SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Sự khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây":

So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2)

SO SÁNH SỰ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI (2)

So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2) So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại (2)
Xem thêm

21 Đọc thêm

SO SÁNH SỰ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI

SO SÁNH SỰ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI

lý duyên khởi và lý vô ngã, vô thường của thế giới quan Phật giáo thể hiệnrất rõ tư tưởng biện chứng. Mọi vật đều được cấu tạo bởi yếu tố vật chất (sắc)và tinh thần (danh). Theo thuyết vô thường, danh và sắc chỉ hội tụ lại vớiTiểu luận triết họcNguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ220nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác. Bản chất sựtồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục, không thể tìm ra nguyênnhân đầu tiên, cũng không có kết quả cuối cùng (vô - thuỷ, vô - chung),không có gì là tồn tại vĩnh bằng, bất biến, mọi vật đều biến đổi liên tục (vạnpháp vô thường). Theo quan điểm vô thường, vô ngã, thế giới sự vật hiệntượng luôn ở trong một chu trình biến hoá không ngừng là: sinh - trụ - dị diệt (hoặc thành - trụ - hoại - không), ở con người là sinh – lão - bệnh - tử. Đólà quá trình biến hoá theo quy luật nhân quả mãi mãi. Lý thuyết duyên khởicủa Phật giáo đã giải thích thực hất mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quảtron sự vận động, biến hoá của thế giới. Cái nhân nhờ cái duyên mới nảy sinhra quả, quả lại do duyên mà tạo thành nhân khác, nhân khai lại nhờ duyên màtạo thành quả mới. Quá trình này nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Duyên chínhlà điều kiện trong mối quan hệ tương tác đó. Như vậy, tư tưởng bản thể luậntrong triết học Phật giáo có tính chất nhị nguyên nhưng chứa đựng những yếutố biện chứng sâu sắc.Trong khi đó, triết học phương Tây cổ đại khi bàn đến các vấn đề củatriết học đã bộc lộ tư duy siêu hình do ảnh hưởng của khoa học tự nhiên gắnliền với triết học khoa học lúc đó chưa phân ngành, nhà triết học đồng thờicũng là nhà toán học, vật lí học, thiên văn học,… Tiêu biểu nhất đó là phépbiện chứng “phủ định” của trương phái Êlê.
Xem thêm

30 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC, VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

TIỂU LUẬN CAO HỌC, VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học ra đời từ rất sớm. Những tư tưởng triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện ở khoảng thế kỷ thứ VIII thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Nó bắt đầu ở các nước như Ấn Độ cổ đại, Trung Quốc cổ đại, ở Hy Lạp, La Mã cổ đại và ở một số nước khác trên thế giới.
Trung cận đông, Ấn Độ và Trung Quốc là ba vùng đất lớn với rất nhiều các dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm những đặc điểm chung nhất về văn hóa xã hội của các quốc gia phương Đông thời bấy giờ. Vùng Trung cận đông là vùng đất có nền văn minh rực rỡ, tiến bộ nhất từ cách đây khoảng 5000 năm. Sau khi ra đời, với những thay đổi nhất định trong tư tưởng văn hóa xã hội, triết học của vùng Trung cận đông đã bị chia thành hai ngả, sau đó phai nhạt dần. Đến giai đoạn này, chỉ còn lại hai nền triết học phát triển rực rỡ đó là triết học Ấn Độ và triết học Trung Quốc. Chính vì thế, nghiên cứu triết học Ấn Độ, Trung Quốc cổ, trung đại ta có thể khái quát được những tư tưởng triết học chung nhất của triết học phương Đông.
Lý luận về nhận thức là một vấn đề được nghiên cứu rất nhiều trong lịch sử triết học. Có thể nói, các nhà triết học đã đưa ra rất nhiều những quan điểm về vấn đề này. Triết học phương Đông cũng không ngoại lệ. Một trong số những vấn đề cơ bản của lịch sử triết học phương Đông là vấn đề nhận thức luận. Lý luận nhận thức luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của thời gian. Do đó, nghiên cứu về “Vấn đề nhận thức luận trong lịch sử triết học phương Đông” sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về quan điểm của các nhà triết học thời kì này về thế giới.
Xem thêm

24 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI

1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hóa nhân loại nói chung và tư tưởng triết học nói riêng, triết học phương Đông và triết học phương Tây có nhiều nội dung phong phú,đa dạng. Những giá trị của nó đã để lại dấu ấn đậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người. Triết học phương Đông và triết học phương Tây không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học. Mặc dù vậy giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây vẫn có những đặc điểm đặc thù của nó. Nghiên cứu về triết học phương Đông và triết học phương Tây, đặc biệt là so sánh sự khác nhau của nó là một vấn đề phức tạp nhưng cũng rất bổ ích, vì qua đó ta có thể hiểu biết sâu sắc thêm những giá trị về tư tưởng văn hóa của nhân loại. Mặt khác bản sắc văn hóa Việt Nam ảnh hưởng khá sâu sắc bởi nền triết học phương Đông, do đó nghiên cứu những đặc điểm của triết học phương Đông trong mối quan hệ với triết học phương Tây, đặc biệt là những tư tưởng nhân văn cao đẹp sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc văn hóa Việt Nam. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề “Sự giống nhau và khác nhau giữa triết học phương Đông cổ đại và triết học phương Tây cổ đại” làm đề tài nghiên cứu trong tiểu luận của mình.
II. Mục đích nghiên cứu
Phân tích đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây qua đó rút ra những đặc điểm giống và khác nhau giữa chúng để hiểu sâu sắc hơn lịch sử hai nền triết này.
III. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây cổ đại.
IV. Kết cấu đề tài
Tiểu luận gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó nội dung gồm có hai chương.
Xem thêm

17 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG LỊCH sử TRIẾT học PHƯƠNG tây

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY KHOA TRIẾT, GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY, TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY,,,,,,,,

43 Đọc thêm

SO SÁNH SỰ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TẤY

SO SÁNH SỰ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TẤY

sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và TrungHoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, ý, áo, Tây Ban Nha...Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào. Tuy nhiên triết học phương Tây cổ đại thì chủyếu là triết học Hi Lạp cổ đại và chúng ta chỉ xét triết học Hi Lạp cổ đại. Hi Lạp cổđại là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm nhiều thành bang ở phía nam bán đảoBan Căn, nhiều đảo trên biển Êgiê và vùng Tiểu á.Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông - Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch vớiđộng, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết họcchặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lênngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận... từ đó xây dựng nhân sinh quancon người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinhquan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận...). Đó là 2nét chính của hai nền triết học Đông - Tây.CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌCPHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNGPHƯƠNG TÂY2.1. Sự khác biệt về phép biện chứng trong triết học Phương đông và Phươngtây2.1.1. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đạiTrung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử phát triển lâu đời vào bậc nhấtthế giới. Đó là một trong những trung tâm tư tưởng lớn nhất của nhân loại thời cổ.Triết học Trung Quốc cổ đại chịu sự chi phối trực tiếp của những vấn đề chính trịxuất phát từ hiện trạng xã hội biến động đương thời. Chính vì vậy trong thời kỳ này,các triết gia Trung Quốc thường đẩy sâu quá trình suy tư về các vấn đề thuộc vũ trụquan và biến dịch luận. Song cần phải khẳng định rằng, chủ nghĩa duy vật và phépTrần Huy MạnhToán giải tích: K16 đợt 2
Xem thêm

23 Đọc thêm

MINH TRIẾT PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

MINH TRIẾT PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

Xem chú thích ở trang 11.17cũng có thể bị quấy rầy, nhng rồi cũng chẳng đợc lợi ích gì (thậm chí hẳn nó cònphải cảm thấy cạn kiệt hơn); và vấn đề hôm nay đang ngấm sâu vào nó, cũng có thểđang gặm mòn nó: làm thế nào nạp lại khái niệm của chúng ta về minh triết? - Có thểlàm việc đó đợc không? - Đơng nhiên, làm việc đó mà vẫn không từ bỏ thao tác củalý trí, thành tựu của triết học, và cũng không phải vận đến các pháp s...Bằng chứng là cái lý tởng trung dung mà triết học đã quan niệm, song đã trởnên nhạt nhẽo đi, và rồi t duy đã bị hóa thạch trong đó. Socrate đã vận đến chính nó,khi nó vừa thoát ra khỏi lớp vỏ toán học (tỷ lệ) và còn cứng đờ, để dạy về vấn đề mứcđộ: Hỡi Calliclès, nếu ngơi tởng rằng ngơi phải làm việc là để hơn ngời, thì ấy làvì ngơi đã coi thờng hình học... Đấy là con ngời của những tham vọng đầy dẫy sẵnsàng rơi vào những cạm bẫy của phép biện chứng, do cả khoa học và thói mỉa maigiăng ra; ta ngỡ thậm chí có một thời gian anh ta đã phải chịu im. Nhng để thiết lậpnên đức hạnh thì nh thế cha đủ, còn phải định nghĩa nữa. Aristote đã ra công làmviệc đó khi phân biệt giữa cái trung bình trong sự vật và cái trung bình liên quanđến chúng ta: đức hạnh là cái khoảng cách bằng nhau đợc coi là trung dung giữacái thái quá và cái thiếu sót (nh, đúng giữa sợ sệt và táo bạo là dũng cảm, giữahoang phí và dè sẻn là hào phóng, v.v.). ở Aristote, phơng pháp này còn có mộtquy chế lý thuyết, gắn liền với bản chất của tính liên tục, và do đó có thể chia ra, vàcó thông liên về cấu trúc với toàn bộ t tởng của ông, là cái mấu chốt trong luận lýlô-gích học lẫn cái hỗn hợp trong vật lý học. Nhng, về sau, với quá trình phổ cập hóahọc thuyết Aristote, khái niệm này mất đi tính chặt chẽ của nó và suy sút đi, dẹtxuống thành lời khuyên nhủ thận trọng kiểu một vừa hai phải thông dụng. Trungdung trở thành một nửa. Bằng chứng: Horace trong Châm biếm, est modus inrebus1, v.v. Đấy là Horace tế nhị còn cha thu mình lại trong cái trung dung rụt rè,
Xem thêm

132 Đọc thêm

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI PHONG KIẾN

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI PHONG KIẾN

Như ta đã thấy, xã hội phong kiến là chế độ xã hội tiếp sau xã hội cổ đại. Nó được hình thành trên cơ sở tan rã của xã hội cổ đại. Sự hình thành và phát triển xã hội phong kiếnNhư ta đã thấy, xã hội phong kiến là chế độ xã hội tiếp sau xã hội cổ đại. Nó được hình thành trên cơ sở tan rã của xã hội cổ đại. Nhưng ta lại được biết rằng : quá trình suy vong của xã hội cổ đại phương Đông và xã hội cổ đại phương Tây không giống nhau. Vì thế, sự hình thành xã hội phong kiến ở hai khu vực này cũng có những điểm khác biệt.Các nước phương Đông chuyển sang chế độ phong kiến tương đối sớm, từ trước Công nguyên (như Trung Quốc) hoặc đầu Công nguyên (như các nước Đông Nam Á). Tuy nhiên, xã hội phong kiến phương Đông lại phát triển rất chậm chạp. Ở Trung Quốc - tới thời Đường (khoảng thế kỉ VII - VIII), còn ở một số nước Đông Nam Á - từ sau thế kỉ X, các quốc gia phong kiến mới bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển. Quá trình khủng hoảng và suy vong của chế độ phong kiến ở đây cũng kéo dài từ thế kỉ XVI cho tới giữa thế kỉ XIX, khi các nước này bị rơi vào tình trạng lệ thuộc hoặc là thuộc địa của các nước tư bản phương Tây.Ở châu Âu, chế độ phong kiến xuất hiện muộn hơn, khoảng thế kỉ V, và được xác lập, hoàn thiện vào khoảng thế kỉ X. Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV là thời kì phát triển toàn thịnh, thế kỉ XV - XVI là giai đoạn suy vong của chế độ phong kiến châu Âu. Chủ nghĩa tư bản đã dần được hình thành ngay trong lòng xã hội phong kiến đang suy tàn.
Xem thêm

1 Đọc thêm

PHÁT KIẾN ĐỊA LÝ VÀ TIẾP XÚC VĂN MINH ĐÔNG TÂY

PHÁT KIẾN ĐỊA LÝ VÀ TIẾP XÚC VĂN MINH ĐÔNG TÂY

Trình bày nguyên nhân, diễn biến và tác động của những cuộc Đại phát kiến địa lý thế kỉ XVXVI. Quan trọng hơn, trình bày sự nhận ra lẫn nhau giữa các nền văn minh Phương Đông và phương Tây. Nó cũng là bước chuẩn bị cho thực dân xâm chiếm các thuộc địa.

6 Đọc thêm

NGOẠI THƯƠNG ĐÀNG NGOÀI VÀ MỐI QUAN HỆ VIỆT NHẬT THẾ KỶ XXI

NGOẠI THƯƠNG ĐÀNG NGOÀI VÀ MỐI QUAN HỆ VIỆT NHẬT THẾ KỶ XXI

1. Đàng Ngoài với hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVII
Nằm trên một trong những tuyến chính của hệ thống thương mại châu Á, vào thế kỷ XVII các nước thương cảng của Việt Nam, trong đó có một số thương cảng Đàng Ngoài, từng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp và luân chuyển hàng hóa của mạng lưới kinh tế khu vực.
Sau những phát kiến lớn về địa lý, các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha rồi Hà Lan, Anh,… đã tìm đến nhiều vùng đất ở phương Đông để thăm dò và khai thác tài nguyên. Trên cơ sở đó, hệ thống thương mại thế giới nối liền giữa phương Đông với phương Tây cũng được thiết lập
Xem thêm

50 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌM HIỂU ĐẠO ĐỨC KINH TÌM HIỂU TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌM HIỂU ĐẠO ĐỨC KINH TÌM HIỂU TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ

: MỞ ĐẦU

Nghiên cứu Lịch sử Triết học là một nhiệm vụ quan trọng của những người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Lịch sử của các trào lưu triết học Phương Đông rất đồ sộ được biên soạn từ hai cái nôi lớn của tư tưởng triết học nhân loại là Ấn Độ và Trung Quốc.
Trong tư tưởng triết học Trung Quốc, Lão Tử là một nhà triết học lớn, đã có lúc Khổng Tử đánh giá rất cao tư tưởng của Ông. Ông không có những tác phẩm đồ sộ nhưng tư tưởng triết học của Lão Tử khá đặc sắc, thể hiện một trình độ trừu tượng hoá và khái quát hoá cao. Một trong những tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc, các nước lân cận kể cả phương Tây chính là tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử.
Nghiên cứu tư tưởng triết học Lão Tử trong tác phẩm “Đạo đức kinh” sẽ góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng triết học Trung Quốc nói chung cũng như tư tưởng triết học Lão Tử nói riêng.
Với ý nghĩa đó, Em lựa chọn đề tài “Tìm hiểu tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử” làm tiểu luận môn học Lịch sử Triết học.
Đề tài được kết cấu gồm ba phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Nội dung cơ bản tác phẩm Đạo đức kinh.
Phần 3: Kết luận
Một số nhận xét ( Thay cho lời kết của tiểu luận)
Để hoàn thành nhiệm vụ này, Em trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đình Cấp, Tiến sĩ Bùi Thanh Hương đã nhiệt tình giảng dạy và truyền thụ những kiến thức quý báu của môn học lịch sử Triết học để từ đó giúp Em có được những kiến thức cơ bản và phương pháp nghiên cứu khoa học để tiếp tục nghiên cứu hiểu rõ hơn những tư tưởng Triết học vĩ đại của nhân loại.
Xem thêm

22 Đọc thêm

CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG NHỮNG NĂM 1858 - 1859

CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG NHỮNG NĂM 1858 - 1859

Từ giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây đẩy mạnh việc xâm chiếm các nước phương Đông. Từ giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây đẩy mạnh việc xâm chiếm các nước phương Đông.Sau nhiều lần khiêu khích, lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, Pháp đem quân xâm lược Việt Nam. Chiều 31 - 8 - 1858, 3000 quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẳng. Âm mưu của Pháp là chiếm xong Đà Nẵng sẽ kéo thẳng ra Huế, nhanh chóng buộc nhà Nguyễn đầu hàng.Rạng sáng 1 - 9 - 1858, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Quân dân ta, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, anh dũng chống trả. Quân Pháp bước đầu thất bại. Sau 5 tháng xâm lược, chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà.  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tóm tắt luận văn thạc sĩ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE

. Lý do chọn đề tàiKể từ khi bước vào lịch sử đến nay, cùng với việc đi sâu tìm hiểu thế giới xung quanh, con người đã không ngừng tìm hiểu về chính bản thân mình. Biết bao nhiêu câu hỏi xung quanh vấn đề con người được đặt ra, và cũng đã có không biết bao nhiêu cách trả lời về những câu hỏi ấy. Qua nhiều thời đại, với những chế độ xã hội kế tiếp nhau trong lịch sử, vấn đề con người không hề trở nên cũ trong nhận thức của nhân loại.Là một hình thái ý thức xã hội, triết học bao giờ cũng trở lại với con người và coi con người như một đối tượng trung tâm của mình. Dù là duy vật hay duy tâm, dù có tuyên bố hay không tuyên bố là “triết học của con người, vì con người”, thì mọi trào lưu triết học từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Tây sang phương Đông đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đề chung nhất của con người.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Luận văn: Quan niệm của ARITOTLE về nhà nước trong tác phẩm Chính trị luận

LUẬN VĂN: QUAN NIỆM CỦA ARITOTLE VỀ NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM CHÍNH TRỊ LUẬN

Luận văn: Quan niệm của ARITOTLE về nhà nước trong tác phẩm Chính trị luận
Khi nghiên cứu vai trò của triết học đối với đời sống con người, Aristotle - nhà triết học Hy Lạp cổ đại vĩ đại đã nói: “Các khoa học thì cần thiết, nhưng triết học thì tốt” đối với con người. Triết học ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu của con người và đặt ra vấn đề giải quyết các lĩnh vực của đời sống thực tiễn, chính vì lẽ đó các nhà thánh nhân khai sáng ra triết học đã không ngừng tìm kiếm con đường để dẫn đến “đạo” và thực hành “đạo”, và Aristotle cũng không phải ngoại lệ.
Trong nhiều lĩnh vực triết học thì vấn đề chính trị - xã hội được xem là vấn đề quan trọng hàng đầu, đó là những quan điểm, phương pháp để hướng con người đạt đến xã hội lý tưởng, nhà nước lý tưởng, nó đòi hỏi các nhà triết gia phải có tầm hiểu biết và sự ảnh hưởng của bản thân để sáng tạo, tìm tòi, và vận dụng các học thuyết chính trị đó vào trong cộng đồng chính trị cụ thể. Trong triết học Phương Tây, nếu Socrates được xem là người đặt nền móng cho việc chuyển nền triết học tự nhiên sang nền triết học nhân bản, triết học về con người, thì Aristotle lại được xem là ông tổ của chính trị học Phương Tây, đặt ra nền móng cho việc nghiên cứu lý luận chính trị phương Tây.
Là một nhà bác học, Aristotle đã để lại cho hậu thế một kho tàng tư tưởng về nhiều phương diện như triết học, khoa học, toán học, thiên văn học và chính trị học. “Chính trị luận” là một trong những tác phẩm kinh điển của Aristotle về triết lý và ý thức chính trị của phương Tây và trên nền tảng này những lý thuyết khác của Cicero, Augustino, Aquines (trung cổ), Hobbs, Reuseau, John Locke đã được xây dựng và phát triển. Mãi cho tới hiện nay tác phẩm “Chính trị luận” vẫn còn là một trong những tác phẩm mà những học giả, người học phải đọc và nghiên cứu trong các khoa học triết học, chính trị nó được giới học giả thế giới công nhận là một trong những quyển sách vĩ đại của nhân loại.
Xem thêm

128 Đọc thêm

NGHE THUAT TAO HANH PHUC DUC DAT LAI LAT MA TT THICH TAM QUANG DICH

NGHE THUAT TAO HANH PHUC DUC DAT LAI LAT MA TT THICH TAM QUANG DICH

Hạnh phúc. Một câu hỏi lớn trước nhân loại, chẳng phải thời nay mà đã có từ thời thượng cổ. Nhân loại đã đổ không biết bao xương máu, trải qua bao cuộc chiến tranh, ở đâu đó, ở góc độ nào đó, đều liên quan đến hạnh phúc. Hạnh phúc không từ trên trời rơi xuống. Hạnh phúc và gian khổ là hai mặt của một vấn đề.
Trong thế giới cận đại và hiện đại, người ta đã tốn không ít công sức, giấy mực viết về đề tài này, từ người bình dân tới văn nghệ sĩ, đến các nhà khoa học, các học giả, các nhà triết học và vân vân... Các tôn giáo cũng luôn đề cập đến đề tài này. Nhưng có lẽ đây là cuốn sách hiếm có, một góc độ lạ lùng nhìn vào vấn đề hạnh phúc. Và tôi phải thú thật rằng , đây là một sự kết hợp ĐôngTây tuyệt đẹp; một nhà tâm lý học Phương Tây Bác sĩ Howard C. Cutler trình bày vấn đề hạnh phúc dưới lăng kính Phật Giáo Phương Đông mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đại diện.
Xem thêm

160 Đọc thêm

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC TRẦN ĐỨC THẢO

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC TRẦN ĐỨC THẢO

“ Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” 15 tr.489 “ Muốn nâng cao trình độ tư duy lý luận không có cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời trước”. 15 tr.489.
Phriđrích Ăngghen lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, người đã cùng Các Mác sáng tạo ra thế giới quan mới của giai cấp công nhân đã khẳng định vai trò quan trọng của tư duy lý luận trong việc nghiên cứu và khám phá thế giới tự nhiên cũng như chính bản thân con người. Bởi lẽ giá trị của triết học không chỉ dừng lại ở sự vĩ đại khi nghiên cứu về giới tự nhiên một cách toàn diện, sâu sắc mà thông qua việc nghiên cứu đó thì tinh thần con người cũng trở nên vĩ đại và có khả năng hợp nhất với vũ trụ. Sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất mà triết học mang lại cho con người. Chính vì lẽ đó mà triết học đã khẳng định được giá trị to lớn của mình ở các nền văn minh lớn của nhân loại.
Việt Nam nằm giữa hai trung tâm triết học lớn của thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ. Hệ thống triết học phương Đông và phương Tây có điều kiện truyền bá vào nước ta từ sớm. Ở thời hiện đại, do yêu cầu của việc giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, trào lưu triết học MácLênin được truyền bá mạnh mẽ vào nước ta. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của tư duy triết học Việt Nam.
Xem thêm

66 Đọc thêm

Đề cương ôn thi môn chính trị

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ

Câu 1. Phân tích khái niệm vật chất? Rút ra ý nghĩa vè mặt phương pháp luận.
Trả lời:
Quan niệm chủ nghĩa duy vật trước Mác.
Thời cổ đại: Các nhà duy vật phương đông cũng như phương tây đều có xu hướng đi tìm khởi nguyên vũ trụ từ một dạng vật thể nào đấy
+ ở phương tây talét cho là nước, anaximen cho là không khí, hêraclit cho là lửa, đêmôcrit cho la nguyên tử
+ ở phương đông: charơvác cho là 4 yếu tố: đất,nước, không khí, lửa.Phái ngũ hành cho là 5 yếu tố: kim, mộc,thủy, hỏa, thổ…
Họ xem đó là vật nguyên thủy, có trước,sinh ra mọi vật gọi đó là vật chất.
Thời cận đại: lịch sử triết học đã xác nhận công lao to lớn của các nhà triết học duy vật thời kỳ này như: Becơn, hốp xơ, xpinôda, điđrốp, hôn bách…họ đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển quan niệm về vật chất.Chẳng hạn xpinôda quan niệm về vật chất như là nguyên nhân về bản thân nó với số những thuộc tính vốn có.Hôn bách thì cho rằng vật chất là tất cả những gì tác động vào giác quan ta, những đặc tính khác nhau của các chất mà ta biết được là nhờ cảm giác.
Cuối thế kỷ 19 đầu thé kỷ 20 người ta phát hiện ra dạng mới của vật chất như dạng trường, dạng hạt.
Quan niệm của chủ nghĩa Mác lê nin.
Mác và Ăng –ghen tuy chưc đưa ra định nghĩa về vật chất nhưng tư tưởng cơ bản về vật chất đã được 2 ông đề cập đến. Hai ông nêu ra tư tưởng: đối lập giữa vật chất và ý thức, tình thống nhất của thế giới, tính khái quát của phạm trù vật chất
Trên cơ sở kế thừa và tư tưởng của Mác va Ăng ghen Lê – nin đã đưa ra một định nghĩa khoa học về phạm trù vật chất như sau:
“Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cản giác của chúng ta chép lại chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Xem thêm

9 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MẶC GIA

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MẶC GIA

Nói về triết học, Hồ Thích trong cuốn Trung Quốc triết học sử đại cương đã cho rằng: “ Phàm nghiên cứu những vấn đề thiết yếu, từ nguồn gốc của nhân sinh để tìm ra một giải quyết căn bản, ta gọi đó là triết học”. Trên thế giới, Triết học có thể được chia làm 2 nền tư tưởng chính. Đó là: triết học phương Đông và phương Tây. Trong đó triết học phương Đông là một nền triết học cổ đại, mang tính chất hướng vào nội tâm để tìm ra sự giải thoát cho bản thân và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng xã hội. Triết học phương Đông lại mang hai nền tư tưởng chính là tư tưởng của triết học Ấn Độ và triết học Trung Hoa.
Mặt khác, từ khi con người xuất hiện thì đã có rất nhiều sự vật, hiện tượng theo đó mà ra đời. Tuy xuất hiện rất muộn so với con người nhưng triết học,tôn giáo hay các học thuyết đã trở thành người bạn đồng hành gắn liền và đi đôi với con người trong việc giúp họ giải thích những hiện tượng mà trước giờ chưa có lời giải đáp và chứng minh của khoa học. Trên khắp thế giới, có rất nhiều học thuyết và tôn giáo được nhiều người tín ngưỡng và đi theo, các học thuyết này hình thành và phát triển sâu rộng thành cả một hệ thống lịch sử lâu đời mà điển hình là triết học phương đông và phương tây. Cụ thể là các học thuyết ở phương đông mà nổi bậc là học thuyết Mặc gia thuộc đạo giáo của trung hoa. Thuyết Mặc gia với hạt nhân tư tưởng của Mặc Tử là thuyết “kiêm ái”( thương yêu con người).khi nghiên cứu, thuyết này sẽ cho chúng ta những cái nhìn bổ ích về cuộc sống như cách đối nhân thế, cách yêu thương con người và được con người thương yêu.

Khi nghiên cứu thuyết Mặc gia sẽ có rất nhiều đối tượng nghiên cứu mà chúng ta cần nhắm đến, cụ thể đó là những nội dung cốt lõi của học thuyết mà trong đó nổi bậc là hạt nhân tư tưởng của học thuyết – thuyết “ kiêm ái”. Bên cạnh đó những vấn đề xoay quanh học thuyết như là lai lịch và tư tưởng của tác giả, hoàn cảnh ra đời, giá trị tư tưởng và những nhận định xoay quanh học thuyết cũng cần được quan tâm.

Việc nghiên cứu một học thuyết có thể được người ta tiến hành với nhiều mục đích khác nhau.Nghiên cứu thuyết Mặc gia cũng vậy, chúng ta có thể thông qua việc nghiên cứu để hiểu rõ thêm về triết học cũng như đạo giáo trung hoa hay rộng hơn là các tư tưởng của phương đông. Cho chúng ta cái nhìn khái quát và sâu rộng hơn về lịch sử ra đời và quá trình hình thành của học thuyết. Việc này giúp chúng ta bổ sung một lượng lớn kiến thức cho bản thân, và đặc biệt là chúng ta có thể dễ dàng vận dụng những gì có được từ học thuyết vào cuộc sống, từ đó sử dụng triệt để lợi ích mà học thuyết mang lại.

Xoay quanh thuyết Mặc gia có rất nhiều khía cạnh cần chúng đề cập tới, tuy nhiên đối với một phạm vi khá rộng thì khó mà có thể thông qua hết. vì thế mà phạm vi nghiên cứu của tiểu luận chỉ đề cập tới những nội dung gần với học thuyết nhất . Bao gồm những gì được đề cập về học thuyết trong lịch sử triết học phương đông, đạo giáo hay các học thuyết có nội dung liên quan đến tư tưởng cốt lõi của học thuyết là thuyết “ kiêm ái”. Ngoài ra chúng ta còn phải mở rộng ra ngoài thực tế cuộc sống để có được những kết quả thực tế nhất.
Đối với việc nghiên cứu một học thuyết thì phương pháp nghiên cứu cũng cực kỳ quan trọng. Ở đây, khi khai thác thuyết Mặc gia các phương pháp nghiên cứu tài liệu như là so sánh, phân tích được áp dụng một cách triệt để nhất. ngoài ra còn có tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn, việc này đem lại cho chúng ta nguồn thông tin từ nhiều khía cạnh và quan trọng là cho chúng ta những cái nhìn khách quan về học thuyết đang ngiên cứu. còn về cách thức làm việc thì, làm việc nhóm là một trong những lựa chọn hữu hiệu vì nhóm là nơi có những ý tưởng và lượng kiến thức rộng hơn so với cá nhân rất nhiều. Như thế sẽ giúp đề tài nhanh chóng hoàn thiện và chất lượng cao hơn.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Tiểu luận: Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

TIỂU LUẬN: NGUỒN LỰC CON NGƯỜI - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học,... Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người. Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng. Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hay vấn đề kia. Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc lý giải về con người. Mặt khác trong khi giải quyết những vẫn đề trên, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau: quan điểm duy vật hoặc duy tâm, quan điểm triết học phương Đông hoặc phương Tây, phương pháp biện chứng hoặc siêu hình,... 1. Quan điểm triết học về con người trong lịch sử Đề cập đến vấn đề con người các nhà triết học tự hỏi: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?... Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ. Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài, chỉ đứng sau thần linh. Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn. Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng phần hồn là do thượng đế sinh ra, quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định, chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện. Càng ngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con người và không ngừng khắc phục lý luận trước đó. Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con người trên cơ sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển. Chủ nghĩa duy vật máy móc coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật cổ. Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan, coi cái tôi và cảm giác của cái tôi là trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, cái tôi không có khả năng vượt qua cảm giác của mình nên về bản chất là nhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc vào “đấng tối cao”. Các nhà triết học một mặt đề cao vai trò sáng tạo của lý tính người, mặt khác coi con người là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh. Nhìn chung, các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người. Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này quan điểm của Platon thời Cổ đại Hy Lạp, R.Descartes trong nền triết học Pháp thời Cận đại và F.Hegel trong nền triết học Cổ điển Đức. Hegel quan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do đó đời sống con người chỉ được xem xét về mặt tinh thần song Hegel cũng là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần cá nhân. Đồng thời Hegel cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó. Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên. Với Platon, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, còn với R.Descartes, đó là bản tính khi kinh nghiệm (apriori) của lý tính tuyệt đối... Đối lập với các nhà triết học duy tâm, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn giác
Xem thêm

22 Đọc thêm