọi thời điểm dù trước khi bị hủy bỏ nó đã từng có hiệu lực.

Còn với VBPL bị bãi bỏ, nó sẽ chỉ hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản xử lý nó có hiệu lực pháp luật.

5. Cuối cùng là : Phát sinh nghĩa vụ bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành văn bản pháp luật :

Đối với phương pháp hủy bỏ văn bản áp dụng pháp luật thì chủ thể ban hành văn bản sẽ có trách nghiệm bồi thường, bồi hoàn những thiệt hại phát sinh từ văn bản.

Nghĩa vụ này sẽ không được đặt ra với việc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính cũng như đối với hình thức bãi bỏ văn bản pháp luật.
Xem thêm

4 Đọc thêm

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN ĐẢO NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN ĐẢO NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nằm ngay trên ngã tƣ hàng hải quốc tế, với vị thế là hành lang hàng hải chiến lƣợc nối liền Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng, Biển Đông đƣợc đánh giá là vùng biển trọng yếu nhất trên thế giới. Không một vùng biển nào với diện tích tƣơng đƣơng ¾ Địa Trung Hải lại có tầm quan trọng về phƣơng diện giao thông nhƣ Biển Đông. Biển Đông còn đƣợc biết đến với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao. Vai trò, vị trí chiến lƣợc của Biển Đông gắn liền với lợi ích thiết thân của không chỉ các quốc gia trong khu vực mà cả các cƣờng quốc lớn nhƣ Mỹ, Nhật Bản... Chính vị trí chiến lƣợc và nguồn lợi lớn từ tài nguyên thiên nhiên đã khiến Biển Đông rơi vào tầm ngắm của các quốc gia trong khu vực và các cƣờng quốc trên thế giới. Các quốc gia đều nhận thức đƣợc rằng: “Ai kiểm soát biển và đất liền thì thống trị châu Âu – châu Á, ai thống trị châu Âu – châu Á sẽ kiểm soát vận mệnh của thế giới” 48. Vùng biển này đƣợc đặt trong bố trí chiến lƣợc của các quốc gia. Nhằm vƣơn tới những lợi ích kinh tế và đạt đƣợc những mục tiêu chính trị, các nƣớc trong khu vực đã đƣa ra tuyên bố chủ quyền đối với một phần hay toàn bộ Biển Đông. Thêm vào đó, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và nhiều nƣớc khác tại quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã làm tăng thêm tính phức tạp, biến Biển Đông trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị. Những năm gần đây, chiến lƣợc tiến ra biển cả, mở rộng chủ quyền trên biển và khai thác tài nguyên thiên nhiên biển phục vụ cho phát triển kinh tế đất nƣớc luôn là mối quan tâm hàng đầu của Trung Quốc. Trung Quốc đã cho ban hành một loạt văn bản pháp luật về biển, đảo để tạo cơ sở pháp lý, hợp thức hóa các hoạt động của mình trên các vùng biển tranh chấp. Điều này đã ảnh hƣởng trực tiếp tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam. Nghị quyết số 09NQTW ngày 0922007 của Hội nghị lần thứ tƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa 9 về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển”. Một trong những giải pháp đƣợc đƣa ra đó là: “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng. Xây dựng cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Từ những quan điểm thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc và để thực hiện chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc ta đối với vấn đề phân định biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật biển của các quốc gia hữu quan trong đó có Trung Quốc là vô cùng cần thiết. Trong thực tiễn, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã kéo dài nhiều thập kỷ làm ảnh hƣởng đến hòa bình, an ninh trong khu vực nói chung và ảnh hƣởng đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng. Những năm qua, hai nƣớc đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán tuy nhiên vẫn chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu pháp luật Trung Quốc về biển, đảo để bảo đảm giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia khi tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc thời gian tới. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc về biển, đảo cũng xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Từ khi thành lập nƣớc đến nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã luôn quan tâm tới vấn đề bảo vệ chủ quyền trên biển, xây dựng pháp luật biển quốc gia tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, Việt Nam có thể tìm đƣợc những phƣơng hƣớng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nƣớc phù hợp. Có thể thấy, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo đã tác động nhất định tới cục diện tranh chấp Biển Đông, gây nên những ảnh hƣởng tiêu cực tới cục diện chung và trực tiếp ảnh hƣởng tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp trong đó có Việt Nam. Từ chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, phân tích, chỉ ra những điểm không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc là cần thiết. Do đó, tui đã lựa chọn đề tài “Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo nhìn từ góc độ luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông” làm đề tài luận văn của mình. 2. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn có nhiệm vụ:  Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo.  Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo.  Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tƣơng quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc.  Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông.  Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông.  Đƣa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông.  Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đƣa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo. 3. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi đề tài, luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật về biển, đảo của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong giai đoạn từ năm 1949 đến nay và tập trung nghiên cứu những văn bản pháp luật về biển, đảo có liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau: o Phƣơng pháp duy vật biện chứng; o Phƣơng pháp phân tích tổng hợp; o Phƣơng pháp quy nạp và diễn dịch; o Phƣơng pháp thống kê; o Phƣơng pháp so sánh; o Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác. 5. Những đóng góp của luận văn Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những văn bản pháp luật chủ yếu của Trung Quốc về biển, đảo đƣa đến một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tương quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc. Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông. Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông. Đưa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông. Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo
Xem thêm

155 Đọc thêm

Cơ cấu hình thức và nội dung của công văn hướng dẫn các cấp dưới thực hiện văn bản pháp luật cấp trên

CƠ CẤU HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA CÔNG VĂN HƯỚNG DẪN CÁC CẤP DƯỚI THỰC HIỆN VĂN BẢN PHÁP LUẬT CẤP TRÊN

Cơ cấu hình thức và nội dung của công văn hướng dẫn các cấp dưới thực hiện văn bản pháp luật của cấp trên, yêu cầu cấp dưới triển khai thực hiện những công việc đã giao Bài tập cá nhân môn Xây dựng văn bản pháp luật
Chuyên mục Bài tập cá nhân, Xây dựng văn bản pháp luật
Với tư cách là văn bản hành chính, công văn được các cơ quan nhà nước sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. Trong bài cá nhân này, em xin trình bày đề số 20: “Cơ cấu hình thức và nội dung của công văn hướng dẫn cấp dưới thực hiện văn bản pháp luật của cấp trên, yêu cầu cấp dưới triển khai thực hiện những công việc đã giao”.

1. Khái niệm:

Công văn là hình thức văn bản hành chính dùng phổ biến trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Công văn là phương tiện giao tiếp chính thức của cơ quan Nhà nước với cấp trên, cấp dưới và với công dân.

Công văn hướng dẫn: Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan nhà nước có thể sử dụng công văn để hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cấp dưới nhằm tạo ra sự thống nhất trong áp dụng pháp luật. Việc hướng dẫn thường phát sinh khi có công văn của cơ quan cấp dưới hỏi về một việc cụ thể phát sinh trong thực tiễn nhưng cũng có thể do cấp trên chủ động ban hành khi nhận thấy một việc nhất định đã có quy định pháp luật nhưng còn có những điểm chưa rõ, có thể tạo ra những cách hiểu khác nhau.


Công văn đôn đốc: Dùng để nhắc nhở các cơ quan, đơn vị cấp dưới thực hiện những hoạt động cụ thể là biện pháp giúp cho cơ quan nhà nước chỉ đạo, điều hòa, phối hợp, bảo đảm được tính liên tục, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các đối tượng có liên quan trong những hoạt động đó.

2. Xây dựng bố cục một công văn:

• Bố cục của một Công văn

Thông thường bố cục một công văn phải có các yếu tố sau:

+ Quốc hiệu và tiêu ngữ.

+ Địa danh và thời gian gửi công văn.


+ Tên cơ quan chủ quản và cơ quan ban hành công văn.

+ Chủ thể nhận công văn (cơ quan hoặc cá nhân).

+ Số và ký hiệu của công văn.

+ Trích yếu nội dung.

+ Nội dung công văn.

+ Chữ ký, đóng dấu.
+ Nơi gửi.

Phần mở đầu: Nêu lý do, tóm tắt mục đích viết Công văn

+ Công văn hướng dẫn: hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cấp dưới.

+ Công văn đôn đốc: đôn đốc cấp dưới, tránh được sự thiếu triệt để trong những hoạt động chuyên môn hoặc kịp thời chỉ ra những sai sót cần khắc phục trong thực tiễn.

Phần nội dung: Nêu cách giải quyết, nêu quan điểm, thái độ của cơ quan gửi Công văn.

Trong nội dung công văn thường có 3 phần là:

Viện dẫn vấn đề.

Giải quyết vấn đề.

Kết luận vấn đề.

Cách viết phần viện dẫn vấn đề:

Phần này phải nêu rõ lý do tại sao viết công văn hay cơ sở nào để viết công văn: có thể giới thiệu tổng quát nội dung vấn đề đưa ra làm rõ mục đích, yêu cầu của vấn đề nêu ra.

Cách viết phần nội dung chính nhằm giải quyết vấn đề đã nêu:

Tùy theo từng loại chủ đề công văn mà lựa chọn cách viết. Phải sử dụng văn phong phù hợp với từng thể loại công văn, có lập luận chặt chẽ cho các quan điểm đưa ra. Cần quán triệt các nguyên tắc:

+ Công văn hướng dẫn: nội dung của công văn có vai trò định hướng cho cấp dưới trong việc lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng hoặc giải thích, hướng dẫn về nội dung thiếu cụ thể trong những văn bản có liên quan. Tuy nhiên, trong công văn chỉ nên đưa ra những hướng dẫn trên cơ sở tinh thần của những văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật mà không được đặt ra các quy định mới, vì chức năng này thuộc về các văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ được hướng dẫn có liên quan tới nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì trong quá trình hướng dẫn đối với từng nội dung cụ thể, có thể chiếu dẫn tới những phần văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời cũng nêu tinh thần căn bản của phần văn bản được chiếu dẫn mà không nên nói chung chung.

+ Công văn đôn đốc: Trong công văn cần xác định rõ những việc cấp dưới phải tiếp tục thực hiện và thời gian thực hiện; nếu trên thực tiễn đã phát sinh những lệch lạc, thiếu sót thì có thể nêu rõ để uốn nắn, nhắc nhở. Khi xác định những việc cần nhắc nhở đối với cấp dưới, một mặt cần bám sát chức năng, nhiệm vụ của cấp dưới, tránh đưa ra những lưu ý không phù hợp đối với cơ quan, đơn vị nhận công văn; mặt khác, cũng cần xuất phát từ thực tiễn để xác định những việc cấp dưới chưa thực hiện đúng hoặc chưa đầy đủ so với những nhiệm vụ mà cấp trên đã giao trong văn bản trước đó, tránh cách viết giáo điều, xa rời thực tế.

Cách viết phần kết thúc công văn:
Phần này cần viết ngắn gọn, chủ yếu nhấn mạnh chủ đề và xác định trách nhiệm thực hiện các yêu cầu (nếu có) và lưu ý: Viết lời chào chân thành, lịch sự trước khi kết thúc. Công văn chỉ sử dụng vào công vụ của các cơ quan tổ chức và doanh nghiệp. Công văn không bao giờ là tiếng nói riêng của cá nhân, kể cả người thủ trưởng hoặc người trực tiếp soạn thảo công văn, vì vậy nội dung của công văn chỉ nói đến công cụ, không nên dùng ngôn từ mang màu sắc tình cảm cá nhân hoặc dùng công văn để trao đổi việc riêng giữa giữa các cá nhân.

Phần kết thúc: Thể hiện nghi thức (thường bằng lời chào)
Xem thêm

5 Đọc thêm

GIÁO ÁN TOÁN 1 CHƯƠNG 3 BÀI 23: GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN (TIẾP THEO)

GIÁO ÁN TOÁN 1 CHƯƠNG 3 BÀI 23: GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN (TIẾP THEO)

4. Củng cố dặn dò:- Giáo viên nhận xét tiết học. Tuyên dương học sinh làm bài tốtVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí- Yêu cầu học sinh về làm các bài tập trong vở ô li- Làm các bài tập trong vở bài tập toán- Chuẩn bị bài hôm sau: Luyện tập5. Rút kinh nghiệm

Đọc thêm

GIÁO ÁN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN

GIÁO ÁN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN

Phân môn: Tiếng Việt
Tiết :

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN

(1 tiết)

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp HS:
Phân biệt các khái niệm nghị luận, chính luận và phong cách ngôn ngữ chính luận.
Luyện kĩ năng phân tích và viết bài văn chính luận.
B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
SGK Ngữ Văn 11 chuẩn
SGV Ngữ Văn 11 chuẩn
Thiết kế bài soạn Ngữ Văn 11 chuẩn (tập 2)
Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 11 chuẩn (tập 2)
Một số sách tham khảo chuyên ngành
Giáo án điện tử, phiếu học tập

C. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số :
2. Kiểm tra bài cũ :
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ nào ?
3. Giới thiệu bài mới :
Trong chương trình Ngữ văn THPT, ngoài việc các em tiếp cận các văn bản nghệ thuật, văn bản nhật dụng, văn bản sử kí, văn bản nghị luận,... Bên cạnh là loại văn bản chính luận. Việc nắm vững kiến thức về ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ chính luận sẽ giúp nhiều cho các em trong quá trình đọc hiểu, tạo lập văn bản loại này. Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu phong cách ngôn ngữ này.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn năm 2014

CẤU TRÚC ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT MÔN NGỮ VĂN NĂM 2014

 Thời gian thi tốt nghiệp môn Văn hệ THPT và hệ GDTX Ngày Buổi Môn thi Thời gian làm bài Giờ phát đề thi  Giờ bắt đầu làm bài 2/6/2014 SÁNG Ngữ Văn 120 phút 7h55 8h00 Trong kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2014, cần đổi mới cách ra đề theo hướng đánh giá năng lực Ngữ văn của người học và yêu cầu cao dần qua các năm theo hướng sau: Cấu Trúc Đề Thi môn Ngữ Văn Năm 2014 Đề thi gồm 2 phần: - Phần 1 (3 điểm): Đọc Hiểu   Kiểm tra đánh giá (KTĐG) kĩ năng đọc của học sinh (theo hình thức của PISA)  Không lấy trong sách giáo khoa. Phần ngữ liệu này sẽ “vừa” với học sinh: Dài vừa phải, số lượng câu phức và câu đơn hợp lý, không có nhiều từ địa phương để học sinh cả nước đều có thể hiểu văn bản, cân đối giữa nghĩa đen và nghĩa bóng… - Phần 2 (7 điểm): Viết    Kiểm tra đánh giá kĩ năng viết (làm văn) của học sinh (theo hướng mở, tích hợp). Với phần viết là câu hỏi mở, nhưng có chuẩn. Khó nhất là tư tưởng, đạo đức đến mức độ nào, còn thì vẫn có chân giá trị, giá trị sống để làm chuẩn” Cụ thể là: Phần 1 (3 điểm): Đọc Hiểu - Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu hướng dẫn đọc hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh. Các câu hỏi phần đọc hiểu tập trung vào một số khía cạnh như: + Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản; + Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản; + Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng. Phần 2 (7 điểm): Viết - Để làm tốt phần thi viết, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết vận dụng những kĩ năng viết đã học để tạo lập văn bản về một đề tài xã hội hoặc/và tác phẩm, trích đoạn văn học nào đó theo hướng mở và tích hợp trong môn và liên môn, tập trung vào một số khía cạnh như: + Tri thức về văn bản viết (kiểu loại văn bản, cấu trúc văn bản, quá trình viết), nhận thức đúng nhiệm vụ và yêu cầu của đề văn; + Các kĩ năng viết (đúng chính tả; ngữ pháp, viết theo phong cách ngôn ngữ viết, sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp trong bài viết; lập dàn ý và phát triển ý; bộc lộ quan điểm, tư duy một cách độc lập…); + Khả năng viết các loại văn bản phù hợp với mục đích, đối tượng, hoàn cảnh của các tình huống khác nhau (vận dụng vào thực tiễn học tập và đời sống). - Về viết nghị luận văn học, năm 2014 vẫn sử dụng ngữ liệu là tác phẩm hoặc trích đoạn nêu trong chương trình và sách giáo khoa nhưng cần đổi mới cách hỏi, cách nêu vấn đề nhằm khắc phục hiện tượng học tủ, học thuộc văn mẫu, sao chép nguyên si tài liệu. Bài viết của học sinh được đánh giá dựa vào chuẩn kĩ năng viết nói chung và chuẩn kĩ năng viết kiểu văn bản nói riêng mà đề bài yêu cầu, phù hợp với các giá trị nhân văn, những chuẩn mực đạo đức và pháp luật; không áp đặt nội dung chi tiết cần đạt.  Xem Thêm:  >>>  Nguồn Báo Vietnamnet
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

PHÂN TÍCH VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện cũng là lúc nhiều vấn đề mới trong xã hội phát sinh và cần được giải quyết. Một công cụ quan trọng để Nhà nước tiến hành hoạt động quản lí, kiểm tra, giám sát của mình đối với xã hội chính là hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật, nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân. Để có một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh và có hiệu lực trên thực tế thì phải trải qua rất nhiều giai đoạn trong đó không thể không kể đến hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một giai đoạn nhỏ nằm trong giai đoạn soạn thảo văn bản pháp luật nhưng có những ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để thấy rõ hơn vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động xây dựng văn bản pháp luật sau đây nhóm em xin lựa chọn đề tài số 2 làm bài tập nhóm của mình: “Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”.

NỘI DUNG

I. Một số vấn đề chung.

1. Khái niệm VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.

2. Khái quát quy trình xây dựng VBQPPL

Theo quy định của pháp luật hiện hành, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải trải qua những bước sau:

a, Lập chương trình kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Chủ thể sáng kiến có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu Quốc hội, HĐND. Cơ sở đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản, các chủ thể đưa ra sáng kiến xây dựng văn bản pháp luật dựa vào 3 cơ sở sau:

Cơ sở thực tiễn: là thực trạng đời sống kinh tếxã hội của đất nước, dựa vào đó các chủ thể tìm ra các nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên thực tiễn để đưa ra đề nghị.

Cơ sở pháp lí: là những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người đề xuất sáng kiến phải dựa trên cơ sở những điểm chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để đưa ra sáng kiến

Cơ sở chính trị: Người đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản dựa vào những chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng để thể chế hóa thành quy định của pháp luật đảm bảo sự tác động của pháp luật đúng định hướng của Đảng.

Nội dung của chương trình kế hoạch xây dựng VB QPPL, gồm: Tên danh mục VBQP được ban hành; Cơ quan chủ trì soạn thảo; Dự kiến thời gian hoàn thành; Dự kiến nguồn kinh phí.

b, Soạn thảo VB QPPL

Trước tiên phải thành lập ban soạn thảo. Thành phần ban soạn thảo gồm trưởng ban là lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo và tổ biên tập gồm những người am hiểu về chuyên môn, nhà pháp lí, nhà pháp lí, nhà khoa học,… Nhiệm vụ của ban soạn thảo: Khảo sát và đánh giá tình hình thực tiễn có liên quan đến nội dung dự thảo để thu thập thông tin. Nghiên cứu những thông tin thực tiễn đã thu thập được; chủ trương, chính sách của Đảng để chế hóa cho phù hợp; quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; Các tài liệu có liên quan. Sau đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp; Đánh giá dự báo tác động của văn bản; Xây dựng đề cương cho dự thảo văn bản từ sơ bộ đến chi tiết; Soạn thảo văn bản.

c, Lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo

Cơ quan thực hiện chính là cơ quan chủ trì soạn thảo,lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước có liên quan; cá nhân, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; Tổ chức xã hội, trong đó Mặt trận tổ quốc Việt Nam là bắt buộc. Cơ quan thực thực có thể lấy ý kiến bằng các phương thức như tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc họp, hội thảo về chuyên môn; thông qua văn bản; Đăng tải trên Internet. Kết quả thu được sẽ đóng góp cho dự thảo, trên cơ sở đó cơ quan chủ trì sẽ tổng hợp ý kiến và chỉnh sửa dự thảo.

d, Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm tra, thẩm định dự thảo là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy pháp pháp luật.

e, Trình dự thảo VBQPPL

Sau khi dự thảo đã được hoàn thiện, đã có báo cáo thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải có văn bản trình dư thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét và thông qua dự thảo. Việc xem xét dự thảo VBQPPL có thể được tiến hành một hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng dự thảo.

f, Thông qua, kí, ban hành văn bản QPPL.

VB QPPL đã được thông qua cần được ban hành bằng cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau để nhân dân và những đối tượng có liên quan biết và thực hiện. Việc công bố văn banrQPPL là cơ chế hữu hiệu bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật, do đó cần được chú ý thực hiện trên thực tế.

3. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo

Đây là một bước nằm trong quá trình soạn thảo VBQPPL đòi hỏi các nhà làm luật phải có được những nhận định, đánh giá ban đầu khi soạn dự thảo. Mặc dù, khi lập chương trình kế hoạch xây dựng VBQPPL các nhà làm luật đã phải dựa trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, tuy nhiên khi đi vào cụ thể chi tiết các quy phạm lại phải được đánh giá kiểm tra lần nữa để đảm bảo sự hiệu quả, tính hợp pháp hợp lí của văn bản QPPL.

II. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL.

1. Vai trò của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật.

Thứ nhất, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản. Việc dự báo những tác động tích cực hay tiêu cực của dự thảo văn bản là rất cần thiết bởi vì tùy vào từng thời điểm xã hội, tình hình kinh tế, giáo dục mà xem xét có nên hay không ban hành văn bản qui phạm pháp luật và khi nó ra đời thì có những mặt nào đáp ứng được, mặt nào còn có vướn mắc. Ví dụ như cần có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo ban hành Luật Dân số để quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, phân bố dân số, lồng ghép dân số trong phát triển, biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số. Qua đó, chúng ta xem xét trên thực tế có giải quyết được tình trạng mật độ tình trạng của dân cư trên các thành phố lớn hay không, hay chất lượng đời sống dân cư có được ổn định không.... Nếu không có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản thì việc ban hành những văn bản không cần thiết sẽ dẫn đến sự lãng phí công sức, tiền bạc,... mà đôi khi những bất cập của xã hội thì chưa được giải quyết triệt để.

Thứ hai, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục trước và sau khi ban hành.

Không thể đòi hỏi một cách tuyệt đối đối với hiệu quả của VBQPPL, cho dù đã cố gắng hết sức để nghiên cứu, tìm ra những phương án tối ưu nhất song ít nhiều có những hạn chế nhất định là điều không thể tránh khỏi. Để văn bản quy phạm pháp luật ban hành có hiệu quả thì trước hết phải chú trọng tới việc dự liệu những phương án giải quyết các vấn đề trước và sau khi VBQPPL được ban hành. Trong đó có những vấn đề cần giải quyết, phương hướng giải quyết, cơ quan thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và các vấn đề khác như đội ngũ cán bộ, kinh phí thực hiện,… Việc hoạch định ra những dự liệu này không chỉ phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật mà còn phải dựa trên những nhu cầu khách quan và đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Có như vậy, khi văn bản quy phạm pháp luật ra đời, văn bản quy phạm pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, có tính khả thi và hiệu quả trong cuộc sống. Ngoài ra, đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phải nêu lên được những tác động kinh tế xã hội, nội dung, chính sách cơ bản của văn bản,… Cùng với đó, phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lập và thực hiện chương trình bằng cách quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm đối với các cơ quan tham gia xem xét dự kiến chương trình; với cơ quan đề nghị xây dựng văn bản thì cần phải có trách nhiệm giải trình và bảo vệ dự kiến chương trình do mình đề xuất.

Thứ ba, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL là cơ sở để so sánh, đánh giá tác động của VBQPPL đối với xã hội trước và sau khi ban hành.

Đây là yếu tố quan trọng mà các nhà làm luật phải cố gắng đạt được khi tiến hành soạn thảo VBQPPL bởi vì điều người dân quan tâm không phải là việc quá trình các nhà làm luật soạn thảo VBQPPL như thế nào, họ đã làm những gì để tạo nên một VBQPPL mà quan trọng đối với họ là việc sau khi VBQPPL ra đời nó đem lại những lợi ích gì cho xã hội, khắc phục được vẫn đề gì so với trước đó. Cụ thể, các nhà làm luật phải nhìn nhận, so sánh khả năng VBQPPL sẽ có những tác động tích cực hay tiêu cực gì đến những mặt cụ thể nào.

II. Ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, tác động vô cùng to lớn trong đời sống xã hội, thường được ban hành và sử dụng trong một thời gian khá dài nên cần tiến hành đánh giá tác động của nó thật khoa học và chính xác. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL có ý nghĩa trong việc hoàn thiện VBQPPL trước khi ban hành. Bởi như đã nói, VBQPPL là loại văn bản được sử dụng trong một thời gian dài, đối tượng điều chỉnh là các quan hệ thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội. Vì vậy, việc đưa ra một VBQPPL hoàn chỉnh cần rất nhiều thời gian và công đoạn. Việc đánh giá tác động của dự thảo văn bản trước khi văn bản đó được ban hành sẽ hạn chế những sai sót, hạn chế của văn bản.

Ngoài ra, hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL còn nâng cao tính chủ động, bảo đảm tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, đòi hỏi các cơ quan ban hành văn bản pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của văn bản sau khi được ban hành đưa vào thực tiễn sử dụng.

Việc xây dựng, soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật cần rất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong xã hội. Vì vậy, một dự thảo văn bản có tính khoa học và chính xác càng cao sẽ hạn chế tối đa được việc sửa đổi, hủy bỏ sau khi ban hành. Việc này sẽ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác xây dựng và ban hành văn bản qu Trong quá trình soạn thảo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan nhà nước ban hành ra nó theo dõi và đánh giá những kết quả đạt được đối với quá trình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Đánh giá tác động của dự thảo là hoạt động nhằm đưa ra những mặt lợi, mặt hại của dự thảo khi được áp dựng trên thực tế. Việc đánh giá tác động của dự thảo giúp cơ quan nhà nước có được cái nhìn đúng đắn, đầy đủ, khách quan về hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Mặt khác, các cơ quan có thể phát hiện ra những điểm chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến văn bản quy ph ạm đang được theo dõi, đánh giá. Thông qua đó, cơ quan nhà nước có thể lập được những chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới với những nội dung phù hợp thực tiễn và đáp ứng được đòi hỏi của xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

KẾT LUẬN

Trên đây là phần phân tích về vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng không thể thiếu của hoạt động này đối với việc xây dựng và hoàn thiện một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, có hiệu quả khi thực thi trên thực tế. Các cơ quan có thẩm quyền nên tiến hành hoạt động này một cách cẩn trọng, tỉ mỉ và trách nhiệm để tránh tình trạng chưa đánh giá đúng cũng như những điểm thiếu xót trong văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ tốt hoạt động quản lí nhà nước.
Xem thêm

7 Đọc thêm

BÀI 2 QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN PHÁP LUẬT

BÀI 2 QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Môn học: Kỹ thuật Soạn thảo văn bản1.1. Khái niệm, đặc điểmb) Đặc điểmMột là: Quy trình ban hành VBQPPL mang tính bắt buộc và mangtính chuyên môn nghiệp vụ caoHai là: Trình tự thực hiện quy trình ban hành VBQPPL được quyđịnh rất chặt chẽBa là: Quy trình ban hành VBQPPL mag tính khuôn mẫu đượcquy định cụ thể trong Luật BHVBQPPL 2015 và NĐ số34/2016/NĐ-CPBốn là: Chủ thể thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL rất đadạngMôn học: Kỹ thuật Soạn thảo văn bản1.2. Nguyên tắc xây dựng và ban hành VBQPPL2-4Một là: Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất củaVBQPPL trong hệ thống pháp luật;Hai là: Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng,ban hành văn bản QPPL;Ba là: Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của các văn bảnQPPL;Bốn là: Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếpcận, dễ thực hiện của QPPL; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳnggiới trong VBQPPL; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính;Năm là: Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môitrường, không làm cản trở việc thực hiện các Điều ước quốc tế
Xem thêm

18 Đọc thêm

tổng hợp đề cương môn xây dựng Văn bản pháp luật có đáp án

TỔNG HỢP ĐỀ CƯƠNG MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ ĐÁP ÁN

Tài liệu ôn thi môn VĂN BẢN PHÁP LUẬTBài soạn bao gồm đầy đủ nội dung cấu trúc đề thi: Nhận định đúng sai; Câu hỏi tự luận phân tích 1 vấn đề; viết một văn bản hoàn chỉnh theo yêu cầu của đề. Mình vừa mới thi xong cũng trúng vài câu trong này. Chúc các bạn có mùa thi đạt kết quả tốtNhận định đúng sai1.Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền ban hành văn bản QPPL > Sai. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng có quyền ban hành văn bản áp dụng phạm pháp luật.2.2.Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế có quyền ban hành văn bản QPPL. Đúng > Ví dụ: Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế Ban hành quyết định quy trình hoàn thuế.3.Văn bản bị đình chỉ thi hành thì hết hiệu lực.>Sai. VBPL bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực còn không bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật tiếp tục có hiệu lực.4.Tất cả các văn bản nhà nước đều ghi số, ký hiệu kèm theo năm ban hành.> SAI. Đối với VBADPL sốtên văn bản tên cơ quan ban hành hoặc tên chức danh ban hành hoặc tên loại việc giải quyết chứ không ghi năm. Ví dụ: Số: 01QĐKT, Số:02QĐUBND5.Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật. (sai, vì chỉ có những các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền mới có quyền ban hành văn bản pháp luật.) 6. Mọi văn bản pháp luật có thể đánh số theo loại văn bản, theo loại việc hoặc đánh số tổng hợp. (sai, vì k2 đ7 luật BHVBQPPL 2008)7.Ký thay được áp dụng khi cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới ký khi vắng mặt. (sai, vì theo điều 10 nghị định 1102004NĐCP về Công tác văn thư quy định: “ở cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổchức có thẩm quyền ký tất cả các văn bản của cơ quan tổ chức. Người đứng đầucơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.) 8.Văn bản quy phạm pháp luật luôn có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. (sai, vì đoạn 2 k1 đ78 luật BHVBQPPL 2008)9.Mọi Văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc phải đăng công báo.Sai. vì căn cứ vào điều 78 Luật BHVBQPPL năm 2008 các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc văn bản có định biện pháp trong tình trạng khẩn cấp có thể không đăng công báo vẫn phát sinh hiệu lực thi hành)10.Thời hạn đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật là trong vòng 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ngày ký ban hành văn bản. Sai, vì Đ13 NĐ số:1002010NĐCP quy định về công báo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng chính phủ có trách nhiệm đăng VB đó trên công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng UBND cấp tỉnh có trách nhiệm đăng VB đó trên công báo cấp tỉnh.)11.Trong mọi trường hợp đều có thể áp dụng hiệu lực hồi tố. (sai, đ79 luật 2008)Vì theo Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật,quy định1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn12.Văn bản quy phạm pháp luật luôn được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm văn bản đó đang có hiệu lực. (sai, vì căn cứ vào điều 83 Luật BHVBQPPL năm 2008 trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó mà không phải chỉ áp dụng đối với các hành vi xảy tại văn bản đó đang có hiệu lực.) 13.Mọi văn bản quy phạm pháp luật phải qua thủ tục ra lệnh công bố trước khi ban hành. (sai, Vì căn cứ vào điều 57 Luật BHVBQPPL năm 2008 thủ tục công bố văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội.14.Thẩm tra là thủ tục bắt buộc đối với mọi dự thảo của văn bản quy phạm pháp luật. (sai, Căn cứ vào điều 41 Luật BHVBQPPL năm 2008 Thủ tục thẩm tra áp dụng đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội; Căn cứ vào điều 27, điều 31 Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 thủ tục thẩm tra áp dụng cho dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện.Còn các văn bản quy phạm pháp luật khác không áp dụng thủ tục thẩm tra.15. Văn bản áp dụng pháp luật luôn có hiệu lực thi hành ngay.Sai, vì đoạn 1 k1 d83 luật 2008 luật BHVBQPPL năm 2008 về VBQPPL được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.16.Văn bản áp dụng pháp luật mới được ban hành thì không làm mất hiệu lực của những văn bản áp dụng pháp luật khác. Sai, vì Căn cứ vào điều 83 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 quy định do tính chất cá biệt nên khi có hiệu lực văn bản áp dụng pháp luật không làm mất hiệu lực của những văn bản áp dụng pháp luật khác tuy nhiên có một số ngoại lệ như văn bản mới thay thế văn bản cũ do cách giải quyết cùng một sự việc có khác nhau.)17.Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản hành chính.Sai, vì Thẩm quyền BHVB hành chính không được PL quy định cụ thể tuy nhiên căn cứ vào hoạt động thực tiễn thẩm quyền BHVB hành chính được xác định trong quá trình điều hành đv cơ quan đơn vị thuộc cùng một hệ thống chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền Ban hành một số VB hành chính.)18. Mọi chủ thể đều có thẩm quyền kiểm tra văn bản pháp luật.Sai, Vì Căn cứ thẩm quyền này được quy định trong nhiều VB khác nhau như hiếm pháp , điều 87 Luật BHVBQPPL năm 2008 tính quyền lực trong hoạt động này thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền của nhà nước.19.Kiểm tra văn bản pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.Đúng, vì Căn cứ vào Điều 87 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 hoạt động kiểm tra phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành để xem xét về tính hợp hiến, hợp pháp,… của văn bản pháp luật và kịp thời xử lý các vi phạm bằng các văn bản pháp luật khác, như: Quyết định bãi bỏ, hủy bỏ văn bản..) 20. VB qui định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh, trước khi ban hành. (sai, khoản 2 điều 8 luật 2008, văn bản quy định chi tiết được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, không nhất thiết phải được soạn thảo cùng lúc với dự án luật)21. Giám đốc Sở Tư pháp được quyền ban hành quyết định bổ nhiệm Trưởng phòng Công chứng. Sai, vì theo khoản 2 điều 19 luật công chứng 2014 thì trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm)22. Cách đánh số tổng hợp luôn được các cơ quan Nhà nước ban hành văn bản có số lượng ít áp dụng. Đúng, vì Căn cứ theo điều 7 luật BHVBQPPL năm 2008 việc đánh số văn bản QPPPLphải tùy theo từng loại VB và năm ban hành.) 23. Tất cả các nghị quyết của Quốc hội đều là văn bản quy phạm pháp luật. Sai, vì khoản 3 d11luật 2008) quy định cụ thể NQ của Quốc hội được ban hành để QĐ nhiệm vụ phát triển KTXH , dự toán ngân sách nhà nước phân bổ ngân sách TW…24. Nghị định của Chính phủ chỉ là loại văn bản dùng để cụ thể hoá thi hành Luật,Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH. Sai.Vì căn cứ vào điều 15 Luật BHVBQPPL năm 2008 Nghị định của Chính phủ còn dung để quy định các vấn đề khác, như: quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ…25. Văn bản pháp luật là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật. (đúng, d1 luật 2008)Đúng.Vì Căn cứ vào luật BHVBQPPL của HĐNDvà UBND năm 2004, điều 1 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định VBQPPL là VB do cơ quan nhà nước Ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này.26. Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật. Đúng. Vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật khi ban phối hợp ban hành cùng với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội đó là nghị quyết liên tịch27.Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật. Đúng, vì VBADPL Do nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội chứa đựng quy tắc cụ thể áp dụng một lần cho 1 chủ thể nhất định ban hành trên cơ sở VBQPPL) 28. Chủ tịch UBND có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Sai, vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 chỉ có các chủ thể được quy định tại điều 2 mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền chung của UBND không phải là thẩm quyền của Chủ tịch UBND)29. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều có quyền ban hành thông tư liên tịch. Sai, Vì Căn cứ vào điều 2 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định cơ quan ban hành thông tư liên tịch là của VTVKSND, CATANDTC, bộ trưởng và các thủ trưởng cơ quan ngang bộ)
Xem thêm

95 Đọc thêm

Nghiên cứu một số kỹ thuật xử lý ngôn ngữ tiếng Việt và ứng dụng

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KỸ THUẬT XỬ LÝ NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ ỨNG DỤNG

MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và đã, ứng dụng trên nhiều lĩnh vực trong cuộc sống như y tế, giáo dục,…trong đó việc ứng dụng trong cải cách hành chính đóng vai trò rất quan trọng. Đồng thời, sự phát triển kinh tế xã hội và sự toàn cầu hóa đã dẫn đến sự bùng nổ thông tin. Các thông tin tổ chức theo phương thức sử dụng giấy trong cơ quan nhà nước, trong giao dịch đang dần được số hóa. Có nhiều tính năng vượt trội mà phương thức này mang lại như có thể lưu trữ lâu dài, phân loại, tìm kiếm một cách nhanh chóng. Đó là lý do khiến cho số lượng thông tin số hóa ngày nay đang tăng dần theo cấp số nhân. Nó không chỉ để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước mà là yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập, làm việc của con người.
Ứng dụng Công nghệ thông tin để giải quyết công việc, phục vụ cải cách hành chính ngày càng trở thành công việc bắt buộc phải thực hiện tại mọi cơ quan tạo điều kiện cho tăng trưởng nhanh nền kinh tế và tạo những yếu tố tiền đề cho sự phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích góp phần đạt hiệu quả trong công tác quản lý điều hành, thúc đẩy hội nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho xã hội.
Xử lý ngôn ngữ là một trong những vấn đề phức tạp của Công nghệ thông tin. Vấn đề là ở chỗ là làm sao giúp máy tính hiểu được ngôn ngữ của con người, qua đó hướng dẫn máy tính thực hiện và giúp đỡ con người trong những công việc có liên quan đến ngôn ngữ như: Dịch thuật, phân tích dữ liệu văn bản, nhận dạng tiếng nói, tìm kiếm thông tin, ... Kỹ thuật xử lý ngôn ngữ tiếng Việt có nhiều hướng tiếp cận khác nhau và đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt những kết quả khả quan trong thời gian vừa qua, nó đóng vai trò quan trọng lĩnh vực xử lý dữ liệu văn bản.
Tách từ là một quá trình xử lý nhằm mục đích xác định ranh giới của các từ trong câu văn, cũng có thể hiểu đơn giản rằng tách từ là quá trình xác định các từ đơn, từ ghép… có trong câu. Đối với xử lý ngôn ngữ, để có thể xác định cấu trúc ngữ pháp của câu, xác định từ loại của một từ trong câu, yêu cầu nhất thiết đặt ra là phải xác định được đâu là từ trong câu. Vấn đề này tưởng chừng đơn giản với con người nhưng đối với máy tính, đây là bài toán rất khó giải quyết.
Chính vì lý do đó tách từ được xem là bước xử lý quan trọng đối với các hệ thống xử lý ngôn ngữ tự nhiên, đặc biệt là đối với các ngôn ngữ thuộc vùng Đông Á theo loại hình ngôn ngữ đơn lập, ví dụ: Tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Thái, và tiếng Việt. Với các ngôn ngữ thuộc loại hình này, ranh giới từ không chỉ đơn giản là những khoảng trắng như trong các ngôn ngữ thuộc loại hình hòa kết như tiếng Anh…, mà có sự liên hệ chặt chẽ giữa các tiếng với nhau, một từ có thể cấu tạo bởi một hoặc nhiều tiếng. Vì vậy đối với các ngôn ngữ thuộc vùng Đông Á, vấn đề của bài toán tách từ là khử được sự nhập nhằng trong ranh giới từ.
Do yêu cầu công việc cơ quan Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh ngày càng cao nên số lượng văn bản tăng nhanh cả về số lượng và chủ đề. Tuy với khối lượng thông tin đồ sộ như vậy, nhưng nhu cầu đối với những đối tượng cụ thể khác nhau, tốc độ khác nhau. Để tìm được những thông tin cần thiết cho mục đích của mỗi người sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức, như vậy cần có giải pháp để phân loại một cách tự động để giúp chúng ta xử lý văn bản được thuận tiện hơn. Có nhiều kỹ thuật xử lý ngôn ngữ tiếng Việt được đề xuất, mỗi phương pháp đều có lợi thế và bất lợi riêng khi sử dụng. Nhiều ứng dụng đã và đang được xây dựng dựa trên kỹ thuật tách từ rất hiệu quả. Vì vậy luận văn tập trung vào việc “Nghiên cứu một số kỹ thuật xử lý ngôn ngữ tiếng Việt và ứng dụng” với mục đích xây dựng hệ hỗ trợ phân loại văn bản tự động ở Văn phòng HĐND tỉnh. Cấu trúc của luận văn được sắp xếp theo bố cục sau đây:
Chương 1 giới thiệu tổng quan ngôn ngữ xử lý tự nhiên, ngôn ngữ tiếng Việt, các đặc trưng cơ bản của tiếng Việt và một số kỹ thuật xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
Chương 2 tìm hiểu khái quát về tách từ Tiếng việt, lịch sử nghiên cứu và hướng tiếp cận bài toán tách từ. Từ đó đề xuất một số phương pháp tách từ tiếng Việt.
Chương 3 tìm hiểu thực trạng việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong Văn phòng HĐND tỉnh, đặt bài toán tự động hóa công tác lưu trữ trong Văn phòng, cụ thể nhu cầu phân loại văn bản tiếng Việt ở HĐND tỉnh; Tiếp đó ứng dụng hệ hỗ trợ phân loại văn bản theo nội dung, lĩnh vực, nơi ban hành và cuối chương là một vài đánh giá về phương pháp tách từ.
Do thời gian thực hiện luận văn có hạn nên việc nghiên cứu và thực hiện có thể mắc phải một số thiếu sót ngoài ý muốn. Chúng tôi mong muốn nhận được các góp ý của quý thầy cô, bạn bè và những người quan tâm đến lĩnh vực này để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

67 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM AN TOÀN GIAO THÔNGHÀNG HẢI TRONG GIAI ĐOẠN TỚI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM AN TOÀN GIAO THÔNGHÀNG HẢI TRONG GIAI ĐOẠN TỚI

chẳng hạn như do đâm va, một lượng lớn dầu bị tràn ra sông, biển... Chính vì vậy, vấn đề bảođảm an toàn giao thông đường biển hiện nay đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốcgia có biển, có đội tàu.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM GIAO THÔNG HÀNG HẢITRONG GIAI ĐOẠN TỚI2.1. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn hàng hảiRà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn hàng hải, nhất là những văn bảntrong lĩnh vực quản lý an toàn hàng hải để thống nhất nội dung và yêu cầu công việc;Thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền pháp luật và phổ biến các văn bản phápluật, phát miễn phí các văn bản pháp luật quan trọng, in ấn và phát tờ rơi các quy định cần thiếtliên quan cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giao thông hàng hải. Tổ chức treobiển báo, pano, áp phích đúng quy định của pháp luật.Tổ chức việc ký cam kết an toàn giao thông hàng hải đến các chủ tàu, phương tiện và tổchức, cá nhân liên quan.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm để ngăn ngừa những hành vi viphạm pháp luật giao thông hàng hải.2.2. Với các thiết bị trợ giúp hàng hải2.2.1. Hệ thống đèn biểnXây dựng mới các đèn biển Sậu Đông, Lạch Ghép, Hòn La, Cửa Ròn, Cửa Tùng và tiếp tụckhảo sát các vị trí tại các khu vực có mật độ tàu thuyền hành hải cao để hoàn thiện hệ thống đènbiển.Cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất của một số đèn biển đã xuống cấp để đảm bảo toàn hệthống hoạt động tốt.Tiếp tục đầu tư trang bị các thiết bị chiếu sáng hiện đại cho các đèn biển còn lại, đảm bảocác đèn hoạt động đúng tầm hiệu lực thiết kế và ổn định.Nghiên cứu lắp đặt hệ thống giám sát và điều khiển từ xa cho toàn bộ các đèn biển.2.2.2. Hệ thống báo hiệu hàng hải dẫn luồngNghiên cứu xây dựng hải đồ điện tử cho các tuyến luồng.
Xem thêm

4 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ LUẬT BIỂN VIỆT NAM

CHUYÊN ĐỀ LUẬT BIỂN VIỆT NAM

15tác chiến sử dụng vũ khí công nghệ cao trong xử lý các tình huống có thể xảy ra.Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng lực lượngquản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, đặc biệt là vai tròcủa các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương có biển.3. Kiên trì đối thoại tìm kiếm giải pháp hoà bình, tham gia xây dựngBộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biệnpháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùngtrời, bảo vệ biển, đảo.Trước những vấn đề chủ quyền biển đảo ngày càng nóng, Việt Nam luônchủ trương, chủ động xử lý đúng đắn nhiều vấn đề nhạy cảm bằng đối thoại,thương lượng thông qua con đường ngoạ giao. Việt Nam luôn đưa ra yêu cầucác bên liên quan kiềm chế, không có các hoạt động làm phức tạp thêm tình hìnhở Biển Đông, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòabình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốcvề Luật Biển năm 1982 và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường các nỗlực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển, nghiên cứu khoa học,chống tội phạm; cùng nhau nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố về cách ứng xửcủa các bên ở biển Đông (DOC) ký năm 2002 giữa một bên là Hiệp hội các quốcgia Đông Nam á (ASEAN) và một bên là Trung Quốc, hướng tới xây dựng BộQuy tắc ứng xử (COC), để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định,hữu nghị và phát triển, vì lợi ích của tất cả các nước trong khu vực, vì an ninhchung của khu vực và trên toàn thế giới.Mở rộng và tăng cường hợp tác hữu nghị với các quốc gia trong khu vựcvà trên thế giới cũng như với các tổ chức quốc tế trong các vấn đề có liên quanđến biển, đảo trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, lợi ích quốc gia và pháp luật quốctế, bảo đảm an ninh và an toàn hàng hải quốc tế; cùng nhau xây dựng khu vựchòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Xem thêm

18 Đọc thêm