CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Chiến lược phát triển công nghệ sinh học ở việt nam đến năm 2020":

Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Đọc thêm

Điều chỉnh chiến lược phát triển GTVT việt nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Điều chỉnh chiến lược phát triển GTVT việt nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Điều chỉnh chiến lược phát triển GTVT việt nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Đọc thêm

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

chép bất kỳ một công trình hay một luận án của bất cứ tác giả nào khác. Các số liệu,kết quả trong luận văn là trung thực. Các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng.Phú Thọ, ngày 20 tháng 9 năm 2013Đào Ngọc CƣờngLuận văn Thạc sỹ QTKDĐào Ngọc CườngĐại học Bách khoa Hà NộiGVHD: TS. Phạm Thị Thanh HồngLỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành luận văn tốt nghiệp ―Hoạch định chiến lƣợc phát triểnTổng công ty giấy Việt Nam đến năm 2020” bên cạnh nỗ lực của bản thân,tôi nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trƣờng Đại họcBách Khoa Hà Nội, sự động viên từ thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp. Tôixin chân thành gửi lời cảm ơn tới những ngƣời đã động viên, khích lệ, giúp đỡtôi trong suốt thời gian qua.Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS. Phạm Thị Thanh Hồng, ngƣờiđã tận tình hƣớng dẫn, dìu dắt tôi trong quá trình thực hiện luận văn.Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộcông nhân viên các phòng ban trong Tổng công ty giấy Việt Nam đã nhiệttình giúp đỡ, cung cấp thông tin cho tôi suốt quá trình nghiên cứu đề tài này.Mặc dù tôi có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn, song với kiến thức và thờigian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì vậy
Xem thêm

Đọc thêm

Chuyên đề môn khoa học và sức khỏe ô nhiễm môi trường đất khu chế xuất công nghiệp

Chuyên đề môn khoa học và sức khỏe ô nhiễm môi trường đất khu chế xuất công nghiệp

ĐẶT VẤN ĐỀ ​ Đất là một tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người...Đất đóng vai trò quan trọng: là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để sinh vật sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở và các công trình khác. Thế nhưng ngày nay, con người đã quá lạm dụng nguồn tài nguyên quý giá này và đã có nhiều tác động có ảnh hưởng xấu đến đất.1 Trong bối cảnh toàn cầu nói chung, môi trường đất đang bị ô nhiễm trầm trọng đặc biệt là ở các nước đang phát triển, Việt Nam cũng nằm trong tình trạng này . Do vậy, bảo vệ môi trường đất nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Để có một sự phát triển bền vững cần phải có một chương trình hành động thống nhất và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường. Nếu không có một chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường, nền kinh tế sẽ bị thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời sự phát triển của đất nước cũng thiếu bền vững. Nhất là trong những năm gần đây do nền kinh tế nước ta phát triển đi lên công nghiệp hoá hiện đại hoá nhiều đô thị và thành phố được hình thành thì tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng nước thải từ các nhà máy và khu dân cư đô thị làm ô nhiễm nguồn nước, nước bị ô nhiễm thì đất cũng bị ô nhiễm nặng nề môi trường đất ngày càng ô nhiễm. Theo dự báo của các cơ quan nghiên cứu thì mức độ ô nhiễm môi trường đất vào những năm 2015 2020 sẽ tăng lên từ 23 lần so với hiện tại và các chỉ số ô nhiễm sẽ tịnh tiến với tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa. Nếu không có những giải pháp công nghệ và quản lý thì chất lượng môi trường đất của Việt Nam sẽ bị suy giảm đến mức báo động và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của tất cả chúng ta. Do vậy, chuyên đề của tôi xin đề cập đến tình hình “ Ô nhiễm môi trường đất ở các khu công nghiệp tại Việt Nam” với các mục tiêu: 1. Mô tả được hiện trạng tình hình ô nhiễm môi trường đất ở các khu công nghiệp tại Việt Nam. Đề xuất một số giải pháp nhằm khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường đất ở các khu công nghiệp tại Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN vào dạy học ở các TRƯỜNG TRUNG học cơ sở QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN vào dạy học ở các TRƯỜNG TRUNG học cơ sở QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội

Sự phát triển của CNTT đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đào tạo. Ứng dụng CNTT vào dạy học trở thành xu thế tất yếu và có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng dạy và học, nhất là đối với đổi mới PPDH theo hướng hiện đại. Về vấn đề này, Chiến lược phát triển giáo dục 2011 2020 đã xác định cần phải đẩy mạnh ứng dụng CNTT, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp, phấn đấu đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% GV giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học13, tr.12. Vì thế, Bộ GDĐT đã chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT ở các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học.
Xem thêm

Đọc thêm

Đa dạng sinh học ở Việt Nam và những thành tựu mới

Đa dạng sinh học ở Việt Nam và những thành tựu mới

Việt Nam thông qua Luật Đa dạng sinh học vào năm 2008, tiếp đó chiến lược tầm quốc gia về đa dạng sinh học được phê duyệt vào tháng 7/2013. Sự ra đời của chiến lược với những tầm nhìn, định hướng rõ ràng đã thúc đẩy công tác nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều hoạt động điều tra, kiểm kê đã được thực hiện, nhiều thành tựu trong nghiên cứu về đa dạng sinh học đã được công bố, góp phần củng cố giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam, là tiền đề cho sự phát triển bền vững sau này.
Xem thêm

Đọc thêm

THIẾT KẾ CHẾ TẠO BỘ ĐIỀU KHIỂN ĐÈN CHIẾU SÁNG CÔNG CỘNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

THIẾT KẾ CHẾ TẠO BỘ ĐIỀU KHIỂN ĐÈN CHIẾU SÁNG CÔNG CỘNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, năng lượng từ mặt trời đến trái đất vào khoảng 173.000 tỉ KW. Đối với các nước phát triển, năng lượng tái tạo (NLTT) năng lượng mặt trời là nguồn quan trọng trong cán cân năng lượng và bảo vệ môi trường. NLTT cũng là nguồn cung ứng lâu dài. Các nước phát triển ở châu Âu và các châu lục khác đã có những bước phát triển ứng dụng công nghệ NLTT đáng ghi nhận.Để phát triển NLTT, nhiều nước đã đặt ra mục tiêu tỷ lệ NLTT trong tổng nhu cầu năng lượng giai đoạn 20102015 hoặc dài hơn đến 2020. Ví dụ Châu Âu EU nhắm đến mục tiêu đến 2020 sẽ có 20%, Trung Quốc 15%; Thái Lan đến 2011 sẽ có 8%; Hàn Quốc 7% đến 2010; Indonesia 15% đến 2015; Anh quốc 15% đến 2020; Thụy Điển 49% đến 2020; New Zeland 90% đến 2025; Philipine 4.7 GW đến 2013…Riêng nước Mỹ có 25 tiểu bang đặt mục tiêu 20% đến năm 2017. Năm 2009, tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký đạo luật khôi phục và tái đầu tư nước Mỹ (American Recovery and Reinvestment Act) trong đó dành 16.8 tỷ hỗ trợ các dự án tiết kiệm năng lượng và NLTT (Energy Efficiency and Renewable EnergyEERE). Tổng thống muốn đảm bảo rằng 10% điện của nước Mỹ là NLTT như điện gió và điện mặt trời vào năm 2012 và 25% vào năm 2025 và đặt mục tiêu giảm 80% khí thải hiệu ứng nhà kính vào năm 2050.Tính đến năm 2014, doanh thu từ NLTT của Đức là 50 tỷ euro. Bên cạnh đó, việc phát triển NLTT đã cung cấp việc làm cho khoảng 350.000 người dân Đức. Chính sách phát triển NLTT của Đức nằm trong chính sách chung của EU, tức là đến năm 2020 sẽ giảm 20% những loại NL gây ô nhiễm, tăng 20% các loại NLTT. Mục tiêu của Đức là đến năm 2020, NLTT sẽ chiếm tối thiểu 30% tổng nhu cầu năng lượng.Ở các nước phát triển thì công nghệ chế tạo thiết bị sử dụng NLTT đã phát triển từ lâu đạt chất lượng rất cao, độ bền tốt, mức độ tự động hoá cao và có thị trường toàn thế giới. Không những chế tạo sản phẩm để bán mà các nước này đã và đang xuất các công nghệ chế tạo thiết bị sang các nước theo nhiều hình thức.Việc ứng dụng công nghệ NLTT để cung cấp nhu cầu sử dụng năng lượng với quy mô nhỏ nhất là ở những khu vực không thể nối được lưới điện ở nhiều nước trên thế giới đã phát triển mạnh và đạt được hiệu quả rất cao.1.1.2. Thực trạng năng lượng tái tạo trong nước.Ở Việt Nam hiện nay vấn đề thiếu hụt năng lượng trong thời gian tới đang trở lên hiện hữu, tốc độ phát triển nguồn không theo kịp tốc độ phát triển của phụ tải, điều này nếu không giải quyết kịp thời sẽ ảnh hưởng hưởng rất lớn đến an ninh năng lượng quốc gia, ảnh hưởng hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và đời sống nhân dân. Vì vậy, nước ta đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020, sản lượng điện NLTT chiếm khoảng 5% tổng nguồn điện, trong đó sẽ ưu tiên phát triển NLTT theo hướng thủy điện nhỏ, điện gió, điện mặt trời,… nhằm tăng tỷ lệ các nguồn NLTT khoảng 3% tổng năng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2020 và 11% vào năm 2050. Chúng ta sẽ tập trung tìm hiểu về năng lượng mặt trời. Về vấn đề nguồn năng lượng mặt trời, Việt Nam có lợi thế là một trong những nước nằm trong giải phân bổ ánh nắng mặt trời nhiều nhất trong năm trên bản đồ bức xạ mặt trời của thế giới. Vị trí địa lý đã ưu ái cho Việt Nam một nguồn năng lượng tái tạo vô cùng lớn đó là năng lượng mặt trời. Trải dài từ vĩ độ 23023’Bắc đến 8027’ Bắc, Việt Nam nằm trong khu vực có cường độ bức xạ mặt trời tương đối cao. Năng lượng mặt trời ở Việt Nam có sẵn quanh năm, khá ổn định và phân bố rộng rãi trên các miền khác nhau của đất nước. Đặc biệt, số ngày nắng trung bình trên các tỉnh của miền trung và miền nam là khoảng 300 ngàynăm. Với tổng số giờ nắng cao lên đến trên 2.500 giờnăm, tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm vào khoảng 230250 kcalcm2 theo hướng tăng dần về phía Nam. Dưới đây là “ Bản đồ bức xạ mặt trời Việt Nam” do 3 viện nghiên cứu hàng đầu của Tây Ban Nha là CIEMAT, CENER, IDEA lập. Các viện nghiên cứu của Tây Ban Nha đã sử dụng các mô hình toán học để mô phỏng, tính toán trên cơ sở số liệu của 171 trạm đo khí tượng thủy văn của Việt Nam đo số giờ nắng trong 30 năm, cơ sở dữ liệu ảnh vệ tinh (ảnh phổ thị) trong 5 năm và dữ liệu của 12 trạm đo khí tượng thủy văn tự động trong 2 năm trong đó khu vực thấp nhất có lượng bức xạ mặt trời là 3kwhm2 ngày , khu vực cao nhất lượng bức xạ mặt trời nên đến 5,6 kwhm2 ngày. 1.2.1. Cấu tạo và phân loại Pin măt trời Pin năng lượng mặt trời là thiết bị giúp chuyển hóa trực tiếp năng lượng ánh sáng mặt trời (quang năng) thành năng lượng điện (điện năng) dựa trên hiệu ứng quang điện. Hiệu ứng quang điện là khả năng phát ra điện tử (electron) khi được ánh sáng chiếu vào của vật chất. Vật liệu xuất phát để làm pin mặt trời silic phải là bán dẫn silic tinh khiết. Ở dạng tinh khiết, còn gọi là bán dẫn ròng số hạt tải (hạt mang điện) là electron và số hạt tải là lỗ trống (hole) như nhau. Để làm pin Mặt trời từ bán dẫn tinh khiết phải làm ra bán dẫn loại n và bán dẫn loại p rồi ghép lại với nhau cho nó có được tiếp xúc p n. Thực tế thì xuất phát từ một phiến bán dẫn tinh khiết tức là chỉ có các nguyên tử Si để tiếp xúc p n, người ta phải pha thêm vào một ít nguyên tử khác loại, gọi là pha tạp. Hình 1.3. Cấu tạo của pin mặt trờiHiện nay vật liệu chủ yếu cho pin mặt trời là các silic tinh thể. Pin mặt trời từ tinh thể silic chia thành 3 loại:•Một tinh thể hay đơn tinh thể module sản xuất dựa trên quá trình Czochralski. Đơn tinh thể loại này có hiệu suất tới 16%. Chúng thường rất mắc tiền do được cắt từ các thỏi hình ống, các tấm đơn thể này cócác mặt trống ở góc nối cácmodule.Hình 1.4. Pin mặt trời một tinh thể•Đa tinh thể làm từ các thỏi đúcđúc từ silic nung chảy cẩn thận được làm nguội và làm rắn. Các pin này thường rẻ hơn các đơn tinh thể,tuy nhiên hiệu suất kém hơn. Tuy nhiên chúngcó thể tạo thành các tấm vuông che phủ bề mặt nhiều hơn đơn tinhthể bù lại cho hiệu suất thấp của nó.Hình 1.5. Pin mặt trời loại đa tinh thể•Dải silic tạo từ các miếng phim mỏng từ silic nóng chảy và có cấu trúc đa tinh thể. Loại này thường có hiệu suất thấp nhất, tuy nhiên loại này rẻ nhất trong các loại vì không cần phải cắt từ thỏi silicon. Các công nghệ trên là sản xuất tấm, hay các loại trên có độ dày 300 μm tạo thành và xếp lại để tạo nên module Hình 1.6. Pin mặt trời được làm từ miếng phim silic mỏng Ngoài Si, hiện nay người ta đang nghiên cứu và thử nghiệm các loại vật liệu khác có nhiều triển vọng như Sunfit cadmi đồng (CuCds), Galium arsenit (GaAs) … Dưới đây là cấu tạo một module Pin mặt trời:Hình 1.7. Cấu tạo một module pin mặt trời. 1.2.2. Nguyên lý hoạt động Pin mặt trời Silicon được biết đến là một chất bán dẫn. Chất bán dẫn là vật liệu trung gian giữa chất dẫn điện và chất cách điện. Chất bán dẫn hoạt động như một chất cách điện ở nhiệt độ thấp và có tính dẫn điện ở nhiệt độ phòng. Với tính chất như vậy, silicon là một thành phần quan trọng trong cấu tạo của pin năng lượng mặt trời.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ đào tạo, PHỔ cập CHUYÊN môn NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH vực NÔNG NGHIỆP ở nước TA HIỆN NAY

LUẬN văn THẠC sĩ đào tạo, PHỔ cập CHUYÊN môn NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH vực NÔNG NGHIỆP ở nước TA HIỆN NAY

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta, nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đã xác định rõ vai trò của phát triển nông nghiệp, từ Đại hội V (1982), nông nghiệp được Đảng ta coi là “mặt trận hàng đầu”. Thực hiện quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Đại hội VIII đã xác định CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm trong những năm trước mắt. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020 do Đại hội XI của Đảng thông qua đã khẳng: “Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học ... Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn”4, tr....
Xem thêm

Đọc thêm

XAY DUNG CHIEN LUOC KINH DOANH CTY MAY NAM HA DEN NAM 2020

XAY DUNG CHIEN LUOC KINH DOANH CTY MAY NAM HA DEN NAM 2020

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những ý tưởng, nội dung và đề xuất trong luận văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu, tiếp thu các kiến thức từ Giảng viên hướng dẫn và các Thầy, Cô trong Viện Kinh tế Quản lý Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Tất cả các số liệu, bảng biểu trong luận văn là kết quả của quá trình thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở các kiến thức tôi đã tiếp thu được trong quá trình học tập, không phải là sản phẩm sao chép, trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tác giả Lại Thanh Sơn MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU v PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 3 1.1. Các khái niệm về chiến lược kinh doanh 3 1.1.1. Chiến lược kinh doanh 3 1.1.1.1. Khái niệm về chiến lược 3 1.1.1.2. Khái niệm về chiến lược kinh doanh 3 1.1.2. Phân biệt chiến lược kinh doanh với các phạm trù khác 4 1.1.3. Yêu cầu và ý nghĩa của chiến lược kinh doanh 5 1.1.3.1. Yêu cầu của sự lựa chọn chiến lược 5 1.1.3.2. Ý nghĩa của chiến lược kinh doanh 8 1.1.4. Các loại hình chiến lược kinh doanh cơ bản 8 1.2. Phân tích và hoạch định chiến lược 12 1.2.1. Quy trình xây dựng và hoạch định chiến lược 12 1.2.1.1. Chức năng và nhiệm vụ 12 1.2.1.2. Đánh giá môi trường bên ngoài 14 1.2.1.3. Đánh giá môi trường nội bộ 17 1.2.1.4. Phân tích và lựa chọn chiến lược 20 1.2.2. Phân tích các căn cứ phục vụ hoạch định chiến lược 21 1.2.2.1. Phân tích môi trường vĩ mô 21 1.2.2.1. Phân tích môi trường ngành (Mô hình 5 lực lượng của Michael Porter) 23 1.2.2.3. Phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp 25 1.2.3. Hoạch định chiến lược 26 1.2.3.1. Phương pháp hoạch định chiến lược 26 1.2.3.2. Một số mô hình lý thuyết về phân tích và hoạch định chiến lược 27 1.2.3.3. Thực hiện chiến lược 31 1.2.3.4. Đánh giá chiến lược 31 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 32 CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CĂN CỨ HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NAM HÀ 33 2.1. Phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần may Nam Hà 33 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần may Nam Hà 33 2.1.2. Các dữ liệu cơ bản về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty 34 2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 20112013 38 2.2. Phân tích các căn cứ chiến lược cho giai đoạn 2014 2020 40 2.2.1. Phân tích mô trường vĩ mô 40 2.2.1.1. Môi trường chính trị, pháp luật 40 2.2.1.2. Môi trường kinh tế 41 2.2.1.3. Môi trường tự nhiên 44 2.2.1.4. Môi trường văn hoá xã hội 45 2.2.1.5. Môi trường công nghệ 46 2.2.2. Phân tích các yếu tố thuộc môi trường ngành 46 2.2.2.1. Cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại 46 2.2.2.2. Phân tích áp lực từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 54 2.2.2.3. Phân tích áp lực từ quyền lực thương lượng của khách hàng 55 2.2.2.4. Phân tích áp lực từ quyền lực thương lượng của nhà cung cấp 58 2.2.2.5. Phân tích áp lực từ sản phẩm mới, sản phẩm thay thế 59 2.2.3. Phân tích môi trường nội bộ 60 2.2.3.1. Phân tích năng lực nhân sự của Công ty Cổ phần may Nam Hà 60 2.2.3.2. Năng lực sản xuất, công nghệ của Công ty 61 2.2.3.3. Năng lực về tổ chức kinh doanh 63 2.2.3.4. Năng lực tài chính của Công ty Cổ phần may Nam Hà 68 2.2.4. Tổng hợp điểm mạnh điểm yếu của Công ty 70 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 72 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ CHIẾN LƯỢC CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NAM HÀ GIAI ĐOẠN 2014 2020 73 3.1. Chiến lược phát triển ngành dệt may trong thời gian tới 73 3.2. Định hướng mục tiêu phát triển của Công ty Cổ phần may Nam Hà đến năm 2020 75 3.1.2.1. Mục tiêu tổng quát của công ty 75 3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể của công ty 76 3.3. Phân tích và lựa chọn định hướng kinh doanh chiến lược của Công ty Cổ phần may Nam Hà qua ma trận SWOT 76 3.2.1. Cơ sở lựa chọn ma trận SWOT 76 3.2.2. Phân tích và lựa chọn phương án chiến lược 77 3.4. Một số đề xuất chiến lược chức năng nhằm triển khai chiến lược kinh doanh đã hoạch định của Công ty giai đoạn 2014 2020 81 3.4.1. Đề xuất chiến lược công nghệ 81 3.4.1.1. Đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện quy trình khởi động sản xuất 81 3.4.1.2. Đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện qui trình kiểm tra tiếp nhận đầu vào 82 3.4.1.3. Đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện qui trình sản xuất sản phẩm 83 3.4.1.4. Đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện Qui trình kiểm tra xuất xưởng 83 3.4.2. Đề xuất chiến lược nguồn nhân lực 84 3.4.2.1. Đề xuất giải pháp đổi mới công tác đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác kinh doanh 84 3.4.2.2. Đề xuất giải pháp đổi mới công tác tuyển dụng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác kinh doanh xuất khẩu 90 3.4.2.3. Đề xuất giải pháp đổi mới công tác thưởng, phạt, các chính sách đãi ngộ và xây dựng văn hóa doanh nghiệp 92 3.4.3. Đề xuất chiến lược marketing 93 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 97 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Định nghĩa CN – TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp CP Cổ phần CPI Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng) EU European Union (Liên minh Châu Âu) FOB Free On Board (Giao hàng lên tàu) GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa) HĐQT Hội đồng quản trị MBO Management by Objectives (Quản trị theo mục tiêu) ODA Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức) PX Phân xưởng SWOT Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats (Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) SXKD Sản xuất kinh doanh TGĐ Tổng giám đốc TNHH Trách nhiệm hữu hạn TP Thành phố TS Tài sản USD Đô la Mỹ VNĐ Việt Nam Đồng WTO World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới) XNK Xuất nhập khẩu DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.2: Mô phỏng môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 21 Sơ đồ 1.3: Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của M.Porter 23 Sơ đồ 1.4: Ma trận BCG 28 Sơ đồ 1.5: Ma trận SWOT 30 Sơ đồ 2.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ kéo sợi trước khi hợp lý hóa sản xuất của Công ty 35 Sơ đồ 2.2: Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty 36 Sơ đồ 2.3: Sơ đồ bộ máy Công ty Cổ phần may Nam Hà 37 Sơ đồ 3.1: Kết quả phân tích ma trận SWOT 79 BẢNG Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 38 Bảng 2.2: Lượng vốn FDI của Việt Nam giai đoạn 2011 2013 40 Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2011 2013 41 Bảng 2.4: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2011 2013 42 Bảng 2.5: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2011 2013 43 Bảng 2.6: Tình hình lao động của các công ty dệt may trên địa bàn tỉnh Nam Định năm 2013 49 Bảng 2.7: Danh mục các đối thủ cạnh tranh trực tiếp về mặt sản phẩm của Công ty 51 Bảng 2.8: Doanh số xuất khẩu năm 2013 của Công ty và các đối thủ xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp 54 Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn cung ứng nguyên vật liệu của Công ty giai đoạn 2011 2013 58 Bảng 2.10: Thị phần doanh thu của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may trong nước 63 Bảng 2.11: Báo cáo kết quả hđsxkd giai đoạn năm 2011 2013 64 Bảng 2.12: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty giai đọan 2011 – 2013 68 Bảng 3.1: Mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2020 74 Bảng 3.2: Danh mục cơ hội và nguy cơ 77 Bảng 3.3: Danh mục những điểm mạnh, điểm yếu 78 BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ doanh thu của Công ty giai đoạn 2011 2013 39 Biểu đồ 2.2: Diễn biến của chỉ số giá 9 tháng đầu năm 2013 và 2014 43 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2013 56 Biểu đồ 2.4: Cơ cấu nhân lực của Công ty năm 2013 60 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra các cơ hội đồng thời đem đến những thách thức nhất định cho sự phát triển của nền kinh tế trong nước. Sau gần 7 năm gia nhập WTO, quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng, kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Môi trường kinh doanh năng động tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát huy được năng lực của mình. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị trường phải xác định được những mục tiêu và lập được chiến lược kinh doanh từng giai đoạn thì mới có thể tồn tại và phát triển vững mạnh được. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam xuất nhập khẩu nói riêng, trong nền kinh tế hội nhập và trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động đã và đang gặp không ít những khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty Cổ phần may Nam Hà hoạt động trong lĩnh vực dệt may cũng đã chịu sự tác động của thị trường. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty Cổ phần may Nam Hà đến năm 2020” làm đề tài khoá luận của mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở phân tích môi trường bên ngoài gồm có môi trường vĩ mô và môi trường ngành. Phân tích môi trường bên trong của Công ty Cổ phần may Nam Hà, từ đó xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa đối với doanh nghiệp. Luận văn xây dựng chiến lược cho công ty trên có sở áp dụng mô hình SWOT và đưa ra một số giải pháp chiến lược kinh doanh cho Công ty Cổ phần may Nam Hà đến năm 2020, đồng thời đề xuất các biện pháp để thực hiện các giải pháp chiến lược đó. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu các căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần may Nam Hà và đề xuất các giải pháp chiến lược kinh doanh của Công ty đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu: Vận dụng những lý thuyết cơ bản về chiến lược kinh doanh, các công cụ phân tích chiến lược, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần may Nam Hà thời gian qua để đề xuất chiến lược kinh doanh cho Công ty đến năm 2020. 4. Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận thực tiễn: Luận văn áp dụng công cụ PEST (phân tích môi trường bên ngoài); công cụ phân tích môi trường ngành là 5 thế lực tương quan của M.Porter, công cụ phân tích SWOT. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh trên cơ sở điều tra, quan sát thực tế và các số liệu thống kê thu thập từ các sách, các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành có liên quan để đánh giá tình hình một cách sát thực, làm cơ sở vững để đưa ra những nhận xét đánh giá và đề xuất các giải pháp thực hiện. 5. Những đóng góp mới, những giải pháp hoàn thiện của đề tài Luận văn đã hệ thống hóa được lý thuyết về xây dựng chiến lược ở cấp doanh nghiệp. Luận văn đã áp dụng hệ thống lý thuyết này vào một trường hợp thực tế đó là Công ty Cổ phần may Nam Hà để xây dựng chiến lược và đề xuất các giải pháp về nguồn lực để triển khai chiến lược đã được đề xuất. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 03 chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích và hoạch định chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và các căn cứ hình thành chiến lược của Công ty Cổ phần may Nam Hà Chương 3: Một số đề xuất chiến lược cho hoạt động kinh doanh Công ty Cổ phần may Nam Hà giai đoạn 2014 2020 Các giải pháp đề xuất trong luận văn chỉ mang tính ngắn hạn và đặc biệt chưa xét đến hết tất cả các yếu tố ảnh hưởng. Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp và các bạn học để luận văn hoàn thiện hơn. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1.1. Các khái niệm về chiến lược kinh doanh 1.1.1. Chiến lược kinh doanh 1.1.1.1. Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ “Chiến lược” có từ thời xa xưa, nó xuất phát từ nghệ thuật quân sự, với ý nghĩa là sách lược trong chiến tranh. Mà cụ thể là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh. Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã phát triển sang các lĩnh vực khoa học khác như: chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, công nghệ… Khái niệm chiến lược được thể hiện qua nhiều quan niệm: Chiến lược như những quyết định, những hành động hoặc những kế hoạch liên kết với nhau được thiết kế để đề ra và thực hiện những mục tiêu của một tổ chức. Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng đến các mục tiêu đảm bảo sao cho năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Chiến lược như là một mô hình, vì ở một khía cạnh nào đó, chiến lược của một tổ chức phản ảnh cấu trúc, khuynh hướng mà người ta dự định trong tương lai. Nhìn chung, chiến lược là tập hợp các hành động, quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm giúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra, và nó cần xây dựng sao cho tận dụng được những điểm mạnh cơ bản bao gồm các nguồn lực và năng lực của tổ chức cũng như phải xét tới những cơ hội, thách thức của môi trường. 1.1.1.2. Khái niệm về chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh được nhiều nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chiến lược kinh doanh”. Tùy theo từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh. Theo cách tiếp cận cạnh tranh, Michael poter cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Theo cách tiếp cận coi chiến lược kinh doanh là một phạm trù của khoa học quản lý, Alfred Chandler viết: “Chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó”. Theo cách tiếp cận kế hoạch hóa, Jame B.Quinn cho rằng “chiến lược kinh doanh là một dạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau” Vậy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là những quyết định hoặc những kế hoạch thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp những hoạt động của các đơn vị kinh doanh (SBU) trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. 1.1.2. Phân biệt chiến lược kinh doanh với các phạm trù khác Tuy còn có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến lược song các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh được quan niệm tương đối thống nhất. Các đặc trưng cơ bản đó là: Chiến lược kinh doanh xác định rõ những mục tiêu cơ bản phương hướng kinh doanh cần đạt tới trong đúng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Tính định hướng của chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động. Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Nó chỉ mang tính định hướng còn trong thực tiễn hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu kinh tế, xem xét tính hợp lý và điều chỉnh cho phù hợp với môi trường và điều kiện kinh doanh để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và khắc phục sự sai lệch do tính định hướng của chiến lược gây ra. Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài sản hữu hình và vô hình) của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược. Chiến lược kinh doanh luôn mang tư tưởng tiến công giành thắng lợi trong cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao. Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược đều được tập trung vào nhóm quản trị viên cấp cao. Để đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn, sự bí mật thông tin trong cạnh tranh. 1.1.3. Yêu cầu và ý nghĩa của chiến lược kinh doanh 1.1.3.1. Yêu cầu của sự lựa chọn chiến lược Lựa chọn chiến lược là một khâu quan trọng của quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh. Về bản chất, quyết định lựa chọn chiến lược chính là việc trên cơ sở hệ thống mục tiêu đã xác định, các nhà hoạt định tiếp tục sử dụng các công cụ thích hợp để hình thành các chiến lược giải pháp. Chất lượng của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động triển khai thực hiện chiến lược và các hoạt động khác như đầu tư, đổi mới tổ chức, đào tạo cán bộ
Xem thêm

Đọc thêm

Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam

Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam

Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam I. THỰC CHẤT CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI I.1. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, cùng với việc từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng các lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước đã xác định ngày càng rõ quan điểm mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quan điểm mới ấy là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài học của mấy thập kỷ trước đây kết hợp với sự nghiên cứu, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của thế giới và thời đại Cuối thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra công nghiệp hoá, hiện đại hoá không phải là hai quá trình tuy có phần lồng vào nhau nhưng về cơ bản vẫn tách biệt và nối tiếp nhau, mà là một quá trình thống nhất, có thể tóm tắt là công nghiệp hoá theo hướng hiện đại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khoá VII của Đảng ta (1994) chỉ rõ: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Coi sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được sau 10 năm đổi mới, sự xác định rõ ràng hơn về chủ trương đã tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta đẩy mạnh CNH, HĐH. Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, bối cảnh trong nước và quốc tế tiếp tục có những thay đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy, nhận thức của Đảng ta về CNH, HĐH đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 20012010 được thông qua tại Đại hội IX xác định: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát triển những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”. Đảng ta đề ra mục tiêu “phấn đấu trong giai đoạn 20012010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Điều này hứa hẹn mở ra những bước đột phá trong nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội, góp phần thực hiện “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. I.2. Những đặc điểm chủ yếu của CNH, HĐH ở Việt nam CNH, HĐH ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm sau đây: Thứ nhất: Quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một quá trình rộng lớn, phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong các tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biết đổi về chất,… của các tác nhân tham gia quá trình. Mục tiêu của quá trình CNH, HĐH mang tính bao trùm rất cao, theo đó đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu sâu xa hơn là nước ta trở thành một nước “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Thứ hai: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong CNH rồi mới tiến hành HĐH, mà phải thực hiện đồng thời và đồng bộ CNH và HĐH như một quá trình thống nhất. Về đại thể, riêng về mặt kinh tế, có thể nhìn nhận quá trình này từ hai mặt thống nhất với nhau: (i) thứ nhất, đó là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại, cũng có nghĩa là tạo lập nền tảng vật chất kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; và (ii) thứ hai, đó là quá trình cải cách hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập. CNH gắn với HĐH là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nước trong khu vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Thứ ba: Quá trình CNH, HĐH ở nước ta cần và có thể được “rút ngắn”. Việc cần được “rút ngắn” ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. Bên cạnh đó, bối cảnh mới trong nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng “rút ngắn” quá trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta có thể thực hiện được CNH, HĐH rút ngắn bao gồm hai mặt: (i) thứ nhất, đạt và duy trì một tốc độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó (thực chất là tăng tốc để đuổi kịp); và (ii) thứ hai, lựa chọn và áp dụng một phương thức CNH, HĐH cho phép bỏ qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới một nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể thống nhất với nhau, và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanh CNH, HĐH ở nước ta. Thứ tư: Ở nước ta, quá trình CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ với việc từng bước phát triển kinh tế tri thức. Trong thời gian qua, tại không ít diễn đàn khoa học và công trình nghiên cứu, mối quan hệ hai chiều giữa CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức đã từng bước được làm rõ. Về đại thể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức mới có khả năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH. Hay nói cách khác, phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện cho việc thực hiện mô hình CNH, HĐH “rút ngắn” ở nước ta. Ngược lại, việc thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá trình CNH, HĐH tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để đi vào kinh tế tri thức. Quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải nắm bắt các tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp và các ngành kinh tế hiện có, đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức. Từ những nét trên đây, có thể thấy nội dung cốt lõi về kinh tế của CNH, HĐH ở Việt Nam trong thời gian tới như sau: (1) Đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định và bền vững; (2) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ; (3) Nắm bắt tri thức và công nghệ mới nhất để hiện đại hoá nông nghiệp và các ngành kinh tế hiện có; (4) Phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ; và (5) Không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. I.3. Những thuận lợi và khó khăn của quá trình CNH, HĐH Việt nam Bối cảnh trong nước và quốc tế ngày nay hàm chứa nhiều thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Những thuận lợi và khó khăn này tồn tại đan xen với nhau, có thể chuyển hóa cho nhau. Việc phân định một cách tương đối và nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định mục tiêu, nội dung và phương pháp tiến hành CNH, HĐH cũng như việc thực hiện các nhiệm vụ trong thực tế. Về đại thể, những thuận lợi và khó khăn được khái quát hóa ở một số điểm sau đây: I.3.1. Thuận lợi Thứ nhất: Sau 20 năm đổi mới, thế và lực kinh tế của nước ta đã thay đổi mạnh mẽ, thể hiện ở những cái “mới” như: + Cấu trúc kinh tế mới: Cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò và chức năng mới của Nhà nước, xã hội năng động hơn, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế xã hội được kết nối chặt chẽ hơn. + Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ khá cao liên tục trong nhiều năm, với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. + Thế phát triển mới: Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh tế, quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ và đang nỗ lực gia nhập WTO, v.v. + Động lực mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới mạnh mẽ: cạnh tranh thị trường, sự mở rộng các cơ hội, sức mạnh của tinh thần dân tộc trong cuộc đua tranh phát triển. + Lực lượng chủ thể phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát triển (Nhà nước, nhân dân, doanh gia, đội ngũ trí thức và quản trị) được nâng cao. Các yếu tố bên ngoài (vốn, công nghệ kỹ thuật, tri thức, thị trường...trở thành lực lượng thúc đẩy phát triển quan trọng. Thứ hai: Bối cảnh quốc tế với những xu hướng ưu trội bao gồm (i) toàn cầu hoá kinh tế, (ii) phát triển kinh tế tri thức, và (iii) hoà bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã và đang theo đuổi thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường. Việc tham gia vào các quá trình liên doanh, liên kết, hợp tác song phương và đa phương, hợp tác khu vực và quốc tế của nước ta góp phần phát huy hữu hiệu lợi thế so sánh của đất nước, thu hút được những nguồn lực dồi dào về vốn, công nghệ, tri thức, kỹ năng,… của thế giới cho công cuộc CNH, HĐH. Bên cạnh đó, việc tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế cũng tạo động lực cho việc đẩy mạnh những cải cách trong nước theo hướng hiện đại, phù hợp với khung khổ chung của quốc tế. Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn, Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế của “nước đi sau”. Bên cạnh việc thu hút những nguồn lực vật chất và trí tuệ quan trọng như nêu trên, các nước đi sau như Việt Nam còn có thể học hỏi kinh nghiệm phong phú về CNH, HĐH của các nước đi trước. Với những kinh nghiệm đổi mới của chính bản thân mình, Việt Nam có điều kiện để học hỏi và sáng tạo liên quan đến nhiều khía cạnh của CNH, HĐH. Một lợi thế nữa của nước đi sau là nền kinh tế nước ta dễ chuyển đổi cơ cấu, vì không lệ thuộc nhiều vào những cơ sở vật chất đã có (các phí tổn không phải là quá lớn khi thay đổi những cái cũ cần thay đổi). Điều này tạo dễ dàng cho chúng ta bắt tay vào phát triển kinh tế theo các định hướng cơ cấu đã chọn lựa, bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm ở trung tâm vùng kinh tế năng động Đông Nam Á, thuận lợi cho việc giao lưu và hội nhập quốc tế. Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú để phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng. Đặc biệt, nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu trẻ và giá nhân công thấp, năng lực trí tuệ con người Việt Nam không thua kém các nước, tiếp thu nhanh các tri thức mới, dễ đào tạo, có khả năng sáng tạo. Bên cạnh đó, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nền tảng cho sự phát triển các khả năng sáng tạo. Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranh quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những ngành, những lĩnh vực hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn. I.3.2. Khó khăn Thứ nhất: Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, lạc hậu và còn nghiêng về hướng nội, v.v. là những đặc tính của nền kinh tế nước ta sau 20 năm đổi mới. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chỉ mới đang hình thành, chưa đồng bộ và chưa vận hành tốt, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng và chưa có tính khuyến khích cao, v.v. Nói một cách ngắn gọn, nền kinh tế nước ta còn đang phát triển (lạc hậu, nghèo) và đang chuyển đổi (thể chế mới chưa hoàn thiện trong khi thể chế cũ chưa hoàn toàn bị loại bỏ). Thực tế này là khó tránh khỏi đối với một quốc gia đang phát triển, có tính tạm thời và được khắc phục dần trong quá trình đổi mới, tuy nhiên nó đang là một trở ngại lớn đối với quá trình CNH, HĐH ở nước ta trong môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay. Trong đó, thách thức đặt ra là nguy cơ bị tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Thứ hai: Tuy bối cảnh quốc tế thể hiện rõ ba xu thế ưu trội như nêu trên đây, song tình hình thế giới luôn luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường. Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình toàn cầu hoá đặt nền kinh tế đất nước trước những khó khăn do cạnh tranh gay gắt, sự dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài, và những ảnh hưởng “mặt trái” khác của kiểu toàn cầu hóa hiện nay. Nếu chúng ta không có chính sách, biện pháp để hạn chế và vượt qua những khó khăn trên, thì chúng có thể có những tác động mang tính “phá huỷ” ghê gớm, kéo lùi tiến trình phát triển của đất nước nhiều năm. Thứ ba: Là nước tiến hành CNH muộn, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam gặp phải những khó khăn của “nước đi sau”. Khó khăn rõ nét là chúng ta thường phải ở thế bất lợi trong cạnh tranh quốc tế, do năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, hàm lượng vốn và trí tuệ trong sản phẩm không cao, lại thường bị động trong việc tuân thủ các luật lệ kinh tế quốc tế… Bên cạnh đó, trong quá trình CNH, HĐH, nước ta phải đối mặt với các vấn đề về tài nguyên môi trường, dân số và công ăn việc làm ngày càng gay gắt. Mức độ suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với sự xuống cấp của môi trường sống là hệ quả của CNH, HĐH trên quy mô toàn cầu, nhưng người gánh chịu lại chủ yếu là các nước chậm phát triển, trong đó có nước ta, đó là một khó khăn không thể lường hết được. Bởi vì nó làm cho chi phí của công cuộc CNH, HĐH tăng lên đáng kể đồng thời làm giảm tính bền vững của quá trình này. Trong khi đó, sự gia tăng của dân số, của lực lượng lao động nhanh hơn tốc độ tăng việc làm gây ra áp lực lớn giải quyết công ăn việc làm . Ở nước ta, đây là một bài toán chưa có lời giải hữu hiệu. II. TIẾN TRÌNH CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 20012010, Đảng ta đã xác định mục tiêu tổng quát là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa xác định được cụ thể các tiêu chí quan trọng khi nước ta trở thành một nước công nghiệp để làm đích hướng tới. Nếu theo tiêu chí của các nước đã hoàn thành CNH, HĐH thì nước ta khó có thể đạt tới vào năm 2020. Bên cạnh đó, các bước đi của cả quá trình CNH, HĐH cũng chưa được làm rõ. Khi chúng ta chủ trương thực hiện CNH, HĐH “rút ngắn”, thì việc nghiên cứu và hoạch định các chặng đường CNH, HĐH từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo là đặc biệt cần thiết và có ý nghĩa then chốt. Phần này phác họa một cách đại thể những mục tiêu, nhiệm vụ CNH, HĐH chủ yếu của các chặng đường từ nay đến năm 2010 và từ năm 2010 đến 2020. II.1. Chặng đường đến năm 2010 Tính đến nay, chúng ta đã thực hiện được gần một nửa chặng đường của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 20012010. Tuy chưa có tổng kết cụ thể, nhưng nhìn chung chúng ta có khả năng hoàn thành những mục tiêu kinh tế và xã hội được đề ra tại Phương hướng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 20012005. Những kết quả đạt được cho đến nay tạo điều kiện và tiền đề quan trọng cho chặng đường CNH, HĐH đến năm 2010. Trong 5 năm tới, nước ta tập trung tạo chuyển biến cơ bản về năng lực nội sinh về khoa họccông nghệ và công nghiệp của đất nước, tiếp tục nâng cao vị thế trong hội nhập và chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế, định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp. Cụ thể hơn, những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là: Thứ nhất: Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao tích lũy trong nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó cơ cấu ngành và lĩnh vực tạo được hiệu quả cao và bền vững, cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài hòa giữa vùng động lực phát triển và các vùng khác, các vùng khó khăn có thể tự lực phát triển và cơ bản hết đói nghèo. Trong nền kinh tế, hình thành một số ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; khoa học và công nghệ có cơ sở tốt để chủ động tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài và tự tạo được đáng kể công nghệ tiên tiến của nước ta; giáo dục và đào tạo phát triển hình thành đội ngũ lao động và quản lý có trình độ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao hơn. Thứ hai: Định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu, thể chế đồng bộ, hoàn chỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực ở một vị thế tốt hơn, cân bằng lợi ích và mở rộng hội nhập ngoài khu vực. Hoàn chỉnh đồng bộ các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển của chặng đường tiếp theo. Thứ ba: Tạo sự chuyển biến rõ rệt về đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân: no đủ, lành mạnh, yên vui, có nhiều yếu tố văn minh, hiện đại; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức trung bình cao trong so sánh quốc tế. Giải quyết tốt hơn, toàn diện hơn các vấn đề xã hội; cơ bản xóa nghèo, tạo nhiều việc làm, tạo điều kiện để đi tới thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khoảng cách về mức sống giữa các tầng lớp dân cư. Tựu trung lại, kết thúc chặng đường này, quá trình CNH, HĐH đất nước đã định hình nên cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh tế, để nước ta đi nhanh hơn, mạnh hơn, vững chắc hơn trong chặng đường tiếp theo (20102020). II.2. Chặng đường từ năm 2010 đến 2020 Trong chặng đường này, nước ta đã hội đủ nhiều điều kiện mang tính tiền đề về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế để tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020. Cụ thể, những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là: Thứ nhất: Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Đẩy mạnh chuyển dịch và nâng cấp cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH có hiệu quả và bền vững. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm; ở nông thôn có nền nông nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ bản hiện đại, phát triển đa dạng các ngành công nghiệp và dịch vụ, thực hiện sự chuyển biến căn bản bộ mặt nông thôn Việt Nam phù hợp với một xã hội công nghiệp. Công nghiệp có đủ khả năng hợp tác và cạnh tranh ngang bằng với các nước trong khu vực, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế. Khu vực dịch vụ phát triển đa dạng, trong đó dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông phát triển hiện đại, tiếp cận trình độ quốc tế. Thứ hai: Hình thành hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tương hợp với trình độ quốc tế. Mở rộng hội nhập quốc tế ở mức độ sâu hơn trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính, tiền tệ, lao động, công nghệ, thông tin. Tham gia có hiệu quả vào WTO và các tổ chức quốc tế khác, về kinh tế có vị thế của một nước có trình độ phát triển trung bình trên thế giới. Thứ ba: Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo kịp trình độ quốc tế. Hình thành đội ngũ các nhà quản lý nhà nước tinh thông nghiệp vụ, trung thành, trung thực và tận tụy với công việc; đội ngũ doanh nhân giỏi, năng động, nhạy bén và sáng tạo; đội ngũ trí thức có trình độ cao, tâm huyết; và đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề theo kịp yêu cầu phát triển đất nước đi dần tới hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức. Chỉ số HDI đạt mức trên trung bình trên thế giới. Thứ tư: Tạo dựng và phát huy năng lực công nghệ nội sinh, kể cả các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, chế tạo máy, tự động hóa, hóa dầu, năng lượng,… và sự kết hợp các công nghệ đó; có chỗ đứng vững chắc trên thị trường công nghệ, đạt trình độ tiên tiến về công nghệ trong khu vực. Tăng cường ứng dụng và nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho sự “rút ngắn” trong một số ngành, lĩnh vực, tiến thẳng đến trình độ hiện đại. Thứ năm: Hình thành lối sống và đạo đức trong xã hội lành mạnh, văn minh, hiện đại, gắn kết cá nhân với cộng đồng và dân tộc; nền dân chủ được mở rộng, mọi người dân có điều kiện tiếp cận và hưởng thụ công bằng các thành quả phát triển; Quản lý xã hội có hiệu quả; các tệ nạn xã hội không còn là điều suy tư, lo lắng của gia đình và xã hội; môi trường tự nhiên và sinh thái được giữ gìn, hài hòa với cuộc sống con người. An ninh chính trị, xã hội luôn luôn được củng cố vững chắc. Đối với các tiêu chí cụ thể đánh giá nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, trên cơ sở tham khảo các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội được coi là đã hoàn thành CNH, có thể sơ bộ nêu ra một số tiêu chí chủ yếu sau đây: Về cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP đạt 90% trở lên, trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt khoảng 4045% GDP, tỷ trọng nông nghiệp còn khoảng 10% trở xuống; tổng đầu tư xã hộiGDP đạt trên dưới 40%; kết cấu hạ tầng đáp ứng đầy đủ cho phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Về hội nhập kinh tế quốc tế: Đạt trình độ cao (độ mở cửa nền kinh tế đạt trên 90%; tốc độ tăng xuất khẩu gấp 23 lần tốc độ tăng GDP; hội nhập với thị trường thế giới về nhiều lĩnh vực; hội nhập với thông lệ quốc tế về các thể chế,…). Về trình độ hiện đại hóa: Năng suất lao động xã hội đạt khoảng 10.000 USDlao độngnăm; áp dụng công nghệ hiện đại khoảng 60% trở lên; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp đạt 7075% trở lên; tỷ trọng lao động có trình độ cao đạt khoảng 30% trở lên; áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và quản lý nền kinh tế (100% công sở và doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin),… Về mức sống và văn hóa xã hội: Chỉ số HDI đạt nhóm 3040 số nước trên cùng của thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.000 USD; tỷ lệ lao động được đào tạo đạt trên 70%; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong phạm vi cả nước; tuổi thọ bình quân là 75; nhà ở đô thị đạt trên 20m2người; cả nước không còn hộ nghèo; hệ số GINI nhỏ hơn 0,4. Tựu trung lại, sau khi kết thúc chặng đường CNH, HĐH 20102020, trình độ “cơ bản là một nước công nghiệp của Việt Nam” hiện ra tương đối rõ. Những năm sau đó, Việt Nam tiếp tục phát triển trên con đường hiện đại hóa trong bối cảnh của thế giới đương đại, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” dần dần trở thành hiện thực. Những phác họa trên đây, đặc biệt phác họa cho chặng đường 20102020, chưa có đủ căn cứ và ít nhiều mang dáng dấp dự đoán tương lai học. Tuy nhiên, xin mạnh dạn nêu lên phác họa ấy như một vài gợi ý ban đầu rất sơ lược. III. MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ CÁC NGÀNH, CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI Như vừa nêu trên đây khi trình bày đại thể tiến trình CNH, HĐH ở Việt nam từ nay đến 2010, một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta là công cuộc CNH, HĐH đất nước không chỉ gồm những hoạt động kinh tế, mà bao quát một phạm vi rộng lớn, đúng với nghĩa CNH, HĐH toàn bộ đất nước, chứ không chỉ riêng nền kinh tế. Tuy nhiên, do khung khổ có hạn của chuyên đề này, sau đây chỉ lựa chọn trình bày một số chủ trương và biện pháp được xem là rất quan trọng và thiết thực. III.1. Chủ trương, biện pháp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Do còn là một nước nặng về nông nghiệp, tỷ lệ dân số sống ở các vùng nông thôn chiếm phần lớn, cho nên Việt Nam tất yếu phải dành nhiều ưu tiên cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trên con đường phát triển của mình. Trong nhiều năm qua, Đảng ta đã khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương V khoá IX về Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 20012010 được ban hành ngày 1832002 đã đề ra chủ trương toàn diện về CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở nước ta trong tình hình hiện nay. Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát của cả quá trình là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh. III.1.1. Chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Thứ nhất: Coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung quan trọng nhất của toàn bộ quá trình CNH, HĐH đất nước, là bộ phận cấu thành hữu cơ của quá trình này. Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn có thể được “rút ngắn” một cách thích hợp. Thứ hai: Phải ưu tiên cho mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; trong đó, đặc biệt chú trọng phát huy nguồn lực con người và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng, gắn với thị trường. Hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tếxã hội nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái. Thứ ba: Dựa chủ yếu vào các nguồn nội lực, khơi dậy và huy động các nguồn sức mạnh tiềm tàng của tất cả các lực lượng, thành phần kinh tế; kết hợp và tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài. Thứ tư: Phát triển kinh tế phải đi liền và kết hợp chặt chẽ với việc giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn, nhanh chóng cải thiện đời sống của người dân nông thôn trên tất cả các mặt. Thứ năm: Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nông thôn với củng cố an ninh trật tự và bảo vệ tổ quốc. III.1.2. Một số biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nông thôn và đổi mới các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, cần mở rộng các điều kiện tiếp cận của các chủ thể kinh tế nông thôn đến các thị trường, coi sự vận hành của cơ chế thị trường trong việc phân bổ nguồn lực và cạnh tranh thị trường là động lực kinh tế quan trọng thúc đẩy phát triển nông thôn. Các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn cần tập trung giải quyết những khó khăn của các chủ thể kinh tế nông thôn về các vấn đề đất đai, thị trường tiêu thụ, nguồn vốn, khoa học và công nghệ, lao động, v.v. Trong đó, chính sách đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần được đổi mới theo hướng khuyến khích việc lưu chuyển đất đai từ người sử dụng này tới người sử dụng khác, từ mục đích sản xuất này tới mục đích sản xuất khác theo quy hoạch và quy định của pháp luật; không nên hạn chế việc tích tụ đất đai vào tay những người sử dụng có hiệu quả cao, tạo điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào nông nghiệp và tạo mặt bằng sản xuất cho các hoạt động công nghiệp ở nông thôn. Chính sách tài chính, tín dụng cần hướng tới việc tăng tỷ lệ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH, trong đó chú trọng đổi mới cơ cấu vốn đầu tư của nhà nước phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Thứ hai: Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần, đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Muốn vậy, trước hết cần tạo lập và hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh ở nông thôn như các hộ gia đình, các trang trại, các hợp tác xã, và các loại hình doanh nghiệp khác trên cơ sở bình đẳng. Về lâu dài, cần có một đạo luật duy nhất điều chỉnh tất cả các loại hình tổ chức này. Cần khuyến khích phát triển rộng rãi các doanh nghiệp dân doanh ở nông thôn, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, coi đây là lực lượng chủ lực tạo việc làm mới, thực hiện xoá đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề và cơ cấu lao động ở nông thôn. Bên cạnh đó, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp và nông thôn. Thứ ba: Làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, cần đẩy nhanh và nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển ngành và vùng theo nguyên tắc xác định các hướng sản xuất kinh doanh trên cơ sở lợi thế so sánh của ngành và vùng. Cần có kế hoạch phối hợp giữa các ngành chuyên môn ở từng vùng, đồng thời có kế hoạch phối hợp hoạt động của các ngành chuyên môn với các cấp chính quyền ở nông thôn liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về tài chính công. Quy hoạch ngành và vùng cần được xây dựng gắn kết và đồng bộ với các quy hoạch khác ở nông thôn như: quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; quy hoạch phát triển khu dân cư, làng, xã, thị trấn; quy hoạch xây dựng các trung tâm thương mại, chợ, khu, cụm công nghiệp, làng nghề,… ở nông thôn. Thứ tư: Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ vào phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nâng cao năng suất của từng người lao động nông nghiệp, nâng cao thu nhập của từng hécta đồng ruộng, của từng hộ nông dân. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho việc nhập khẩu các công nghệ hiện đại, các loại giống tốt, đầu tư cho việc hiện đại hoá các cơ sở nghiên cứu, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng một số khu nông nghiệp công nghệ cao dựa vào công nghệ sinh học, công nghệ thông tin như các cơ sở sản xuất giống mới dựa vào công nghệ gen, các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi sử dụng các giống mới cùng với những công nghệ mới tự động điều khiển quá trình sản xuất. Nhà nước có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn và thực hiện xã hội hoá để mở rộng hệ thống khuyến nông đến cơ sở. Thứ năm: Nâng cao trình độ và đảm bảo tính đồng bộ của nguồn lao động nông thôn thông qua đổi mới chính sách đào tạo và dạy nghề. Trong thời kỳ đầu CNH, HĐH, cần điều chỉnh cơ cấu đào tạo đại học, cao đẳng và giáo dục chuyên nghiệp theo hướng tăng đào tạo nghề nghiệp và trung học chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Nhà nước cần tăng cường đầu tư để nâng cấp các cơ sở dạy nghề của Nhà nước, đồng thời có chính sách khuyến khích xã hội hoá, phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng và khuyến khích thu hút những người được đào tạo về làm việc ở nông thôn, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa. III.2. Chủ trương, biện pháp phát triển các ngành công nghiệp III.2.1. Chủ trương phát triển các ngành công nghiệp Có thể phân biệt ba nhóm ngành công nghiệp chính sau đây: Các ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất, bao gồm những ngành phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và công nghệ nước ngoài như: nônglâm sản, thuỷhải sản, may mặc, da giầy, v.v. Những ngành công nghiệp này dễ dàng xây dựng, nhu cầu vốn không lớn, nhưng ít sáng tạo và giá trị gia tăng thấp. Tuy nhiên, việc xuất khẩu các sản phẩm thuộc những ngành này có thể tạo nguồn ngoại tệ quý giá để phát triển các ngành khác, tạo nhiều việc làm, khởi động quá trình CNH đất nước, đồng thời phát huy được những lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên và nguồn lao động. Các ngành công nghiệp thế hệ thứ hai, bao gồm những ngành đòi hỏi công nghệ cao hơn như: công nghiệp dệt, cơ khí chế tạo, sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp, điện tử, công nghệ thông tin, tự động hoá, v.v. Các sản phẩm thuộc những ngành này có độ chính xác, chất lượng và giá trị gia tăng cao. Chúng được xây dựng trên cơ sở các ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất, có mối liên kết và tạo đầu vào cho các ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất. Việc phát triển các ngành công nghiệp thế hệ thứ hai có tác động lan toả, nâng cao năng suất lao động của nhiều ngành công nghiệp và ngành kinh tế khác, là một mục tiêu quan trọng để thu hút công nghệ từ nước ngoài, đồng thời phát huy những lợi thế so sánh về nguồn nhân lực có chất lượng cao. Các ngành công nghiệp thế hệ thứ ba, bao gồm những ngành sản xuất ra nguyên vật liệu đòi hỏi vốn lớn và công nghệ cao như: công nghiệp hoá dầu, công nghiệp hoá chất quy mô lớn, công nghiệp luyện kim, v.v. Các loại nguyên liệu này sẽ có nhu cầu lớn về số lượng và ngày càng cao về chất lượng khi nền công nghiệp nước ta phát triển mạnh mẽ, nhưng hiện nay hầu hết hoặc phần lớn phải nhập khẩu. Tuy vậy, trong bối cảnh tự do hoá quốc tế hiện nay, việc phát triển những ngành công nghiệp có nhiều tính chất thay thế nhập khẩu này cần được cân nhắc cẩn trọng, và nhìn chung cần một khoảng thời gian tương đối dài để có thể tạo điều kiện đầy đủ cho sự phát triển có hiệu quả, nhất là về nguồn vốn và công nghệ. Dựa trên sự phân loại khái quát ba nhóm ngành công nghiệp như trên, việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp trong thời gian tới cần quán triệt những quan điểm sau đây: Thứ nhất: Việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp phải dựa trên lợi thế so sánh của đất nước, trong đó phải chú ý đến sự dịch chuyển từ những ngành công nghiệp dựa trên lợi thế so sánh tĩnh (nguồn lao động và tài nguyên) sang những ngành dựa trên lợi thế so sánh động (những thế mạnh lâu dài của đất nước, con người và xã hội Việt nam, cho phép phát triển những ngành công nghiệp có mức độ chế biến sâu ). Thứ hai: Việc phát triển các ngành công nghiệp phải đảm bảo tính hiệu quả, nhất là đối với những ngành thuộc thế hệ thứ ba. Chúng ta đề ra 5 tiêu chuẩn để lựa chọn phát triển những cơ sở thuộc các ngành công nghiệp ấy. Đó là: có thị trường, có nguồn vốn, có công nghệ đích đáng, có thị trường, có bước đi thích hợp, có hiệu quả cao. Tiêu chuẩn chất lượng và hiệu quả phải được coi là tiêu chí hàng đầu khi ra quyết định đầu tư, có tính tới hiệu quả tổng hợp cả về mặt xã hội, quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài, tránh quan điểm phải làm bằng bất cứ giá nào. Thứ ba: Việc phát triển các ngành công nghiệp kế tiếp sau các ngành công nghiệp ban đầu phải đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và bền vững, tạo nên một cơ cấu có hiệu quả, năng động. Trong đó, cần chú ý đến việc nâng dần trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp từ trình độ thấp lên trình độ cao, tranh thủ đi thẳng hoặc đi nhanh và công nghệ hiện đại, công nghệ cao. Thứ tư: Việc phát triển các ngành công nghiệp kế tiếp sau các ngành công nghiệp ban đầu có thể diễn ra một cách tuần tự hoặc tuỳ thuộc vào các điều kiện tạo được mà một số ngành có thể phát triển nhanh và mạnh. Trong thời kỳ đầu CNH, có thể phát triển ngay những ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao trên cơ sở xác định có trọng tâm những ngành mũi nhọn. III.2.2. Một số biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp Thứ nhất: Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2020. Chiến lược này phải giải quyết thoả đáng các vấn đề lớn như phương pháp luận và công cụ để xây dựng chiến lược; tiêu chí cụ thể để xây dựng chiến lược; xác định vị trí nền công nghiệp Việt Nam trong khu vực và trên thế giới; tư tưởng chiến lược chủ đạo phát triển toàn bộ nền công nghiệp; phân nhóm các ngành hoặc chuỗi các ngành công nghiệp đi kèm với chính sách phát triển ở mọi khía cạnh và các vấn đề về thể chế, tổ chức thực hiện, giám sát, điều chỉnh trong từng bước đi. Trong đó, cần xác định tư tưởng chiến lược mang tính chủ đạo là: (i) ưu tiên phát triển các ngành mũi nhọn và các ngành hướng mạnh về xuất khẩu dựa trên năng lực cạnh tranh; (ii) đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá, đổi mới công nghệ; (iii) đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn; và (iv) tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển công nghiệp, đặc biệt khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ hai: Cải thiện vai trò của Nhà nước trong việc chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển công nghiệp hướng tới việc huy động hữu hiệu các nguồn lực và khai thác tốt các tiềm năng của đất nước. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các tư tưởng chiến lược chủ đạo phát triển công nghiệp thông qua việc tạo môi trường thích hợp và các chính sách ưu tiên, khuyến khích, cả đối với các ngành và đối với các doanh nghiệp (được trình bày cụ thể hơn ở các phần dưới đây). Đầu tư của Nhà nước cho phát triển công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, giải pháp cần quan tâm là nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước, và có tính toán kỹ lưỡng đến hiệu quả trước khi đưa ra các quyết định đầu tư mới. Thứ ba: Các biện pháp phát triển các ngành công nghiệp cần chú trọng phát huy lợi thế so sánh và dựa trên năng lực cạnh tranh của các ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp phải được đánh giá trên cơ sở khoa học, so sánh với các nước trong khu vực và có dự báo xu hướng trong tương lai. Đối với những ngành có năng lực cạnh tranh cao, Nhà nước có thể tăng cường đầu tư và khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với những ngành có năng lực cạnh tranh có điều kiện, Nhà nước có các chính sách trợ giúp có điều kiện và có thời hạn để nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân và nước ngoài đầu tư vào những ngành này. Đối với những ngành có năng lực cạnh tranh thấp, cần tích cực điều chỉnh cơ cấu đầu tư, một mặt có thể hạn chế đầu tư để tránh gây lãng phí, kém hiệu quả, mặt khác có thể khuyến khích đầu tư thích hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh tuỳ theo đặc trưng cụ thể của từng ngành. Thứ tư: Các biện pháp thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghiệp cần chú trọng đến việc huy động nguồn lực tiềm tàng của tất cả các loại hình doanh nghiệp. Cụ thể là: + Đối với doanh nghiệp nhà nước: Cần đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả của khu vực doanh nghiệp này thông qua các biện pháp như cổ phần hoá, công ty hoá, giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê, chuyển đổi hoạt động sang phương thức công ty mẹ công ty con, hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, v.v.; cần giảm thiểu độc quyền của doanh nghiệp nhà nước, mở cửa các lĩnh vực và thị trường cho sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài nhà nước. + Đối với doanh nghiệp dân doanh: Bảo đảm các doanh nghiệp này tham gia ngày càng sâu rộng vào đầu tư phát triển các ngành mà pháp luật không cấm, không giới hạn về quy mô phát triển, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. Khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa, thích hợp với những ngành sử dụng nhiều lao động, sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân đa dạng và luôn thay đổi của thị trường, đồng thời có thể dễ dàng đổi mới công nghệ. + Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Ngoài việc tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng cho hoạt động của các doanh nghiệp này, trong chiến lược xúc tiến đầu tư những năm tới, cần hướng đến những đối tác nước ngoài có tiềm lực mạnh về nguồn tài chính và khoa họccông nghệ. Khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành công nghiệp xuất khẩu, những ngành phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, và những ngành có hàm lượng khoa họccông nghệ cao. Đồng thời với việc thực hiện các biện pháp phát triển doanh nghiệp, cần tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích sự liên doanh, liên kết giữa các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế, tạo dễ dàng cho sự tích tụ vốn để hình thành những doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn. Đặc biệt khuyến khích sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo nên mạng lưới các doanh nghiệp vệ tinh năng động, linh hoạt, giảm thiểu chi phí, nâng cao được sức cạnh tranh. III.3. Chủ trương, biện pháp phát triển các ngành dịch vụ Trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam, các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng khá lớn (gần 40%), nhưng vẫn là các ngành mới và yếu, đặc biệt là thiếu những ngành dịch vụ chất lượng cao và tạo ra giá trị lớn. Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng dịch vụ luôn thấp hơn tốc độ tăng GDP do vậy xu hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ là chưa vững chắc. Trước thời kỳ đổi mới, các ngành dịch vụ bị coi nhẹ và đến nay vẫn còn dấu ấn tiêu cực nặng nề cả về nhận thức, thể chế, chính sách cho đến các hoạt động kinh doanh. Nhìn chung, các ngành dịch vụ chưa đáp ứng tốt những yêu cầu về số lượng và chất lượng ngày càng gia tăng của nền kinh tế. Xét ở khía cạnh khác, triển vọng phát triển các ngành dịch vụ là rất lớn do nhiều tiềm năng chưa được khai thác và phát huy đủ mức. Theo mục tiêu đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, tỷ trọng dịch vụ trong GDP chiếm từ 4550%, tức là tăng hơn 5% so với hiện nay. Khoảng cách này là không quá lớn, tuy nhiên, nếu không có các biện pháp thích hợp để phát triển các ngành dịch vụ thì rất khó có thể đạt được mục tiêu nêu trên. Điều này được minh chứng rõ bởi thực tế rằng, năm 1990 tỷ trọng dịch vụ trong GDP của nước ta đạt 38,59%, tăng lên đỉnh điểm 44,06% vào năm 1995, nhưng lại giảm xuống chỉ còn 39,33% năm 2004, tức là sau 14 năm tỷ trọng dịch vụ trong GDP chỉ tăng chưa đầy 1%. Tuy nhiên, bối cảnh từ nay đến năm 2020 có những khác biệt lớn so với giai đoạn từ năm 1990 đến nay. Một mặt, các ngành dịch vụ có điều kiện phát triển thuận lợi do nhu cầu lớn của nền kinh tế, mặt khác các ngành này buộc phải tìm mọi cách phát triển để có thể đứng vững trong cạnh tranh khi Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này cho thấy rằng mục tiêu tăng thêm hơn 5% về tỷ trọng dịch vụ trong GDP trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2020 là hợp lý. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải có những đổi mới quan trọng về chủ trương cũng như thực hiện các biện pháp có hiệu quả thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ. III.3.1. Chủ trương phát triển các ngành dịch vụ Thứ nhất: Phát triển mạnh dịch vụ cùng với công nghiệp và nônglâmngư nghiệp tạo nên một cơ cấu có hiệu quả, năng động và hiện đại của nền kinh tế. Các ngành dịch vụ không chỉ được gia tăng mạnh về khối lượng, đa dạng hoá về loại hình, mà còn được cải thiện căn bản về chất lượng, giảm giá cước để hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao mức sống của xã hội. Thứ hai: Phát triển các ngành dịch vụ phải khai thác những lợi thế cạnh tranh của đất nước, gắn với thị trường trong nước và thế giới. Có ưu tiên thỏa đáng cho việc phát triển các ngành dịch vụ có tác động lớn đến hiệu qủa kinh tế, xã hội (cụ thể là liên quan đến phát triển theo chiều sâu, đến chất lượng tăng trưởng) và liên quan đến phát triển nguồn nhân lực như: dịch vụ khoa họccông nghệ, ngân hàng, tài chính, viễn thông, vận tải, giáo dụcđào tạo, y tế, v.v. Thứ ba: tích cực chuẩn bị thực hiện các cam kết mở cửa dịch vụ theo lộ trình trong các khung khổ hội nhập quốc tế, nhất là khung khổ GATS của WTO khi Việt Nam gia nhập tổ chức này, cần tranh thủ tối đa khoảng thời gian chưa phải thực hiện cam kết để phát triển và mở rộng các ngành dịch vụ ở trong nước. Nhờ vậy, các doanh nghiệp dịch vụ trong nước sẽ có điều kiện chiếm lĩnh thị trường trong nước, tạo lập vị trí vững chắc để có thể cạnh tranh được với các đối thủ nước ngoài khi mở cửa. III.3.2. Một số biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ Thứ nhất: Cần tiến hành cấp bách việc rà soát tất cả các ngành dịch vụ để đánh giá hiện trạng, năng lực cạnh tranh, tiềm năng và xu hướng phát triển của chúng, trên cơ sở đó xây dựng một chiến lược phát triển các ngành dịch vụ của Việt Nam từ nay đến năm 2020. Việc rà soát nên được thực hiện theo các ngành dịch vụ được phân định bởi Hiệp định chung về các Dịch vụ liên quan đến Thương mại (GATS) của WTO, bao gồm 12 ngành dịch vụ là: (1) Dịch vụ kinh doanh; (2) Dịch vụ liên lạc; (3) Dịch vụ xây dựng và thi công; (4) Dịch vụ phân phối; (5) Dịch vụ giáo dục; (6) Dịch vụ môi trường; (7) Dịch vụ tài chính; (8) Các dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và các dịch vụ xã hội; (9) Các dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch; (10) Các dịch vụ giải trí và thể thao; (11) Các dịch vụ vận tải; và (12) Các dịch vụ khác. Việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ phải gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp và các chương trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Thứ hai: Tăng cường huy động các nguồn lực trong xã hội bằng cách mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân và nước ngoài vào đầu tư, kinh doanh các ngành dịch vụ, giảm thiểu độc quyền nhà nước, tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường. Thí dụ, trong các ngành điện lực và viễn thông, Nhà nước cần tách chức năng quản lý đường trục quốc gia với chức năng kinh doanh của các doanh nghiệp để có nhiều doanh nghiệp hơn tham gia kinh doanh. Ngày 1132005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 312005NĐCP về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cho phép doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hợp tác xã đều được tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo các phương thức đặt hàng, đấu thầu hoặc giao kế hoạch. Nghị định này được đánh giá là mở ra cho các chủ thể kinh tế ngoài nhà nước những cơ hội đầu tư, kinh doanh mới, vì vậy có thể tạo ra một cuộc chạy đua thực sự giữa các thành phần kinh tế trong việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích những hàng hoá trước đây thường gắn chặt với các doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là phải thực hiện có hiệu quả Nghị định 31 2005NĐCP trong thực tế. Trong một số ngành dịch vụ mang tính xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường v.v., cần đẩy mạnh công tác xã hội hoá. Muốn vậy, Nhà nước cần xây dựng và ban hành các quy định pháp lý và các chính sách rõ ràng về phương thức và các hình thức xã hội hoá. Thứ ba: Nhà nước cần có các chính sách trợ giúp thích hợp những doanh nghiệp mới tham gia đầu tư và kinh doanh các ngành dịch vụ hoặc những doanh nghiệp tham gia đầu tư và kinh doanh các ngành dịch vụ mới, nhất là về phát triển nguồn nhân lực. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh dịch vụ đến các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, một mặt nhằm giúp các doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường trong nước, mặt khác giúp đáp ứng các nhu cầu đời sống kinh tếxã hội của những vùng này. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ ra nước ngoài dưới các hình thức đa dạng, từ cung cấp qua biên giới cho đến hiện diện thể nhân ở nước ngoài. Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nhận làm các dịch vụ được chuyển ra bên ngoài (outsourcing) từ các nước phát triển, tiêu biểu là các dịch vụ như: kế toán, thiết kế kỹ thuật, thiết kế phần mềm… Thứ tư: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ thông qua các biện pháp như: đẩy mạnh thực hiện lộ trình giảm giá cước dịch vụ xuống mức ít nhất là ngang bằng với các nước trong khu vực; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất và kinh doanh dịch vụ; phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, từng thời kỳ; thay đổi phương thức và thái độ phục vụ để hướng tới khách hàng nhiều hơn, vì lợi ích của khách hàng… Đáp ứng với những thách thức trong quá trình trong hội nhập, trước hết Nhà nước cần xây dựng một lộ trình mở cửa dịch vụ thích hợp, phù hợp với những cam kết quốc tế và sát với thực tế nước ta, tiếp đến các ngành, các cấp và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chủ động, sẵn sàng đón nhận sự cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và nước ngoài. IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ RÚT NGẮN VỚI TỪNG BƯỚC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI Như trên đây đã nêu rõ, quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một quá trình cần và có thể được rút ngắn, và có mối quan hệ chặt chẽ với việc từng bước phát triển kinh tế tri thức. Tất cả những chủ trương và biện pháp thực hiện CNH, HĐH được trình bày ở các phần trên đều dựa trên cơ sở coi CNH, HĐH là một quá trình được rút ngắn. Vì vậy, phần này chỉ trình bày những chủ trương và biện pháp từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, cụ thể như sa
Xem thêm

Đọc thêm

THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

MỤC LỤC Trang 1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. Lý do chọn đề tài 4 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 5 1.2.1. Mục tiêu chung 5 1.2.2. Mục tiêu cụ thể 5 1.3. Phạm vi nghiên cứu 5 1.3.1. Phạm vi không gian 5 1.3.2. Phạm vi thời gian 5 1.4. Phương pháp nghiên cứu 5 1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 6 1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7 2.1. Lịch sử hình thành và nguồn gốc 7 2.2. Khái niệm, đặc điểm của thực vật biến đổi gen 7 2.3. Vai trò của thực vật biến đổi gen 8 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 9 3.1. Thực trạng của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới 9 3.2. Thực trạng của thực vật biến đổi gen của Việt Nam 10 3.2.1. Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen 10 3.2.2. Thực trạng cây trồng biến đổi gen 11 CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC 13 4.1. Những lợi ích của thực vật biến đổi gen 13 4.2. Tác hại tiềm tàng của thực vật biến đổi gen 16 4.2.1. Đối với sức khỏe con người 16 4.2.2. Đối với môi trường 17 4.2.3. Đối với đa dạng sinh học 17 CHƯƠNG 5: VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 19 5.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen 19 5.1.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới 19 5.1.2. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen ở Việt Nam 22 5.2. Tiềm năng phát triển của thực vật biến đổi gen và triển vọng cho tương lai 24 5.2.1. Tiềm năng phát triển 25 5.2.2. Triển vọng cho tương lai 26 CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 28 DANH MỤC BẢNG Bảng 5.1: Diện tích cây trồng biến đổi gen năm2011 theo quốc gia 19 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 5.1: Tình hình sử dụng CM trên Thế Giới năm 2009 22 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Thực vật biến đổi gen là một trong những thành tựu cửa công nghệ sinh học nông nghiệp, vì nó mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân như: năng suất cao, chất lượng tốt, kháng được sâu bệnh, kháng thuốc diệt cỏ, … Sau hơn 10 năm ứng dụng phát triển cây trồng biến đổi gen ở nhiều nước trên thế giới, đữ chứng minh rằng cây trồng biến đổi gen đữ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, việc triển khia ứng dụng cây trồng biến đổi gen tăng liên tục về số lượng các nước tham gia, về diện tích tăng hàng năm,… Do gánh nặng về dân số ngày càng tăng cao, nên thực phẩm biến đổi gen là một giải pháp đầy hứa hẹn để đảm bảo an ninh lương thực, xóa bỏ nạn đói và tình trạng suy dinh dưỡng trên thế giới. Bên cạnh đó, thực phẩm biến đổi gen còn góp phần vào công tác bảo vệ môi trường: thực phẩm biến đổi gen được cấp phép ra không những chỉ có những giá trị về dinh dưỡng và y tế tốt hơn mà các cây trồng hoặc vật nuôi tao ra chúng còn có thể chống chịu lại được sâu bọ và bệnh dịch, giúp giảm sử dụng thuốc trừ sâu, và chịu nhiệt độ cao. Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, thực phẩm biến đổi gen cũng gây ra nhiều thách thức cho các chính phủ, các nhà khoa học, công nghiệp và những nhà hoạch định chiến lược, đặc biệt là trong lĩnh vực thử nghiệm an toàn, luật, chính sách quốc tế và dán nhãn thực phẩm. Với dân số là 86 triệu người, an ninh lương thực là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Vì vậy, phát triển cây trồng biến đổi gen là một trong những giải pháp để góp phần giải quyết bài toán đảm bảo an ninh lương thực. Hiện tại, Việt Nam đã có những bước tiến trong nghiên cứu và canh tác cây trồng biến đổi gen; nhập khẩu, sử dụng thực phẩm biến đổi gen và các nguyên vật liệu có chứa sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, công tác quản lý và dán nhãn thực phẩm biến đổi gen ở Việt Nam vẫn mới đang ở trong giai đoạn sơ khai. Hơn một thập kỷ qua sự bùng nổ của công nghệ sinh học (CNSH), mà hàng đầu là công nghệ biến đổi gen, đã tạo bước đột phá trong phát triển khoa học và nhiều ngành kinh tế kỹ thuật khác của loài người, có ảnh hưởng lớn lao đến sản xuất môi trường – xã hội và cuộc sống.Thành tựu kỳ diệu, thách thức rất đa chiều nhưng cơ hội, triển vọng cũng cực kỳ to lớn Đây là lý do nhóm chọn đề tài “Thực vật biễn đổi gen “ 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1. Mục tiêu chung Phân tích thực trạng thực vật biến đổi gen về vấn đề thương mại và phát triển trên thế giới. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể • Phân tích thực trạng của thực vật biến đổi gen. • Phân tích ảnh hưởng của thực vật biến đổi gen đến sức khỏe con người môi trường và đa dạng sinh học. 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1. Phạm vi không gian Đề tài nghiên cứu Phân tích thực trạng thực vật biến đổi gen về vấn đề thương mại và phát triển trên thế giới. 1.3.2. Phạm vi thời gian Đề tài được thực hiện vào ngày 15102015 đến ngày 22102015. 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp được thu nhập trên internet, sách, tạp chí và các phương tiện truyền thông khác. 1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được phân tích trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp kết hợp phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối và đưa ra nhận xét, đánh giá. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Cây trồng chuyển đổi gen được tạo ra lần đầu tiên vào năm 1982, bằng việc sử dụng loại cây thuốc lá chống kháng sinh. Những khu vực trồng thử nghiệm cây thuốc lá có khả năng chống thuốc diệt cỏ đầu tiên ở là ở Pháp và Hoa kỳ vào năm 1986. Năm 1987, Plant Genetic Systems ( Ghent, Bỉ ), được thành lập bởi Marc Van Montagu and Jeff Schell, là công ty đầu tiên phát triển cây trồng thiết kế gen di truyền ( thuốc lá ) có khả năng chống chịu côn trùng bằng cách biểu hiện các gen mã hóa protein diệt côn trùng từ vi khuẩn Bacillus Thuringiensis ( BT ). Trung Quốc là quốc gia đầu tiên chấp thuận cây công nghiệp chuyển đổi gen với cây thuốc lá kháng vi rút được giới thiệu lần đầu vào năm 1992, nhưng rút khỏi thị trường Trung Quốc vào năm 1997. Cây trồng biến đổi gen đầu tiên được phê chuẩn bán ở Mỹ vào năm 1994 là cà chua Flavrsavr, có thời gian bảo quản lâu hơn các loại cà chua thông thường. Năm 1994, Liên Minh Châu Âu phể chuẩn cây thuốc lá có khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ Bromoxynil. Năm 1995, khoai tây BT đã được phê duyệt an toàn bởi Cơ quan Bảo vệ môi trường, trở thành cây nông sản kháng sâu đầu tiên được phê duyệt tại Hoa Kỳ.Các loại cây trồng chuyển đổi gen sau đó cũng được chấp thuận giao dịch ở Mỹ năm 1995: cải dầu với thành phần dầu chuyển đổi (Calgene), ngô bắp có vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) (CibaGeigy), bông kháng thuốc diệt cỏ bromoxynil (Calgene), bông kháng côn trùng (Monsanto), đậu nành kháng thuốc diệt cỏ glyphosate (Monsanto), bí kháng vi rút (Asgrow), và cà chua chín chậm (DNAP, Zeneca Peto, và Monsanto). Tính đến giữa năm 1996 đã có tổng cộng 35 phê chuẩn được cấp cho 8 loại cây công nghiệp chuyển đổi gen và 1 loại hoa cẩm chướng, với 8 điểm khác nhau tại 6 quốc gia cộng thêm EU. Năm 2000, lần đầu tiên các nhà khoa học đã biến đổi gen thực phẩm để gia tăng giá trị dinh dưỡng bằng việc sản xuất ra hạt gạo vàng. 2.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN a. Khái niệm Công nghệ biến đổi gen là công nghệ chuyển gen theo kỹ thuật DNA tái tổ hợp với những công cụ và kỹ thuật phân tử, thông qua việc phân lập những gen có ích từ sinh vật cho rồi chuyển trực tiếp vào sinh vật nhận, để tạo ra những sinh vật biến đổi gen. Quá trình này hoàn toàn mang tính nhân tạo và không thấy trong tự nhiên. Cây trồng biến đổi gen(Genetically Modified Crop GMC)là loại cây trồng được lai tạo ra bằng cách sử dụng các kỹ thuật của công nghệ sinh học hiện đại, hay còn gọi là kỹ thuật di truyền, công nghệ gene hay công nghệ DNA tái tổ hợp, để chuyển một hoặc một số gene chọn lọc để tạo ra cây trồng mang tính trạng mong muốn. b. Đặc điểm Công nghệ chuyển gen tìm cách phân lập những gen có ích riêng biệt từ cây cho rồi chuyển trực tiếp vào cây nhận, tránh được những phiền phức của cách tạo giống truyền thống. Do vậy thời gian tạo một giống mới theo kỹ thuật chuyển gen sẽ nhanh hơn nhiều so với kỹ thuật lai hữu tính. 2.3. VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Thực phẩm biến đổi gen cải thiện được chất lượng thực phẩm, làm tăng giá trị dinh dưỡng hoặc những tính trạng thích hợp cho công nghệ chế biến, chống chịu được thời tiết khắc nghiệt và có khả năng kháng được nhiều loại sâu bệnh góp phần tăng năng suất cây trồng. Cây trồng CNSH góp phần giảm hiệu ứng nhà kính từ quá trình canh tác nhờ việc giảm lượng năng lượng sử dụng, tăng lượng cacbon lưu trữ trong đất nhờ giảm việc làm đất. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 3.1. THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN TRÊN THẾ GIỚI Diện tích cây trồng biến đổi gen toàn cầu tăng đáng kể từ 1,7 triệu ha vào năm 1996 lên trên 175 triệu ha vào năm 2013. Trong đó các quốc gia giữ có diện tích canh tác cây trồng công nghệ sinh học (CNSH) lớn có thể kể đến như Hoa Kỳ với diện tích canh tác cây trồng CNSH là 70,2 triệu ha, với tỷ lệ canh tác các loại cây trồng CNSHtổng diện 2013. Diện tích canh tác ở các nước đang phát triển đang ngày càng được mở rộng. Tỷ trọng diện tích canh tác cây trồng CNSH của nông dân Mỹ La tinh, Châu Á và Châu Phi lên tới 54% trong tổng diện tích canh tác cây trồng CNSH toàn cầu (tăng 2% so với năm 2012), do đó làm gia tăng chênh lệch tích canh tác là 90% vào năm 2013. Argentina với 24,4 triệu ha; Ấn Độ có sản lượng 11 triệu ha bông CNSH vào năm về diện tích canh tác giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển từ khoảng 7 triệu năm 2012 lên đến 14 triệu ha vào năm 2013. Tính chung Nam Mỹ đã trồng 70 triệu ha hoặc chiếm 41%; châu Á trồng 20 triệu ha, chiếm 11%; và châu Phi trồng hơn 3 triệu ha, chiếm 2% diện tích canh tác cây trồng CNSH toàn cầu. Liên minh châu Âu vốn xưa nay là nơi có diện tích cây trồng CNSH khiêm tốn nhất cũng bắt đầu có những thay đổi tích cực khi diện tích canh tác cây trồng CNSH trong năm 2013 đã tăng lên 15% so với các năm trước. Tây Ban Nha dẫn đầu khối các nước EU với diện tích trồng ngô đột biến gen là 136.962 ha. Đặc biệt Trung Quốc, với dân số 1,3 tỷ người, là nước đông dân nhất trên thế giới, cây bông CNSH ở Trung Quốc đã đem lại lợi ích kinh tế trên 15 tỷ USD trong vòng 12 năm từ năm 1996 đến năm 2012. Một số nhà quan sát dự đoán Trung Quốc có thể mở đường cho việc phê chuẩn một số cây trồng CNSH lớn như ngô phytase – giống ngô đã nhận được phê duyệt về an toàn sinh học năm 2009, khi hai đặc tính lúa CNSH cũng được phê duyệt. Nhu cầu về thức ăn chăn nuôi để duy trì 500 triệu con lợn và 13 tỷ con gia cầm của Trung Quốc đã khiến nước này ngày càng trở nên phụ thuộc vào ngô nhập khẩu để bổ sung cho 35 triệu ha trồng ngô trong nước. Thế giới hiện có hơn 14 triệu nông dân áp dụng giống cây trồng biến đổi gen, năm 2009 cung cấp 77% sản lượng đậu nành, 49% sản lượng bông vải và 26% sản lượng ngô cho toàn cầu. Ngoài ra, 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận việc nhập khẩu cây trồng chuyển gen để tiêu thụ và sản xuất. Dự kiến đến năm 2015, thế giới sẽ có khoảng 40 nước cho phép trồng cây chuyển gen, diện tích sẽ tăng lên 200 triệu hecta, chủ yếu là ngô, đậu tương, bông vải, thuốc lá, cà tím, cà chua, đu đủ... 3.2. THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Ở VIỆT NAM 3.2.1. Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đầu tư nghiên cứu và khảo nghiệm từ năm 2006 sau khi Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 112006QĐTTg. Vào năm 2011, việc đưa ngô biến đổi gen vào sản xuất thương mại tại Việt Nam được dự kiến triển khai vào năm 2012 sau hai đợt khảo nghiệm trên diện rộng. Đến 2013, Bộ NNPTNT đã công nhận kết quả khảo nghiệm 5 giống ngô biến đổi gen để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép an toàn sinh học. Thời gian qua, Bộ NNPTNT đã ban hành hàng loạt nghị định, thông tư để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học nhưNghị định số 692010NĐCP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gien; Quyết định số 418QĐTTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển KH và CN giai đoạn 2011 2020;Thông tư 722009TTBNNPTNT ngày 17 tháng 11 năm 2009 ban hành danh mục loài cây trồng biến đổi gen được phép khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường cho mục đích làm giống cây trồng ở Việt Nam. Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 082013TTBTNMT ngày 1652013 về Đánh giá an toàn sinh học đối với cây trồng biến đổi gen, trong đó quy định thành lập Tổ chuyên gia có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật cho Hội đồng ATSH đối với từng sự kiện biến đổi gen cụ thể; Thông tư số 022014TTBNNPTNT ngày 2412014 quy định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Đặc biệt ngày 11 tháng 8 năm 2014, Bộ NN PTNN chính thức công bố cấp phê duyệt 04 sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Các sự kiện được phê duyệt lần này bao gồm sự kiện Bt 11 và MIR162 của công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034 (Bộ TNMT cấp Giấy chứng nhận ATSH vào ngày 27 tháng 8 năm 2014) và NK603 của công ty TNHH Dekalb Việt Nam (Monsanto). Giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi theo đúng trình tự được quy định theo thông tư 022014TTBNNPTNT. Đây là 4 sự kiện biến đổi gen đầu tiên được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Theo dự kiến, tới năm 2015, ngô biến đổi được đưa vào trồng đại trà. PGS.TS. Lê Huy Hàm cho rằng, để sử dụng an toàn các loại cây trồng này, Nhà nước phải có quy chế, người sử dụng phải tuân thủ. Song song với đó, khi đưa vào trồng đại trà, các địa phương phải quy hoạch diện tích trồng phù hợp, khoanh vùng cây bản địa, ngăn không để các loại cây trồng biến đổi gen vào vùng này. 3.2.2. Thực trạng cây trồng biến đổi gen Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đưa vào thử nghiệm gần 5 năm và dự kiến khoảng năm 2015, những sản phẩm được chế biến từ ngô, đậu nành… biến đổi gen sẽ xuất hiện trong siêu thị, chợ và bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Có một thực tế, những loại thực phẩm biến đổi gen đang có mặt hầu hết ở các chợ và siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Một cuộc khảo sát cho thấy 111323 mẫu thực phẩm gồm: bắp, đậu nành, khoai tây, gạo, cà chua, đậu Hà Lan… chọn ngẫu nhiên ở 17 chợ, siêu thị trên địa bàn thành phố được kiểm nghiệm cho kết quả là sản phẩm biến đổi gen, trong đó có bắp Mỹ, bắp trái non, bắp non đóng hộp, bột bắp, bắp giống có nguồn gốc trong nước và nước ngoài dương tính với promoter 35S hoặc terminatornos một dạng biến đổi gen. Trong đó có 45 mẫu bắp, 29 mẫu đậu nành, 11 mẫu gạo, 15 mẫu khoai tây, 10 mẫu cà chua. Đáng chú ý là người tiêu dùng, các nhà phân phối và cả ban quản lý các siêu thị, chợ trên địa bàn thành phố hầu như không hiểu biết gì về thực phẩm biến đổi gen. Trước tình trạng đó, một số nhà sản xuất đã bắt đầu quan tâm đến việc công bố nguồn gốc nguyên liệu sản xuất để người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm mình mua có được làm từ thực phẩm biến đổi gen hay không Dự kiến đến năm 2015 Việt Nam sẽ cho áp dụng trồng đại trà ba loại cây trồng biến đổi gen bao gồm: đậu tương và ngô để phục vụ cho chăn nuôi; cây bông phục vụ cho dệt may. CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC 4.1. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai. Công nghệ biến đổi gen đã đạt được những thành tựu và mang lại lợi ích to lớn trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghệ sinh học, y tế, bảo vệ môi trường, công nghiệp chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Tính đến năm 2050, ước tính dân số sẽ chạm mốc 9 tỷ người. Theo Uỷ ban Nông Lương Liên hợp quốc, điều này có nghĩa là lượng thực phẩm cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu cho toàn cầu trong giai đoạn 2000 – 2050 tương đương với tổng lương thực cần trong 10.000 năm trước đây, trong khi diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng thu hẹp, biến đổi khí hậu gay gắt trên toàn cầu. Hiện nay, thế giới vẫn đang phải đối mặt với thách thức hơn 1 tỷ người còn đang thiếu đói, cây trồng CNSH được tạo ra nhằm mục tiêu giải quyết thách thức nông nghiệp toàn cầu, nâng cao năng suất cây trồng trên cùng một diện tích đất canh tác nhờ các ưu thế lai chính xác và vượt trội, giảm lượng thuốc trừ sâu, xói mòn đất, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Việc giảm sử dụng hóa chất là một trong những lợi ích ban đầu và rõ ràng cho người nông dân khi sử dụng cả cây trồng kháng thuốc trừ cỏ và cây trồng kháng sâu bệnh. Cây trồng CNSH đã giảm 474 triệu kg thuốc trừ sâu (tương đương 9%) trong giai đoạn 1996 2011, tương ứng với tổng lượng hoạt chất trừ sâu tại Liên minh châu Âu trong một năm với 3 vụ trồng trọt. Điều này tương ứng với việc giảm tác động lên môi trường 18,1% nhờ giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên diện tích trồng cây trồng công nghệ sinh học. • Trong tổng lợi ích thu nhập canh tác, 49% (tương đương với 48 tỷ USD) có được nhờ năng suất thu hoạch cao hơn do giảm sâu hại, áp lực về cỏ dại và hệ gen được cải thiện, còn lại nhờ việc giảm thiểu chi phí canh tác. • Phần lớn (51%) thu nhập từ canh tác năm 2011 đã đến trực tiếp với người nông dân của các quốc gia đang phát triển, 90% của nhóm này là những nông hộ nhỏ và nghèo. Tổng cộng từ năm 1996 2011, khoảng 50% tổng lợi ích thu về đã đến được với nông dân ở các quốc gia đã và đang phát triển. • Cây trồng công nghệ sinh học có khả năng chống chịu với thuốc trừ cỏ không chỉ làm giảm việc dùng thuốc diệt cỏ mà còn làm cho đất và nước sạch hơn, thúc đẩy việc áp dụng phương pháp canh tác không làm đất để giảm thiểu sự xói mòn đất và hiện tượng thải ra carbon làm biến đổi khí hậu vào khí quyển. Theo tính toán của Hội Đồng Khoa Học Nông nghiệp và Công Nghệ (CAST) cho rằng công nghệ mới như bắp và đậu nành có hàm lượng acid phytic thấp có thể giúp giảm nitơ và bài tiết phospho ở heo và gia cầm tương ứng 40% và 60%. Hệ thống tiêu hóa của bò được cải thiện có thể làm giảm bài tiết nitơ lên đến 34%, và giảm bài tiết phosphor đến 50%. • Tất cả các nước đang phát triển đã được hưởng lợi từ công nghệ sinh học thông qua việc nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn, mức độ độc tố mycotoxin thấp hơn và năng suất cây trồng cao hơn và sạch hơn để trồng trong nước. Các nước đã phát triển cây trồng công nghệ sinh học cũng được hưởng lợi từ việc giảm sử dụng hóa chất, năng suất cao hơn và nông nghiệp mang tính cạnh tranh hơn, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp biến đổi gen mang một nguồn thu ổn định và giải quyết vấn đề việc làm cho một bộ phận lớn người dân các nước này. Người nông dân tại các quốc gia đang phát triển chính là đối tượng thụ hưởng lợi của những ích lợi đang ngày càng gia tăng này. Môi trường cũng được bảo vệ tốt hơn nhờ việc nông dân ngày càng áp dụng phương pháp canh tác ít ảnh hưởng đến lớp đất phủ, quản lý cỏ dại bằng cách sử dụng các thuốc diệt cỏ lành tính và giảm thiểu lượng thuốc trừ sâu sử dụng nhờ ứng dụng cây trồng biến đổi gen kháng sâu hại. Việc giảm phun thuốc trừ sâu và chuyển đổi sang phương thức canh tác không làm đất ngày càng đóng vai trò tích cực trong giảm hiệu ứng nhà kính gây ra do canh tác nông nghiệp. • Đảm bảo an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới GMC có thể giúp ổn định tình hình an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới, bằng cách làm tăng nguồn cung lương thực, đồng thời làm giảm chi phí sản xuất, từ đó làm giảm lượng nhiên liệu đốt cần sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp, giảm bớt một số tác động bất lợi gắn với sự biến đổi khí hậu. Trong số 44 tỷ USD lợi nhuận tăng thêm nhờ công nghệ sinh học, có 44% lợi nhuận từ việc tăng năng suất cây trồng, 56% lợi nhuận từ giảm chi phí sản xuất. Hướng nghiên cứu mới đối với cây lương thực là phát triển khả năng chịu hạn; các giống cây lương thực mới dự đoán sẽ được trồng ở Hoa Kỳ năm 2012, ở tiểu vùng Sahara thuộc châu Phi năm 2017. • Bảo tồn đa dạng sinh học GMC có lợi tiềm tàng đối với môi trường. GMC giúp bảo tồn các nguồn lợi tự nhiên, sinh cảnh và động, thực vật bản địa. Thêm vào đó, GMC góp phần giảm xói mòn đất, cải thiện chất lượng nước, cải thiện rừng và nơi cư trú của động vật hoang dã. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là giải pháp giúp bảo tồn đất trồng, cho phép tăng sản lượng thu hoạch cây trồng trên 1,5 tỷ ha đất trồng hiện có, xoá bỏ tình trạng phá rừng làm nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học tại các cánh rừng và khu bảo tồn trên khắp thế giới. Theo ước tính, hàng năm các nước đang phát triển mất khoảng 13 triệu ha rừng vì các hoạt động nông nghiệp. Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai. • Góp phần xoá đói giảm nghèo 50% những người nghèo nhất trên thế giới là người nông dân ở các nước đang phát triển, nghèo tài nguyên, 20% còn lại là những người nông dân không có đất trồng, phụ thuộc hoàn toàn vào nghề nông.Vì thế, tăng thu nhập cho người nông dân nghèo sẽ đóng góp trực tiếp vào quá trình xoá đói giảm nghèo trên thế giới, tác động trực tiếp đến 70% người nghèo trên toàn thế giới. Tính đến thời điểm hiện tại, các giống bông và ngô biến đổi gen đã mang lại lợi nhuận cho hơn 12 triệu nông dân nghèo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi, Philippin và số người hưởng lợi sẽ cao hơn trong thập niên thứ hai này. Trong đó việc tập trung phát triển các giống gạo biến đổi gen có thể mang lại lợi nhuận cho khoảng 250 triệu hộ nông dân nghèo canh tác lúa ở châu Á. • Giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG) GMC có thể giúp giải quyết những lo ngại lớn nhất về môi trường: giảm thiểu các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, giảm thiểu tác động của thay đổi thời tiết. Thứ nhất, giảm lượng khí CO2, làm giảm lượng nhiên liệu hoá thạch, giảm lượng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Theo đánh giá, GMC đã làm giảm khoảng 1,1 tỷ kg khí CO2 thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, tương đương với cắt giảm 500 ngàn xe ôtô lưu thông trên đường. Thứ hai, phương pháp canh tác không cần cày xới nhờ công nghệ sinh học làm giảm thêm 13,1 tỷ kg khí CO2, tương đương với giảm 5,8 triệu xe ôtô lưu hành trên đường. Như vậy, trong năm 2007, tổng lượng khí CO2 mà công nghệ sinh học làm giảm trên toàn thế giới đạt mức 14,2 tỷ kg, tương đương với loại bỏ 6,3 triệu xe ôtô (Brooks và Barfoot, 2009). • Tăng hiệu quả sản xuất nhiên liệu sinh học Công nghệ sinh học có thể giúp tối ưu hoá chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ thứ nhất và thứ hai, nhờ tạo ra các giống cây chịu tác động của môi trường (khô hạn, nhiễm mặn, nhiệt độ khắc nghiệt…) hoặc các tác động của sinh vật (sâu bệnh, cỏ dại…), nâng cao năng suất thu hoạch của cây trồng, bằng việc thay đổi cơ chế trao đổi chất của cây. Sử dụng công nghệ sinh học, các nhà khoa học cũng có thể tạo ra những enzym đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của nguyên liệu sản xuất thành nhiên liệu sinh học. • Góp phần ổn định các lợi ích kinh tế Khảo sát gần đây nhất về tác động của GMC trên toàn cầu từ năm 1996 đến 2007 (Brooks và Barfoot, 2009) cho thấy lợi nhuận mà GMC mang lại cho riêng những người nông dân trồng chúng trong năm 2007 đạt 10 tỷ USD (6 tỷ USD ở các nước đang phát triển, 4 tỷ USD ở các nước công nghiệp). Tổng lợi nhuận trong giai đoạn 1996 2007 đạt 44 tỷ USD, từ các nước đang phát triển và nước công nghiệp. 4.2. TÁC HẠI TIỀM TÀNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 4.2.1. Đối với sức khỏe con người: Bên cạnh những lợi ích cơ bản của cây trồng biến đổi gen, theo một vài nhà khoa học thế giới, thì loại thực phẩm này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe cộng đồng, môi trường. Theo các nhà khoa học, cây trồng biến đổi gen có thể gây gây dị ứng, làm nhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc lâu dài cho cơ thể. Đây là một trong những tranh luận chủ yếu và vấn đề chỉ được tháo gỡ khi chứng tỏ được rằng sản phẩm protein có được từ sự chuyển đổi gen không phải là chất gây dị ứng. Gen kháng sinh có thể được chuyển vào các cơ thể vi sinh vật trong ruột của người và động vật ăn thành phẩm biến đổi gen. Điều này có thể dẫn tới việc tạo ra các vi sinh vật gây bệnh có khả năng kháng thuốc. 4.2.2. Đối với môi trường: • Cây trồng biến đổi gen mang các yếu tố chọn lọc (chịu lạnh, hạn, mặn hay kháng sâu bệnh…) phát triển tràn lan trong quần thể thực vật. Điều này làm mất cân bằng hệ sinh thái và làm giảm tính đa dạng sinh học của loài cây được chuyển gen. • Cây trồng biến đổi gen mang các gen kháng thuốc diệt cỏ có thể thụ phấn với các cây dại cùng loài hay có họ hàng gần gũi, làm lây lan gen kháng thuốc diệt cỏ trong quần thể thực vật. Việc gieo trồng cây trồng biến đổi gen kháng sâu bệnh trên diện rộng, ví dụ, kháng sâu đục thân, có thể làm phát sinh các loại sâu đục thân mới kháng các loại cây trồng biến đổi gen này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học Bt đã cho phép phòng trừ hiệu quả sâu bệnh, nhưng sau 30 năm sử dụng, một số loại sâu bệnh đã trở nên nhờn thuốc ở một vài nơi • Ngoài ra, một bộ phận các nhà khoa học lo ngại đến khả năng chuyển gen từ cây trồng vào các vi khuẩn trong đất. Tuy nhiên, khả năng xảy ra điều này là vô cùng nhỏ. Hiện nay, các chuyên gia CNSH đang cố gắng giảm thiểu các rủi ro nêu trên và theo dõi cẩn thận các thử nghiệm cây trồng biến đổi gen trong phòng thí nghiệm, cũng như ngoài đồng ruộng trước khi đưa ra thị trường thương mại. Nếu được thiết kế và sử dụng đúng phương pháp thì có thể quản lý được các nguy cơ của cây trồng biến đổi gen đối với môi trường một cách hiệu quả. 4.2.3. Đối với đa dạng sinh học: Nguy cơ GMC có thể phát tán những gen biến đổi sang họ hàng hoang dã của chúng, sang sâu bệnh có nguy cơ làm tăng tính kháng của chúng đối với đặc tính chống chịu sâu bệnh, thuốc diệt cỏ hoặc làm tăng khả năng gây độc của GMC đối với những loài sinh vật có ích. Dưới sức ép của chọn lọc tự nhiên, côn trùng sẽ trở lên kháng các loại thuốc diệt côn trùng do cây trồng tạo ra và gây thiệt hại cho cây trồng. Giải pháp GMC không bền vững cho một số vấn đề như kháng sâu bệnh, vì các loại dịch hại này có thể tái xuất hiện do bản chất di truyền thích ứng với môi trường của chúng. Cây trồng kháng sâu có khả năng tiêu diệt các loại côn trùng hữu ích khác như ong, bướm, v.v... làm ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn tự nhiên, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học nói chung. Việc trồng GMC đại trà, tương tự như việc phổ biến rộng rãi một số giống năng suất cao trên diện tích rộng lớn, sẽ làm mất đi bản chất đa dạng sinh học của vùng sinh thái, ảnh hưởng đến chu trình nitơ và hệ sinh thái của vi sinh vật đất. CHƯƠNG 5: VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 5.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 5.1.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới Công nghệ sinh học đã có những bước tiến nhảy vọt góp phần mang lại những thành tựu to lớn cho loài người. Trong 13 năm, từ 1996 đến 2008, số nước trồng GMC đã lên tới con số 25 một mốc lịch sử một làn sóng mới về việc đưa GMC vào canh tác, góp phần vào sự tăng trưởng rộng khắp toàn cầu và gia tăng đáng kể tổng diện tích trồng GMC trên toàn thế giới lên 73,5 lần (từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên 125 triệu ha năm 2008). Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng GMC trên toàn thế giới từ trước tới nay đã đạt 800 triệu ha. Năm 2008, số nước đang phát triển canh tác GMC đã vượt số nước phát triển trồng loại cây này (15 nước đang phát triển so với 10 nước công nghiệp), dự đoán xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới nâng tổng số nước trồng GMC lên 40 vào năm 2015. Bảng 5.1: Diện tích cây trồng biến đổi gen năm2011 theo quốc gia Nguồn: Clive James, 2011 Quốc gia Diện tích (triệu ha) Loại cây trồng biến đổi gen 1 Hoa Kỳ 69,0 Ngô, đậu tương, bông, cải dầu, củ cải đường, cỏ linh lăng, đu đủ, bí đao 2 Brazil 30,3 Đậu tương, ngô, bông 3 Argentina 23,7 Đậu tương, ngô, bông 4 Ấn Độ 10,6 Cải dầu, ngô, đậu tương, củ cải đường 5 Canada 10,4 Cải dầu, ngô, đậu tương, củ cải đường 6 Trung Quốc 3,9 Bông, đu đủ, cà chua, tiêu ngọt 7 Paraguay 2,8 Đậu tương 8 Pakistan 2,6 Bông 9 Nam Phi 2,3 Ngô, đậu tương, bông 10 Uruguay 1,3 Đậu tương, ngô 11 Bolivia 0,9 Đậu tương 12 Úc 0,7 Bông, cải dầu 13 Philippines 0,6 Ngô 14 Myanmar 0,3 Bông 15 Burkina Faso 0,3 Bông 16 Mehico 0,2 Bông, đậu tương 17 Tây Ban Nha 0,1 Ngô 18 Colombia
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu chọn tạo giống sắn bằng phương pháp xử lý đột biến

Nghiên cứu chọn tạo giống sắn bằng phương pháp xử lý đột biến

Ở Việt Nam, sắn cùng lúa và ngô là ba cây trồng được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn. Năm 2013, diện tích trồng sắn toàn quốc đạt 544,30 ngàn ha, năng suất củ tươi bình quân 17,89 tấnha, sản lượng 9,74 triệu tấn (FAOSTAT, 2014). So với năm 2000, sản lượng sắn Việt Nam đã tăng gấp 3,93 lần, năng suất sắn đã tăng lên gấp hai lần. Tuy nhiên, năng suất sắn của Việt Nam còn thấp hơn so với một nước Đông Nam Á như Lào (25,17 tấnha), Indonesia (22,86 tấnha), Thái Lan (21,82 tấnha). Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu tăng năng suất và phát triển cây sắn của cả nước một cách bền vững thì nhất thiết phải có một bộ giống sắn phong phú cho năng suất và chất lượng cao, thích hợp với nhiều vùng sinh thái của Việt Nam. Tuy nhiên trong trường hợp của cây sắn nếu sử dụng phương pháp lai hữu tính truyền thống có thể mất từ bảy đến tám năm mới tạo ra một giống sắn mới. Nghiên cứu này làm sơ cở khi chiếu xạ giống sắn và rút ngắn thời gian chọn tạo giống sắn mới
Xem thêm

Đọc thêm

Nuôi cấy mô Chương 1

Nuôi cấy mô Chương 1

Theo dự báo, dân số thế giới sẽ đạt khoảng 810 tỷ người vào năm 2020, trong đó khoảng 80% dân số sống ở các nước kém phát triển. Hiện nay, cả thế giới đang phải đối mặt với những thách thức lớn như: (1) tăng dân số, tăng nhu cầu lương thực và giảm diện tích đất canh tác bình quân đầu người; (2) quá trình đô thị hóa xảy ra nhanh và sức mua được cải thiện làm tăng nhu cầu lương thực bình quân trên đầu người do tăng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm động vật; (3) sự khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên gây tác động xấu đến nền tảng sinh thái nông nghiệp (gồm đất, nước, rừng, đa dạng sinh học, khí quyển) có thể gây ra các thay đổi bất thường về khí hậu và mực nước biển; (4) các thành tựu đột phá trong công nghệ mới, đặc biệt là trong công nghệ sinh học, xuất hiện ngày càng nhiều, trong khi còn có nhiều quan điểm khác nhau về các thành tựu đó.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU)

Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU)

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận án Mở rộng, đa dạng hóa quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng: “Đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định thương mại tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu…”[6]. Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 được ban hành tại Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu: “Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 11–12%/năm trong thời kỳ 2011–2020, trong đó giai đoạn 2011–2015 tăng trưởng bình quân 12%/năm; giai đoạn 2016–2020 tăng trưởng bình quân 11%/năm”[51]. Để thực hiện được mục tiêu đó, Chiến lược đã đề ra định hướng phát triển thị trường, trong đó nhấn mạnh cần phải “đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng”[51]. Đối với thị trường Châu Phi, Chiến lược đề ra định hướng tới năm 2020 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Để thực hiện, cụ thể hóa các chủ trương, sách lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thế giới có nhiều biến động, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc vào một số ít thị trường, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó chú trọng các thị trường mới như thị trường Châu Phi. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh, giành giật thị trường đang diễn ra gay gắt đòi hỏi phải có những nghiên cứu thường xuyên cập nhật, chi tiết về thị trường Châu Phi. Châu Phi là một thị trường rộng lớn với 55 quốc gia. Mỗi quốc gia, khu vực thị trường đều mang những đặc điểm thị trường có tính đặc thù riêng, vì vậy rất cần phải có những nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu từng thị trường và khu vực thị trường. Trong số các tổ chức kinh tế khu vực của Châu Phi, Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) là tổ chức kinh tế khu vực thành công nhất của châu Phi và là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của cả châu lục. SACU được thành lập từ năm 1910 và là Liên minh thuế quan được thành lập sớm nhất trên thế giới. Hiện nay khối liên minh này bao gồm 5 quốc gia thành viên đó là Nam Phi, Bostwana, Lesotho, Namibia và Swaziland. Thị trường các nước SACU được đánh giá có nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng khá ổn định, có nhu cầu hàng hóa lớn và đa dạng, chủ yếu là sản phẩm chất lượng vừa phải, giá rẻ. Bên cạnh đó, tình hình chính trị của các nước khu vực SACU khá ổn định; việc Mỹ, EU và một số nước cho phép nhiều sản phẩm các nước khu vực SACU tiếp cận tương đối tự do và thuận lợi hơn thị trường của họ cũng như nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoài khá hấp dẫn đã giúp thị trường các nước khu vực SACU ngày càng giành được sự quan tâm chú ý của nhiều nước trên thế giới. Các nước SACU là một khu vực thị trường còn khá mới lạ đối với các doanh nghiệp nước ta. Trao đổi thương mại với các nước khu vực này vẫn còn hạn chế. Năm 2014, trao đổi thương mại hai chiều mới đạt mức 1,014 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 814 triệu USD và nhập khẩu đạt 200 triệu USD. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU còn hạn chế đó các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp chưa thực sự có nhiều giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy, phát triển quan hệ thương mại với các nước này. Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) một cách có hệ thống sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách và giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại của nước ta sang các nước SACU đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây cũng chính là lý do cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu xác lập các quan điểm, định hướng phát triển và các giải pháp về thể chế và thực thể kinh doanh thương mại trong phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU. * Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: - Tổng quan các công trình khoa học đã thực hiện liên quan đến việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU, những vấn đề đã được nghiên cứu, xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc nghiên cứu chưa sâu để tập trung nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liên minh thuế quan.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng của công ty du lịch Vietsuntourist đối với loại hình du lịch vui chơi giải trí

Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng của công ty du lịch Vietsuntourist đối với loại hình du lịch vui chơi giải trí

1.1. GIỚI THIỆU 1.1. Lý do chọn đề tài Theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ngày 22 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng Chính Phủ ban hành quyết định số 201/QĐ – TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây là văn kiện hoạch định hướng đi căn bản của ngành Du lịch với tầm nhìn dài hạn theo quan điểm, mục tiêu và giải pháp Chiến lược. Chiến lược định hướng đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp với hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chiến lược đề ra chỉ tiêu lượng khách du lịch vào năm 2015 thu hút 7,5 triệu khách du lịch quốc tế, phục vụ 37 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế 8,4%/năm và nội địa 5,7%/năm. Năm 2020 thu hút 10,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 47,5 triệu lượt khách nội địa, tăng trưởng khách quốc tế là 7%/năm, nội địa là 5,1%/năm. Năm 2025 thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 58 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng là 6% và 4,3%/năm. Năm 2030 thu hút 18 triệu lượt khách quốc tế và 71 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng là 5,2% và 4,1%/năm. Theo thống kê từ Tổng cục Du lịch Việt Nam về số lượng các doanh nghiệp lữ hành giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 cho thấy số lượng tăng qua các năm. Năm 2005 có 428 doanh nghiệp lữ hành, năm 2010 có 888 doanh nghiệp lữ hành tăng 2,07 lần. Riêng tính đến tháng 6/2014 có đến 1383 doanh nghiệp lữ hành tăng 3,23 lần so với năm 2005. Qua số liệu thống kê trên, cho thấy ngành Du lịch phát triển đã thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, bộ mặt đô thị được đổi mới. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển như ngày nay thì du lịch là một điều không thể thiếu trong cuộc sống và trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia. Vì thế, nó thúc đẩy ngành Du lịch phát triển và sự ra đời ồ ạt của các doanh nghiệp lữ hành đã tạo nên sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt giữa các doanh nghiệp lữ hành với nhau. Muốn phát triển ngành du lịch thì không thể thiếu hệ thống các công ty lữ hành hùng mạnh tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Thành phố Cần Thơ nói riêng có rất nhiều doanh nghiệp lữ hành đã thành lập và đang hoạt động. Điều này đặt ra cho mỗi doanh nghiệp không ít khó khăn và thách thức: làm thế nào để tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng phục vụ đạt được hiệu quả cao… Thực trạng chung của các công ty du lịch hiện nay phát triển còn thiếu định hướng, chúng ta còn quan tâm nhiều đến vấn đề số lượng chứ chưa chú ý nhiều đến chất lượng. Đặc biệt, chúng ta chưa quan tâm đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng của các sản phẩm lữ hành. Riêng đối với Công ty Du lịch Vietsun Tourist là một doanh nghiệp trẻ mới thành lập từ tháng 11 năm 2010 cho đến nay, qua quá trình phấn đấu không ngừng thì công ty đã tạo dựng cho mình một thương hiệu đáng tin cậy cho khách hàng. Để có được điều đó thì công ty cũng đã trải qua nhiều khó khăn thử thách nhưng điều công ty muốn mang đến cho khách hàng là chất lượng dịch vụ phải đảm bảo tốt, với tiêu chí “Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ là sự thành công của chúng tôi”. Bên cạnh đó để đủ sức đứng vững, phát huy nội lực bản thân và tận dụng tối đa các cơ hội và hạn chế những thách thức công ty cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng muốn đạt được những mục đích đó thì đòi hỏi công ty phải tìm hiểu được nhu cầu của khách hàng và sự đánh giá của khách hàng đối với các dịch vụ mang lại như thế nào. Xuất phát từ vấn đề đó nên tôi quyết định chọn đề tài “GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ PHỤC VỤ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY DU LỊCH VIETSUNTOURIST ĐỐI VỚI LOẠI HÌNH DU LỊCH VUI CHƠI GIẢI TRÍ” nhằm để biết mức độ đánh giá của du khách đối với với công ty và đánh giá sự mức độ đáp ứng được nhu cầu cho khách hàng. Sau đó, đề ra những giải pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những mặt thuận lợi để công ty phát triển tốt hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016 2020

CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016 2020

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua chiến lược phát triển KT XH giai đoạn 2011 2020 với mục tiêu cơ bản là phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 8%năm. GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Xây dựng CCKT công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả. Tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Chuyển dịch CCKT gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, tỉ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30 35% lao động xã hội. Mục tiêu phát triển đối với một quốc gia hay một địa phương nào cũng bao gồm ba mục tiêu là tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch CCKT và mục tiêu về phát triển xã hội. Trong đó CDCCNKTthể hiện sự biến đổi về chất cho nên CDCCNKT theo hướng CNH, HĐH đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Nội dung và yêu cầu cơ bản của CDCCNKT ở nước ta theo hướng CNH, HĐH là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp. Cùng với quá trình CDCCNKT tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi KT – XH theo hướng CNH, HĐH của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, CCKT đối nội, CCKT đối ngoại,… Huyện Bình Gia là một địa phương của tỉnh Lạng Sơn, một tỉnh miền núi phía Đông Bắc nước ta. Huyện Bình Gia được biết đến là một địa phương có tài nguyên nước mặt, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản phong phú, có lợi thế và tiềm năng để phát triển nghề rừng. Đặc biệt, huyện Bình Gia được biết đến với tiềm năng du lịch khá phong phú với nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng, có hang Thẩm Hai, hang Thẩm Khuyên là di tích người Việt cổ có niên đại 25 vạn năm, đồng thời có những lễ hội truyền thống đặc sắc có thể khai thác có hiệu quả phục vụ cho phát triển ngành du lịch. Từ ngày giải phóng 19041945 đến nay, tình hình phát triển KT XH Bình Gia có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng ở mức khá, CCKT chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp trong GDP Bình Gia giảm từ 62,14% năm 2001 xuống còn 55,63% năm 2007 và xuống 51,92% vào năm 2013. Trong cả giai đoạn 20012013 tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp trong GDP của huyện giảm 10,22%. Tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 10,50% năm 2001 lên 12.20% năm 2007 và lên 13,52% vào năm 2013. Trong cả giai đoạn 2001 2013 tỷ trọng ngành công nghiệpxây dựng của huyện tăng 3,02%. Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 27,36% năm 2001 lên 32,17% năm 2007 và lên 34,56% vào năm 2013. Trong cả giai đoạn 20012013 tăng 7,20%. Tuy vậy có một thực tế đáng buồn là đến nay huyện Bình Gia vẫn là một trong những huyện nghèo của tỉnh Lạng Sơn. Do vậy, trong giai đoạn 2016 – 2020 theo chiến lược phát triển KT XH của cả nước nói chung và của tỉnh Lạng Sơn nói riêng thì để CCKT của Bình Gia chuyển dịch tích cực và mạnh mẽ hơn theo hướng CNH, HĐH hóa thì việc đưa ra được những kế hoạch và giải pháp CDCCNKT là rất cần thiết và quan trọng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và được sự hướng dẫn của Giảng viên Ths. Lê Huy Đoàn tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tếhuyện Bình Gia giai đoạn 2016 2020”
Xem thêm

Đọc thêm

Hãy phân tích những vấn đề lý luận về cơ sở hạ tầng công nghệ? Liên hệ với tình hình thực tiễn nước ta hiện nay để thấy rõ thực trạng về cơ sở hạ tầng của đất nước và có các giải pháp hoàn thiện nó nhằm thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa, hiệ

Hãy phân tích những vấn đề lý luận về cơ sở hạ tầng công nghệ? Liên hệ với tình hình thực tiễn nước ta hiện nay để thấy rõ thực trạng về cơ sở hạ tầng của đất nước và có các giải pháp hoàn thiện nó nhằm thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa, hiệ

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của vệc xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ đối với chiến lược CNH, HDH đất nước. Xem xét các yếu tố của cơ sở hạ tầng công nghệ ở các nước phát triển, người ta thấy rõ các nước này họ đã xây dựng được một nền tảng hết sức vững chắc. Các nước đang phát triển như Việt Nam đã nhận thức được đầy đủ những mặt yếu kém liên quan đến môi trường công nghệ ở quốc gia mình. Không một quốc gia nào muốn phát triển công nghệ lại không xây dựng cho mình một cơ sở hạ tầng công nghệ vững chắc. Đến nay đã là gần 26 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng gây dựng được một nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ tương đối toàn diện tuy nhiên vẫn yếu về chiều sâu. Nguy cơ tụt hậu là rất cao nếu như chúng ta không tiến hành những biện pháp thiết thực, những giải pháp đồng bộ triệt để ngay từ bây giờ để hoàn thiện hơn cả về lượng và chất cho các yếu tố của cơ sở hạ tầng công nghệ. Muốn vậy, Đảng, Nhà nước, các ngành các cấp, cùng nhân dân và toàn xã hội phải chung tay chung sức quyết tâm đưa Việt Nam phát triển tiến tới tự chủ về công nghệ.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THI TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THI TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Luận văn tốt nghiệpGVHD: ThS. Trần Thị Thanh HằngGIẢI PHÁP PHÁT TRIỂNTHỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Lý do chọn đề tài.Trong tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khólường đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại quốc tế WTO7/11/2006, nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập một cách sâu rộng thì việc huyđộng và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những nhiệm vụ chiến lượcquan trọng, mục tiêu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, từng bước công nghiệp hóa hiệnđại hóa đất nước, nắm vững thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, huy động mọinguồn lực trong và ngoài nước, tạo ra những động lực mới, những đột phá mới, từ tưduy đến thực tiễn để sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng chậm phát triển và cơ bản trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Thực tiễn sinh độngcủa công cuộc đổi mới nước ta đã chỉ ra rằng qua 10 năm thành lập và phát triển từtháng 7/2000, TTCK đã đáp ứng yêu cầu về vốn đặc biệt là vốn trung và dài hạn nhằmthực hiện sự nghiêp CNH-HĐH đất nước. Tuy nhiên, nó vẫn còn rất nhiều yếu tố rủi rochính vì lý do đó mà tôi chọn đề tài “Giải pháp phát triển thị trường chứng khoánViệt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu của đề tài.Đề tài nhằm tìm hiểu, phân tích và đánh giá một cách có hệ thống TTCK, phântích các rủi ro gắn liền với các loại chứng khoán, để làm cơ sở lý giải một cách khoahọc những vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển thị trườngchứng khoán Việt Nam kết hợp với việc đánh giá thực trạng cơ sở vật chất. Từ đó, đềxuất một số chiến lược phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu.Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu qua các phương tiện thông tinnhư wedsite, tivi…Qua các sách báo, tạp chí kinh tế, chứng khoán,...Phương pháp xử lý số liệu: Lý luận cơ bản là chủ yếu sau đó tiến hành so sánh,
Xem thêm

63 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỜI K

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỜI K

theo phân cấp của Chính phủ với các nội dung chính bao gồm: Ban hành theothẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện vănbản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triểnkhoa học và công nghệ; Bảo đảm sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học vàcông nghệ và nguồn lực khác của xã hội chủ yếu cho ứng dụng khoa học và18công nghệ địa phương; Tiếp nhận, tổ chức ứng dụng, đánh giá hiệu quả ứngdụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do mình đề xuất đặthàng hoặc đặt hàng sau khi được đánh giá, nghiệm thu và định kỳ hằng năm gửibáo cáo kết quả ứng dụng về Bộ Khoa học và Công nghệ;....2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với khoa học và công nghệ2.2.1. Thành tựu đạt đượcSau 30 năm đổi mới, kể từ sau Đại hội VI (12.1986), Việt Nam đã đạtđược những thành tựu quan trọng. Từ một nền kinh tế nong nghiệp lạc hậu với90% dân số làm nông nghiệp, đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầngkinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp CNH, HĐH. Chuyển toàn bộnhững hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền kinh tế cótư duy công nghiệp. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh: thu nhập bình quân đầungười vượt khỏi ngưỡng thu nhập thấp, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kémphát triển, trở thành nước phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế Việt Namtừng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. [18, tr.07]Đảng ta chủ trương đa dạng hóa các nguồn lực đầ tư cho phát triển KHCNXH. Từ năm 2000, Nhà nước đã tăng và duy trì mức đầu tư hàng năm cho KHCN khoảng 2% tổng chi ngân sách huy động sự đầu tư của các doanh nghiệp, các tổchức để nghiên cứu phát triển, ứng dụng KH-CN mới. Tổng đầu tư của toàn xã hộicho khoa học công nghệ hiện đạt xấp xỉ 1% GDP. Năm 2013 “cả nước có trên 1.600tổ chức KH-CN (tăng 8 lần so với năm 1996)… Tổ chức khoa học – công nghệngoài công lpaja tăng, chiếm 56% tổng số tổ chức KH-CN” [22, tr.183]Đảng ta đã xây dựng và thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tế: từ việctạo lập môi trường kinh tế - xã hội; hình thành và phất triển thị trường KH-CN để
Xem thêm

Đọc thêm

TỔNG QUAN HỆ THỐNG CANH TÁC SẮN – KIẾN THỨC HIỆN CÓ TRONG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG NHÂN RỘNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN HỆ THỐNG CANH TÁC SẮN – KIẾN THỨC HIỆN CÓ TRONG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG NHÂN RỘNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây trồng quan trọng ở các nước có khí hậu nhiệt đới và có khả năng sản xuất lượng carbonhydrate cao nhất trong số các cây lương thực. Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp cây sắn vào thứ tư của cây lương thực ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì. Ở nước ta những năm gần đây, cây sắn thực sự đã trở thành cây hàng hoá góp phần rất lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Từ khi sắn trở thành nguyên liệu sản xuất ethanol đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử cây sắn. Cây sắn đã và đang là cây trồng được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn. Nghiên cứu và phát triển cây sắn theo hướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn là hướng hỗ trợ chính cho việc thực hiện “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1772007 QĐTT ngày 20 tháng 11 năm 2007
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề