CÔNG PHÁP VÀ TƯ PHÁP TRONG HIẾN PHÁP TBCN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCN":

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ

Bài tập cá nhân Công pháp Quốc tế – Tòa án công lý quốc tếTrong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa là yêu cầuhàng đầu đặt ra với mỗi quốc gia kèm theo đó là sự gia tăng của quan hệ hợp tácquốc tế. Bên cạnh đó, tồn tại một cách tất yếu như mặt trái của quan hệ hợp tác giữacác quốc gia là tranh chấp quốc tế cũng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêmtrọng đòi hỏi phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên các nguyên tắc,quy phạm của Luật Quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình,an ninh quốc tế. Một trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế làgiải quyết thông qua cơ quan tài pháp quốc tế. Không giống với các biện pháp hòabình giải quyết tranh chấp quốc tế khác, giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tàiphán quốc tế là cách thức giải quyết tranh chấp bằng phương pháp, thủ tục tư pháp.Về tổng thể các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu ở ba dạng là Tòa án Quốctế, Trọng tài quốc tế và cơ quan tài phán được thành lập trong khuôn khổ tổ chứcquốc tế mà trong phạm vi bài tiểu luận này em xin đề cập đến dạng thức đầu tiên đólà Tòa án công lý quốc tế.Nội dungI. Khái quát chung về Tòa án quốc tế (The International Court of Justice – ICJ)Tiền thân của Tòa án Công lý Quốc tế (The International Court of Justice – ICJ) làTòa án Thường trực Công lý Quốc tế (The Permanent Court of International Justice– PCIJ) – vốn là tòa án của Hội Quốc Liên ra đời vào năm 1922. Tòa PCIJ tồn tạicùng với sự tồn tại của Hội Quốc Liên cho tới khi UN được thành lập và ICJ ra đờithay thế cho PCIJ vào năm 1946.Tòa án Công lý quốc tế được thành lập và hoạt động trên cơ sở Hiến chương Liênhợp quốc và Quy chế Tòa án Công lý quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc dànhtoàn bộ Chương XIV từ Điều 92 đến Điều 96 để quy định những vấn đề cơ bản vềtổ chức, thẩm quyền và hoạt động của Tòa. Quy chế Tòa án Công lý quóc tế gồm 70điều được coi là một phần phụ lục gắn bó hữu cơ với Hiến chương Liên hợp quốc.Trụ sở của ICJ đặt tại La Hay, Hà Lan.1.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về Quyền con người

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ -PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THEO TINH THẦN MỚI CỦA HIẾN PHÁP 2013 VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Trong những năm áp dụng BLTTHS 2003 nói chung cũng như quy định về BPNC nói riêng, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu thể hiện ý kiến đánh giá về thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị. Đặc biệt là từ khi Hiến pháp 2013 được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày vào sáng ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, sau đó là thực hiện Kế hoạch xây dựng dự án BLTTHS do Quốc hội giao nhiệm vụ cho Ban Soạn thảo BLTTHS (sửa đổi), có một số công trình nghiên cứu đưa ra ý kiến kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTHS 2003 để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013 để đảm bảo QCN khi áp dụng các BPNC trong tố tụng hình sự.
BPNC chính là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu như cuốn sách “Chế định các BPNC theo luật tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả TS. Nguyễn Trọng Phúc(2003), Luận án tiến sỹ: “Các BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Văn Điệp, Luận văn thạc sĩ “ Đảm bảo QCN trong áp dụng các BPNC của tố tụng hình sự”(2004) của tác giả Lại Văn Trình.... Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết khác về BPNC được đăng trên các tạp chí Luật học, Tạp chí TAND, Tạp chí Kiểm sát, Khoa học Pháp lý,... như: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những BPNC” của tác giả Mai Bộ (2007); “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC” của tác giả Vũ Gia Lâm (2012); “Những vướng mắc trong việc áp dụng các BPNC theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa đổi bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012); “ Hiến pháp 2013 và việc hoàn thiện BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong TTHS” của tác giả Nguyễn Ngọc Chi (2014),….
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy: các tài liệu và công trình nghiên cứu này có đề cập đến việc dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC ở nước ta để từ đó đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi BLTTHS 2003 cho phù hợp với tình hình mới nhưng chưa đề cập được một cách có hệ thống các lý luận cũng như phương hướng hoàn thiện vấn đề áp dụng BPNC trong BLTTHS theo tinh thần Hiến pháp 2013 về QCN. Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về QCN” với mong muốn tạo ra một cơ sở tham khảo để đề xuất hoàn thiện BLTTHS tới đây về vấn đề áp dụng các BPNC theo tinh thần của Hiến pháp 2013 về đảm bảo QCN, góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách về đổi mới tư pháp ở nước ta.
Xem thêm

95 Đọc thêm

Vai trò của kiểm toán nhà nước trong kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng

Vai trò của kiểm toán nhà nước trong kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong những yêu cầu mang tính tất yếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Đọc thêm

Đề cương thể chế chính trị 2

ĐỀ CƯƠNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ 2

Câu 1: Phân tích CĐCT theo Hiến pháp 2013
Chế độ chính trị của nước Cộng hòa XHCNVN được trình bày trong chương I của bản hiến pháp 2013.
Điều 1 của Hiến pháp khẳng định Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Khẳng định quan điểm: Quyền lực Nhà nước là thống nhất, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là từ nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền, thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng nhà nước.
Hiến pháp 2013 thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bổ sung và phát triển nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) theo tinh thần của Cương lĩnh. Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền để các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp và pháp luật, tránh việc lợi dụng, hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lắp trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước giữa các cơ quan. Nguyên tắc này đã được thể hiện trong các Chương V, VI, VII, VIII và IX của Hiến pháp và tạo cơ sở hiến định cho việc tiếp tục thể chế hóa trong các quy định của các luật có liên quan. Mặc dù có sự phân định nhưng cả 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau mà ràng buộc, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn mà nhân dân giao mỗi quyền được Hiến pháp quy định.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếpđược ghi nhận và phát triển thành nguyên tắc trong Hiến pháp.Theo đó, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6) mà không chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1992. Nguyên tắc này được thể hiện nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp, từ chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đến các thiết chế trong bộ máy nhà nước cũng như trong việc sửa đổi Hiến pháp.
Hiến pháp khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đồng thời, Hiến pháp đã bổ sung vào Điều 4 quy định về trách nhiệm của Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Bên cạnh đó, Hiến pháp không chỉ khẳng định các tổ chức của Đảng mà còn quy định trách nhiệm của đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Hiến pháp tiếp tục khẳng định “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). Sự bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tham gia bảo vệ Tổ quốc; mỗi người dân các dân tộc thiểu số có quyền sống, làm việc theo pháp luật; ngoài quyền ứng cử, còn có quyền bầu cử những người thay mặt mình tham gia vào cơ quan đại diện của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp, mỗi người dân đều bình đẳng trước pháp luật về hình sự, dân sự, kinh tế, luật nghĩa vụ quân sự... Như vậy, quyền bình đẳng này đã trở thành một trong những nội dung quan trọng của bản chất ưu việt chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta; thể hiện rõ ràng, kiên định là: Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Đảng ta, Nhà nước ta đã dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền các dân tộc nên đã có chủ trương, chính sách dân tộc đúng đắn, những nội dung quy định trong Hiến pháp là thể chế các nguyên tắc cơ bản: các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng nhau, giúp nhau cùng phát triển, các nội dung này không tách rời mà có quan hệ khăng khít với nhau, tác động lẫn nhau, thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển, có thực sự bình đẳng thì mới càng phát huy được tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em. Về VHXH các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy các phong tục tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của DT
Tiếp tục khẳng định và thể hiện rõ hơn tư tưởng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cụ thể, Hiến pháp tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1992 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân nhưng bổ sung vai trò của Mặt trận trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát, phản biện xã hội; đồng thời tiếp tục khẳng định trách nhiệm của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 9). Tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1992 về Công đoàn, Hiến pháp đã bổ sung vai trò, trách nhiệm của Công đoàn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước (Điều 10). Bên cạnh đó, Hiến pháp có sự bổ sung, phát triển quan trọng trong việc ghi nhận vị trí, vai trò của Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị xã hội nòng cốt trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoản 2 Điều 10).
Hiến pháp nước CHXHCNVN đã sửa đổi, bổ sung chính sách đối ngoại của nước ta cho phù hợp với tình hình mới; khẳng định nước CHXHCNVN thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên; là bạn, đối tác tin cậyvà thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới (Điều 12).
Xem thêm

16 Đọc thêm

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo

NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC ĐẢM BẢO

Trong số các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”. Đây là một trong những đổi mới đáng chú ý vì lần đầu tiên Hiến pháp đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Nó không chỉ là phương tiện, là cách thức để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật khách quan mà còn là cách thức nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử được coi là một trong những khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong quan hệ tố tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử nâng cao năng lực, trình độ, hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Bài tập cá nhân luật Hiến pháp: phân loại hiến pháp

BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT HIẾN PHÁP: PHÂN LOẠI HIẾN PHÁP

Bài tập cá nhân Luật Hiến pháp: Phân loại Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, nó xác định những điều cơ bản nhất, quan trọng nhất của nhà nước và xã hội như chính trị, kinh tế xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, đối ngoại, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiện nay trên thế giới có khoảng 190 nước có Hiến pháp và sự hiện diện của Hiến pháp được xem là dấu hiệu pháp lý không thể thiếu của một nhà nước dân chủ hiện đại. Trên thực tế, ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ, Hiến pháp có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các nguyên tắc khác nhau.

1. Căn cứ vào bản chất của Hiến pháp thì Hiến pháp được chia thành Hiến Pháp Tư sản và Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp tư sản là hiến pháp của nhà nước tư sản hay các nước phát triển theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Nó có đặc điểm là đều trực tiếp hay gián tiếp tuyên bố bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, quyền sở hữu tư nhân là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Hiến pháp tư sản tập trung nói về ba cơ quan Nhà nước Quốc Hội (lập pháp), Chính Phủ(hành pháp) và tòa án xét xử(tư pháp) theo xu hướng công nhận học thuyết “Tam quyền phân lập”

Hiến pháp XHCN vì ra đời sau nên đã tiếp thu những hạt nhân dân chủ của hiến pháp tư sản tuy nhiên vẫn có đặc điểm khác: Trong tổ chức bộ máy nhà nước phủ nhận học thuyết “Tam quyền phân lập”, áp dụng nguyên tắc tập trung thống nhất vào Quốc Hội; Thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn thể nhân dân mà đặc biệt là các cơ quan dân cử, cơ quan đại diện trong nền dân chủ XHCN. Hiến pháp XHCN ghi nhận khẳng định và củng cố các quan hệ sản xuất mà nó có nhiệm vụ bảo vệ, đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, ghi nhận và củng cố các nguyên tắc cơ bản của đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc XHCN, đường lối đối ngoại hòa bình hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc thể hiện tính chất nhân đạo. tính nhân văn sâu sắc của chế độ mới đồng thời ghi nhận, khẳng định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xác định một cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Căn cứ vào thủ tục sửa đổi, thông qua Hiến pháp thì Hiến pháp được chia thành Hiến pháp cương tính và Hiến pháp nhu tính.

Hiến pháp cương tính là hiến pháp có những ưu thế đặc biệt được phân biệt giữa quyền lập hiến, quyền nguyên thuỷ với quyền lập pháp, quyền được thiết lập từ quyền nguyên thuỷ. Hiến pháp với những ưu thế của mình phải được một cơ quan đặc biệt thông qua gọi là quốc hội lập hiên, đồng thời trình tự thông qua từ đầu đến các lần sửa đổi bổ sung trong qua trình thực thi hiến pháp được tiến hành theo một thủ tục đặc biệt và khá phức tạp

Hiến pháp nhu tính: Là hiến pháp có thể sửa đổi hay được sửa đổi bới chính cơ quan lập pháp theo thủ tục thông qua các đạo luật bình thường. Nói như thế có nghĩa là Hiến pháp không có tính ưu thế, không có sự phân biệt đẳng cấp giữa hiến pháp và các đạo luật khác mặc dù đối tượng điều chỉnh của chúng có tầm đặc biệt khác nhau

3. Căn cứ vào hình thức thể hiện thì Hiến pháp được chia thành Hiến pháp thành văn và Hiến pháp không thành văn.

Hiến pháp thành văn chiếm tuyệt đại đa số hiến pháp của các nước trên thế giới. Các quy định của hiến pháp được viết thành văn bản nhất định, thường hết sức ngắn gọn, dễ đọc và dễ hiểu. Bản Hiến pháp nhất thiết phải được nhà nước tuyên bố hoặc ghi nhận là đạo luật cơ bản của nhà nước. Ví dụ như Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992.

Hiến pháp không thành văn là tổng thể các văn bản pháp luật, các quy phạm pháp luật được hình thành theo tập tục truyền thống, các án lệ tòa án tối cao có liên quan đến việc tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng không được tuyên bố hoặc công nhận là đạo luật cơ bản của nhà nước. Hiện nay chỉ có 3 nước có hiến pháp không thành văn là Anh, New Zealand và Isarael

4. Căn cứ vào tính chất, nội dung của các quy định chưa đựng trong Hiến pháp thì gồm có Hiến pháp hiện đại và Hiến pháp cổ điển (có thể gọi đây là cách phân loại theo thời gian).

Híên pháp hiện đại bao gồm phần lớn các Hiến pháp được thông qua sau chiến tranh thế giới lần 1 và lần 2 qua đi. Chức năng chủ yếu là bảo vệ, củng cố địa vị giai cấp tư sản( như các bản Hiến pháp của Đức, Áo, Bỉ…). Sau chiến tranh thế giới lần 2, nhiều Hiến pháp được thông qua với việc khẳng định độc lập chủ quyền của nhiều dân tộc thoát khỏi ách thống trị của các đế quốc thực dân. Phần lớn cá bản Hiến pháp này vẫn còn giá trị pháp lý đến tận bây giờ.

Hiến pháp cổ điền là hiến pháp được thông qua từ lâu trong những điều kiện khác xa ngày nay. Nhưng những hiến pháp này vẫn còn hiệu lực pháp lý cho đến ngày nay nhờ có thêm những chỉnh lý, những tập tục truyền thống hiện đại. Khuôn mẫu điển hình của Hiến pháp này là Hiến pháp Mỹ với sức sống hơn 200 năm, Hiến pháp của Vương quốc Nauy được thông qua năm 1814, có sức sống hơn 100 năm; của Vương quốc Bỉ năm 1831; của Liên bang Thuỵ Sỹ năm 1874… Hiến pháp này không phản ánh kịp thời tiến bộ nhân loại, lạc hậu nên chúng chỉ chứa đựng một số hạn chế các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cáh thức tổ chức và hoạt động, thẩm quyền của các cơ quan trung ương Nhà nước. Về nội dung dân chủ thì đa số đều không có gì tiến bộ.

Trên đây là một số cách phân loại Hiến pháp trong lịch sử lập hiến thế giới. Tuy nhiên, cho dù được thể hiện dưới hình thức nào đi chăng nữa thì Hiến pháp vẫn luôn được coi là đạo luật cơ bản, quy định những vấn đề quan trọng nhất của nhà nước đồng thời thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội, củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trên mọi lĩnh vực.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tổng quan nội dung lớn sửa đổi BỘ luật TTHS

TỔNG QUAN NỘI DUNG LỚN SỬA ĐỔI BỘ LUẬT TTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Bộ luật gồm 510 điều, được bố cục thành 9 phần, 36 chương, trong đó, bổ sung mới 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều. Đây là đạo luật quan trọng do Viện kiểm sát nhân dân tối cao được giao chủ trì soạn thảo, liên quan trực tiếp đến công cuộc đấu tranh chống tội phạm, đến các quyền cơ bản nhất của con người, của công dân, do đó yêu cầu đặt ra được quán triệt trong suốt quá trình soạn thảo là phải thể chế hóa đầy đủ, sâu sắc chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Hiến pháp năm 2013, phải thực sự công tâm, khách quan, vì cuộc sống bình yên của nhân dân, vì những giá trị văn minh, tiến bộ của nền tư pháp. Mọi ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn đã được tiếp thu, thể hiện đầy đủ trong Bộ luật này. Bộ luật Tố tụng hình sự đã được Quốc hội thông qua với sự đồng thuận rất cao (trong tổng số 86% đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết, có 85,63% đại biểu biểu quyết tán thành).
Xem thêm

11 Đọc thêm

Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản

NGUYÊN TẮC PHÂN QUYỀN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ SẢN

Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản

Trong lịch sử phát triển của xã hội, trước khi nhà nước tư sản và nhà nước xã hôi chủ nghĩa ra đời,mọi quyền lực nhà nước được tập trung vào trong tay một người hoặc một cơ quan. Đây chính là căn nguyên của sự độc tài, chuyên chế trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Để chấm dứt chế độ này và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân chủ, một học thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là học thuyết tam quyền phân lập hay học thuyết phân chia quyền lực. Học thuyết này là cơ sở của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản.

NỘI DUNG

I.Khái niệm về nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của nhà nước tư sản.

Trước hết ta phải hiểu nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là gì? Đó là sự khởi nguồn xuyên suốt, chuẩn mực những nguyên lí, tư tưởng, đạo lí, quan điểm để chỉ đạo việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Và nguyên tắc phân chia quyền lực của ngà nước tư sản là một mô hình quản lí nhà nước với mục tiêu kiềm chế quyền lực để hạn chế lạm quyền, bảo vệ tự do và công bằng pháp luật. Thuyết phân chia quyền lực được nghiên cứu và được đề cập bởi nhiều nhà khoa học với nhiều quan điểm khác nhau, điển hình là quan điểm của Montesquieu trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”1 xuất bản năm 1748. Theo ông quyền lực nhà nước bao gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong đó, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình, nếu cả ba thứ quyền lực này tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan sẽ tạo ra sự lạm dụng quyền lực, là nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm các quyền công dân và quyền con người. Nên theo ông phải tổ chức bộ máy nhà nước sao cho quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được phân chia cho ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương tác lẫn nhau trong đó quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về chính phủ, quyền tư pháp thuộc về tòa án. Từ đó góp phần loại trừ được nguy cơ tập trung tất cả quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực và đồng thời hạn chế quyền lực của nhà nước. Sự hạn chế quyền lực nhà nước có thể hiểu là hạn chế về quyền hạn và phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như việc chịu trách nhiệm về các hành vi, việc làm của các cơ quan ấy.Vì vậy trong nhà nước, sự phân công quyền lực càng rõ ràng thì sự ỷ lại vào nhau của các cơ quan, cá nhân càng ít đi và trách nhiệm cá nhân càng tăng lên. Bên cạnh đó các cơ quan Nhà nước không những ngang bằng độc lập với nhau mà còn kiềm chế, đối trọng lẫn nhau trong quá trình hoạt động theo nguyên tắc: “quyền lực ngăn cản quyền lực”. Nhờ cơ chế này mà không cơ quan nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn át hoàn toàn hoạt động của cơ quan khác. Đồng thời không cơ quan nào, tổ chức nào đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật; nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát từ phía cơ quan nhà nước khác.Có thể nói ưu điểm quan trọng nhất của học thuyết tam quyền phân lập là vừa hạn chế sự chuyên quyền, độc đoán trong thực hiện quyền lực nhà nước vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân.

Tuy vậy sự phân chia quyền lực ở nhà nước tư sản không những không làm ảnh hưởng đến việc thống nhất quyền lực mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất quyền lực nhà nước.Cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tuy độc lập với nhau nhưng đều nằm trong một thể chế thống nhất là quyền lực nhà nước. Sự phân chia ở đây là phân chia các mặt, khâu trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước, mỗi cơ quan chuyên đảm nhận một mắt, khâu nào đó nhưng vẫn có sự liên hệ khăng khít với nhau đảm bảo cho quyền lực nhà nước là thống nhất và được thực thi hiệu quả. Sự thống nhất không những không đối lập với việc phân chia, phân nhiệm mà ngược lại đòi hỏi phân chia rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, khi đó mới có thể tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn hoặc tranh giành quyền lực của nhau, từ đó các hệ thống cơ quan mới có sự phối hợp, hỗ trợ để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà không cản trở lẫn nhau. Một khi từng cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ kéo theo sự hoạt động nhịp nhàng, khoa học, thống nhất của bộ máy nhà nước. Đây chính là hạt nhân hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước cũng như nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước tư sản.

II. Sự vận dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở một số nước tư sản điển hình:

Từ khi ra đời đến nay học thuyết phân chia quyền lực ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các nước tư bản hiện nay hầu hết đều tiếp thu học thuyết này và đã ghi nhận việc phân chia quyền lực trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng và đặc trưng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc áp dụng nguyên tắc phân quyền vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản là khác nhau tùy thuộc vào từng loại chính thể; có thể là “cứng rắn”trong chính thể cộng hòa tổng thống như Hoa Kì, Philippin… và “mềm dẻo ” trong chính thể đại nghị như Anh, Nhật…; có thể là trung gian giữa hai mức độ ấy trong chính thể cộng hòa hỗn hợp như Pháp, Nga…

1.Vận dụng nguyên tắc phân quyền một cách rạch ròi, triệt để trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong chính thể cộng hòa tổng thống mà điển hình là Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một nhà nước áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách triệt để sự phân chia rạch ròi quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.Trong đó quyền lập pháp trao cho Quốc hội, quyền hành pháp trao cho tổng thống và quyền tư pháp trao cho tòa án.

Sự phân định rõ ràng giữa Lập pháp và Hành pháp: Theo quy định của Hiến pháp thì lập pháp được hình thành lập độc lập với hành pháp: Nghị viện được thành lập do bầu cử thông qua cử tri bầu ra. Đồng thời tổng thống cũng do nhân dân bầu cử trực tiếp và không phụ thuộc vào bầu cử Quốc hội, tổng thống có toàn quyền quyết định nhân sự trong Chính phủ: lựa chọn, bổ nhiễm, miễn nhiệm Bộ trưởng...Ngoài ra để đảm bảo tính chất phân quyền một cách triệt để Hiến pháp Hoa Kỳ còn quy định: Tất cả quyền lập pháp thuộc về Quốc hội Hoa Kỳ bao gồm hai viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện và quyền hành pháp chỉ giao cho một người đó là tổng thống.Tổng thống cũng như Chính phủ không có quyền sáng lập, xây dựng luật, không phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cả Quốc hội và Chính phủ đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng.Tổng thống không có quyền giải tán quốc hội và quốc hội cũng không có quyền lật đổ tổng thống.

Sự độc lập của tư pháp với hành pháp và lập pháp: Toà án độc lập với chính quyền hành pháp và lập pháp.Trong nhà nước Hoa Kỳ tư pháp là một nhánh quyền lực rất được đề cao.Theo Hiến pháp quyền tư pháp được trao cho một pháp viện tối cao và các tòa án cấp dưới. Các thẩm phán đều có nhiệm kỳ suốt đời và có thể tập trung vào vấn đề công lý mà không bị các hoạt động chính trị của lập pháp và hành pháp chi phối. Không ai có quyền cách chức thẩm phán trừ trường hợp thẩm phán vi phạm pháp luật và bị thải hồi theo thủ tục đàn hạch.

Tuy nhiên các nhánh quyền lực có thể kiềm chế, đối trọng lẫn nhau: Các quyết định bổ nhiệm các cá nhân quan trọng trong bộ máy hành pháp và tư pháp của tổng thống phải được Quốc hội phê chuẩn.Tổng thống có quyền kiểm chế Quốc hội bằng quyền phủ quyết các dự luật mà hai viện thông qua. Nếu tổng thống không phê chuẩn thì Quốc hội phải thảo luận và dự luật được thông qua nếu có trên hai phần ba phiếu thuận. Quốc hội có quyền quyết định ngân sách hoạt động của Tổng thống và Tòa án. Quốc hội còn có quyền xét xử và buộc tội các quan chức cao cấp kể cả tổng thống theo tục “đàn hạch”. Bên cạnh đó Hiến pháp Hoa kỳ trao cho pháp viện tối cao và các tóa án có quyền tuyên bố các đạo luật đã được quốc hội ban hành là vi hiến không có hiệu lực thực thi, cũng như ngăn cấm các hành vi vi phạm hiến pháp của tổng thống.Tòa án là nơi cuối cùng có thể xác định nội dung các quy định của hiến pháp mà các cơ quan chính phủ có thể vượt quá giới hạn thẩm quyền.

Sự phân quyền còn được đưa vào để phân định về mặt nhân sự đảm nhiệm trong bộ máy nhà nước. Theo đó một cá nhân chỉ có thể được bổ nhiệm vào một trong ba cơ quan là: lập pháp, hành pháp, tư pháp.Ví dụ:Nếu là nghị sĩ thì sẽ không được bổ nhiệm làm bộ trưởng, thẩm phán hay các chức khác trong chính quyền hành pháp, tư pháp. Như vậy, qua việc phân tích các tổ chức và hạt động của bộ máy nhà nước tư sản Hoa Kì cho ta thấy nguyên tắc phân chia quyền lực được thể hiện rõ nét với sự vận dụng một cách cứng rắn của chính thể tổng thống.

2. Vận dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản ở chính thể quân chủ đại nghị mà điển hình là Anh:

Trong chính thể quân chủ đại nghị Anh quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về tòa án. Khác với những nhà nước áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn lập pháp và hành pháp được phân định rạch ròi thì trong nhà nước này giữa lập pháp và hành pháp có mối liên hệ với nhau hay còn gọi là sự phối kết hợp lẫn nhau: Nghị viện trong đó Hạ nghị viện thành lập do bầu cử trực tiếpHạ Nghị viện là viện có thực quyền trong Nghị viện. Chính phủ do Hạ nghị viện lập ra: Thủ tướng đứng đầu bộ máy hành pháp được hình thành trên cơ sở chiếm đa số ghế trong Hạ nghị viện có nghĩa là Thủ tướng cũng chính là thủ lĩnh của đảng cầm quyền. Các bộ trưởng đều là những nghị sĩ trong Hạ nghị viện do vua bầu ra. Bên cạnh việc lập pháp, nghị viện còn phải thành lập, giám sát các hoạt động của chính phủ. Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện, Hạ nghị viện có thể lật đổ chính phủ nếu như chính phủ không còn sự tín nhiệm của nó, đây chính là một đặc điểm quan trọng của sự hạn chế quyền lực trong nhà nước chính thể đại nghị, áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo. Trong quá trình hoạt động giữa lập pháp và hành pháp cũng có sự phối kết hợp lẫn nhau: Quyền sáng kiến pháp luật thuộc về chính phủ, chính phủ sẽ dự thảo các dự luật cho hạ nghị viện thảo luận và thông qua.

Tuy vậy, về mặt Hiến định chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện nhưng trên thực tế chính phủ được thành lập từ đảng phái chiếm đa số ghế trong hạ nghị viện với thủ tướng chính là thủ lĩnh của đảng cầm quyền trong nghị viện cho nên mọi quyết định của nghị viện cũng là của chính phủ, chính phủ bao giờ cũng khống chế nghị viện.Có thể nói chính phủ và hạ nghị viện chẳng khác nào hai cơ quan trực thuộc đảng cầm quyền trong đó hạ nghị viện do chính phủ toàn quyền định đoạt.Vì vậy sự phân chia quyền lực nhà nước giữa lập pháp và hành pháp theo nguyên tắc phân quyền không còn nữa, mà có chăng chỉ là sự phân chia giữa một đảng cầm quyền và một đảng đối lập có trách nhiệm.

Khác với việc kiềm chế, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước với nhau,các nhà nước theo chế độ đại nghị nói chung và nước Anh nói riêng thì cơ quan tối cao là Hạ nghị viện lại bị tiết chế ngay trong nội bộ của nó bằng hoạt động của các đảng đối lập: Vì đảng đối lập luôn tìm cách đánh bại để có cơ hôi thay thế chính phủ của đảng cầm quyền bằng cách gây nghi nghờ cho cử tri rằng các chính sách của chính phủ là sai lầm để có cơ hội chiếm đa số trong các cuộc tuyển cử của nhân dân.Ngoài ra đảng đối lập còn có quyền tham dự vào cuộc tranh luận chống đối các chính sách hay dở của chính phủ.Chính vì lẽ đó chính phủ cũng như hạ nghị viện bị hạn chế quyền lực của mình, chính phủ không thể quyết định một cách bừa bãi hay lạm quyền mà phải dè dặt trước những phản ứng hay ủng hộ của các dân biểu mà đặc biệt là của các đảng viên nghị sĩ đảng đối lập để duy trì vị trí cầm quyền trong bộ máy nhà nước cũng như phải bảo vệ đến lợi ích của các đảng đối lập để tránh việc các đảng đối lập gây hậu quả nghiêm trọng cho chính phủ và đảng cầm quyền.

3.Vận dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước tư sản với chính thể cộng hòa lưỡng tính mà điển hình là Pháp.

Đặc điểm của chính thể cộng hòa lưỡng tính là sự kết hợp các yếu tố của chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống.
Ở Pháp, quền lập pháp thuộc về Nghị viện; hành pháp thuộc về tổng thống và chính phủ; tư pháp thuộc về hệ thống tư pháp. Giữa Lập pháp và Hành pháp có mối quan hệ mật thiết hơn so với chính thể cộng hòa tổng thống nhưng vẫn kiểm soát, hạn chế quyền lực lẫn nhau: Nghị việncơ quan lập pháp được thành lập do bầu cử, cơ quan hành pháp bao gồm tổng thống và chính phủ, thủ tướng đứng đầu chính phủ, tổng thống do dân trực tiếp bầu ra và có quyền bổ nhiệm, phê chuẩn việc thành lập chính phủ. Tổng thống là trung tâm nền chính trị, bảo vệ hiến pháp và là trọng tài điều hòa hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tổng thống có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại các dự thảo luật đã thông qua đồng thời có quyền giải tán hạ nghị viện. Nghị viện có quyền giám sát các hoạt động của chính phủ còn chính phủ bao gồm các bộ trưởng và thủ tướng không những phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, mà còn chịu trách nhiệm thực sự trước Tổng thống. Nếu thủ tướng và các bộ trưởng không thực thi được các chính sách của tổng thống thì phải từ chức. Ngoài ra trong lĩnh vực lập pháp Nghị viện bị hạn chế quyền lập pháp của mình trong phạm vi nhất định được quy định trong hiến pháp. Còn những lĩnh vực khác thì do chính phủ dự thảo luật và ban hành(trên thực tế các dự án luật do các Nghị viện đề xuất ngày cáng ít đi còn từ phía chính phủ lại tăng lên)

Sự phân quyền trong phân định về mặt nhân sự đảm nhiệm trong bộ máy nhà nước của Pháp cũng giống như các nước cộng hòa tổng thống :những người nắm quyền lập pháp không thể được trao quyền hành pháp hoặc tư pháp. Điều này đã hạn chế được việc lạm dụng quyền lực, tạo cho cơ quan lập pháp có điều kiện để kiểm soát hoạt động của chính phủ và toàn bộ cơ quan hành pháp.

KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Như vậy, qua việc vận dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vào một số nước tư sản điển hình ta thấy tuy mỗi nước có mức độ áp dụng khác nhau tùy thuộc vào từng loại chính thể khác nhau nhưng tóm lại đều nhằm mục tiêu hạn chế quyền lực nhà nước, hạn chế sự lạm quyền…muốn vậy, trước hết là phải phân chia quyền lực rõ rang và sau đó làm cho các nhánh quyền lưc đã được phân chỉ hoạt động ở phạm vi pháp luật quy định. Hiện nay, các nước tư sản đang áp dụng nguyên tắc này vào quản lí nhà nước một cách hiệu quả.
Xem thêm

7 Đọc thêm

CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

I. Khái quát chung về Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan hợp thành bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Tòa án nhân dân có vị trí là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, khi xét xử Tòa án có trách nhiệm áp dụng đúng đắn pháp luật nhà nước, không bị rằng buộc bởi tác động nào, các cơ quan nhà nước khác. Qua các bản hiến pháp vị trí, tổ chức của Tòa án nhân dân ngày một rõ ràng và phù hợp hơn. Tòa án nhân dân được quy định tại chương VIII hiến pháp 2013 kế thừa những nội dung của hiến pháp năm 1992 đồng thời có những sửa đổi bổ sung quan trọng về Tòa án đã đáp ứng được yêu cầu của một nhà nước pháp quyền, dùng pháp luật để bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp 2013 đã tạo ra những triển vọng đồng thời cũng tạo ra những thách thức trong công cuộc cải cách tư pháp.

II. Chức năng của Tòa án
Nói đến chức năng của Tòa án nhân dân cũng như của các cơ quan nhà nước khác là xác định ra phương diện hoạt động của các cơ quan nhà nước đó. Đối với Tòa án nhân dân có nhiều hoạt động khác nhau nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là xét xử.
Theo điều 102 hiến pháp 2013:
1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo khoản 2 ở trên có thể thấy quy định này thể hiện rõ tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp 2013. Không chỉ ở Việt Nam mà con ở nhiều nước trên thế giới Tòa án được coi là một thiết chế trung tâm, đóng vai trò quan trọng trong việc xét xử các vi phạm quyền con người quyền, quyền công dân. Đây là nơi mọi người sẽ tìm được lẽ phải và sự thật, Tòa án chính là biểu tượng của công lý.
Như vậy có thể thấy Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành trính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người thì Tòa án là cơ quan trung gian giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Trong đó, bên gỡ tội gồm luật sư bào chữa, bị can, bị cáo và buộc tội là cơ quan thực hiện quyền công tố. Cụ thể đó là cơ quan điều tra , viện kiểm sát nhân dân , trong một số vụ án cụ thể thì người bị hại cũng là bên buộc tội. Trong đó bên buộc tội sẽ đưa ra những căn cứ để truy tố, buộc tội còn bên gỡ tội sẽ đưa ra các chứng cứ các lập luận, minh chứng chứng minh lập luận của mình là đúng. Tòa án nhân dân sẽ là cơ quan trung gian và phải lắng nghe cả hai bên không thể thiên vị bên nào, nếu bên nào chứng
Xem thêm

14 Đọc thêm

tiểu luận cao học Về nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN CAO HỌC VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP QUYỀN LỰC GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội trong tất cả các thời đại. Theo suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại kể từ khi nhà nước ra đời đến nay đã có bốn kiểu nhà nước thay thế nhau và kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước. Giai cấp cầm quyền qua các thời đại đã dựa trên hai nguyên tắc cơ bản để tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước, đó là nguyên tắc tập quyền và nguyên tắc phân quyền.Tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước dân chủ dù được xây dựng trên bất cứ nguyên tắc nào đều phải đảm bảo những cơ sở pháp lý để nhà nước đó tiến hành có hiệu quả các hình thức hoạt động cơ bản đó là hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chỉ có trên cơ sở đó nhà nước mới thực hiện được đầy đủ các chức năng nhiệm vụ của mình.Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang từng bước tổ chức, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng đó luôn được khẳng định qua các kỳ đại hội từ năm 1946 trở lại đây và nó được thể chế hoá vào Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi) tại điều 2: “ Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ tri thức... quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Xem thêm

32 Đọc thêm

báo cáo thực tập: công tác tư pháp hộ tịch trên địa bàn xã, phường, thị trấn

BÁO CÁO THỰC TẬP: CÔNG TÁC TƯ PHÁP HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

Thực tập tốt ngiệp là một giai đoạn quan trọng gắn với thực tế qua bao nhiêu năm học tập tại trường. Đối với xã, phường, thị trấn công tác tư pháp là một bộ phận công tác quản lý nhà nước của địa phương, đồng thời là triển khai thực tế các chủ chương chính sách của đảng nhà nước về công tác tư pháp từ trung ương đến địa phương, không ngừng nâng cao hiểu biết cho nhân dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, nắm rõ, thực hiện sống và làm theo hiến pháp và pháp luật là yêu cầu hết sức quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các cán bộ Tư pháp cơ sở. Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn là cơ quan chuyên môn của UBND xã thực hiện và quản lý nhà nước về công tác tư pháp trên địa bàn của địa phương. Đứng trước những yêu cầu của nước ta hiện nay là một nhà nước công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.Vậy cần tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước, đối với nhân dân gặp nhiều khó khăn thử thách thì yêu cầu nhiện vụ càng trở nên cấp thiết. Vậy cơ quan tư pháp xã phường , thị trấn ngày càng được mở rộng trên các lĩnh vực ban hành văn bản, tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do UBND xã ban hành, tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ở địa phương . Trước những yêu cầu đòi hỏi ngành tư pháp phài biết tiến trình đổi mới nâng cao chất lượng quản lý nhà nước để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, đòi hỏi phải thường xuyên quan tâm đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chất lượng, nâng cao trình độ để nhằn xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức Tư pháp – Hộ tịch xã, phường, thị trấn có Đạo Đức tốt, phận chất chính trị tốt có tinh thần trách nhiện trong công việc vững vàng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Đồng thời cần phải chú trọng đến hiệu quả, thực hiện nghiệp vụ công tác tư pháp xã phường, thị trấn có một cách toàn diện từ tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động và điều kiện cơ sở vật chất, trang, bị kinh tế. Để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nắm bắt, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, được được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường em giới thiệu đến thực tập tại UBND xã Hua Thanh – Huyện Điện Biên –Tỉnh Điện Biên với chuyên đề “công tác chứng thực tại UBND cấp xã” trong quá trình thực tập em được tham gia các hoạt động như: Chứng thực, khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn,tuyên truyền giáo dục pháp luật. đã được đào tạo với lớp chuyên nghành pháp luật thuộc khoa luật hành chính tại trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật Điên Biên.Được sự nhiệt tình quan tâm giảng dạy của các thầy cô giáo đã tạo điều kiện cho em đi thực tập để tu dưỡng Đạo Đức, tác phong của một cán bộ công chức nhà nước và đã tiếp thu tổng hợp những kiến thức phục vụ cho công tác của mình sau khi ra trường. Xây dựng tủ pháp luật để cán bộ, nhân dân nghiên cứu tìm hiểu pháp luật. Trong yêu cầu đó đòi hỏi nghành tư pháp phải thường xuyên quan tâm mở rộng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, có tinh thần trách nhiệm, tậm tụy trong công việc, vững vàng về trình độ chuyên môn làm cho xã hộ được một vững mạnh,trong sạch không còn những vụ kiện tục xảy ra.
Xem thêm

39 Đọc thêm

Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC THEO HIẾN PHÁP 2013 SO VỚI HIẾN PHÁP 1992

Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hiến pháp
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ và kiêm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955, chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm và Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi Người mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Từ đó đến nay, vai trò lãnh đạo chính trị nói chung và của Chủ tịch nước nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến thể chế, con người và toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, lãnh đạo nói chung và đặc biệt vị trí đứng đầu nói riêng có xu hướng cá nhân hóa nếu địa vị của họ không được thiết lập một cách chặt chẽ và vững chắc trong Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, vai trò, chức năng và thẩm quyền của Chủ tịch nước cần phải được hiến định trong Hiến pháp.

Ở nước ta, việc hoàn thiện phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực của Chủ tịch nước là một nội dung rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế chính trị pháp lý Hiến pháp. Mặt khác chủ trương của Đảng thể hiện trong các Văn kiện Đại hội X, XI đặt ra những thay đổi chế định trong quá trình thiết kế và vận hành chính thể nói chung và chế định Chủ tịch nước nói riêng. Do đó, nghiên cứu chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trải qua các thời kỳ lịch sử với 5 bản Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa những chế định cơ bản, quan trọng của Hiến pháp năm 1992 nhưng có những đổi mới, bổ sung mang tính phù hợp để thể hiện Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Việt Nam và là nguyên thủ quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, em xin chọn đề tài: “Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992” để tìm hiểu và nghiên cứu.

NỘI DUNG

I. Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013.

Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định tại chương VI với 8 điều và chỉ ngay sau chương V quy định về Quốc hội cho thấy vị trí quan trọng của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước Việt Nam, có vai trò phối hợp quyền lực, là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước và cho hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Điều 86:

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

Điều 87:

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Chủ tịch nước.

Điều 88:

Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ;

3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá;

4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;

5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

6. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước.

Điều 89:

1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn.

Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.

2. Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định; động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Điều 90:

Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ.

Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.

Điều 91:

Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 92:

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch nước thực hiện một số nhiệm vụ.

Điều 93:

Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước.

II. Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 2013 .

1. Những điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước.

a Về bố cục:

Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định tại Điều 88 còn theo Hiến pháp năm 1992 thì được quy định tại Điều 103. Dễ dàng nhận thấy, so với Điều 103 Hiến pháp năm 1992 thì Điều 88 Hiến pháp năm 2013 có sự thay đổi đáng kể về mặt bố cục. Nếu như Hiến pháp năm 1992 chia tách từng nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Chủ tịch nước tại 12 khoản của Điều 103 thì Hiến pháp năm 2013 gom những nhiệm vụ và quyền hạn đó thành những nhóm, theo từng lĩnh vực, quy định tại 6 khoản của Điều 86. Đó là: Khoản 1 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vự lập pháp; Khoản 2 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc quyết định nhân sự của Chính phủ; Khoản 3 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực tư pháp và quản lý nhân sự của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Khoản 4 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc khen thưởng, quốc tịch; Khoản 5 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh; Khoản 6 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước về đối ngoại.

b Về nội dung:

Khoản 4 – Điều 103, Hiến pháp năm 1992 quy định Chủ tịch nước có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ phải căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Theo Hiến pháp năm 2013 thì quyền bổ nhiệm bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ chỉ cần căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội (Khoản 2 – Điều 88).

Khoản 3 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 có nêu Chủ tịch nước có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức tất cả các Thẩm phán. Còn Khoản 8 – Điều 103, Hiến pháp năm 1992 chỉ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc đổi mới này đã tái quy định thẩm quyền của người đứng đầu nhà nước trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, pháp lý. Đó là tất cả các Thẩm phán dù ở bất kỳ cấp nào cũng đều nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp. Vì vậy, việc Chủ tịch nước thay mặt nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán chính là việc trao hoặc tước quyền nhân danh nhà nước của Thẩm phán. Qua đó góp phần tăng tính độc lập trong hành động xét xử của Thẩm phán, để Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Về vấn đề quốc tịch, Khoản 4 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 có điểm mới là Chủ tịch nước có thẩm quyền cho “trở lại quốc tịch” Việt Nam đối với người đã mất quốc tịch Việt Nam, khi có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể trở lại quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong số những trường hợp sau:

+ Xin hồi hương về Việt Nam;

+ Có vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam;

+ Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

+ Có lợi cho Nhà nước Việt Nam;

Ngoài ra, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam nếu làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam.

Về thẩm quyền mới này của Chủ tịch nước đã cho thấy Việt Nam mở rộng cửa cho phép người mất quốc tịch Việt Nam trở lại quốc tịch Việt Nam mà không hề ngăn cấm, cấm đoán.

Theo Hiến pháp năm 1992, Chủ tịch nước quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác (Khoản 9 – Điều 103). Để làm rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm này của Chủ tịch nước trong việc thống lĩnh lực lượng vũ trang thì Khoản 5 – Điều 88 quy định việc phong hàm cấp tướng chỉ giao cho Chủ tịch nước thực hiện. Chủ tịch nước có quyền quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Như vậy, với quy định mới này, Hiến pháp năm 2013 đã phân định quyền “thống lĩnh” của Chủ tịch nước trong công tác quyết định nhân sự chỉ huy cấp cao trong lực lượng vũ trang (cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước. Tuy nhiên, việc chủ tịch nước quyết định nhân sự chỉ huy cấp cao trong lực lượng vũ trang luôn tuân thủ lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ của lực lượng vũ trang. Vì thế, quy định mới này vừa đảm bảo nguyên tắc lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là sự thống lĩnh của Chủ tịch nước.

Về công tác đối ngoại, theo Khoản 6 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 thì Chủ tịch nước quyết định đàm phán, kí điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. Trong khi theo Khoản 10 – Điều 103, Hiến pháp năm 1992 thì Chủ tịch nước vẫn đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế (trừ trường hợp cần trình Quốc hội giải quyết) nhưng đàm phán, kí kết với người đứng đầu Nhà nước khác.

Điểm mới này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay trong công tác điều ước quốc tế của Chủ tịch nước vì Chủ tịch nước cũng như các nguyên thủ quốc gia khác trên thế giới không trực tiếp tiến hành đàm phán điều ước quốc tế mà thưởng ủy quyền cho cá nhân, cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực đó đàm phán như vậy vừa bất gánh nặng công việc cho Chủ tịch nước, vừa để các cơ quan, cá nhân đó đàm phán, kí kết đúng lĩnh vực sẽ hiệu quả hơn. Vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quyết định rõ quyền quyết định việc đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước của Chủ tịch nước, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội và nhân dân về đàm phán, kí kết các điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước. Ví dụ: Khi Việt Nam muốn đàm phán và kí kết với Nhật Bản để xây dựng cầu Nhật Tân thì không nhất thiết Chủ tịch nước trực tiếp đàm phán mà Chủ tịch nước có thể ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng đi đàm phán thì việc đàm phán sẽ hiệu quả hơn vì Bộ trưởng Bộ Xây dựng am hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.

2. Những điểm mới về Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch.

Khoản 2 – Điều 89, Hiến pháp năm 2013 quy định thẩm quyền của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch được trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Những quy định mới này là để làm rõ và cụ thể hơn thẩm quyền của thiết chế quan trọng này so với Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định trong trường hợp chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt (Điều 104 – Hiến pháp năm 1992). Việc Hội đồng quốc phòng và an ninh được bổ sung thêm nhiệm vụ và quyền hạn mới này cho thấy vai trò quan trọng của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước đứng đầu trong việc bảo vệ hòa bình, an toàn khu vực và trên thế giới, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ Tổ quốc nhất là khi Việt Nam đang bị đe dọa bởi các nước láng giềng và âm mưu phản động trong và ngoài nước.

3. Những điểm mới về tham dự các phiên họp của Chủ tịch nước.

Điều 90 – Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ. Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước”. Trong khi theo Điều 105 – Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ.

Đây là một trong những điểm mới của Hiến pháp năm 2013. Bằng quy định mới này cho thấy thẩm quyền tham dự các phiên họp Chính phủ của Chủ tịch nước được đề cao hơn khi Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn nhưng với điều kiện là vấn đề cần họp bàn phải thực sự cần thiết và phù hợp với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước. Điểm mới đề cao vai trò của Chủ tịch nước trong việc xem xét quyết định vấn đề lớn trong quản lí điều hành đất nước phù hợp với tình hình đất nước hiện nay có rất nhiều vấn đề lớn gây bức xức trong dư luận như: tham nhũng, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội,… những vấn đề lớn này cần được Chủ tịch nước – người thay mặt cho nhân dân giải quyết trước Chính phủ. Có như vậy, Chủ tịch nước mới xứng đáng là người đứng đầu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

III. Những điểm hạn chế về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992.

Thứ nhất, điều kiện để trở thành Chủ tịch nước không khác so với điều kiện để trở thành Đại biểu Quốc hội bởi Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 đều quy định Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, đồng thời không có quy định về quốc tịch, xuất thân, độ tuổi, trình độ,…để trở thành ứng viên làm Chủ tịch nước. Điều này có thể coi là hạn chế vì Chủ tịch nước là người đứng đầu một quốc gia, đại diện cho toàn bộ nhân dân, có vị thế rất lớn trong bộ máy nhà nước. Vì thế, điều kiện trở thành Chủ tịch nước cần phải co những quy định riêng, được các nhà làm luật xem xét sửa đổi. Có như vậy, nhân dân mới thực sự tin tưởng giao trách nhiệm cho Chủ tịch nước.

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 đều quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong công tác khen thưởng (tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng, danh hiệu vinh dự nhà nước) mà không quy định trách nhiệm của Chủ tịch nước trong công tác thi đua. Điều này cũng cần được các nhà làm luật xem xét vì Chủ tịch nước phải gương mẫu trong công tác thi đua như: thi đua yêu nước, thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,… thì nhân dân, cơ quan trương ương đến địa phương mới học tập và noi theo. Từ đó mới đẩy mạnh việc thi đua mới thực sự có hiệu quả tối đa.

KẾT LUẬN

Trên đây là một số nhận định của em về điểm mới của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 cũng như một số điểm hạn chế. Những chế định về Chủ tịch nước trong bản Hiến pháp năm 2013 đã tiến một bước phát triển dài trên con đường hoàn thiện và phát triển. Điều đó sẽ tạo nền tảng pháp lý cao nhất để Chủ tịch nước thực hiện đầy đủ quyền hạn và nhiệm vụ của mình đưa đất nước thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mong rằng, qua bài viết này, em đã giúp mọi người hiểu rõ phần nào các chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 cũng như Hiến pháp năm 1992 và những điểm mới của Hiến pháp năm 2013. Từ đó, khẳng định chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân.
Xem thêm

13 Đọc thêm

CĂN CỨ PHÁP LÍ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VẤN ĐỀ MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

CĂN CỨ PHÁP LÍ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VẤN ĐỀ MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Căn cứ pháp lí và thực tiễn áp dụng vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư pháp quốc tế
1. Thực tiễn quyền miễn trừ tư pháp quốc gia trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

Thứ nhất, Tại Việt Nam hiện nay, về mặt lý luận, quyền miễn trừ tư pháp quốc gia bao gồm quyền miễn trừ xét xử, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài.

Thứ hai, Pháp luật thực định của Việt Nam chưa có quy định chính thức nào về nội dung của quyền miễn trừ tư pháp quốc gia. Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 0791993 có một số quy định về quyền miễn trừ tư pháp. Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự tại Việt Nam. Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và xử phạt hành chính”. Và khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh quy định: “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành án”. Đây chỉ là những quy định về quyền miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao và thành viên gia đình của họ (khoản 1 Điều 17 Pháp lệnh). Không có quy phạm cụ thể nào của Pháp lệnh quy định chi tiết nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp quốc gia ở Việt Nam. Khoản 4 Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì vụ việc dân sự có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Nhưng ta có thể theo logic suy luận người đại diện cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp thì đương nhiên bản thân quốc gia cũng là đối tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (đã hết hiệu lực thi hành) có quy định: “vụ án dân sự có liên quan đến nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Đây là văn bản pháp luật duy nhất có quy định về quyền miễn trừ của nhà nước nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc tế nhưng cũng không đề cập đến nội dung của quyền miễn trừ. Tuy nhiên, từ ngày 01012005 khi Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật thì không còn có quy phạm nào thừa nhận quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam.

Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia đã được quy định thống nhất trong các văn bản của LHQ, các điều ước quốc tế có liên quan và được cụ thể hóa vào văn bản pháp luật của nhiều nước. Chính vì vậy, việc quy định một cách rõ ràng, cụ thể nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong pháp luật Việt Nam cũng góp phần đưa TPQT Việt Nam tiến gần hơn với các chuẩn mực của đời sống pháp lý quốc tế trong vấn đề này.

Thứ ba, Phần lớn các quan điểm hiện nay đều tán đồng Thuyết quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia.Theo Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT, không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế”. Tương tự, theo giáo trình của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT. Pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn tư pháp Việt Nam luôn luôn bảo đảm tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của nhà nước nước ngoài bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước đó đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Dường như về mặt lý luận, Việt Nam chỉ chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia.

Trước đây đã từng xảy ra vụ việc: Năm 1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua 6.000 tấn gạo của Công ty Thanh Hòa ở Tiền Giang. Sau đó, Công ty Thanh Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên. Nhưng con tàu mà Công ty Thanh Hòa thuê lại là một con tàu “ma”, trên đường chở gạo đã trốn bặt tăm. Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm. Bốn năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số nợ năm 1999. Ngày 2272005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed Enterprises và tiền lãi phát sinh. Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị đơn thứ 12 của vụ án. Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước Việt Nam trong trường hợp này không tuyệt đối vì Chính phủ Việt Nam đã tham gia tích cực vào các giai đoạn của việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ xét xử3.

Vụ việc trên cho thấy, nếu nhà nước Việt Nam tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với tư cách một bên chủ thể thì trong những trường hợp cụ thể nhất định sẽ không được hưởng quyền miễn trừ, nghĩa là nhà nước Việt Nam phải tham gia như một chủ thể bình thường khác. Như vậy, rõ ràng việc tuyệt đối hóa quyền miễn trừ tư pháp không có lợi cho nhà nước Việt Nam và đặc biệt là các cá nhân, pháp nhân Việt Nam trong các quan hệ Tư pháp quốc tế. Đây sẽ là cơ sở để nhà nước nước ngoài không tuân thủ một số nghĩa vụ của họ bởi vì nhà nước nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở Việt Nam trong khi nhà nước Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở nước ngoài.

Tại Việt Nam chưa có Luật về quyền miễn trừ tư pháp quốc gia và trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định chính thức nào quy định trực tiếp về vấn đề này. Tuy nhiên, khi xét một số quy định khác của pháp luật ta có thể thấy một số điểm cần lưu ý. Theo khoản 1 và 3 Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ thì viên chức ngoại giao không được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp họ “tham gia với tư cách cá nhân vào các vụ tranh chấp liên quan đến bất động sản tư nhân có trên lãnh thổ Việt Nam; việc thừa kế; hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp mà viên chức ngoại giao tiến hành tại Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính thức của họ”. Quy định này thể hiện rõ quan điểm đối với viên chức ngoại giao thì quyền miễn trừ của họ chỉ là tương đối, nghĩa là quyền miễn trừ không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực quan hệ dân sự nào nhưng bị hạn chế, hay không được hưởng, trong một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, đối với nhà nước nước ngoài thì pháp lệnh lại không đề cập và Bộ luật Tố tụng dân sự cũng không có quy định nào về vấn đề này. Có thể thấy, việc thừa nhận một cách cứng nhắc quyền miễn trừ tuyệt đối của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam sẽ làm thiệt hại cho chúng ta vì chắc chắn trong quy định của pháp luật nhiều quốc gia chỉ dành cho nhà nước Việt Nam quyền miễn trừ tương đối tại quốc gia đó. Nên chăng, trong điều kiện giao lưu kinh tế thương mại hiện nay cũng như cùng với sự phát triển của Tư pháp quốc tế hiện đại, Việt Nam nên chấp nhận thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự quốc tế để bảo vệ hiệu quả lợi ích của các công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự với quốc gia nước ngoài. Pháp luật Việt Nam cần có quy định về những trường hợp cụ thể nhà nước nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế.

Thứ tư, Nhiều quan điểm hiện nay vẫn hiểu quyền miễn trừ tương đối theo hướng quốc gia bị hạn chế một số lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế không được hưởng quyền miễn trừ, còn trong những lĩnh vực mà quốc gia được hưởng quyền miễn trừ thì quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong bất cứ trường hợp nào mà quốc gia tham gia. Quan điểm này là không chính xác. Sự tương đối ở đây đó là có những trường hợp cụ thể mà quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ, còn phạm vi của quyền miễn trừ vẫn bao trùm tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà quốc gia tham gia. Nếu hiểu không chính xác thuyết miễn trừ sẽ dẫn đến tình trạng không bảo vệ được lợi ích hợp pháp của quốc gia khi tham gia các quan hệ dân sự quốc tế, hoặc không tôn trọng lợi ích hợp pháp của quốc gia khác, vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia.

2. Lý thuyết học thuyết miễn trừ tư pháp quốc gia trong Tư pháp quốc tế

a. Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia trong tư pháp quốc tế

Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia thể hiện qua các nội dung:

Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Điều đó cũng có nghĩa là khi tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia, cá nhân và pháp nhân nước ngoài không được phép đệ đơn kiện quốc gia đó tại bất kỳ tòa án nào, kể cả tại tòa án của chính quốc gia đó, trừ khi quốc gia đó cho phép. Các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương lượng trực tiếp hoặc bằng con đường ngoại giao giữa các quốc gia. Quốc gia đồng ý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài kiện mình cũng có nghĩa là đồng ý cho tòa án thụ lý xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn

Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn. Nội dung của quyền này thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Và như vậy, tài sản của quốc gia hưởng quyền bất khả xâm phạm, không thể bị áp dụng trái với ý nguyện của quốc gia sở hữu. Điều 18 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.

Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử. Trong trường hợp quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành. Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án vẫn phải được tôn trọng.

Các nội dung nêu trên của quyền miễn trừ tư pháp quốc gia có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Quốc gia có quyền từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp của mình bởi vì đây là quyền của quốc gia chứ không phải nghĩa vụ của quốc gia.

b. Các quan điểm khác nhau về quyền miễn trừ của quốc gia

Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế) và pháp luật hầu hết các nước. Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại có những quan điểm khác nhau về mức độ hưởng quyền này của quốc gia. Về cơ bản có hai quan điểm chính về vấn đề này:

Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào. Những người theo quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia. Thậm chí, quyền miễn trừ này còn được mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá nhân. Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây, khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế. Việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ tuyệt đối của mình phải được thể hiện rõ rang bằng các quy định trong hợp đồng, trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết hoặc tham gia, bằng con đường ngoại giao.

Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tương đối (miễn trừ chức năng), do các học giả của các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế. Học thuyết này nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ thể hóa vào các đạo luật quốc gia. Theo học thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không được hưởng quyền này mà phải tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác. Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng lại hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ.
Xem thêm

9 Đọc thêm

CÁCH THỨC ỦY THÁC TƯ PHÁP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THEO CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG MÀ VIỆT NAM THAM GIA

CÁCH THỨC ỦY THÁC TƯ PHÁP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THEO CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG MÀ VIỆT NAM THAM GIA

Cách thức ủy thác tư pháp theo pháp luật Việt Nam và theo các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam tham gia

1. Ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Hiện nay pháp luật trong nước cũng đã xây dựng một số quy định về tương trợ tư pháp, cụ thể:

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã đưa vào một số quy định về tương trợ tư pháp tại Chương XXXVI (từ điều 414 đến điều 418).

Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 21112007 và có hiệu lực từ ngày 172008.

Nghị định số 922008NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTP.

Thông qua các văn bản trên có thể thấy, vấn đề ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành gồm những nội dung chính sau:

1.1 Nguyên tắc thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế.

Trên phương diện quốc tế, tương trợ tư pháp là biểu hiện của chủ quyền quốc gia, các quốc gia khác không được can thiệp và phải tôn trọng, việc cho phép tiến hành hoặc không cho phép, phạm vi, mức độ thực hiện các hoạt động hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của mỗi quốc gia và việc thực hiện Ủy thác tư pháp quốc tế cũng là một hình thức của TTTP vì thế cũng phải tuân theo những nguyên tắc đó. Vì thế Hiện nay theo quy định tại điều 4 Luật TTTP việc thực hiện các hoạt động ủy thác tư pháp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.

1.2 Phạm vi nội dung thực hiện ủy thác tư pháp.

Nội dung các hoạt động ủy thác tư pháp với các nước cũng có nhiều điểm khác nhau, phụ thuộc quan hệ song phương, cũng như ý chí của các bên ký kết. theo quy định tại điều 10 của Luật TTTP hiện nay thì phạm vi tương trọ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm 4 nội dung:

Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu lien quan đến tương trợ tư pháp về dân sự:

Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự có thể bao gồm:

+ Văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự. Văn bản này thực chất là công văn hoặc công hàm yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu gửi tới nước nhận yêu cầu.

+ Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự. Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự thực chất là những nội dung chính trong yêu cầu tương trợ của nước yêu cầu. Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự theo quy định tại Điều 12 Luật Tương trợ tư pháp bao gồm các nội dung như: ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; tên, địa chỉ cơ quan uỷ thác tư pháp; tên, địa chỉ cơ quan được uỷ thác tư pháp; họ, tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của cá nhân, tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến uỷ thác tư pháp; nội dung công việc được uỷ thác tư pháp về dân sự (trong phần nội dung công việc này, cơ quan yêu cầu uỷ thác phải nêu rõ mục đích uỷ thác, công việc và các tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật có thể áp dụng, các biện pháp để thực hiện uỷ thác và thời hạn thực hiện uỷ thác).

+ Quyết định của Toà án. Trong vụ việc dân sự, Quyết định của Toà án có thể là Quyết định ly hôn, Quyết định về truy nhận cha cho con, Quyết định về quyền nuôi con, Quyết định về việc phân chia tài sản, Quyết định về phân chia di sản trong thừa kế…

+ Giấy triệu tập đến Toà án. Trong vụ việc dân sự, Giấy triệu tập có thể liên quan đến việc phân chia tài sản trong ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng, thừa kế…

Triệu tập người làm chứng, người giám định:

Đối với một số vụ việc dân sự cần đến lời khai hoặc chứng cứ của người người làm chứng, bản kết luận chuyên môn của người giám định như một vụ việc về truy nhận cha cho con, tranh chấp tài sản trong hôn nhân, đòi quyền thừa kế… nhưng người làm chứng, người giám định đang ở nước ngoài, thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi đề nghị triệu tập người làm chứng, người giám định tới cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người làm chứng, người giám định đang có mặt để yêu cầu người làm chứng, người giám định có mặt tại Việt Nam trong một thời gian nhất định để họ tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự có liên quan.

Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp quy định cụ thể về triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định. Qua đó:

+ Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam;

+ Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định; người làm chứng;

+ Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến Việt Nam sẽ không bị bắt, bị tam giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi trước khi đến Việt Nam như cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập; phạm tội ở Việt Nam; có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự của Việt Nam; có liên quan đến một vụ việc dân sự hoặc hành chính khác ở Việt Nam.

Thu thập, cung cấp chứng cứ:

Khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh việc phải có thu thập chứng cứ ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không có thẩm quyền thu thập trực tiếp chứng cứ ở nước ngoài mà phải gửi yêu cầu về thu thập và cung cấp chứng cứ tới cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Dựa trên yêu cầu tương trợ này của phía Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài sẽ xem xét việc có hay không thực hiện yêu cầu tương trợ.

Các trường hợp cần tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài như đã nêu ở trên phải được thực hiện thông qua cơ quan đầu mối về tương trợ tư pháp về dân sự. Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp quy định “Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động tương trợ tư pháp; tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các uỷ thác tư pháp về dân sự”. Do vậy, Bộ Tư pháp chính là cơ quan đầu mối của Việt Nam trong việc giải quyết các yêu cầu về tương trợ tư pháp về dân sự đối với nước ngoài. Qua đó, khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi yêu cầu tương trợ tới Bộ Tư pháp. Thủ tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật Tương trợ tư pháp.

Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự .

1.3 Trình tự thủ tục thực hiện và pháp luật áp dụng.

Hiện nay, theo các quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, trình tự thủ tục thực hiện ủy thác tư pháp giữa Việt Nam và các nước được thực hiện qua hệ thống các cơ quan trung ương (Bộ tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao) của hai nước hữu quan. Tuy nhiên, quy trình này được đánh giá là phức tạp, qua nhiều cơ quan, tốn thời gian…ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình xét xử và quyền lợi của đương sự. Cụ thể, quy trình được thực hiện như sau:

a) Đối với các ủy thác tư pháp do Tòa án Việt Nam yêu cầu tòa án nước ngoài thực hiện.

Đầu tiên, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ ủy thác cho Bộ Tư pháp (là cơ quan trung ương); Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển sang cho Bộ tư pháp nước ngoài (hoặc cho Bộ ngoại giao) nước được yêu cầu thực hiện.

Tiếp đến Bộ Tư pháp nước ngoài (hoặc Bộ Ngoại giao) chuyển đến các cơ quan tư pháp nước bạn để nhờ thu thập, xác minh chứng cứ…Nếu có kết quả trả lời thì quy trình lại qua các cơ quan trên gửi ngược trở lại cho Tòa án Việt Nam; nhiều trường hợp, không có kết quả, hoặc không thể thực hiện được việc ủy thác tư pháp do không tìm thấy đương sự ở nước ngoài, có thể dẫn đến bế tắc, tòa có thể phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc.

b) Đối với các ủy thác tư pháp do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài yêu cầu Việt Nam thực hiện.

Bộ Tư pháp Việt Nam nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu, vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện. trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Bộ tư pháp tra lại cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nêu rõ lý do.

Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sau khi thực hiện phải thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp cho Bộ tư pháp; Bộ tư pháp sẽ chuyển văn văn bản dó cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nươc yêu cầu là thành viên hoặc thông qua con đường ngoiaj giao.

Trường hợp ủy thác tư pháp không thực hiện được hoặc quá thời hạn mà nước ngoài yêu cầu hoặc cần bổ sung thông tin, tài liệu lien quan, cơ quan có thẩm quyền cua Việt Nam thực hiện ủy thác tư pháp phải thông báo bằng văn bản cho Bộ tư pháp và nêu rõ lý do để Bộ tư pháp thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu.

Hiện nay, đối với dương sự là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì hồ sơ ủy thác tư pháp được gửi cho tòa án có thẩm quyền của nước tiếp nhận thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam; đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam thì hồ sơ ủy thác gửi cho Đại sứ quán Việt Nam ở nước tiếp nhận ủy thác thông quan Bộ Tư pháp Việt Nam.

c) Về pháp luật áp dụng thực hiện ủy thác tư pháp.

Hâu hết các Hiệp định đều quy đinh rằng: khi thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luạt nước mình. theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, cơ quan được yêu cầu có thể áp dụng các quy phạm tố tụng của bên ký kết yêu cầu, nếu các quy phạm đó không trái với pháp luật của bên ký kết được yêu cầu.

Mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện tương trợ tư pháp phát sịnh trên lãnh thổ nước mình. trong trường hợp chi phí thực hiện quá cao, các cơ quant rung ương của hai nươc sẽ thỏa thuận với nhau để giải quyết.

2. Vấn đề ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết với các nước.

Hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dân sự với các nước được thực hiện trên cơ sở các Hiệp định Tương trợ tư pháp (và pháp lý) được ký kết giữa Nhà nước ta với nước ngoài. Hiện nay, trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, Việt Nam đã ký, đã và đang chuẩn bị đàm phán, chuẩn bị rà soát, sửa đổi, hiện đại hóa rất nhiều Hiệp định TTTP với các nước. Dưới đây là một số liệt kê dựa trên hiểu biết của em:

Những Hiệp định đã được kí kết:

Những hiệp định TTTP với phạm vi rộng, điều chỉnh TTTP trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, hình sự và dẫn độ: đó là các Hiệp định với Liên Xô cũ (10121981), Tiệp khắc (12101982), Cu Ba (30111984), Hunggari (18011985), Bungari (03101986), Ba Lan (2231993), CHDCND Lào (0671998), Nga (2581998), Ucraina (1642000), Mông Cổ (1742000), Bêlarút (1492000), CHDCND Triều Tiên (045200

Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dân sự và thương mại: với CH Pháp (24021999), Trung Quốc (19101998) và Angeri (14 42010);

Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực hình sự: với Angeri (1442010) và Hàn quốc (92003).

Hiệp định ASEAN về TTTP trong lĩnh vực hình sự.

Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dẫn độ: với Hàn Quốc (92003) và Angeri (1442010).

Hiệp định quy định riêng về TTTP trên lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù với các nước: Vương quốc Anh và Bắc Ailen (1292008), với Australia (1292008), Hàn quốc (2952009), Thái Lan (1972010), Ấn Độ (1962009).

Hiệp định về TTTP trong lĩnh vực hình sự giữa các nước ASEAN (Việt Nam phê chuẩn năm 2008).

Ngoài ra, trong lĩnh vực hợp tác về hình sự, trong đó có hợp tác phòng chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, hợp tác phòng chống ma túy, Việt Nam đã ký kết, tham gia rất nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương. Có thể kể đến việc ngay từ năm 1997, Việt Nam đã tham gia ký những Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý của Liên Hợp Quốc (Công ước 1961, 1971 và 1988); đã ký nhiều Hiệp định, Thoả thuận hợp tác quốc tế về phòng chống ma tuý và Hiệp định có liên quan đến phòng chống ma tuý với các nước trong khu vực và trên thế giới; 01 Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Việt Nam tham gia ký ngày 13122000).

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển khai việc đàm phán và ký kết mới Hiệp định TTTP về dân sự, thương mại với các nước như Anh, Campuchia, Kazakhtan,...

Đa phần các Hiệp định TTTP với các nước trước đây thuộc hệ thống XHCN được Nhà nước Việt Nam ký vào những năm 80, khi thể chế về TTTP của nước ta còn rất sơ sài. Cho nên nhu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa hoặc thay mới (nếu cần thiết) các Hiệp định đã ký trước đây là rất cần thiết để đảm bảo sự tương thích giữa các Hiệp định đó với Luật Tương trợ tư pháp, các Hiệp định đa phương về TTTP cũng như phù hợp với thực tiễn triển khai công tác tương trợ tư pháp.
Xem thêm

8 Đọc thêm

NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người,
gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua
nhiều đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng. Vì vậy, bảo đảm quyền
bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn
minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp
luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân
biệt nào”(Điều 7-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). “Mọi người đều
được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một
tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ
của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn
thế giới về Nhân quyền).
Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa –
xã hội và đặc biệt quan trọng là bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố
tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là luật pháp phải được
thượng tôn, bất kể vị thế giữa người vi phạm và người bị xâm phạm. Quyền
và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín
ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng
một điều kiện như nhau, công dân phải được hưởng quyền và nghĩa vụ như
nhau, có cùng tư cách pháp lý như nhau. Tuy nhiên, mức độ sử dụng các
quyền và nghĩa vụ đó đến đâu thì còn phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều
kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong
việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng;
công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và các Đạo luật xác
định, đó chính là điều kiện để sử dụng quyền của mình một cách tốt nhất. Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc
pháp lý cơ bản ở nhiều quốc gia. Hiến pháp Việt Nam quy định rằng mọi công
dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; công dân, không phân
biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn
hóa, nghề nghiệp, có thời hạn cư trú từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử
và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân
theo quy định của pháp luật. Hiến pháp Việt Nam còn xác định quyền bình
đẳng của phụ nữ và nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và
gia đình.
Xây dựng và bảo vệ sự bình đẳng của đương sự là một giá trị xã hội
và là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người. Bình đẳng không phải là vấn
đề có tính chất cá nhân mà nó có mối liên hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá
nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Đảm bảo quyền bình đẳng của
đương sự trong TTDS là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
trong việc tạo ra tính bền vững, sự ổn định và phát triển của hệ thống pháp
luật Việt Nam. Điều đó đã được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, các
Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm hướng tới “Xây dựng nền tư pháp trong
sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại,
phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động
tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có
hiệu lực cao” (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Kế thừa và phát huy những
giá trị của các văn bản pháp luật về TTDS được ban hành trước đó,
BLTTDS đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc cải
cách tư pháp, quy định quy trình tố tụng khoa học, đảm bảo đẩy mạnh dân
chủ và là công cụ pháp lý quan trọng để các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân
sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 8 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016) đã quy định về sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự như sau: “1/Trong tố tụng Dân sự
mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới
tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,
địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. 2/Tòa án có trách nhiệm bảo
đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”.
Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 2004.
Đến năm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi
bổ sung BLTTDS. Năm 2015, BLTTDS mới ra đời, có hiệu lực kể từ ngày
01/07/2016, là BLTTDS hiện hành. Trải qua 03 BLTTDS, điều khoản quy
định về nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đều
được quy định tại Điều 8. Trong quá trình thực hiện, nguyên tắc bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và
hạn chế. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả giải quyết các vụ việc dân
sự của Tòa án và việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa
án. Một trong những vấn đề còn tồn tại đó là những quy định về nguyên tắc
bình đẳng của đương sự trong TTDS. Nguyên nhân của những hạn chế, bất
cập nêu trên thì có nhiều, trong đó có cả sự nhận thức và áp dụng không
thống nhất về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS.
Xem thêm

160 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TẾ TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TẾ TỈNH VĨNH PHÚC

Giám sát hành chính (hay còn gọi là giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước) bao gồm giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp và giám sát xã hội (giám sát của các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan báo chí v.v...). Mục đích của giám sát hành chính là phát hiện các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, ngăn ngừa, uốn nắn những sai lầm, lệch lạc, thực hiện mục tiêu quản lý hành chính nhà nước, góp phần hỗ trợ cho hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp. Với vai trò quan trọng đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có ý nghĩa hết sức to lớn và cần thiết.
Xem thêm

130 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế. Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".
Xem thêm

100 Đọc thêm

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP QUẬN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP QUẬN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư pháp có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, hoạt động tư
pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm duy trì và bảo vệ công lý
và trật tự pháp luật, góp phần bảo vệ các thành quả của cách mạng, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Công tác tư pháp có vị
trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bởi vậy hệ thống các cơ quan tư
pháp được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương để đảm bảo hiệu
quả cho công tác tư pháp trong đó có phòng Tư pháp.
Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận
(gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện chức năng tham mưu, giúp
Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành
pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật;
kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở nuôi
con nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý
công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác
theo quy định của pháp luật [1, tr.13].
Trong những năm gần đây, để đáp ứng yêu cầu đổi cải cách tư pháp, tổ
chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận trong đó có phòng Tư pháp trên địa
bàn Hà Nội đã có những thay đổi để làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên, thực trạng tổ chức và hoạt động đó còn chưa đáp ứng được đòi hỏi
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, còn bộc lộ một số hạn chế
như hiệu quả thực hiện một số mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của
phòng Tư pháp quận chưa cao, trong tổ chức bộ máy phòng Tư pháp ở quận
chưa phát huy hết khả năng của cán bộ, công chức làm công tác tư pháp. Bởi
vậy, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động phòng Tư pháp quận cả về lý luận và
thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của nó là rất cần thiết, giúp cho
chúng ta thấy được những mặt ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong quản lý
nhà nước.Trên cơ sở đó xác định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động
của phòng Tư pháp quận cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất
nước ta hiện nay.Mặt khác, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ
chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận với tư cách một vấn đề khoa học.
Với lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Tổ chức và hoạt động của
phòng Tư pháp quậntừ thực tiễn thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc s luật
học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp
quận đang được coi là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả tại
nhiều diễn đàn. Vấn đề này đã và đang được đề cập tới trong nhiều nguồn thông
tin khác nhau. Chúng tôi xin dẫn ra một số công trình khoa học của các cá nhân,
các nhóm tác giả đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn:
"Công tác tư pháp hộ tịch ở cấp xã những vấn đề lý luận và thực tiễn" của
tác giả Nguyễn Hữu Đính, năm 2008. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập tới
những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác tư pháp ở cấp hành chính là cấp xã,
nêu ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả công tác tư pháp hộ tịch cấp
xã;
"Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp
luật", TS.Trương Đắc Linh, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003.
Tác giả đề cập tới vai trò của chính quyền địa phương trong bảo đảm thi hành
Hiến pháp và pháp luật, nêu ra những giải pháp để bảo đảm thi hành Hiến pháp
và pháp luật trên địa bàn gắn với phát huy vai trò của chính quyền cơ sở.
Xem thêm

83 Đọc thêm

BÀI TẬP BÁN TRẮC NGHIỆM BÀI TẬP GIỮA KỲ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

BÀI TẬP BÁN TRẮC NGHIỆM BÀI TẬP GIỮA KỲ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Bài tập bán trắc nghiệm Bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế
Nhận định sau đúng hay sai? Giải thích ?

1. Nếu hai công dân Việt Nam kết hôn tại nước ngoài thì theo pháp luật ViệtNam, quan hệ hôn nhân đó phải là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Đây là một nhận định sai.

Bởi vì, Giữa 2 công dân việt nam với nhau kết hôn ở nước ngoài mà quan hệ đó được xác lập,thực hiện,thay đổi,chấm dứt ở nước ngoài (có nghĩa là quan hệ đó phải phát sinh ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài) liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài mới được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Tuy nhiên trong trường hợp 2 công dân việt nam đăng kí kết hôn ở đại sứ quán hay lãnh sự quán của việt nam đặt trụ sở tại nước ngoài thì sẽ kết hôn trong vùng lãnh thổ đặc biệt và tuân theo pháp luật việt nam nên không được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

2. Xung đột pháp luật chỉ phát sính trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng).

Đây là một nhận định đúng.

Bởi vì, xung đột pháp luật chỉ phát sinh trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng (hôn nhân gia đình,tố tụng dân sự,thương mại,lao động,dân sự có yếu tố nước ngoài) còn trong các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác như hình sự,hành chính…..v.v…tuy pháp luật các nước khác nhau cũng quy định khác nhau nhưng không xảy ra xung đột.vd trong quan hệ hình sự,hành chính mang tính hiệu lực theo lãnh thổ rất nghiêm ngặt và không bao giờ có quy phạm xung đột và cho phép áp dụng luật nước ngoài

3. Tất cả các quan hệ có yếu tố nước ngoài đều thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế.

Đây là một nhận định sai.

Bởi vì, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là nhứng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng.Còn những quan hệ phát sinh trong đời sống quốc tế giữa các quốc gia và rộng hơn là giữa các chủ thể của công pháp quốc tế thì thuộc đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN HIẾN PHÁP VIỆT NAM 2013

NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN HIẾN PHÁP VIỆT NAM 2013

- Về chính sách bảo vệ môi trường: Hiến pháp quy định Nhà nước cóchính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồntài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng,chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạtđộng bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng táitạo. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiênnhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệmkhắc phục, bồi thường thiệt hại (Điều 63).5. Về bảo vệ Tổ quốc (Chương IV)Trên cơ sở giữ nội dung và bố cục của Chương IV của Hiến pháp năm 1992,Hiến pháp xác định bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ7quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, phảiđược thể hiện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, anninh và đối ngoại. Hiến pháp khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò nòng cốtcủa lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, sự gắn kếtgiữa nhiệm vụ đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong việc xây dựng đấtnước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiệnnghĩa vụ quốc tế và góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.6. Về bộ máy nhà nước: Tiếp tục kế thừa bản chất và mô hình tổng thểcủa bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa các quan điểmcủa Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp định danh và làm rõhơn nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; xác định rõ hơnchức năng, thẩm quyền của cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp và điều chỉnh lại một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này; bổ sungmột số thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toánnhà nước.
Xem thêm

15 Đọc thêm