THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO BẢO HIỂM / BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 2012

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Thực trạng và biện pháp nâng cao bảo hiểm / bảo hiểm thương mại ở Việt Nam 2012 ":

THỰC TRẠNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Ngày 1.1.2009, tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp. Đó là bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ). Sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thực sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt nam nói riêng và nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nói chung. BHTN ở Việt Nam ra đời gắn với giai đoạn đầy khó khăn, tồi tệ của nền kinh tế Việt nam cũng như kinh tế thế giới; giai đoạn mà chúng ta phải chứng kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất nghiệp.Sau 2 năm thực hiện, Bảo hiểm thất nghiệp đã mang lại những thành công nhất định, cũng như tác dụng tích cực về mặt kinh tế xã hội. Tuy nhiên cũng như các loại hình bảo hiểm khác, BHTN cũng không thể tránh khỏi tình trạng trục lợi. khiến cho mục đích chính của BHTN không thực hiện được còn gây tâm lí ỷ lại cho người lao động, nghiêm trọng hơn còn có khả năng gây vỡ quỹ thất nghiệp, ảnh hưởng lớn đến các vấn đề chính trị , xã hội. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn những vấn đề mới mẻ này chính là lí do emlựa chọn đề tài “ Thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam”. Với toàn bộ khả năng của mình, em đã cố gắng mang đến những thông tin cơ bản và tổng quát nhất về Bảo hiểm thất nghiệp và thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam hiện nay ,tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót ngoài mong muốn nên em hy vọng nhận được sự góp ý từ phía cô giáo để hoàn thiện hơn kiến thức của mình.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam và xu hướng phát triển trong thập niên đầu của thế kỷ XXI

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THẬP NIÊN ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI

Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, không một quốc gia nào có thể tự tách mình ra khỏi cộng đồng quốc tế và khu vực. Những thay đổi về kinh tế tài chính trên thị trường quốc tế đều ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới về kinh tế, từng bước chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo ra tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một bộ phận của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng đang từng bước chuyển sang cơ chế thị trường vì nó đóng vai trò tích cực cho việc duy trì sự ổn định và phát triển nền kinh tế - xã hội, đặc biệt thực hiện chức năng là tấm lá chắn kinh tế để khắc phục hậu quả tài chính do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn là một trong những công cụ tài chính hữu hiệu nhất huy động tiền tiết kiệm phân tán trong dân cư để tạo lập nên nguồn vốn tập trung đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển đất nước. Thông qua hoạt động đầu tư vốn, ngành bảo hiểm đã góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính, thị trường vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sau 6 năm thi hành Nghị định 100/CP (18/12/1993) về kinh doanh bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển cả về số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm và chất lượng dịch vụ bảo hiểm, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo hiểm phát sinh từ nền kinh tế và dân cư. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, đòi hỏi phải sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Và ngày 7/12/2000, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhất đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển của thị trường.
Như vậy, bên cạnh những khó khăn và thách thức hiện có như: thị trường mới hình thành, tình hình thị trường bảo hiểm quốc tế đang trong giai đoạn "toàn cầu hóa", hoạt động cạnh tranh gay gắt… thì thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi và cơ hội mới như: Luật bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực từ quý II năm 2001, cơ cấu tổ chức bộ máy, trình độ đội ngũ cán bộ của ngành bảo hiểm đã được củng cố và tăng cường, ý thức người dân với bảo hiểm đang dần nâng cao…
Những điều này đã và đang đặt ra cho các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước phải có được những chính sách và biện pháp nhằm tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm Việt Nam vượt qua được những khó khăn, tận dụng được những thuận lợi và cơ hội để cho thị trường bảo hiểm Việt Nam tiến nhanh và tiến mạnh hơn nữa trên con đường hội nhập với thị trường bảo hiểm của khu vực và thế giới. Do vậy việc lựa chọn đề tài "Thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam và xu hướng phát triển trong thập niên đầu của thế kỷ XXI" để nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về thị trường và thị trường bảo hiểm.
- Phân tích, đánh giá một cách tổng quát về thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua.
- Trên cơ sở đó sẽ thấy được xu hướng và những biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, qua đó tạo đã để thị trường bảo hiểm Việt Nam có được uy tín và vị trí trên thế giới, trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế.
Để đạt được mục tiêu trên, kết cấu đề tài được chia làm 3 chương, ngoài phần mở đầu và kết luận.
- Chương I: Khái quát chung về thị trường bảo hiểm.
- Chương II: Thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
- Chương III: Xu hướng phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
Kết luận
Xem thêm

61 Đọc thêm

HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG

HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG

1.Sự cần thiết nghiêncứu đề tài
Bancassurance xuất hiện đầu tiên ở Pháp và Tây Ban Nha vào những năm đầu của thập kỷ thứ VIII, thứ IX, thế kỷ XX. Sau đó phát triển rộng rãi sang các nước châu Á và các nước khác trên thế giới, Bancassurance được thu hút mở rộng bởi những tiện ích đem lại cho khách hàng, ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm. Lợi ích gắn bó mật thiết với hoạt động của Ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm là góp phần tăng thu nhập, hạn chế rủi ro, giảm bớt sự biến động của lợi nhuận theo thời gian khi khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng và ngành bảo hiểm biến động không theo cùng một chu kỳ.
Với tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, hoạt động lĩnh vực tài chính ngân hàng có nhiều cạnh tranh, quá trình tái cấu trúc ngành Ngân hàng trong nước đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi các Ngân hàng phải có chiến lược, định hướng cụ thể để tồn tại và phát triển bền vững. Không nằm ngoài xu hướng của ngành Ngân hàng, các Ngân hàng thương mại đã kết hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm để phân phối, cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua ngân hàng. Sự kết hợp này giúp các Ngân hàng thương mại hoàn thiện hơn vòng tròn dịch vụ tài chính cung cấp cho khách hàng, tạo sự thuận tiện cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ Ngân hàng với sự đa dạng về dịch vụ tài chính – bảo hiểm.Theo thống kê, phí bảo hiểm được thu qua kênh phân phối tại các Ngân hàng ở Pháp là 70%, ở Bồ Đào Nha là 68%, ở Tây Ban Nha là 63%. Số lượng Ngân hàng bán bảo hiểm ở các nước trên thế giới như ở Mỹ 20%; Châu Âu từ 70%-90%; tại Pháp 100%,… Những con số này cho thấy những tiềm năng lợi ích mà hoạt động này mang lại.
Với tầm nhìn chiến lược, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng sẽ trở thành 01 trong 05 ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam và 01 trong 03 Ngân hàng TMCP bán lẻ hàng đầu Việt Nam. Cùng định hướng tăng trưởng hữu cơ quyết liệt, tập trung chú trọng các phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Năm 2010, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượngbắt đầu triển khai dịch vụ bảo hiểm với sơ khai ban đầu là hợp tác phân phối các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ. Đến nay, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng của Ngân hàng ở hai mảng sản phẩm: bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Bancassurance đã từng bước đem lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng những lợi ích nhất định về uy tín và tài chính.
Tuy nhiên, với kết quả hiện tại, hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng vẫn còn rất khiêm tốn, chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của thị trường và chưa thực sự thu hút sự quan tâm của khách hàng.
Nhận thức rõ xu hướng và vai tròcủa hoạt động Bancasuarance đối với định hướng, chiến lược của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng trong thời gian tới, tôi lựa chọn đề tài: “Hoạt động Bancassurancetại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng”.
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Bancassurance là kênh phân phối thể hiện sự kết hợp giữa Ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm qua cơ sở khách hàng của Ngân hàng và gắn liền với hoạt động phát triển của Ngân hàng.
Bancassurance thực sự còn khá mới mẻ ở Việt Nam, hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển. Do đó, đã có một số công trình nghiên cứu về Bancassurance ở Việt Nam. Cụ thể như:
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đoàn Thị Thanh Tâm (2014) với đề tài “Phát triển hoạt động Bancassurance của các Công ty bảo hiểm thuộc các Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam”. Tác giả nghiên cứu Bancassurance và hoạt động Bancassurance dựa trên đối tượng nghiên cứu là các Công ty bảo hiểm thuộc các Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. Từ đó, tác giả đánh giá hoạt động tiềm năng phát triển và đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động Bancassurance tại các Công ty bảo hiểm thuộc các Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hương Giang (2014) với đề tài “Phát triển dịch vụ Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam”. Tác giả lựa chọn đối tượng nghiên cứu là dịch vụ Bancassurance. Trên cơ sở phân tích thực trạng dịch vụ Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), kinh nghiệm phát triển dịch vụ Bancassurancetại một số ngân hàng trên thế giới và khảo sát sự thoả mãn, hài lòng về chất lượng dịch vụ cung ứng Bancassurance đối với các khách hàng đang giao dịch tại BIDV, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ Bancassurance trong thời gian tới.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đặng Thị Tường Vi (2012) với đề tài “Phát triển dịch vụ bảo hiểm qua Ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam, chi nhánh Đà Nẵng”. Tác giả đã nghiên cứu dịch vụ bảo hiểm qua Ngân hàng tại chi nhánh Ngân hàng cụ thể. Trên cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ bảo hiểm qua Ngân hàng, tác giả đã đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển dịch vụ tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng trong thời gian tới.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã nêu được cơ sở lý luận chung về Bancassurance và dịch vụ Bancassurance. Tuy nhiên, Bancassurance chỉ mới được đánh giá nghiên cứu ở các Công ty bảo hiểm và Ngân hàng tại các Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam hay chi nhánh Ngân hàng đơn lẻ. Với đề tài: “Hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng”, học viên đã nghiên cứu Bancassurance và hoạt động Bancassurance dưới góc độ Ngân hàng thương mại; nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động Bancassurance của một số Ngân hàng thương mại trong nước; phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Đề tài cũng đưa ra giải pháp phát triển hoạt động Bancassurance tại VPBank trong thời gian tới. Nghiên cứu của đề tài độc lập, không trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu trước đây.
3.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đặt ra cho luận văn là:
+ Làm rõ cơ sở lý luận Bancassurance và hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng thương mại.
+ Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hoạt động Bancassurance của một sốNgân hàng thương mại Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.
+ Phân tích thực trạng hoạt động Bancasuarance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, đánh giá các kết quả hoạt động đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
+ Từ cơ sở nghiên cứu lý thuyết, thực trạng và môi trường tiềm năng phát triển, đề xuất giải pháp phát triển hoạt động Bancassurance tại VPBank trong thời gian tới.
4.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng. Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu sẽ đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tế hoạt động Bancassurance tại các Ngân hàng thương mạiViệt Nam nói chung và đi sâu phân tích hoạt động này tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.
Thời gian nghiên cứu được giới hạn trong giai đoạn 2010-2014, vì hoạt động Bancassurance được bắt đầu từ năm 2010 cho đến nay, số liệu được chốt ở năm báo cáo tài chính 2014.
5.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phương pháp bảng biểu và phương pháp thống kê tổng hợp.
Nguồn số liệu được thu thập là số liệu thứ cấp, bao gồm:
+ Số liệu về hoạt động Bancassurance được thu thập qua Phòng Hợp tác bảo hiểm – Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng; Tổng hợp Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (2010-2014); Tổng hợp Báo cáo tài chính Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (2010-2014). Các dữ liệu sẽ cần thu thập:các DNBH liên kết qua Bancasuarance; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ (Term Life; Credit Life); doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ (Auto Insurance; Home Insurance; VP Lady Care; VP Medi Care); Phí hoa hồng các DNBH trích; Hoa hồng phí (2010-2014); số lượng khách hàng hoạt động (2010-2014); cho vay khách hàng (2010-2014);…..
+ Số liệu về nền kinh tế (cơ cấu nền kinh tế; GDP; CPI;…) được thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010-2014).
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về lý luận, luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng thương mại.
Về thực tiễn, luận văn phân tích và nghiên cứu thực trạng hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng một cách có hệ thống, nêu rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân kết quả chưa đạt được như mong muốn từ năm 2010 đến năm 2014.
Trên cơ sởnghiên cứu những điều kiệnphát triển, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để phát triển hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng trong thời gian tớinhằm đáp ứng đầy đủ những nhu cầu dịch vụ đa dạng của khách hàng, giảm thiểu sự tập trung nguồn thu nhập từ cho vay, tăng năng lực tài chính, nâng cao uy tín và thương hiệu Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng trên thị trường.
7.Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về Bancassurance
Chương 2: Thực trạng hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động Bancassurance tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
Xem thêm

120 Đọc thêm

QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

Qua khảo cứu các nguồn tài liệu trong nước tác giả thấy có hai công trìnhnghiên cứu lớn về quản trị quan hệ khách hàng: sách chuyên khảo "Quản trị quanhệ khách hàng" do PGS.TS Trương Đình Chiến làm chủ biên, (2009) và đề tàinghiên cứu khoa học cấp bộ được thực hiện tại Đại học Ngoại thương với đề tài“Quản trị quan hệ khách hàng tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam"doPGS.TS Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm. Ngoài hai nghiên cứu trên, tác giảchỉ thấy có các luận văn cao học, chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên và một số bàibáo, bài viết tham gia hội thảo. Các nghiên cứu chỉ đề cập đến một khía cạnh nàođó của quản trị quan hệ khách hàng và việc ứng dụng quản trị quan hệ khách hàngtrong một lĩnh vực cụ thể (chưa có ứng dụng trong lĩnh vực bảo hiểm).72.3 Tổng quan nghiên cứu về lý thuyết quản trị quan hệ khách hàng2.3.1 Marketing quan hệCác học giả đã phân tích và chỉ ra những điểm hạn chế của marketing truyềnthống với việc tập trung vào các công cụ marketing (Ps) và chỉ ra những nguyên nhândẫn đến xu hướng ứng dụng marketing quan hệ. Thực chất, marketing quan hệ chỉ làmột hướng làm marketing nhấn mạnh vào việc thiết lập duy trì mối quan hệ lâu dàivới khách hàng còn marketing-mix chính là công cụ để thực hiện mục tiêu củamarketing quan hệ. Ngày nay, xu hướng marketing quan hệ đang trở nên phổ biếntrong các doanh nghiệp. Marketing quan hệ gắn liền với sự ra đời của quản trị quanhệ khách hàng.2.3.2 Khái niệm quản trị quan hệ khách hàngKhái niệm quản trị quan hệ khách hàng được nhắc đến từ những năm cuối củathế kỷ XX. Có ba nhóm quan điểm tiếp cận về quản trị quan hệ khách hàng.Quan điểm nhấn mạnh yếu tố công nghệ thì cho rằng quản trị quan hệ kháchhàng là một phương pháp áp dụng công nghệ thông tin để sử dụng và khai thác cơ sởdữ liệu khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động marketing quan hệ. Dưới nhãnquan của các nhà quản trị kinh doanh, các học giả định nghĩa khái niệm quản trị quan
Xem thêm

24 Đọc thêm

Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại Công ty Bảo hiểm Hà Nội

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM HÀ NỘI

Bước sang thế kỷ 21, nền khoa học kỹ thuật của loài người đang phát triển với tốc độ nhanh chóng. Khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, con người đã có nhiều thành tựu trong chinh phục thiên nhiên. Tuy nhiên, trong sản xuất, và đời sống hàng ngày vẫn có những tai nạn, những sự cố bất ngờ ngẫu nhiên xảy ra gây tổn thất lớn cho tài sản, phương tiện sản xuất, mùa màng....thậm chí có thể làm chết người. Do vậy, bảo hiểm đã ra đời nhằm huy động một quỹ tài chính tập trung từ các đơn vị và các cá nhân tham gia để bồi thường hay bù đắp cho những tổn thất, thiệt hại đó. Bảo hiểm ra đời ngày càng phát triển và là nhu cầu tất yếu của xã hội văn minh, hiện đại.
Trong thời đại ngày nay, khi trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì các thiết bị điện tử được sử dụng ngày càng nhiều. Trong thực tế thiết bị điện tử đã thâm nhập vào toàn bộ thế giới kinh doanh, các cơ quan thuộc mọi lĩnh vực, các nhà bán lẻ, các bệnh viện và các phòng nghiên cứu ... Các tổ chức này cũng có nhiều mối nguy hiểm đe doạ đến các thiết bị điện tử được sử dụng. Do vậy để khắc phục những rủi ro có thể xảy ra thì bảo hiểm thiết bị điện tử ra đời như một nhu cầu tất yếu giúp các cơ quan, xí nghiệp .... yên tâm sử dụng các thiết bị điện tử cho công việc của mình.
Ở Việt Nam, bảo hiểm thiết bị điện tử đến thời điểm này là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ mới được Tổng công ty bảo hiểm Việt nam ( Bảo Việt ) nghiên cứu triển khai. Đây là một nghiệp vụ hết sức phức tạp, đòi hỏi tính kỹ thuật cao trong các công đoạn và trong cách tính phí...Vì vậy việc nghiên cứu nghiệp vụ này là rất cần thiết đối với những người làm công tác bảo hiểm.
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó, sau một thời gian thực tập tại Phòng Bảo hiểm rủi ro kỹ thuật của Công ty Bảo hiểm Hà Nội, được sự giúp đỡ tận tình của chú Hồng, các Anh, Chị trong Công ty cũng như của cô Nguyễn Thị Chính ở bộ môn Kinh tế Bảo hiểm Trường ĐHKTQD, với mong muốn tìm hiểu thêm và củng cố nâng cao kiến thức đã học về bảo hiểm thiết bị điện tử, em đã chọn đề tài “ Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại Công ty Bảo hiểm Hà Nội.

Chuyên đề này ngoài phần mở đầu và kết luận gồm ba chương :
Chương I : Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm thiết bị điện tử . Chương II : Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại Bảo Việt Hà Nội.
Chương III : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử.
Xem thêm

81 Đọc thêm

Phân tích công ty bảo hiểm Bảo Việt(BVH)

PHÂN TÍCH CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT(BVH)

I. Giới thiệu về Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
1. Tổng quan
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt Baoviet Insurance) là công ty thành viên được Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt đầu tư 100 vốn.
Trải qua chặng đường gần nửa thế kỷ hình thành và phát triển (từ 15011965 đến nay), Bảo hiểm Bảo Việt tự hào là doanh nghiệp bảo hiểm lâu đời nhất tại Việt Nam, luôn khẳng định vị trí dẫn đầu thị trường cả về thị phần, doanh thu phí bảo hiểm gốc lẫn quy mô vốn điều lệ. Bảo hiểm Bảo Việt đã nỗ lực không ngừng để thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của nhà bảo hiểm hàng đầu Việt Nam trong công tác hỗ trợ, giải quyết bồi thường cho khách hàng cũng như trong công tác an sinh xã hội; nhằm bảo đảm phát triển bền vững và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
Trụ sở chính: 35 Hai Bà Trưng, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: (84.4) 3826 2614
Fax: (84.4) 3825 7188
Email: bvvnbaoviet.com.vn
Xem thêm

35 Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH KINH DOANH TẠI BẢO MINH QUẢNG NINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH KINH DOANH TẠI BẢO MINH QUẢNG NINH

Sau hơn mười năm năm đổi mới từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trưòng có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã thu được những thành quả to lớn về mọi mặt, đa dạng hoá các ngành nghề kinh doanh, mở rộng thị trường giao thương và hội nhập với nhiều nước trên thế giơí, tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định qua các năm, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, một mặt nó tạo ra môi trường kinh doanh khá thuận lợi cho các doanh nghiệp, mặt khác, những rủi ro trong kinh doanh cũng có xu hướng ra tăng.
Để hạn chế những rủi ro trong kinh doanh, nhiều công ty bảo hiểm mới đã ra đời, cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ bảo hiểm mới cho thị trường, trong đó phải kể đến là công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là Bảo Minh. Kể từ khi thành lập, Bảo Minh có trụ sở chính tại 26 Tôn Thất Đạm Q1 TP. HCM, đã mở khoảng 50 chi nhánh và phòng đại diện tại nhiều tỉnh thành trên cả nước, trong đó có Chi nhánh công ty Bảo Minh tại Quảng Ninh, gọi tắt la Bảo Minh Quảng Ninh.
Một điều đáng quan tâm là, trong những năm qua, mặc dù Bảo Minh Quảng Ninh hoạt động kinh doanh có đạt hiệu quả, thu được lợi nhuận, đóng góp không nhỏ cho ngân sách Nhà Nước, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, nhưng kết quả thu đựơc chưa thực sự làm hài lòng các CBCNV trong Chi nhánh. Mặt khác, trong quá trình hội nhập, chúng ta phải mở rộng cơ hội cho các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế nước ngoài, khi đó, sự cạnh tranh trên thị trừơng bảo hiểm Việt Nam sẽ càng trở lên khốc liệt hơn. Vậy, làm thế nào để Chi nhánh có thể duy trì hoạt động kinh doanh có hiệu quả, và kinh doanh tốt hơn trong nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh này?? Đó là câu hỏi bức xúc đặt ra cho các cấp lãnh đạo của toàn công ty cũng như của Chi nhánh.
Qua quá trình thực tập tại Bảo Minh Quảng Ninh, trước tình hình kinh doanh và kết quả kinh doanh của Chi nhánh, cùng với những kiến thức đã học, và đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ. Phan Tố Uyên. Tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp đẩy mạnh kinh doanh tại Bảo Minh Quảng Ninh “ cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn tốt nghiệp được chia làm ba phần:
Phần I: Lý luận chung về hoạt động kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Phần II: Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Bảo Minh Quảng Ninh
Phần III: Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại Bảo Minh Quảng Ninh
Với thời gian thực tập ngắn và trình độ bản thân còn có hạn, nên trong Luận văn tốt nghiệp này khó có thể tránh khỏi những thiếu xót. Vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý nhận xét của các thầy cô giáo, các CBCNV trong Chi nhánh để Luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể thầy cô giáo khoa Thương mại, đặc biệt là Cô giáo Tiến sĩ. Phan Tố Uyên, người đã trực tiếp, tận tâm hướng dẫn tôi làm Luận văn tốt nghiệp và tập thể CBCNV ở Bảo Minh Quảng Ninh đã giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này.
Xem thêm

102 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM BẢO HIỂM CON NGƯỜI PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY PVI ĐÔNG ĐÔ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM BẢO HIỂM CON NGƯỜI PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY PVI ĐÔNG ĐÔ

Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi con người, vì vậy việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe là nhu cầu và cũng là đòi hỏi thiết yếu mà cộng đồng và mỗi cá nhân quan tâm. Tuy nhiên, trong cuộc sống chúng ta khó tránh khỏi những lúc ốm đau, bệnh tật do tác động của tuổi tác cũng như môi trường sống… Bảo hiểm y tế (BHYT) Việt Nam ra đời là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm giúp đỡ người lao động gia đình họ khi gặp rủi ro về sức khỏe để ổn định cuộc sống, góp phần vào sự phát triển ổn định của đất nước. Nhưng có một thực tế hiện nay là số người khám chữa bệnh ngày càng tăng, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… dẫn đến việc quá tải tại nhiều bệnh viện. Điều này cho thấy người dân phải chịu nhiều hơn cho chi phí y tế so với trước kia. Đối với những người có bảo hiểm y tế thì khoản chi phí này có thể được hỗ trợ một phần. Tuy nhiên, nhiều người bệnh có thể sẽ gặp khó khăn khi khám và điều trị trái tuyến. Hơn nữa chất lượng dịch vụ khi khám chữa bệnh bằng BHYT còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhiều đối tượng khác nhau. Đối với bản thân người bệnh và gia đình, bệnh tật không chỉ là gánh nặng tinh thần mà còn là gánh nặng vật chất, vì không chỉ tốn tiền mà còn có nguy cơ làm gián đoạn công việc, gián đoạn thu nhập. Vì vậy, nếu như có được sự hỗ trợ kịp thời sẽ giúp người bệnh và gia đình lấy lại được “thăng bằng” tài chính. Hiểu được nhu cầu đó, một loại hình bảo hiểm đã ra đời nhằm đáp ứng được những mong muốn của người dân và một phần khắc phục được những hạn chế của chế độ BHYT. Đó chính là bảo hiểm con người phi nhân thọ.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và Bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng. Nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ cũng ngày càng được quan tâm phát triển. Doanh thu phí bảo hiểm từ nghiệp vụ bảo hiểm này luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ. Tổng công ty cổ phần PVI luôn là công ty có doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thuộc top đầu trong nhưng doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay. Là một trong những công ty bảo hiểm thành viên, Công ty PVI Đông Đô đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của Tổng công ty cổ phần PVI, giúp củng cố thương hiệu Bảo hiểm PVI trên thị trường, hoàn thành tốt các chỉ tiêu và đóng góp một phần doanh thu đáng kể trong tổng doanh thu của Tổng công ty. Bảo hiểm con người phi nhân thọ là một trong những nghiệp vụ đạt được doanh thu cao, có đóng góp nhất định vào tổng doanh thu phí bảo hiểm của công ty. Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây cho thấy vẫn tồn tại nhiều hạn chế như tỷ lệ bồi thường cao, vấn đề trục lợi bảo hiểm còn diễn ra khá nhiều…
Trong thời gian thực tập tại công ty, nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ, vì thế em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty PVI Đông Đô”.
Kết cấu đề tài được chia thảnh 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm con người phi nhân thọ và năng lực cạnh tranh sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm con người phi nhân thọ tại Công ty PVI Đông Đô
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm con người phi nhân thọ tại Công ty PVI Đông Đô
Để có thể hoàn thành bài viết này, em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ, nhân viên Công ty PVI Đông Đô đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình tìm hiểu về nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song do hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô và bạn đọc để bài viết được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

63 Đọc thêm

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CHI NHANH AAA THANH HÓA

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CHI NHANH AAA THANH HÓA

Kết cấu luận văn gồm 3 phần chính:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THIỆT HẠI VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI.
Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIỆT HẠI VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CHI NHÁNH AAA THANH HÓA
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIỆT HẠI VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CHI NHÁNH AAA THANH HÓA

72 Đọc thêm

TÌM HIỂU VỀ SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ THỰC TIỄN KINH DOANH SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ NHÓM

TÌM HIỂU VỀ SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ THỰC TIỄN KINH DOANH SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ NHÓM

Tìm hiểu về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm và thực tiễn kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan của quá trình phát triển của thế giới. Để không bị gạt khỏi lề xu hướng ấy các quốc gia đều phải nỗ lực tập trung vào cải các kinh tế, đổi mới chính sách pháp luật sao cho phù hựp với trình độ phát triển chung của thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Đặc biệt khi chúng ta đã tham gia rất nhiêu khu vực mậu dịch tự do, gia nhập WTO thì vấn đề này lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy Việt Nam đã thực hiện chính sách “mở cửa” cho khá nhiều ngành, nhưng đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định vẫn còn mang nặng dấu ấn của nền kinh tế bao cấp và còn quá non yếu trong đó có lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì việc phải cạnh tranh trong hội nhập quốc tế và tham gia sân chơi chung quả là một thách thức lớn. Tuy nhiên lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng của nước ta cũng đã thu được một số thành tựu đáng ghi nhận trong thời gian qua khi cho ra nhiều sản phẩm bảo hiểm đa dạng đáp ứng được nhu cầu của người mua. Một trong những sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ hiện nay được khá nhiều người quan tâm đó là bảo hiểm nhân thọ nhóm. Để hiểu rõ hơn về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm này em xin đi sâu làm rõ đề bài “Tìm hiểu về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm và thực tiễn kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm.”

NỘI DUNG

I, Khái quát về bảo hiểm

1, Khái niệm về bảo hiểm

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09122000) thì “ Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”

2. Bản chất của bảo hiểm

Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro, quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản tiền bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm đã nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số đông (the law of large numbers), càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.

Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động phí bảo hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quỹ được sử dụng trước hết và chủ yếu là để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đời sống xã hội và hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên, liên tục.

3. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

3.1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity not certainty)

Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra.

Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất ngờ, không lường trước được, nghĩa là không bảo hiểm cái gì đã xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. Bởi lẽ, bảo hiểm được thực hiện chính là nhằm giải quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi ro mà con người không thể hạn chế được hoặc chỉ hạn chế được phần nào. Người khai thác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro được bảo hiểm sẽ xảy ra, ví dụ như xe cơ giới không đảm bảo an toàn kỹ thuật, con tàu không đủ khả năng đi biển… Người ta cũng không bảo hiểm cho những gì đã xảy ra, ví dụ như bảo hiểm cho tàu, xe sau khi chúng đã gặp tai nạn.

3.2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith)

Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực với nhau. Tuy nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin tưởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực. Nguyên tắc này thể hiện như sau:

Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm… cho người được bảo hiểm biết. Ví dụ, trong bảo hiểm hàng hải, mặt 1 của đơn bảo hiểm bao gồm các nội dung như điều kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm… mặt 2 bao gồm quy tắc, thể lệ bảo hiểm của công ty bảo hiểm có liên quan. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn

Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết. Người được bảo hiểm cũng không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.

Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc người quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do người yêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình đối với rủi ro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào và tính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu… Do đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố liên quan một cách đầy đủ và trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực hoặc khi tái tục hợp đồng.

3.3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest)

Quyền lợi có thể được bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Như vậy, quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Người nào có quyền lợi có thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro. Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường.

Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.

3.4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity)

“Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý”. Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm chính là nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các công ty bảo hiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ có thể cố gắng khôi phục được gần như thế.

Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Trong bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại thực tế. Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại.

Ở đây, ta thấy có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm. Khi xảy ra trường hợp phải bồi thường, số tiền trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi của người đó. Tuy nhiên, đôi khi, người được bảo hiểm chỉ được nhận số tiền ít hơn giá trị lợi ích của họ. Cùng với quyền lợi được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá tài chính, và như vậy, khi xem xét giá trị sinh mạng, hoặc bồi thường thương tật con người, chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính xác.

3.5. Nguyên tắc thế quyền (subrogation)

Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình. Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất. Khi số tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa. Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất. Trong trường hợp này, người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết cho người bảo hiểm.

II, Khái quát về bảo hiểm nhân thọ và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm

1, Bảo hiểm nhân thọ

1.1. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ

Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hay chết.”

Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm (số tiền bảo hiểm) cho người tham gia khi người tham gia có những sự kiện đã định trước còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn. Ví dụ:bảo hiểm sức khỏe…

1.2. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho người được bảo hiểm sống hoặc chết. Chính vì vậy mà bảo hiểm nhân thọ mang những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, tuổi thọ, tính mạng, sức khỏecon người không xác định được giá trị.

Thứ hai, sự kiện bảo hiểm không không hoàn toàn gắn liền với rủi ro.

Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

Thứ ba, chỉ công ty bảo hiểm nhân thọ mới được cung cấp. Bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm con người đây là thuộc tính cơ bản nhất của bảo hiểm thọ các loại bảo hiểm khác không khác. Ví dụ: bạn tham gia bảo hiểm tính mạng, sức khỏe thì bạn phải đóng phí khi tham gia bảo hiểm. Trong khoản thời gian tham gia bảo hiểm nếu bạn gặp rủi ro như tai nạn thì bạn sẽ được bên bảo hiểm chi trả các chi phí phát sinh trong việc gặp rủi ro này.

Thứ tư, đây là loại hợp đồng dài hạn và thường mang tính tiết kiệm.

Thứ năm, bảo hiểm nhân thọ là loại hợp đồng với các điều khoản mẫu nên yêu cầu rất cao về tính linh hoạt và tính minh bạch.

2, Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm

2.1. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ nhóm

Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của con người tuỳ theo mục đích của người tham gia là gì. Trong thực tế để phân loại bảo hiểm người ta chia ra các hình thức cơ bản sau:

• Phân loại theo rủi ro bảo hiểm
Bảo hiểm trong trường hợp tử vong.
Bảo hiểm trọn đời
Bảo hiểm trong trường hợp sống (sinh kỳ)
Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.

• Phân loại theo phương thức tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm cá nhân
Là loại bảo hiểm con người thực hiện dưới hình thức người tham gia bảo hiểm là cá nhân. Thông thường loại bảo hiểm tự nguyện đều do cá nhân tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm nhóm
Là loại bảo hiểm con người theo hình thức tập thể có kèm theo danh sách cá nhân được bảo hiểm. Thí dụ tập thể cán bộ, công nhân viên của một doanh nghiệp đều được mua bảo hiểm con người có kèm theo danh sách các cá nhân được bảo hiểm rủi ro chết hoặc bảo hiểm tai nạn bất ngờ nhằm đảm bảo an toàn sản xuất, lao động.
=> Như vậy thì bảo hiểm nhân thọ nhóm nhóm cũng là một loại bảo hiểm nhân thọ mang nhiều đặc điểm tương tự như hợp đồng bảo hiểm nhân thọ dành cho cá nhân nhưng có đặc điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất là: hợp đồng bảo hiểm nhóm bảo hiểm cho một nhóm người, thay vì chỉ bảo hiểm cho một người hay người trong một gia đình như trong hợp đồng bảo hiểm cá nhân. “Nhóm” ở đây phải thoả mãn điều kiện là một nhóm người được thành lập không vì mục đích tham gia bảo hiểm.

2.2. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ nhóm

Đối tượng có thể tham gia bảo hiểm nhân thọ nhóm: Theo nguyên tắc, những người thuộc các nhóm nhân viên trong một doanh nghiệp (hoặc một đơn vị, tổ chức), nhóm công đoàn lao động, nhóm người vay người cho vay có thể tham gia bảo hiểm nhóm. Trên thực tế, hầu hết các hợp đồng bảo hiểm nhóm là của nhóm nhân viên trong một doanh nghiệp. Hợp đồng bảo hiểm nhóm sẽ cung cấp quyền lợi cho những người thuộc nhóm đó.

Quyền lợi của người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhóm về cơ bản là gống với quyền lợi của người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ dành cho cá nhân, chỉ có một số khác biệt cơ bản như: Thông th¬ườngng hợp đồng bảo hiểm nhóm có mức phí thấp hơn so với hợp đồng bảo hiểm cá nhân; mặt khác người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhóm có quyền chỉ định người thụ hưởng trong trường hợp mỡnh qua đời. Trong khi đó, một điều thường thấy đối với các hợp đồng bảo hiểm cá nhân là người tham gia bảo hiểm người chủ hợp đồng chính là người có quyền chỉ định người thụ hưởng (Tất nhiên, trong bảo hiểm nhân thọ cá nhân, người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm có thể là một).

2.3. Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm

Tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhóm gồm có hai bên là:

+ Công ty bảo hiểm

+ Người tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm. Trong đó, người tham gia hợp đồng bảo hiểm nhóm là người hoặc tổ chức quyết định mua loại hình bảo hiểm nhóm cho các thành viên thuộc nhóm mình. Đây chính là người đàm phán về điều khoản hợp đồng với công ty bảo hiểm.

2.4. Phí trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm

Phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm được đóng góp thế nào phụ thuộc vào việc hợp đồng đó thuộc loại nào.Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm không cùng đóng phí, toàn bộ số phí do người sử dụng lao động đóng, nhân viên (người được bảo hiểm nhóm) không phải đóng phí. Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm cùng đóng phí, các thành viên (người được bảo hiểm nhóm) phải đóng toàn bộ hoặc một phần nào đó phí bảo hiểm, phần còn lại do người sử dụng lao động nộp.

III, Thực tiễn kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm

1, Lợi ích của việc tham gia bảo hiểm nhân thọ nhóm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có những bước phát triển ấn tượng trong 10 năm qua với doanh thu tăng gấp 3 lần, từ 6.500 tỷ đồng (năm 2003), lên 18.400 tỷ đồng (năm 2012). Được hỗ trợ bởi các điều kiện thuận lợi như dân số trẻ, đạt đến 90 triệu người và vẫn còn đang gia tăng; tăng trưởng GDP ổn định; tỉ lệ tiết kiệm cao…, thị trường này đang có những điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển trong những năm tới . Việc những điều kiện thuận lợi để phát triển bảo hiểm nhân thọ thì các nhà kinh doanh bảo hiểm đã tận dụng nó một cách triệt để để “tung” ra những sản phẩm bảo hiểm đáp ứng được nhu cầu của người mua bảo hiểm hiện nay trong đó có bảo hiểm nhân thọ nhóm. Như đã trình bày khái niệm của bảo hiểm nhân thọ nhóm ở phần trên thì bảo hiểm nhân thọ nhóm là sản phẩm dành cho một nhóm các đối tượng chứ không phải chỉ cho một cá nhân nữa. Chính vì điều này mà bảo hiểm nhân thọ nhóm được chủ yếu các chủ doanh nghiệp ưa chuộng sử dụng cho nhân viên của mình. Ngoài ra sản phẩm này cũng được nhiều đối tượng khác ngoài các doanh nghiệp sử dụng như: Bảo hiểm nhân thọ cho cặp vợ chồng và trả tiền cho người qua đời sau cùng…Cho dù đối tượng nào tham gia thì bảo hiểm nhân thọ nhóm cũng mang lại trạng thái an tâm về tinh thần, giảm bớt lo âu khi có rủi ro xảy ra. Đồng thời còn giúp khắc phục khó khăn về tài chính khi có rủi ro…

Tiềm năng của bảo hiểm nhóm phúc lợi nhân viên tại Việt Nam lớn hơn những gì chúng ta có thể nhìn thấy được. 51 triệu người đang làm việc tại nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau và đa số các doanh nghiệp đang sử dụng lực lượng lao động này là những khách hàng đầy tiềm năng.

Bảo hiểm nhân thọ nhóm là một giải pháp tốt giúp doanh nghiệp giữ chân nhân viên. Hiện nay vấn đề thuyên chuyển nhân sự đang diễn ra ngày càng thường xuyên tại các doanh nghiệp. Nguyên nhân của vấn đề này khá đa dạng, có khi xuất phát từ bản thân người lao động, nhưng cũng có khi do chính sách giữ chân người tài của doanh nghiệp chưa thỏa đáng. Tình trạng này thôi thúc các doanh nghiệp tìm kiếm các cách thức để giữ chân người tài. Một trong những giải pháp hữu hiệu hiện nay được các doanh nghiệp áp dụng để giữ lại nguồn tài sản quí giá nhất của công ty là sản phẩm bảo hiểm nhóm dành cho doanh nghiệp. Bảo hiểm nhân thọ nhóm là sản phẩm bảo hiểm mà doanh nghiệp mua cho nhân viên. Đối với chủ doanh nghiệp, sản phẩm này như là một món quà có giá trị tinh thần để giữ chân nhân viên, nhất là đối với cácnhân viên chủ chốt. Đối với người lao động, đây là một quyền lợi tăng thêm nhằm đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình. Một khi nhân viên được công ty quan tâm hơn đến đời sống vật chất và tinh thần thì sẽ gắn bó lâu dài hơn với “ngôi nhà thứ hai” của mình.

2, Thực tiễn kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm

2.1. Thành quả đạt được

Ở Việt Nam, bảo hiểm nhóm vẫn chưa thực sự bùng nổ dù đã xuất hiện khá lâu. Nhưng theo các chuyên gia trong ngành bảo hiểm thì thời kỳ ngủ đông của dòng sản phẩm này sẽ không còn lâu nữa, bởi nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã nhận thấy tiềm năng rất gần của phân khúc này.

Ở Việt Nam, không ít công ty bảo hiểm triển khai sản phẩm này, nhưng mới chỉ có một số ít doanh nghiệp tham gia. Nhiều công ty bảo hiểm nhân thọ đã cho ra đời dòng sản phẩm bảo hiểm nhóm như: Phú bảo nghiệp Prudential, An nghiệp bảo nhân – AIA, An nghiệp thành công Bảo Việt. Tổng CTCP Bảo hiểm Bưu điện (PTI), thông qua nhà môi giới bảo hiểm AON, đã triển khai sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho các doanh nghiệp lớn như Công ty FPT, Ngân hàng Hàng hải, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Hãng hàng không AirMekong…Tập đoàn Bảo hiểm Generali của Ý đã khai trương Công ty Bảo hiểm nhân thọ Generali Vietnam, với sản phẩm bảo hiểm cho cá nhân và doanh nghiệp, trong đó có bảo hiểm nhân thọ tử kỳ nhóm Bảo nhân hưng nghiệp. Trong nước, Công ty cổ phần PVI trong năm 2012 đã ra mắt công ty bảo hiểm nhân thọ trên cơ sở hợp tác với đối tác châu Mỹ và có thể triển khai sản phẩm bảo hiểm nhóm .

Mấy năm gần đây nền kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ cao, khoảng 8%năm. Không ít doanh nghiệp còn có tốc độ phát triển cao hơn thế. Việc hình thành các công ty con, việc mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động ra toàn quốc và nước ngoài, việc thành lập doanh nghiệp mới đòi hỏi một nguồn nhân lực lớn vừa thành thạo kỹ năng quản lý vừa thành thạo kỹ năng chuyên môn. Với đội ngũ này, doanh nghiệp đào tạo tuyển dụng rất công phu, có thể 5 năm, 10 năm mới có người xứng tầm ở vị trí được giao. Nhất là các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, họ luôn phải tuyển dụng và đào tạo người lao động Việt Nam dần dần thay thế vị trí của các chuyên gia nước ngoài (người từ nước có vốn đầu tư hoặc người từ các chi nhánh của công ty mẹ đến). Chính vì vậy mà các doanh nghiệp luôn đưa ra những đối sách để giữ chân nguồn nhân lực mà họ đã mất nhiều công sức đào tạo và một trong những đối sách được các doanh nghiệp áp dụng đó là mua bảo hiểm nhân thọ nhóm cho nhân viên. Khác với bảo hiểm nhân thọ dành cho cá nhân, mức phí của bảo hiểm nhân thọ nhóm được tính toán dựa vào các đặc tính rủi ro của toàn nhóm như tuổi và nghề nghiệp, giới tính. Mức phí đối với sản phẩm bảo hiểm này chỉ chiếm một vài phần trăm tổng quỹ lương hàng năm của doanh nghiệp

Hiện nay, đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam đưa ra thị trường loại bảo hiểm này.Như Daiichi Life Việt Nam đã có sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm với phí bảo hiểm rất linh hoạt và nhiều quyền lợi thiết thực. Ngoài ra, Công ty còn có một sản khác là An Thịnh chu toàn là sản phẩm thuộc dòng bảo hiểm liên kết chung (Universal Life). Đại diện Daiichi Life Việt Nam cho biết, An Thịnh chu toàn là sản phẩm dành cho mọi đối tượng khách hàng và các doanh nghiệp cũng có thể mua sản phẩm này cho nhân viên của mình . Hay AIA Life Việt Nam cũng có gói bảo hiểm nhóm có tính bảo vệ cao và linh hoạt (không mang tính tiết kiệm), dành cho một nhóm 30 người trở lên không cần thẩm định sức khỏe...

Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm nhóm thực sự nóng lên khi đầu tháng 102009, ACE Life chính thức giới thiệu sản phẩm mới Kế hoạch tài chính trọn đời Quyền lợi nhân sự cấp cao và Bảo hiểm tử kỳ nhóm. Số lượng thành viên tối thiểu để được tham gia các sản phẩm này là 10 người. Sau hơn 1 tháng ra mắt sản phẩm, nguồn tin từ ACE Life cho biết đã có rất nhiều doanh nghiệp quan tâm tìm hiểu, đặc biệt là sản phẩm dành cho nhân sự cấp cao. Điều này chứng tỏ nhu cầu thị trường về sản phẩm này rất lớn, dù ở nước ngoài mua bảo hiểm cho nhân sự cấp cao dã trở thành một thói quen của các doanh nghiệp.

Cuối tháng 102009, Prévoir Việt Nam và ABBANK cũng ký kết hợp đồng hợp tác bảo hiểm cho cán bộ chủ chốt của khách hàng doanh nghiệp gửi tiền tại ABBANK. Đây là gói sản phẩm bảo hiểm nhóm, được thiết kế cho các thành viên chủ chốt (kế toán trưởng, thành viên ban giám đốc...) của khách hàng doanh nghiệp tham gia sản phẩm tiền gửi của ABBANK. Theo Phòng kinh doanh kênh Bancassurance của Prévoir Việt Nam, đây là sản phẩm dành cho khối DN liên kết với ngân hàng đầu tiên trên thị trường. Prévoir Việt Nam hy vọng, sản phẩm này sẽ được phát triển mạnh trong tương lai.

Tại AAA Việt Nam, những sản phẩm bảo hiểm nhóm mà công ty này đang triển khai là bảo hiểm nhóm dành cho toàn bộ nhân viên, bảo hiểm nhóm dành cho đội ngũ nhân sự chủ chốt, chương trình giữ chân người tài cho toàn bộ nhân viên, chương trình giữ chân người tài cho người chủ chốt. Ngoài ra, AIA Việt Nam còn có các sản phẩm bảo hiểm nhóm có tính bảo vệ cao, như bảo hiểm hưu trí dành cho nhân sự cấp cao. Các sản phẩm này đều có chung ưu điểm là bảo vệ nhân viên suốt 365 ngàynăm, 24 giờngày trên toàn thế giới…

Theo nhận định của một lãnh đạo một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Phát triển bất cứ sản phẩm nào cũng phải đi theo từng giai đoạn của thị trường và nhu cầu khách hàng. Thời điểm này là lúc các doanh nghiệp đã nhận thấy sự cần thiết của các chính sách giữ chân nhân sự cấp cao. Và thị trường sản phẩm bảo hiểm nhóm trong thời gian tới sẽ thực sự ‘’bùng nổ’’ bất chấp một vài trở ngại về chính sách

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Bảo hiểm nhân thọ nhóm là chương trình bảo hiểm dành cho nhân viên được các doanh nghiệp quan tâm rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Việc tham gia bảo hiểm cho nhân viên được xem như là một hình thức tăng thêm phúc lợi của doanh nghiệp dành cho các nhân viên của mình. Chương trình bảo hiểm này cũng sẽ góp phần gia tăng sự trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp, vì họ cảm thấy được đánh giá đúng và tưởng thưởng xứng đáng cho những đóng góp của mình đối với doanh nghiệp… Ở Việt Nam, bảo hiểm nhóm xuất hiện đã khá lâu, nhưng thời gian qua vẫn chưa thực sự “bùng nổ”, bởi rất nhiều lý do, dù các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đều đã nhận thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai của loại sản phẩm này.

Bảo hiểm nhân thọ nhóm tại Việt Nam chưa phát triển, vì trên thực tễ là các sản phẩm bảo hiểm chính bán cho cá nhân, các công ty bảo hiểm nhân thọ còn chưa khai thác hết tiềm năng. Chính vì thế mà sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm chưa thực sự được quan tâm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ xếp bảo hiểm nhóm vào phân khúc tiềm năng trong tương lai. Đặc biệt, các sản phẩm bảo hiểm nhóm bán cho doanh nghiệp có mức phí bảo hiểm không bằng phí bán cho cá nhân. Khách hàng không phải thẩm định sức khỏe cũng là một yếu tố gây rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Bích Hồng, Phó trưởng khoa Bảo hiểm, Trường đại học Lao động Xã hội cho biết, tình hình kinh tế khó khăn, cắt giảm chi phí là cách mà nhiều doanh nghiệp đang làm. Thêm vào đó, các doanh nghiệp phải cùng đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) với người lao động. Mức đóng bảo hiểm của người lao động hiện nay là BHXH 24%, bảo hiểm y tế 4,5%, bảo hiểm thất nghiệp 2%, tổng cộng là 30,5%. Trong đó, doanh nghiệp phải đóng 22% trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động và được tính vào chi phí, còn người lao động phải đóng 8,5% mức tiền lương, tiền công. Như vậy, người chủ sử dụng lao động đóng gần gấp 3 lần so với người lao động. Mức đóng BHXH của doanh nghiệp tại Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là nguyên nhân chính xảy ra tình trạng hàng loạt doanh nghiệp nợ BHXH, trốn đóng BHXH hiện nay. Đây cũng là một nguyên nhân khiến đa số doanh nghiệp chưa “mặn mà” với bảo hiểm nhân thọ nhóm, mặc dù Nghị định số 1222011NĐCP của Chính phủ đã tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc quyết toán các khoản chi để mua thêm bảo hiểm cho nhân viên .Nghị định 122 tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động được tính vào chi phí trước thuế sẽ tạo tiền đề cho sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm hướng tới doanh nghiệp nhiều hơn.

Tại các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, sản phẩm bảo hiểm nhóm được bán rất chạy, vì đây chính là một giải pháp tốt giúp doanh nghiệp giữ chân nhân viên. Tuy nhiên, ở Việt Nam, dù đã được không ít doanh nghiệp triển khai, nhưng đến nay, dòng sản phẩm này không phải là dòng sản phẩm chủ lực của các công ty bảo hiểm nhân thọ. Bởi lẽ, chỉ có một số ít doanh nghiệp Việt Nam nghĩ tới giải pháp mua bảo hiểm nhóm cho nhân viên. Các doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đến giải pháp để giữ chân nhân sự, mà mới chỉ tập trung làm đúng theo quy định của pháp luật về chính sách phúc lợi cho người lao động.

Đại diện một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài đã hoạt động 10 năm ở Việt Nam cho biết, tỷ lệ tái tục sản phẩm bảo hiểm nhóm của Công ty khá cao, với mức hiện tại là trên 80%. Tuy nhiên, sản phẩm bảo hiểm nhóm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ mới chủ yếu bán cho doanh nghiệp nước ngoài, lãnh sự quán và đại sứ quán… mua cho nhân viên của mình. Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia mua sản phẩm này chủ yếu là công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và một số ngân hàng lớn, nhưng tỷ lệ tham giavẫn còn khá khiêm tốn.

IV. Một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm

Về phía nhà nước
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ để tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được phát huy những lợi thế về thị trường và hoàn thiện hơn nữa các sản phẩm bảo hiểm có chất lượng trong đó có bảo hiểm nhân thọ nhóm
Thứ hai, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm.
Thứ ba, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.

Về phía Doanh nghiệp bảo hiểm
Thứ nhất, cần đa dạng và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm.
Thứ hai, hoàn thiện hơn những nội dung liên quan tới hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người mua bảo hiểm được hưởng những chính sách ưu đãi từ loại bảo hiểm nhân thọ nhóm này
Thứ ba, chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân viên nghiên cứu thị trường và tìm hiểu thị trường để cải tiến những chính sách liên quan đến bảo hiểm nhân thọ nhóm sao cho phù hợp hơn với người mua bảo hiểm đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mua bảo hiểm nhóm cho nhân viên của mình

KẾT LUẬN

Từ thực tế kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm ta có thể nhận thấy sản phẩm này tuy có nhiều tiềm lực phát triển tại thị trường Việt Nam nhưng trên thực tế nó vẫn chưa có sự bùng nổ và không phải là sản phẩm chủ chốt của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Những hạn chế trên được chi phối bởi rất nhiều lý do trong đó có lý do là bảo hiểm nhân thọ nhóm chưa đáp ứng được sự mong đợi của người mua bảo hiểm, đồng thời các doanh nghiệp bảo hiểm cũng chưa phổ biến rộng rãi sản phẩm này đến người mua. Đối tượng chủ yếu mà doanh nghiệp bảo hiểm hướng tới cho sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm nay là các doanh nghiệp do đó mà tính phổ biến của nó chưa cao. Vì vậy, để phát huy được những thế mạnh từ thị trường mang lại các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cần nâng cao hơn nữa trình độ của mình đồng thời nhà nước cũng cần hoàn hiện hơn về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhằm tạo nền tảng cho thị trường bảo hiểm của Việt Nam ngày càng lớn mạnh.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp quản lý chi trả chế độ hưu trí ở cơ quan BHXH VN giai đoạn 20022007

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHI TRẢ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở CƠ QUAN BHXH VN GIAI ĐOẠN 20022007

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của mỗi Quốc gia, mang trong nó bản chất nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mọi người lao động. Chính sách bảo hiểm xã hội thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi Quốc gia. Việc tổ chức và thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội ( BHXH ) sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong hệ thống BHXH, chế độ hưu trí đóng một vai trò rất quan trọng. Đây là chế độ bảo hiểm dài hạn, bảo hiểm tuổi già cho người tham gia. Nó chiếm phần quan trọng nhất cả về qui mô thực hiện, nội dung chuyên môn và nhu cầu tham gia của người lao động trong xã hội. ở hầu hết các Quốc gia trên thế giới đều coi trọng chế độ này và coi đó là một trong lĩnh vực có ảnh hưởng tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Chính vì thế, nó luôn được quan tâm để làm sao cho việc tổ chức, quản lý, thực hiện có hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam, qua 46 năm thực hiện, chế độ hưu trí luôn có vị trí quan trọng đặc biệt đối với người tham gia BHXH. Chế độ hưu cùng với các chế độ BHXH khác đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ làm cho họ yên tâm lao động sản xuât, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nước trong thời kỳ vừa qua. Nhờ có chế độ hưu trí mà người lao động sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số năm công tác nhất định đã được nghỉ hưu và được nhận tiền hưu để ổn định cuộc sống..Hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường nhu cầu về BHXH đa dạng ngày càng tăng, số lượng người về hưu cũng ngày càng tăng thì đời sống của họ luôn luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, cùng với quá trình thực tập tốt nghiệp tại BHXH Việt Nam , được sự đính hướng và hướng dẫn nhiệt tình của Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Văn Định em đã chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp quản lý chi trả chế độ hưu trí ở cơ quan BHXH VN giai đoạn 20022007” làm chuyên đề thực tập của mình .
Mục tiêu chủ yếu của đề tài :
• Làm rõ vai trò của chế độ hưu trí trong hệ thống chế độ BHXH ,cơ sở hình thành chế độ hưu trí ,nội dung chế độ hưu trí
• Làm rõ nguyên tắc ,nội dung chi trả chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ
• Thực trạng công tác quản lý chi trả chế độ hưu trí tại BHXH VN giai đoạn 20022007
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương :
• Chương I : Lý luận chung về chế độ hưu trí trong hệ thống chế độ Bảo hiểm xã hội,và Quản lý chi trả chế độ hưu trí
• Chương II: Thực trạng quản lý chi trả chế độ hưu trí tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn (20022007)
• Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý chi trả chế độ hưu trí tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong thời gian tới.
Mặc dù em đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thu thập tài liệu để hoàn thiện chuyên đề nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót . Em rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của Thầy cô bộ môn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

91 Đọc thêm

VẬN DỤNG MARKETING NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM

VẬN DỤNG MARKETING NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM

2. Tinh hình nghiêncứuTừ trước đến nay đã có một số bài viết đề cập đến Marketing trong lĩnh vựcbào hiếm, nhưng chưa có bài viết nào đi sâu nghiên cứu Marketina bảo hiên! phinhân thọ mang tính toàn diện và cũng như chưa đưa ra các giải pháp nhăm nâng caovà hoàn thiện hoạt động Marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh cùa các còng tybào hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.3. Mục đích nghiên cứu của khoa luậnTrên cơ sỡ lí luận chung về Marketing dịch vụ bào hiểm phi nhân thọ và trêncơ sò' phân tích thực trạng hoạt động Marketing cua các côna ty bảo hiểm phi nhânthọ tại Việt Nam, đề tài đề xuủt một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lượcMarketing dịch vụ bào hiểm phi nhân thọ cùa các công ty này.4. Nhiệm vụ nghiên cứu- Hệ thống hoa cơ sờ li thuyết cùa Marketiníi dịch vụ bào hiêm phi nhân thọvà sức cạnh tranh;- Đánh giá thục trạng của việc vận dụng Marketing dịch vụ bảo hiểm phinhản thọ nhằm nâng cao sức cạnh tranh cùa các công ty báo hiểm phi nhân thọ tạiViệt Nam;- Đe xuủt những giãi pháp nhầm hoàn thiện chiến lược, kế hoạch Marketingdịch vụ bão hiếm phi nhân thọ.5. Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu•Đối tượng nghiên cứu:- Cơ sờ lý luận cùa marketing dịch vụ bào hiểm phi nhân thọ;- Thực trạng vận dụng marketing vào việc nâng cao sức cạnh tranh cùa cáccông ty bảo hiếm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Xem thêm

10 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM THUỘC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

TIỂU LUẬN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM THUỘC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

hàng” và “các sản phẩm bảo hiểm phải được thiết kế riêng cho việc phân phối qua các kênhbancassurance”. Một số chuyên gia của Munich Re như Violaris, Syprus (2001) thì đơn giảncho rằng “bancassurance là phân phối các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm quamột kênh phân phối tới cùng một cơ sở khách hàng”.Nhìn chung có thể hiểu bancassurance - liên kết ngân hàng và bảo hiểm là sự kết hợpgiữa bảo hiểm và ngân hàng nhằm phân phối các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm tới các kháchhàng của ngân hàng.5Mô hình phân phối bancassurance phát triển theo nhiều hình thái khác nhau và đi từkết hợp đơn giản đến mô hình sở hữu mẹ con. Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nhưA. Karunagaran (2006), Clarence Wong, Lilian Cheung (2002), Clarence Wong, MikeBamahan, Lucia Bevere (2007), Elisabeth Standler (2010), Steven I Davis (2007) cho thấy cáinhìn tổng quan về bancassurance tại các thị trường bảo hiểm khác nhau trên thế giới liên quanđến mô hình bancassurance của các Ngân hàng và các Tập đoàn tài chính, vấn đề phát triểnsản phẩm của các bancassurance tại các quốc gia, việc lựa chọn đối tác và thị trường mục tiêucủa bancassurance, vấn đề phát triển kênh phân phối hiệu quả. Các nghiên cứu này cung cấpkinh nghiệm quí báu cho các Ngân hàng của Việt Nam trong việc phát triển mô hìnhbancassurance cũng như cung cấp cho các nhà quản lý định hướng trong việc ban hành chínhsách liên quan đến sự phát triển của hoạt động bancassurance. Việt Nam, năm 2006, đánh dấu bước phát triển quan trọng của Bancassurance tạiViệt Nam với sự ra mắt của hai sản phẩm liên kết Ngân hàng – Bảo hiểm giữa TechcomBankvà Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Bảo Việt đó là “Tài khoản tiết kiệm giáo dục“ và “Bảo hiểmtín dụng cho Nhà mới và Ôtô xịn". Đây là một bước ngoặt rất có ý nghĩa đối với hướng pháttriển dịch vụ của ngành Ngân hàng và Bảo hiểm tại Việt Nam. Sau khi 02 sản phẩm trên rađời, các Ngân hàng và các Công ty Bảo hiểm khác cũng đã bắt đầu ký các thoả thuận hợp táctrong đó Ngân hàng là đối tác đóng vai trò như một Đại lý bán các sản phẩm bảo hiểm, cụ thểlà sự liên kết giữa Bảo Việt với HSBC; Prudential với ACB, các ngân hàng thương mại lớn
Xem thêm

180 Đọc thêm

QUY TRÌNH xây DỰNG CHIẾN lược của CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM AAA

QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM AAA

Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang trở nên sôi động với sự tham gia của ngày càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm. Đó vừa là “sân chơi” của những “đại gia” trên thị trường vừa là “sân chơi” của những doanh nghiệp trẻ mới bước chân vào thị trường. Tại đó, mỗi doanh nghiệp tự khẳng định và chiếm lĩnh thị trường bằng những thế mạnh riêng của mình. Thành lập từ năm 2005, là một doanh nghiệp bảo hiểm nôn trẻ trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và cho đến nay công ty đã trở thành công ty bảo hiểm có chỗ đứng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, Công ty Cổ phần Bảo Hiểm AAA với thông điệp “Quyền được an tâm” mong muốn mang lại sự An tâm cho khách hàng – nhân viên – cổ đông của công ty và Lợi ích cho cộng đồng xã hội. Sau gần 10 năm hoạt động trên thị trường, những kết quả mà Công ty cổ phần bảo hiểm AAA đạt được đã chứng minh và thể hiện năng lực và tiềm năng phát triển của công ty.
Bảo hiểm AAA khao khát trở thành định chế tài chính năng động bậc nhất trong ngành bảo hiểm nói riêng và ngành dich vụ tài chính nói chung. Với sứ mạng “hành động nhằm mang lại ý nghĩa cao đẹp nhất cho từ “bảo hiểm” tại Việt Nam”, AAA nỗ lực mang lại cho bạn quyền được an tâm về cuộc sống và bảo đảm cho tương lai.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: cơ sở lý luận
Chương 2: phân tích và đánh giá thực trạng công ty cổ phần bảo hiểm AAA
Chương 3: phân tích, lựa chọn chiến lược và giải pháp
Xem thêm

50 Đọc thêm

Trách nhiệm của DNBH nhằm đảm bảo khả năng thanh toán số tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm, người thụ hưởng

TRÁCH NHIỆM CỦA DNBH NHẰM ĐẢM BẢO KHẢ NĂNG THANH TOÁN SỐ TIỀN BẢO HIỂM CHO NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM, NGƯỜI THỤ HƯỞNG

Mở đầu
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế.
Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn. Ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập?
Xem thêm

7 Đọc thêm

Hệ thống phân phối sản phẩm ở Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội Thực trạng và giải pháp

HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM Ở CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ HÀ NỘI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Ở mỗi quốc gia trong mọi thời kỳ con người luôn được coi là lực lượng sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội. Song trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống hằng ngày những rủi ro như tai nạn, ốm đau, bệnh tật mất việc làm già yếu vv...vẫn luôn tồn tại. Để khắc phục được những hậu quả của rủi ro trên thì bắt buộc con người phải tạo lập cho mình được một nguồn tài chính đủ lớn nhằm dự phòng khi có các yếu tố rủi ro xảy ra. Trong thực tế đã có nhiều biện pháp được áp dụng như phòng tránh, tiết kiệm vv...Tất cả những biện pháp trên đều đem lại lợi nhuận nhưng không tránh khỏi các rủi ro. Đôi lúc tổn thất do các rủi ro gây ra không chỉ gây thiệt hại cho bản thân mà còn ảnh hưởng đến người thân và nguời phụ thuôc.
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) ra đời không những là biện pháp bảo vệ khi gặp rủi ro mà còn là một biện pháp để tiết kiệm thường xuyên và có kế hoặch đối với từng gia đình, tạo lập quỹ giáo dục con cái và nâng cao mức sống khi nghỉ hưu. Đặc biệt là khi xã hội ngày càng phát triễn, đời sống con người ngày càng được cải thiện nâng cao, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phức tạp trong đó nhu cầu đảm bảo một cuộc sống ổn định, tiết kiệm cho tương lai ngày càng được quan tâm thì vấn đề này được chú trọng hơn. Sau một thời gian thực tập ở công ty, bước đầu tiếp cận với công việc thực tế bản thân tôi cảm thấy nhu cầu tham gia BHNT của khách hàng rất lớn, đặc biệt là những khách hàng có thu nhập cao trong xã hội. Một thị trường Bảo hiểm rộng mở, với số lượng khách hàng tiềm năng rất lớn nhưng do hệ thống phân phối sản phẩm của công ty hiện nay chưa sữ dụng triệt để các biện pháp, các cách thức để đưa sản phẩm tiếp cận với khách hàng vì thế chúng ta chưa đáp ứng hết được nhu cầu tham gia Bảo hiểm của khách hàng.
Qua đây bản thân tôi cảm thấy đó cũng là một vấn đề bức xúc cần thiết phải bổ sung và nghiên cứu sâu hơn nữa để ngày càng hoàn thiện hơn các biện pháp nhằm đưa sản phẩm tiếp cận với khách hàng một cách tốt nhất, dặc biệt là trong thời kỳ khoa học công nghệ đang phát triễn mạnh như hiện nay. Với những kiến thức được học ở nhà trường và những thực tế biết được qua công việc tôi đã quyết định chọn đề tài:

“ Hệ thống phân phối sản phẩm ở Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội: Thực trạng và giải pháp”
Làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tôi. Với mong muốn nâng cao kiến thức của bản thân và tôi xin có những ý kiến đóng góp về những vấn đề tồn tại ở công ty.
Nội dung đề tài ngoài phần lời mở đầu và kết luận gồm có ba phần chính sau:
Phần I: Lý luận chung về Bảo hiểm Nhân Thọ và hệ thống phân phối
Phần II: Thực trạng tổ chức hệ thống phân phối sản phẩm Bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội
Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống phân phối
Trong đề tài này, tôi sử dụng chủ yếu là khảo sát lý thuyết và thực tế, sau đó tiến hành phân tích đánh giá và so sánh tìm ra những mặt được và những tồn tại nhằm đưa ra những đề xuất.
Là công trình nghiên cứu đầu tay, trong điều kiện hạn chế về thời gian và tài liệu tham khảo chắc chắn bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn bè để bài viết được hoàn thiện hơn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Th.S-Nguyễn Lệ Huyền giảng viên trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội đã tận tình hướng dẩn giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các anh chị trong phòng khai thác Bảo hiểm số 18 và phòng Dịch vụ khách hàng của Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam

BÀN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THÂN TÀU TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM

Từ giữa thế kỷ XVII, khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đang gặt hái những thành tựu ban đầu, “con sư tử” Anh Quốc diễu võ dương oai không chỉ bằng các đội quân lê dương mà còn bằng các đội thương thuyền đầy ắp hàng hoá đến các nơi có thể đến trên thế giới. Vào thời gian ấy, ở phố Lom-ba London, mỗi chiều đến, các nhà buôn, các thuyền trưởng và thuỷ thủ thường tụ tập tại quán cà phê mang tên Lloyd. Họ kháo nhau về những phi vụ mang lại lợi nhuận cao, những vùng đất vừa khai phá và bùi ngùi kể cho nhau nghe về những vụ tổn thất, thiệt hại, về những người xấu số đã không may phải làm mồi cho hà bá. Người chủ quán không chỉ giỏi chế biến cà phê, nhạy cảm với những tiếng rủng rẻng của đồng tiền mà còn có tư duy rất đặc biệt của một nhà kinh tế. Từ những thông tin thu được ông lập ra bản tin Lloyd về hàng hải, được giới thương gia và hàng hải nồng nhiệt chào đón. Và cũng từ những thông tin thu được ấy, một công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên trên thế giới ra đời thu hút hầu hết các thương gia và nhà hàng hải Anh tham gia.
Trên ba trăm năm trôi qua, kể từ ngày ấy, bảo hiểm thân tàu đã trở thành thông lệ ở khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam. Là một nghiệp vụ quan trọng của bảo hiểm thương mại, việc tìm hiểu và nghiên cứu về bảo hiểm thân tàu trong bối cảnh nền kinh tế mở, khi đất nước bước sang giai đoạn CNH-HĐH là hết sức cần thiết.
Với vị trí quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu như vậy, em muốn đi sâu nghiên cứu về nghiệp vụ này. Vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài: “Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam”. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 phần chính:
Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm thân tàu.
Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm thân tàu tại Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam. (Bảo Việt)
Chương III: Phương hướng và một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm thân tàu ở Bảo Việt.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với PGS. PTS Hồ Sĩ Sà đã hướng dẫn chỉ bảo cho em trong suốt quá trình làm luận văn này. Em cũng xin cảm ơn anh Thái Văn Cách- cán bộ công nhân viên của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong những ngày thực tập, giúp em có được những nguồn tài liệu và kiến thức thực tế của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu ở Tổng công ty.
Vì thời gian thực tập có hạn do đó kiến thức thực tế không có nhiều, nội dung luận văn chủ yếu là dựa trên cơ sở lý thuyết nên khó có thể tránh khỏi được những thiêú sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ thêm của các thầy cô trong bộ môn kinh tế bảo hiểm và các cô chú, anh chị trong Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn.!
Hà Nội, tháng 6 năm 2000
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Thanh Thuỷ
Xem thêm

101 Đọc thêm

PPT: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH DOANH BẢO HIỂM TỪ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM QUÂN ĐỘI

PPT: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH DOANH BẢO HIỂM TỪ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM QUÂN ĐỘI

công bằng xã hội và hoạt động kinh doanh. Đây cũng là yêu cầu, định hướng và tất yếu của sự phát triển trong bối cảnh hiện nay.Trong việc sử dụng các công cụ quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm nói riêng và hoạt động kinh doanh của các nghành kinh tếnói chung các chủ trương biện pháp đưa ra đều hướng tới mục tiêu này.Qua phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động kinh doanh tại Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội cho thấynhững năm qua, MIC đã phần nào thực hiện tốt các công tác tuân thủ theo LKDBH. Điều này được thể hiện qua việc tốc độ tăngtrưởng không ngừng của đơn vị chỉ trong hơn 9 năm ra đời và hoạt động.ên cạnh những mặt tích cực thì cũng còn tồn tại một số những hạn chế yếu kém trong công tác quản lý xuất phát từ nguyênnhân khách quan cũng như nguyên nhân chủ quan. Điều này cần được xem xét và đưa ra các biện pháp thích hợp để điều chỉnh vàhướng tới mục tiêu hoàn thiện hóa hoạt động kinh doanh vươn lên dẫn đầu trong top những doanh nghiệp bảo hiểm mạnh và uy tíntrên thị trường.Xin trân trọng cảm ơncác thầy cô và quý vị !
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VÀ NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ HÀ NỘI

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VÀ NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ HÀ NỘI

Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng nâng cao thì nhu cầu an toàn đối với các tổ chức và cá nhân trong xã hội ngày càng được coi trọng. Con người luôn luôn tìm mọi cách để bảo vệ mình và tài sản trước những biến cố, rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống.
Bởi vậy, bảo hiểm nhân thọ ngày càng có vị trí quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển. Xuất phát từ nhu cầu này,ngày 18021993, chính phủ đã ban hành nghị định 100CP về bảo hiểm thương mại cho phép các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài được phép thành lập công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm nếu đủ điều kiện. Lúc đầu, do thị trường bảo hiểm nước ta còn non trẻ, ít kinh nghiệm nên chủ trương của chính phủ là cho phép các công ty bảo hiểm trong nước thành lập trước để tăng tính cạnh tranh và có điều kiện tồn tại trong xu thế hội nhập, cũn cỏc doanh nghiệp nước ngoài trước tiên sẽ được mở các chi nhánh văn phòng đại diện tại Việt Nam, sau một thời gian mới được phép thành lập công ty.
Trước năm 1994, ở Việt Nam chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm là Bảo Việt độc quyền kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Năm 1996 theo quyết định số 568TCQĐTCC của Bộ trưởng Bộ Tài Chính đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử ngành bảo hiểm Việt Nam, lần đầu tiên người dân được biết đến một loại hình bảo hiểm hoàn toàn mới Bảo hiểm nhân thọ. Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội đã được thành lập ngay từ những ngày đầu, với kinh nghiệm của mình trong suốt hơn mười năm qua, hy vọng Công ty sẽ có những đóng góp tích cực trong hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống Bảo Việt nói riêng và cho xã hội nói chung. Dưới đây là những tìm hiểu, và nhận định của em về Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến thị trường bảo hiểm Việt Nam.

ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM.

... đến thị trường bảo hiểm Việt Nam nói riêng Sau số liệu ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế tác động đến thị trường bảo hiểm Việt Nam Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam trước khủng hoảng kinh tế năm... thương mại, dịch vụ tài có bảo hiểm Điều cho thấy, thị trường bảo hiểm Việt Nam thực hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực giới Bên cạnh kết đạt được, thị trường bảo hiểm Việt Nam năm vừa qua có... trò bảo hiểm Hơn nữa, thu nhập họ thấp, tỷ lệ tích lũy chưa cao, có nhu cầu tham gia bảo hiểm khả chưa cho phép Những tác động khủng hoảng kinh tế đến thị trường bảo hiểm Việt Nam: Cuộc khủng hoảng
Xem thêm

9 Đọc thêm

Cùng chủ đề