CNH - HĐH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN LÊN CNXH Ở NƯỚC TA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta":

“Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”.

“PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY”.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con người không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, có thể nói rằng việc nghiên cứu nguồn lực con người luôn diễn ra thường xuyên, trong tất cả các giai đoạn lịch sử, ở hầu khắp các quốc gia. Như vậy, ta có thể thấy nguồn lực con người luôn là một vấn đề có tính thời sự. Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử. Chính vì thế, con người là nhân tố quan trọng đưa đến sự phát triển của xã hội, của đất nước. Bên cạnh đó, con người đó như thế nào lại bị chi phối bởi chính hoàn cảnh lịch sử ấy.
Từ cuối thập kỉ XX, nảy sinh hiện tượng, một số nước Đông Nam Á có tốc độ phát triển kinh tế thần kì gây ra nhiều sự chú ý trong giới nghiên cứu và họ đã cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao những nước như Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông ... lại có sự phát triển đó”. Kết quả của những cuộc nghiên cứu cho thấy, có nhiều nhân tố tạo lên như văn hóa, truyền thống, trình độ dân số, kĩ thuật, công nghệ… song câu trả lời làm giới nghiên cứu ngạc nhiên là sự nhảy vọt về kinh tế ấy là không phải do kĩ thuật, công nghệ mà là… văn hóa truyền thống. Vì vậy, nghiên cứu nguồn lực con người hiện đại cần phải có sự liên hệ với yếu tố truyền thống, con người truyền thống, gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
Đối với nước ta, xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp, nông nghiệp là chính, tiến lên xây dựng CNXH, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài. Việc khắc phục những tàn dư của xã hội cũ, nền sản xuất cũ như thói quen, tác phong sản xuất nông nghiệp của người nông dân, tâm lí sợ sệt trong đầu tư sản xuất kinh doanh, cách thức làm việc tùy tiện không khoa học, lối sống gia trưởng còn ăn sâu vào nếp nghĩ của con người Việt Nam hiện nay, nó đang là một sự cản trở lớn đối với sự phát huy nguồn nhân lực trong sự phát triển của xã hội.
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành CNH – HĐH để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH và cùng với nó là phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện khoa học – công nghệ trên thế giới đang phát triển như vũ bão và nền kinh tế thị trường thế giới đã phát triển đến trình độ cao. Nước ta đã tham gia và là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự tham gia đó đã mở ra nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức lớn đối với chúng ta. Với những yêu cầu bức thiết đó, hơn lúc nào hết phải xem xét nguồn nhân lực Việt Nam đang bộc lộ những ưu điểm gì, hạn chế nào và cần khắc phục đầu tư như thế nào để xây dựng một chính sách phát triển bền lâu, nâng cao dần chất lượng của người lao động, phát huy được nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp CNH HĐH đất nước. Đây cũng chính là nội dung của đề tàì mà chúng tôi đã lựa chọn: “Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề vai trò của nguồn nhân lực trong thời kì xây dựng CNH – HĐH đất nước đang là một vấn đề quan trọng và được nhiều nhà khoa học dày công nghiên cứu. Nhiều công trình đã đạt những giá trị cao. Tuy nhiên nghiên cứu của các tác giả mở ra phạm vi quá rộng, do vậy vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ.
Qua tìm hiểu, thống kê, chúng tôi thấy các tác giả, các nhà nghiên cứu đi trước đã tìm hiểu về vấn đề này theo những khía cạnh sau:
Hướng thứ nhất: Tìm hiểu vấn đề nguồn nhân lực ở những trường hợp tiêu biểu có giá trị, trên một khía cạnh nào đó của nguồn nhân lực như bàn về chất lượng nguồn nhân lực thông qua các bài viết như “Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực thông qua chương trình du học tại chỗ bằng kinh phí nhà nước”, của Phan Thủy Chi trong Nghiên cứu giáo dục số 82001. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hướng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua chương trình du học tại chỗ bằng nguồn hỗ trợ của nước ngoài bằng hai hình thức. Một là, các dự án đào tạo theo chương trình chuẩn quốc tế được thực hiện ngay ở trong nước. Hai là, các suất học bổng, gửi người ra nước ngoài học tập. Tất cả, đều nhằm mục đích chung là có được đội ngũ tri thức được đào tạo bài bản theo tiêu chuẩn quốc tế, trở thành hạt nhân cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước.
Xem thêm

50 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN LÊN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN LÊN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

Trong thời gian vừa qua, dưới tác động của cơ chế quản lý kinh tế mới sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc. Kinh tế hộ nông dân (KTHND) đang ngày càng giữ vai trò chính trong việc phát triển kinh tế xã hội (KTXH) nông thôn và là một trong những tiền đề quan trọng đưa đất nước ta chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước

204 Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA CNH-HĐH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

VAI TRÒ CỦA CNH-HĐH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

con người . Mặt khác CNH-HĐH không chỉ đơn thuần nhằm vào mục tiêu tăngtrưởng mà quan trọng hơn là phải đạt dược mục tiêu phát triển nhanh và phát triểnbền vững . Đó không chỉ là sự gia tăng về lượng trước hết là tổng sản phẩn quốc nội(GDP) mà còn về chất , trước hết là phúc lợi nhân dân . Trong toàn bộ quá trìnhCNH-HĐH phải gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề tiến bộ và côngbằng xã hội , với bảo vệ và cải thiện môi trường , vì lợi ích không chỉ về thế hệ hômnay mà còn của thế hệ tương lai . Do đó quá trình CNH-HĐH ngày nay đòi hỏi phảibiết nuôi dưỡng , phát triển và khai thác hợp lý có hiệu quả các nguồn lực con người:CNH-HĐH vì con người và do con người .Như vậy đối với nước ta hiện nay để thực hiện thành công đường lối CNHHĐH “ rút ngắn thời gian ,vừa có những bước tuần tự vừa có những bước nhảy vọt” đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phát huy những lợi thế vốn có của đất nước tận dụngtối đa mọi cơ hội , mọi khả năng có thể có để nhanh chóng đạt trình độ tiên tiến :tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn , mức cao hơn và phổ biến hơn nhữngthanh tựu mới về khoa học và công nghệ “từng bước phát triển kinh tế trí thức ” .Cùng với đó chúng ta phải ra sức phát huy nguồn trí thệ và sức mạnh tinh thần củacon người Việt Nam lấy phát triển giáo dục đào tạo khoa học và công nghệ làm nềntảng và động lực của sự nghiệp CNH-HĐH .III.Phương hướng cho quá trình CNH-HĐH nước ta hiện nay .Nước ta sau 15 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ . Quanhữnh thành tựu đã đạt được Đảng ta đã đề ra phướng hướng phát triển kinh tế -xãhội cho 10 năm tới : “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển , nâng cao rõ rệtđời sống vật chất tinh thần của nhân dân , tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơbản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại . Nguồnlực con người , năng lựckhoa học và công nghệ , kết cấu hạ tầng , tiềm lực kinh tế quốc phòng an ninh đượctăng cường;thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thànhcơ bản ; vị thế của nước tâ trên trương quốc tế được nâng cao ”.
Xem thêm

30 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÀO TẠO, PHỔ CẬP CHUYÊN MÔN NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÀO TẠO, PHỔ CẬP CHUYÊN MÔN NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta, nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đã xác định rõ vai trò của phát triển nông nghiệp, từ Đại hội V (1982), nông nghiệp được Đảng ta coi là “mặt trận hàng đầu”. Thực hiện quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Đại hội VIII đã xác định CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm trong những năm trước mắt. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020 do Đại hội XI của Đảng thông qua đã khẳng: “Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học ... Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn”4, tr....
Xem thêm

46 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế: Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH

1. Tính cấp thiết của đề tàiĐối với nước ta, kinh tế nông thôn có vị trí rất quan trọng trong nền KTQD; đó là khu vực kinh tế chiếm hơn 73% dân số, hơn 55,7% lực lượng lao động xã hội, đóng góp 20,36% GDP( ) của đất nước.Trong quá trình thực hiện CNH HĐH, kinh tế nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của KTNT, đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và vẫn duy trì được tốc độ phát triển bình quân 4 4,5%năm. Từ một nước thiếu ăn, nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo cho nước ta vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm ngư nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức bình quân 16,8%năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được tăng cường đáng kể đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn các vùng quê. Đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nâng lên cả tinh thần và vật chất. Công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được thế giới đánh giá cao…Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông thôn nước ta đang bộc lộ những mặt yếu kém, nổi bật như: Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn hạn chế, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải phóng nguồn lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn tuy có được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn và ngày càng cách xa đang là những vấn đề bức xúc lớn trong xã hội…Những mâu thuẫn, yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội và chính trị trong tương lai.Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? KTNT nước ta sẽ vận động, phát triển ra sao trong quá trình CNH HĐH với bối cảnh hội nhập? giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém; đảm bảo cho KTNT nước ta phát triển bền vững, đáp ứng các mục tiêu CNH HĐH đến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp). Đó đang là những vấn đề rất cần được lý giải hệ thống cả về lý luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH” là luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần vào giải quyết những vấn đề trên.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiCho đến nay, trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đã công bố kết quả ở các cấp độ khác nhau như: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá định hướng XHCN ở Việt Nam của Tiến sỹ Phạm Văn Huỳnh. Con đường CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tập hợp bài viết của nhiều tác giả do Ban tư tưởng văn hoá Trung ương phát hành. Đề tài phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại của nhóm tác giả GS.TS Vũ Trọng Khải, TS Đỗ Thúc Đồng và TS. Phạm Bích Hợp. CNH từ nông nghiệp của TS. Đặng Kim Sơn. Nông nghiệp Nông dân nông thôn là vật cản hay động lực cho tăng tốc CNH của TS. Đặng Kim Sơn Về Nông dân và chính sách với nông dân thời kỳ CNH HĐH của Nguyễn Văn Tâm. Đổi mới quản lý ở cấp huyện xã đối với nông nghiệp nông thôn của TS. Chu Tiến Quang. Đầu tư vào Nông nghiệp, nông thôn thực trạng và định hướng của TS. Chu Tiến Quang.Các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đều đề cập đến và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn nhưng thường là những vấn đề lý luận chung hoặc những khía cạnh hẹp về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, quan điểm về nông nghiệp định hướng XHCN hoặc yếu tố văn hoá trong phát triển nông thôn, đổi mới hình thức quản lý trong nông nghiệp … chưa có công trình nào lý giải được hệ thống và toàn diện các vấn đề nêu ở trên.Vì vậy, Đề tài này tác giả muốn kế thừa các thành quả nghiên cứu của các tác giả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm từ các quốc gia đã tiến hành CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn để lý giải rõ hơn các mâu thuẫn ở nước ta và kiến nghị một số giải pháp hữu ích cho giải quyết các mâu thuẫn đó. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của KTNT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HĐH (2000) đến nay. Đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình phát triển KTNT đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.4. Mục đích nghiên cứu.Trên cơ sở phân tích thực trạng KTNT dưới tác động của quá trình CNH HĐH để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực của tác động này trong điều kiện nước ta. Đồng thời phân tích nguyên nhân của những mâu thuẫn phát sinh, rút ra tính phổ biến của sự vận động của KTNT trong quá trình CNH HĐH, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các chính sách, giải pháp để khắc phục.Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính đột phá để thúc đẩy tiến trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo cho KTNT phát triển mạnh hơn và bền vững, đạt được các mục tiêu của CNH HĐH mà Đảng đã đề ra.5. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện từ Đại hội Đảng lần thứ IV đến Đại hội Đảng lần thứ X. Đề tài cũng sử dụng một số luận điểm của một số tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí, báo và công trình khoa học đã công bố.Số liệu sử dụng trong Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu đã công bố của Tổng cục Thống kê, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành có liên quan, báo cáo của các địa phương trong quá trình thực hiện CNH HĐH.Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Khảo sát thực tiễn ở một số địa phương; tổng hợp phân tích thống kê; hội thảo phục vụ cho việc luận giải, chứng minh cho các nội dung mà tác giả đã nêu trong Đề tài.6. Những đóng góp mới về khoa học. Hệ thống hoá các tác động tích cực và hệ quả tiêu cực có tính phổ biến của quá trình CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hệ quả tiêu cực trên. Qua đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu để hạn chế tác động tiêu cực, thúc đẩy quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tăng tốc hơn nhưng vẫn đảm bảo cho kinh tế nông thôn phát triển bền vững, đáp ứng được các mục tiêu của CNH HĐH trong bối cảnh hội nhập.7. Kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau Mở đầu Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH. Chương 2. Thực trạng kinh tế nông thôn nước ta dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 2001 2007. Chương 3. Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông thôn trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo.
Xem thêm

119 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGUỒN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGUỒN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).CNH, HĐH là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới, khi các nước đó muốn tiến tới một xã hội hiện đại. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta. CNH, HĐH không chỉ đơn thuần là công cuộc xây dựng kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta đã xác định phải: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Xem thêm

211 Đọc thêm

CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY

CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY

và lệ thuộc vào lợi nhuận của công ty .Lợi nhuận của công ty sau khi dùngcác khoản chung cần thiết ,phần còn lại đợc chia đều cho các cổ đông tỷ lệvới phần góp vốn của họ và gọi là lợi tức cổ phần .1.2 Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phầnCông ty cổ phần từ khi ra đời đến nay đã trải qua một quá trình lịch sửphát triển hàng mấy trăm năm .Đây là một kiểu tổ chức doanh nghiệp trongnền kinh tế thị trờng .Sự ra đời của công ty cổ phần không nằm trong ýmuốn chủ quan của bất kỳ một lực lợng nào mà đó là một quá trình kinh tếkhách quan do các nguyên nhân chủ yếu sau:Thứ nhất : Quá trình xã hội hoá t bản ,tăng cờng tích tụ và tập trung tbản ngày càng cao và là nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy công ty cổ phần rađời.Trong nền sản xuất hàng hoá quy luật giá trị tác động mạnh mẽ đến sựcạnh tranh khốc liệt giữa các nhà t bản buộc họ phải tìm cách cải tiến vànâng cao trình độ kỹ thuật ,nâng cao năng suất lao động ,giảm chi phí sảnxuất làm cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giátrị hàng hoá của xã hội thì mới có thể tồn tại và tiếp tục phát triển ,Điều nàythờng chỉ có những nhà t bản lớn với quy mô sản xuất mức độ nhất địnhmới đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại ,làm cho năng suất lao độngtăng lên ,do đó mới có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh .Vì thế để tránhnhững kết cục bi thảm có thể xảy ra trong cạnh tranh ,các nhà t bản vừa vànhỏ phải tự tích tụ vốn để mở rộng quy mô sản xuất và hiện đại hoá cáctrang thiết bị tạo điều kiện nâng cao năng xuất lao động và hạ giá thành sảnphẩm .Song đây là một biện pháp hết sức khó khăn và hơn nữa việc tích tụvốn phải mất một thời gian rất dài mới có thể thực hiện đợc .Một lối thoátcó hiệu quả hơn là các nhà t bản vừa và nhỏ có thể thoả hiệp và liên minhvới nhau tập trung các nhà t bản cá biệt của họ lại thành một nhà t bản lớnđể đủ sức cạnh tranh và giành u thế với các nhà t bản khác từ hình thức tập
Xem thêm

33 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN DE 4 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN DE 4 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

- Khoa học và công nghệ đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội.Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng lý giải và khẳng định giá trị khoahọc và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lênchủ nghĩa xã hội Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần vào thành công của công cuộcđổi mới nói chung và vào quá trình đổi mới tư duy kinh tế nói riêng.Các kết quả điều tra cơ bản và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiênđã phục vụ xây dựng luận cứ khoa học cho các phương án phát triển kinh tế - xã hội củađất nước.Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ, thích nghivà khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài. Nhờ đó, trình độ công nghệtrong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoácó sức cạnh tranh cao hơn. Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp khoa học và công nghệđã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phầnchuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lương thựctrở thành một trong những nước xuất khẩu gạo, cà phê, v.v... hàng đầu trên thế giới.Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạo máy, đã góp phần nâng caonăng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chấtlượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế.10Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình độnhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huytruyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mớiHệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được tổ chức từ trung ương đến địaphương đã đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, góp phần thực hiện các mục tiêu
Xem thêm

24 Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lý luận Nhà nước và pháp luật
Bài tập học kỳ Lý luận Nhà nước và pháp luật.

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp chung của toàn xã hội đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của mọi người với những biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp đó là sử dụng pháp luật để quản lí và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết.Nhận thức được tính cần thiết của việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Em xin mạnh dạn chọn đề tài: Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” làm bài tập học kì của mình


I.Cơ sở lý luận của vai trò pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam.


1. khái niệm:

Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng. Môi trường gồm toàn bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội. Tại khoản 1 điều 3 luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua ngày 29112005 (sửa đổi). Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đén đời sống sản xuất và sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật.

Còn Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt nam gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hộ liên quan trức tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí và bảo vệ các yếu tố môi trường.Các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo các trình tự thủ tục nhất định là nguồn chính của pháp luật bảo vệ môi trường.Có các văn bản như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật khoáng sản năm 2010,Luật thuế tài nguyên năm 2010.......

2.Đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường.

Pháp luật bảo vệ môi trường là một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí, bảo vệ môi trường.Qua đó, ta thấy pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất, Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác.Có thể nói trong hệ thống pháp luật Việt nam thì pháp luật bảo vệ môi trường là lĩnh vực mới nhất. Nguyên nhân là do vấn đề môi trường mới thực sự đặt ra những thách thức khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới tới nay. Trong thời gian sau đó thì vấn đề môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất......Vì vậy mà vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến.

Thứ hai pháp luật bảo vệ môi trường có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước tuy nhiên nó cũng đặt ra cho nước ta những vấn đề to lớn về môi trường và sự pháp triển bền vững.

Thứ ba pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí nhà nước về môi trường và nhiều lĩnh vực pháp luật khác của việt nam. Hoạt động môi trường là hướng tới bảo vệ những lợi ích của nhà nước cộng đồng và xã hội. Nhà nước là chủ thể thay mặt nhân dân quản lí bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng.

Thứ tư pháp luật bảo vệ môi trường chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường. Đây là một đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta. Do tính thống nhất của môi trường, các yếu tố, thành phần môi trường của Việt nam vừa là đối tượng tác động của pháp luật trong nước vừa là đối tượng tác động của các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã là thành viên.Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó.

Có thể thấy qua quá trình xây dựng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nhằm có một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, có tính khả thi hơn.

3. Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường:

Thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo. Những văn bản quy định những nguyên tắc như vậy người ta gọi là văn bản quy phạm pháp luật, được nhà nước đảm bảo cho nó được thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường cũng chính là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật.

Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật bảo vệ Việt nam, pháp luật bảo vệ môi trường cũng có các vai trò của phap luật nói chung và cũng có những vai trò riêng của nó. Đó là pháp trong luật quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, là cơ sở pháp lí cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lí cho công tác bảo vệ môi trường. Nó được thể hiện như sau:

Thứ nhất là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Có thể thấy pháp luật bảo vệ môi trường có một vai trò quan trọng đối với lĩnh vực môi trường.Hệ thống cơ quan quản lí môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống địa phương.

Thứ hai là, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực môi trường là cơ sở pháp lí quy định hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vức bảo vệ môi trường.

Thứ ba là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và sử lí các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường.Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên , định kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử lí vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường.

Thứ tư, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành các cơ quan thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Có thể thấy, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay có vai trò hết sức quan trọng. Nó thể hiện được sự quan tâm của nhà nước tới vấn đề môi trường ngày càng được nâng cao

II. Thực trạng pháp luật trong bảo vệ môi trường ở Việt nam hiện nay.

1. Những thành tựu.

Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt nam đã có những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống cơ chế chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường đã được hoàn thiện một bước. Giai đoạn 20052010 được coi là giai đoạn thành công nhất trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường, được đánh dấu bằng việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Năm 2008 Luật Đa dạng sinh học đả được Quốc hội thông qua.Cho tới nay có tổng cộng 66 văn bản luật dưới luật được xây dựng và ban hành.

Thứ hai, hệ thống cơ quan quản lí bảo vệ môi trường được tăng cao. Sau 5 năm thực hiện luật bảo vệ môi trường năm 2005, hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định.Ở trung ương, Thủ tướng chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyênMôi trường. Ở địa phương, đã thành lập các chi cục bảo vệ môi trường thuộc Sở tài nguyên môi trường.

Thứ ba, công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lí chất thải được tăng cao, cụ thể. Hoạt động kiểm soát môi trường khu công nghiêp đã có nhiều tiến bộ đáng khích lệ: Nhiều địa phương đã có lộ trình, kế hoạch về xây dựng trạm sử lí nước thải.Hoạt động của ban quản lí các khu công nghiệp bài bản hơn.Hoạt động quan trắc môi trường ở cả trung ương và địa phương tiếp tục được duy trì và phát triển.

Thứ tư: hoạt động phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường dã được đẩy mạnh. Nhiều mỏ than sau khi khai thác được cải tạo phục hồi môi trường thành các khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái hoặc phục hồi đất trồng cây..Tính tới nay, trong tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường quan trọng phải hoàn thiện việc xử lí thì đã có 325 cơ sở không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng(chiếm 74%) và 114 cơ sở đang triển khai thực hiệ biện pháp khắc phục(chiếm 26%)

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn góp phần năng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường.

Thứ sáu, công tác kiểm tra sử lí vi phạm pháp luật về môi trường cũng được tăng cường. Năm 2010 theo kết quả thanh tra, kiểm tr 9 tháng đầu năm, các Đoàn thanh tra đã lập 133 biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có đề nghị các cơ quan có thẩm quyền phạt 9.666.700.000đồng đến 15.269.000đồng.Hoạt động kiểm tra được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc.

2. Những hạn chế:

Đầu tiên là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa hoàn thiện,còn sơ sài. Các văn bản pháp luật về môi trường chưa được rà soát kĩ. Các hoạt động giám sát cần phải được rà soát để tránh luật bảo vệ môi trường ban hành phải chờ các văn bản hưỡng dẫn thi hành làm cho luật khó điu vào đời sống.

Thứ hai là pháp luật môi trường còn quy định khá học thuật, rất phức tạp và khó hiểu nên người dân khó có thể nắm bắt được hết ý đồ của nhà nước,.

Thứ ba là từ góc độ quản lí của nhà nước thì công tác bảo vệ môi trường dù luôn được nêu ra nhưng vẫn còn ở hàng thứ yếu khi xử lí đối kháng lợi ích, vẫn tập trung ưu tiên phát triển kinh tế.

Thứ tư là nhận thức của cán bộ về vấn đề môi trường còn rất hạn chế,quy trình thủ tục còn tồn tại quá nhiều bất cập, việc giám sát thực hiện chưa đi liền với sử lý các vi phạm pháp luật về môi trường, mức phạt thấp,, chỉ phạt tiền rồi yêu cầu khắc phục. Cư như vậy, sau khi phạt xong thì tiếp tục vi phạm tiếp.

Thứ năm là các quyết định xử ;lí vi phạm đo không được theo dõi chặt chẽ nên dễ để cho một số đối tượng lợi dụng cố tình không chấp hành .

GIẢI PHÁP

Để pháp luật bảo vệ môi trường có những hiệu quả cao hơn thì phải tiến hành khắc phục những nhược điểm hiện có, đang tồn tại trong hệ thống pháp luật môi trường hiện nay, cụ thể như sau:

Thứ nhất là hoàn thiện các quy định pháp lí (trách nhiệm hành vi, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự) đối với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

Thứ hai hoàn thiện cơ chế tổ chức và đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường.Tăng cường nắm bắt tình hình, thanh tra kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường.

Thứ ba là tang cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Thuwch hiện đầy đủ các cam kết quốc tế.Đẩy mạnh hợp tác song phương.

Thứ tư là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội.

KẾT LUẬN

Nhìn chung, pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường đã tạo hành lang pháp lí để các chủ thể trong xã hội thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật. Vấn đề thực hiện pháp luật hiên nay cần phải được nghiên cứu tổng thể, đánh giá toàn diện nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Xem thêm

9 Đọc thêm

PHẬT GIÁO CÓ VAI TRÒ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở NƯỚC TA.

PHẬT GIÁO CÓ VAI TRÒ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở NƯỚC TA.

Tìm hiều về vấn đề này, ở Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực.
Trong các nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã sử dụng chung các phương pháp như phương pháp như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh . Nghiên cứu của Hòa thượng, tiến sỹ Phật học Thích Minh Châu với đề tài “Đạo đức học Phật giáo”, nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995. Nghiên cứu được tác giả nêu lên những cơ sở và nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo trong đó phân tích và cắt nghĩa nội dung của hạnh, nghiệp, thiện, ác. Bên cạnh đó khi nghiên cứu về đạo đức tôn giáo cũng thời điểm có cùng phương pháp nghiên cứu phải kể tới công trình “đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Duy Qúy . Với nghiên cứu “mấy vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc. Cuốn “một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” của tác giả Huỳnh Khải Vinh chủ biên. Tác giả Đoàn Văn Khiêm với nghiên cứu “lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”.
Trên cơ sở đã dựa trên các phương pháp kết hợp với kết quả nghiên cứu đã cho thấy các công trình trên đã khái quát được nội dung chính về tình hình, thực trạng cũng như những biến đổi về mặt đạo đức của đông đảo thanh niên nói riêng và đạo đức Phật giáo nói chung. Những giá trị đạo đức trong bối cảnh đất nước đổi mới cũng như những hạn chế trong đạo đức con người trước tác động của cơ chế thị trường thông qua đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này thiên về lĩnh vực nghiên cứu theo tôn giáo học, lịch sử và triết học nên sự đa dạng về phương pháp nghiên cứu không phát huy tối ưu của phương pháp phân tích định lượng như lĩnh vực xã hội học.
Bên cạnh những hạn chế, đề tài đã thể hiện được các giá trị và hạn chế của đạo đức Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Đề tài đã đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo.
Luận văn thạc sỹ triết học của Nguyễn Thúy Thơm về “vai trò Phât giáo trong đời sống tinh thần người Việt Nam (qua triều đại Trần), 2010. Nghiên cứu này đã hạn chế nhược điểm của Hoàng Văn Thụ đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tối ưu hóa các ưu điểm của các phương pháp chứ không mang tính chất liệt kê tuy nhiên nghiên cứu chưa thể hiện sâu về bề rộng và chiều sâu phân tích, lý giải cũng như so sánh vấn đề.
Trong cuốn Ballet, Doanh nghiệp và đạo đức, nhà xuất bản thế giới, 2005 đã
đề cập đến đạo đức kinh doanh của con người. Cũng giống như một số công trình khác, cuốn sách đã đề cập đến vấn đề đạo và vô đạo trong kinh doanh. Điều thú vị ở tác phẩm đã truyển trải được thông điệp này tới người đọc bằng cách hình ảnh đưa ra với lý lẽ rất thuyết phục và thực tế.
Cùng sử dụng phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu, có các tác giả như Trần Văn Trọng, tác giả Tạ Chí Hồng, Nguyễn Phan Quang, Đặng Thị Lan, các tác giả đã nêu bật được ý nghĩa phật giáo trong đời sống con người. Tiêu biểu có công trình “đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” của tác giả Trần Văn Trọng, nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1993. Tác giả Đặng Thị Lan lại nghiên cứu về khía cạnh “đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam”. Nxb đại học Quốc gia Hà Nội, 2006. Lê Hữu Tiến với nghiên cứu “ảnh hưởng của những tư tưởng triệt học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam “. Luận án tiến sỹ triết học của Tạ Thị Hồng với “ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội của Việt Nam hiện nay”, 2008. Trong nghiên cứu khác của Hoàng Thị Lan với nghiên cứu “ảnh hưởng của đọa đức tôn giáo với đọa đức trong xã hội Việt Nam hiện nay”, được tiến hành năm 2012.
Về cơ bản các nghiên cứu đã hệ thống hóa được phần nào những tư tưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng cũng như vai trò của tôn giáo ảnh hưởng đến đời sống con người. Các nghiên cứu cũng đã tiếp cận dưới góc độ của triết học và tôn giáo học để chỉ ra những ảnh hưởng của phật giáo trong đời sống con người Việt Nam.
Qua các nghiên cứu đó, ta thấy ưu điểm của phương pháp nghiên cứu triệt học, tôn giáo học. Tuy nhiên, ở chiều cạnh khác các nghiên cứu cũng đã thể hiện hạn chế trong phương pháp nghiên cứu vì vậy các nghiên cứu chưa thể hiện chiều sâu về ý nghĩa thực tế.
Luận văn thạc sỹ Triết học, của Hoàng Văn Thụ về “đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”, 2011.
Nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh, phương pháp quan sát và phương pháp điều tra. Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là chưa thể hiện thuyết phục đối với 1 số lĩnh vực nêu ra. Tên đề tài quá rộng nhưng nội dung chỉ tập trung làm rõ lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Nghiên cứu liệt kê phương pháp điều tra nhưng luận văn không thể hiện rõ phương pháp vì vậy một số phương pháp chỉ nêu ra theo hình thức liệt kê chứ không áp dụng trong nghiên cứu. Từ cách tiếp cân hệ thống đặc điểm chung của Phật giáo và đạo đức Phật giáo, người nghiên cứu chỉ chú trọng và việc phân tích những ảnh hưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Quan các nghiên cứu đó, ta thấy liệu phật giáo có vai trò gì trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam?
Để trả lời cho câu hỏi trên, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu về lĩnh vực triết học, tôn giáo học, dân tộc học, nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ xã hội học, bài viết này tập trung nghiên cứu : Phật giáo có vai trò trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở nước ta.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.

TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI Ở NƯỚC TA.

Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.Tiểu luận vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nước ta.
Xem thêm

12 Đọc thêm

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA Ở NƯỚC TATỪ ĐẠI HỘI III ĐẾN XI

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA Ở NƯỚC TATỪ ĐẠI HỘI III ĐẾN XI

trên phạm vi cả nước, hai giai đoạn này có mục tiêu, phương hướng rõrệt.- miền Bắc, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạchậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua phát triển chủ nghĩatư bản, mặt khác, vừa phải xây dựng CNXH vừa phải chiến đấu chốngMỹ. Điểm xuất phát của Việt Nam khi bước vào thực hiện CNH rất thấp.Năm 1960, công nghiệp chiếm tỷ trọng18,2% và 7% lao động xã hội;tương ứng nông nghiệp chiếm tỷ trọng 42,3% và 83%. Sản lượng lươngthực/người dưới 300 kg; GDP/người dưới 100 USD. Trong khi phâncông lao động chưa phát triển và LLSX còn trình độ thấp thì QHSX đãđược đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu ( đếnnăm 1960: 85,8% nông dân vào HTX; 100% hộ tư sản được cải tạo, gần80% thợ thủ công cá thể vào HTX tiểu thủ công nghiệp). Trong bối cảnhđó, Đại hội Đảng III xác định rõ mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa xãhội chủ nghĩa là xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối vàhiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội. Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn.+ Về cơ cấu kinh tế, Đảng xác định: kết hợp công nghiệp với nôngnghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng. (Tỷ trọng giá trị côngnghiệp tăng từ 18,2% /1960 lên 22,2%/1965; 26,6%/1971; 28,7%/1975)+ Về chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóaIII) nêu phương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp là:•Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.•Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp.•Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triểncông nghiệp nặng. (Vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong thời kỳ 1960- 1975 tăng 11,2 lần, cho công nghiệp nhẹ tăng 6,9 lần, nông nghiệp tăng6 lần)
Xem thêm

10 Đọc thêm

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban đầu ’’ 26; 297.
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung cầu, tích lũy tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. CNH, HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kỳ đại hội VI, VII, VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sức cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như Minh Hóa ở Quảng Bình. Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quy luật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng như khả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu những mâu thuẫn đó không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện.
Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa, Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung
Xem thêm

74 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỜI K

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỜI K

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiBước sang thế kỉ XXI, con người đã và đang không ngừng bứt phá để cảitạo thế giới, thay đổi bản thân. Sự phát triển mạnh mẽ của các tiến bộ KH-CN đãgiúp loài người đạt được nhiều kỳ tích trong nhiều lĩnh vực. Và, tác động củacuộc Cách mạng KH-CN những thập niên cuối của thế kỉ XX đã tác động mạnhmẽ đến thế giới theo cả hai hướng: vừa tạo thời cơ những cũng đặt ra nhiềuthách thức để phát triển kinh tế - xã hội.Việt Nam đã trải qua chặng đường hơn 30 năm xây dựng CNXH trênphạm vi cả nước. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc phêbình và tự phê bình, xác định rõ bốn bài học quan trọng, trong đó có bài học vềsự tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Trên cơ sở đó, khẳng địnhcần thiết phải tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạocủa Đảng. Đại hội VI là mốc quan trọng đánh dấu đường lối đổi mới toàn diệncủa Đảng, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước trong tiến trình xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, đặc biệt là đối với việc thực hiện quátrình CNH, HĐH; trong đó lấy phát triển KH-CN làm nền tảng.Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳngđịnh từ nay đến nǎm 2020 phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp; khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lựccho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Hoạt động nghiên cứu, ứng dụngtiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinhtế - xã hội. Quản lý khoa học, công nghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tự chủ chocác đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ. Thị trường khoa học, công nghệbước đầu hình thành. Đầu tư cho khoa học, công nghệ được nâng lên” [01]Chiến lược phát triển KH-CN giai đoạn 2011 – 2020 có nội dung khẳngđịnh: Phát triển KH-CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là1
Xem thêm

32 Đọc thêm

Tuyển tập 150 tiểu luận triết học p1 (Đề 01 đến 10)

TUYỂN TẬP 150 TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC P1 (ĐỀ 01 ĐẾN 10)

DANH SÁCH TIỂU LUẬNĐỀ 01. Bản sắc dân tộc trong nền KT mởĐỀ 02. Đấu tranh giai cấpĐỀ 03. Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCNĐỀ 04. LLSX và các quan hệ SXĐỀ 05. Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH HĐH đất nướcĐỀ 06. Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngườiĐỀ 07. Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nayĐỀ 08. Lý luận thực tiễn và sự vận dụng của chủ nghĩa Mác về con người vào quá trình đổi mới ở VNĐỀ 09. Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VNĐỀ 10. Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN ĐỀ 01. Tiểu luận về bản sắc dân tộc trong nền kinh tế mởMỤC LỤCA. Đặt vấn đề B . Giải quyết vấn đề Chương I. Quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Bản sắc văn hoá dân tộc là gì ? II . Bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc . Chương III : Bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước.I . Vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường II . Phát huy nội lực văn hóa trong quá trình phát triển . III . Toàn cầu hoá và bản sắc văn hoá dân tộc . Chương IV : Một số giải pháp nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển .I . Một số giải pháp trước mắt để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Biện pháp khắc phục những mặt tiêu cực trong đời sống văn hoá xã hội của đất nước.C. Kết thúc vấn đề A. Đặt vấn đề Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới .......................
Xem thêm

213 Đọc thêm

TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ CỦA CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ CỦA CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên, việc thực hiện công nghiệp hóa là một tất yếu khách quan ở nước ta. Càng ngày chiến lược công nghiệp hoá càng được cụ thể hóa, bổ sung và hoàn thiện. Gần đây, Đảng và nhà nước ta đã gắn nó với hiện đại hóa và khẳng định: Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước việc công nghiệp hóa nông nghiệp và phát triển toàn diện kinh tế nông thôn có một vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy rằng, không thể thực hiện thành công bất kỳ một chính sách phát triển kinh tế xã hội nào mà không gắn với việc phát triển nông thôn
Xem thêm

25 Đọc thêm

Quan hệ phân phối ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Quá trình tái sản xuất là sự kết hợp hai hoà giữa các khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong đó phân phối là một khâu quan trọng và không thể thiếu được của quá trình này. Nó nối liền sản xuất với trao đổi, tiêu dùng, phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu dùng. Không những thế, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rất trọng yếu của quan hệ sản xuất, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn xã hội.
Trong thời gian đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay, do nền kinh tế còn nhiều thành phần kinh tế nên cũng còn có nhiều hình thức lợi ích kinh tế khác nhau và tất yếu là còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các hình thức lợi ích kinh tế đó. Một trong những yêu cầu của nền kinh tế là kịp thời phát hiện ra mâu thuẫn giữa các lợi ích và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó. Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế được thể hiện thông qua quan hệ phân phối.
Từ vai trò quan trọng của phân phối trong quá trình phát triển kinh tế thì việc nghiên cứu quan hệ phân phối là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với nền kinh tế nước ta hiện naycòn đang trong quá trình phát triển. Muốn phát triển nền kinh tế thị trường nước ta theo định hướng XHCN thì việc giải quyết các quan hệ phân phối là hết sức cần thiết để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội.
Nghiên cứu phân phối là một phần trong quá trình ngiên cứu kinh tế ở tầm vĩ mô, đó là một vấn đề lớn lao. Do trình độ, khả năng và thời gian còn hạn chế nên trong bài viết này em không thể nghiên cứu được hết. Phạm vi nghiên cứu của bài viết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các vấn đề cơ bản nhất về phân phối, các hình thức phân phối. Cụ thể là nghiên cứu các hình thức phân phối ở nước ta, đặc biệt là phân phối theo lao động và các hình thức thu nhập hay phân phối thu nhập.
Trong quá trình nghiên cứu, chủ yếu nghiên cứu quan hệ phân phối ở Việt Nam từ những năm 1985 cho đến nay. Đó là thời kỳ nền kinh tế đất nước ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường là môi trường tốt cho quan hệ phân phối được thể hiện rõ nét, đặc biệt là khi nền kinh tế nước ta còn đang trong quá trình quá độ và gặp nhiều khó khăn.
Đề tài này được bố cục gồm 2 chương chính :
Chương I : Lý luận chung về phân phối trong nền kinh tế thị trường
Trong phần này sẽ trình bày những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về phân phối: bản chất, vai trò của quan hệ phân phối và nội dung chủ yếu của quan hệ phân phối, đặc biệt tơ phần này còn có kinh nghiệm của một số nước về phân phối
Chương II : Thực trạng của quá trình phân phối và các giải pháp để nâng cao, hoàn thiện quan hệ phân phối ở Việt Nam trong thời gian tới
Từ những vấn đề cơ bản về phân phối, ở chương này sẽ nghiên cứu cụ thể quá trình phân phối ở Việt Nam, các hình thức phân phối đặc biệt là phân phối thu nhập. Thông qua đó nêu ra các giải pháp nhằm thực hiện quan hệ phân phối để đạt mục tiêu công bằng xã hội.
Xem thêm

41 Đọc thêm

TIỂU LUẬN 2 KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KTTT ĐỊNH HƯỚNG XHCN

TIỂU LUẬN 2 KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KTTT ĐỊNH HƯỚNG XHCN

quốc doanh (Kinh tế quốc dân) và kinh tế tập thể. Từ đây một loạt các xínghiệp quốc doanh (XNQD) được ra đời bằng nhiều cách khác nhau: do Nhànước đầu tư xây dựng mới, hoặc quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân. Đếncuối thời kỳ cải tạo và khôi phục kinh tế, XNQD đã chiếm ưu thế tuyệt đốitrên nền kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế tư bản tư nhân bị xóa bỏ đểchuyển sang một nền kinh tế mà kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể giữ vịtrí độc tôn. Đến năm 1960, kinh tế quốc doanh vươn lên trở thành lực lượngkinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân nước ta lúc bấy giờ. Và với chủtrương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi lên xã hội chủ nghĩa, kinh tếquốc doanh được giao cho vai trò chủ đạo của nền kinh tế từ đây.Giai đoạn 1960 đến 1985:Đây là giai đoạn khá dài mà lịch sử đất nước đã trải qua những bướcthăng trầm về chính trị, xã hội và kinh tế.Từ 1960 đến 1975: Vẫn là cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, giaiđoạn này Đảng ta chủ trương công nghiệp hoá hiện đại hoá xã hội chủ nghĩamiền Bắc và đấu tranh giảu phóng miền Nam. Để tiến hành côngnghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, Đảng ta chủ trương “ưu tiên phát triển côngnghiệp nặng một cách hợp lý”, và do đó các xí nghiệp quốc doanh càng đượcđầu tư nhiều hơn và phát triển hơn cả về số lượng và quy mô, đặc biệt là trongngành công nghiệp nặng. Một loạt các khu công nghiệp mới được hình thànhnhư: Việt Trì, Thái Nguyên, Vinh, Đông Anh(Hà Nội)… đây là cơ sở để kinhtế quốc doanh được mở rộng và phân bổ được khắp các vùng kinh tế lớn, nósẽ làm hạt nhân, là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các vùng. KinhTế quốc doanh trong giai đoạng này có vai trò vừa là công cụ quan trọng đểnhà nước tiến hành công nghiệp hoá XHCN miền Bắc nhưng lại vừa là tấmgương phản ánh sự hành công của quá trình xây dựng CNXH nước ta, nókhẳng định con đường mà Đảng ta đã lựa chọn là đúng đắn.Trên phương diệnchính trị xã hội, thì KTQD luôn là lực lượng tiến bộ xã hội, là đội quân tiênphong trong việc mở rộng QHSX XHCN.Từ năm 1975 đến 1980: Cơ chế kế hoạch hoá tập trung thuần tuý vẫn
Xem thêm

Đọc thêm

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn .

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN .

Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới(1986-1996) với đại hội VIII của Đảng, nước ta chính thức bước vào thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Ngành Thống kê có nhiệm vụ thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin thống kê phản ánh thức trạng nền kinh tế xã hội. Với xu hướng phát triển để dự báo ngắn hạn, dài hạn, giúp cho các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước có căn cứ đánh giá đúng đắn và kịp thời diễn biến về quá trình CNH-HĐH, để có giải pháp điều chỉnh, bổ sung, thúc đẩy có hiệu quả quá trình CNH-HĐH đất nước.

Từ những năm thực hiện đổi mới đến nay, hẹ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội đang được hoàn chỉnh dần cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ CNH-HĐH là một bộ phận của hệ thống chỉ tiêu nói chung, có nhiệm vụ phản ánh những yêu cầu và nội dung CNH-HĐH trong từng thời kỳ. Đó là sự tác động của CNH và khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động của các ngành nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với nước ta.,hiện nay còn là một nước dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, dân số sống ở nông thôn là chủ yếu. Do đó, để thực hiện CNH-HĐH đất nước thì CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn chiếm một vị trí rất quan trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặc biệt coi trọng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn , coi đó là nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Chính vì vậy, Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò khoa học công nghệ, đẩy nhanh một bước sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Trong thời gian qua, ngành Thống kê đã xây dựng nhiều chỉ tiêu chi tiết, cụ thể trong từng ngành, từng lĩnh vực nông nghiệp để phản ánh một cách đúng đắn và chính xác tình hình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng hệ thống chỉ tiêu thống kê vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc phục, đây cũng là lý do khiến em chọn hướng nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn . Chuyên đề của em gồm 3 chương:

Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về CNH-HĐH.

Chương II : Một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chỉ tiêu
thống kê.

Chương III: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn .

Để hoàn thành chuyên đề, em trân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác ở Viện Khoa học Thống kê và các thầy cô giáo ở trường. Đặc biệt, em xin cám ơn TS. Nguyễn Xuân Tường và cô Trần Thị Bích là hai người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian thực tập và trong cả quá trình nghiên cứu để hoàn thành chuyên đề.
Xem thêm

64 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

Trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, cũng như đối với việc nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, ngày 1941946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Việt Nam là nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”.Vào những năm đất nước bước vào giai đoạn chuẩn bị cho nhiệm vụ thực hiện các kế hoạch dài hạn công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung, phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”.Trong Bài nói với cán bộ ở Trung ương về xã tham gia cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật (đăng trên báo Nhân Dân, số 3300, ngày 941963), Người nói: “... Có gì sung sướng bằng được góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển nông nghiệp, nền tảng để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Với tư tưởng coi trọng nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện phẩm chất một nhà lãnh đạo am hiểu sâu sắc thực tiễn của đất nước mình. “Lấy nông nghiệp làm chính” và “Phải bắt đầu từ nông nghiệp” đã trở thành quy luật trong nhiệm vụ kinh tế xã hội giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đối với những nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta.Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng nông nghiệp của Hồ Chí Minh để xây dựng thành đường lối phát triển kinh tế nói chung, đường lối phát triển nông nghiệp nói riêng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, tôi lưa chọn nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Việc vận dụng tư tưởng đó ở Việt Nam hiện nay để làm rõ hơn tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp không những có ý nghĩa thực tiễn to lớn, mà còn là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng đã và đang được Đảng và Nhà nước ta vận dụng để xây dựng phát triển nền kinh tế nông nghiệp nước ta, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà nó còn có giá trị thực tiễn hết sức sâu sắc
Xem thêm

25 Đọc thêm

Cùng chủ đề