CNH - HĐH DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC

Tìm thấy 1,639 tài liệu liên quan tới tiêu đề "CNH - HĐH dưới góc nhìn triết học":

Tác động của CNH, HĐH đến vấn đề việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây

TÁC ĐỘNG CỦA CNH, HĐH ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÀ TÂY

I. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều thập kỉ qua, làn sóng công nghiệp hóa, hiện đại hoá diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia trên thế giới, ở cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Với nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH trong thời kỳ đổi mới được coi là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, là một tỉnh nằm kề Thủ đô với nhiều tiềm năng phát triển, Hà Tây đã huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và đã trở thành một trong những tỉnh có tốc độ CNH, HĐH cao nhất trong cả nước.
Sau hơn 10 năm đổi mới, kinh tế xã hội của Hà Tây có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được, quá trình CNH, HĐH cũng đặt ra cho tỉnh nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết. Trong đó nổi cộm lên là vấn đề việc làm, thu nhập cho lao động nông nghiệp bị mất đất trong quá trình CNH, HĐH đang ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có những chính sách can thiệp hợp lý, nếu không sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.
Vì vậy, nghiên cứu về “Tác động của CNH, HĐH đến vấn đề việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây” vừa có ý nghĩa thực tế vừa có ý nghĩa lâu dài cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tây nói riêng và của nước ta nói chung.
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá một số lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Phân tích, đánh giá thực trạng CNH, HĐH và tác động của quá trình CNH, HĐH đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
Trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực của CNH, HĐH đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là những lao động nông nghiệp chịu sự tác động của quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây. Đồng thời nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Tây: Địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, dân số, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng,…từ đó đưa ra những giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến người lao động.
Chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi các đối tượng ở tỉnh Hà Tây khoảng 10 năm trở lại đây và nghiên cứu trong thời gian tới.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu của toàn chuyên đề.
Phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế và các phương pháp tổng hợp, phương pháp logic,… được sử dụng để phân tích, xử lý các số liệu về việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp Hà Tây và các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
V. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về CNH, HĐH và tác động của nó đối với việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Chương 2: Thực trạng lao động việc làm và đời sống của lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chính để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
Xem thêm

76 Đọc thêm

CON NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

CON NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

ợc lu ý nhất trong giai đoạn xây dựng cơ sở lý luận cho một quan niệm mới vềcon ngời của Mác, là tác phẩm quan trọng nhất, mang tính nhân bản nhất. Tácphẩm này đánh dấu một bớc ngoặt lớn trong t tởng của Mác: lần đầu tiên, ôngđã trình bày một cách tơng đối đầy đủ các luận điểm cơ bản về xã hội nóichung, về con ngời nói riêng trên lập trờng duy vật biện chứng.Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con ngời trong lịch sử triết học,đồng thời khẳng định con ngời hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh họcvà yếu tố xã hội. Con ngời tự nhiên là con ngời mang tất cả bản tính sinh học,tính loài. Yếu tố sinh học trong con ngời là điều kiện đầu tiên quy định sự tồntại của con ngời. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố duy nhất quy định bảnchất con ngời. Đặc trng quy định sự khác biệt giữa con ngời với thế giới loàivật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệtcon ngời với loài vật, nh con ngời là động vật sử dụng công cụ lao động, làmột động vật có tính xã hội.Những quan niệm nêu trên đều phiến diện, chỉ nhấn mạnh một khíacạnh nào đó trong bản chất xã hội của con ngời mà cha nêu lên đợc nguồn gốccủa bản chất xã hội ấy. Với phơng pháp biện chứng duy vật, triết học Mácnhận thức vấn đề con ngời một cách toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiệnthực xã hội của nó. Theo Mác con ngời là phơng thức sinh hoạt tộcloàiđặc thù, là phơng thức tồn tại đặc thù của con ngời, là những cá nhân hiệnthực với hoạt động lao động của mình, là một hình mẫu lý tởng về sự tồn tạivà phát triển của chính mình.Mác-Ăngghen đã nêu rõ: có thể phân biệt con ngời với súc vật bằng ýthức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng đợc. Bản thân con ngờibắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con ngời bắt đầu sản xuất ranhững t liệu sinh hoạt của mình-đó là một bớc tiến do tổ chức cơ thể của conngời quy định. Sản xuất ra những t liệu sinh hoạt của mình, nh thế con ngời đãgián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình. Thông qua hoạt động
Xem thêm

19 Đọc thêm

BÁO CÁO ĐƯỜNG LỐI CHỦ TRƯƠNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ

BÁO CÁO ĐƯỜNG LỐI CHỦ TRƯƠNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ

so sánh quan điểm , chủ trương CNH HĐH hiện nay với thời kì trước đổi mới có gì khác nhau?
Trong quá trình tiến hành CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay một cách hiệu quả và bền vững theo bạn cần những giải pháp nào?

12 Đọc thêm

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban đầu ’’ 26; 297.
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung cầu, tích lũy tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. CNH, HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kỳ đại hội VI, VII, VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sức cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như Minh Hóa ở Quảng Bình. Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quy luật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng như khả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu những mâu thuẫn đó không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện.
Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa, Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung
Xem thêm

74 Đọc thêm

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn .

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN .

Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới(1986-1996) với đại hội VIII của Đảng, nước ta chính thức bước vào thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Ngành Thống kê có nhiệm vụ thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin thống kê phản ánh thức trạng nền kinh tế xã hội. Với xu hướng phát triển để dự báo ngắn hạn, dài hạn, giúp cho các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước có căn cứ đánh giá đúng đắn và kịp thời diễn biến về quá trình CNH-HĐH, để có giải pháp điều chỉnh, bổ sung, thúc đẩy có hiệu quả quá trình CNH-HĐH đất nước.

Từ những năm thực hiện đổi mới đến nay, hẹ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội đang được hoàn chỉnh dần cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ CNH-HĐH là một bộ phận của hệ thống chỉ tiêu nói chung, có nhiệm vụ phản ánh những yêu cầu và nội dung CNH-HĐH trong từng thời kỳ. Đó là sự tác động của CNH và khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động của các ngành nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với nước ta.,hiện nay còn là một nước dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, dân số sống ở nông thôn là chủ yếu. Do đó, để thực hiện CNH-HĐH đất nước thì CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn chiếm một vị trí rất quan trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặc biệt coi trọng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn , coi đó là nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Chính vì vậy, Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò khoa học công nghệ, đẩy nhanh một bước sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Trong thời gian qua, ngành Thống kê đã xây dựng nhiều chỉ tiêu chi tiết, cụ thể trong từng ngành, từng lĩnh vực nông nghiệp để phản ánh một cách đúng đắn và chính xác tình hình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng hệ thống chỉ tiêu thống kê vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc phục, đây cũng là lý do khiến em chọn hướng nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn . Chuyên đề của em gồm 3 chương:

Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về CNH-HĐH.

Chương II : Một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chỉ tiêu
thống kê.

Chương III: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn .

Để hoàn thành chuyên đề, em trân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác ở Viện Khoa học Thống kê và các thầy cô giáo ở trường. Đặc biệt, em xin cám ơn TS. Nguyễn Xuân Tường và cô Trần Thị Bích là hai người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian thực tập và trong cả quá trình nghiên cứu để hoàn thành chuyên đề.
Xem thêm

64 Đọc thêm

CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC CỦA ĐƯỚNG LỐI CNH HĐH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC CỦA ĐƯỚNG LỐI CNH HĐH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước. Tuy nhiên, tuỳ từng nước khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên không giống nhau cách thức tiến hành xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại sẽ không giống nhau.Nước ta tiến lên chủ nghĩa x• hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là phổ biến. Cái thiếu thốn nhất của chúng ta là một nền đại công nghiệp. Chính vì vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá phải gắn với hiện đại hoá. Công nghiệp hoá ở nước ta là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa x• hội. Đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa x• hội ở nước ta.
Xem thêm

29 Đọc thêm

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc khách quan và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức, thực tiễn

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC, THỰC TIỄN

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc khách quan và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức, thực tiễn.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Nội dung nguyên tắc khách quan và những ứng dụng trong đời sống. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu nội dung và sự vận dụng của nguyên tắc trong thời kỳ Cách mạng XHCN và trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Kết cấu của đề tàiPhần I: Lý luận chung về nguyên tắc khách quan1.Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan1.1.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức1.2. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ vai trò của ý thức đối với vật chất (Tại sao phải tôn trọng và hành động theo nguyên tắc khách quan)2.Nội dung nguyên tắc khách quan2.1.Trong hoạt động nhận thức2.2.Trong hoạt động thực tiễnPhần II: Vận dụng nguyên tắc khách quan trong hoạt động nhận thức và thực tiễn1.Vận dụng trong hoạt động nhận thức1.1.Góp phần xây dựng năng lực tư duy biện chứng1.2. Căn bệnh chủ quan duy ý chí1.3. Về bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa2. Vận dụng nguyên tắc khách quan trong hoạt động thực tiễn2.1. Trong cách mạng XHCN ở Việt Nam2.2.Trong quá trình CNH – HĐH ở Việt NamKẾT LUẬN
Xem thêm

31 Đọc thêm

TÔN GIÁO DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TÔN GIÁO TRONG THẾ KỈ XXI

TÔN GIÁO DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TÔN GIÁO TRONG THẾ KỈ XXI

12cuốn Kinh thánh hay các cuốn sách như: Thần thoại Hi Lạp, hay các sáchkinh của các đạo Hinđu (đạo của người Ấn). Ví dụ như đạo Hinđu là một hệthống tôn giáo - tín ngưỡng- triết học. Tôn giáo này quan niệm các vị thần caiquản thế giới này như Indra (thần sấm), Surya (thần mặt trời), Varu (thầngió), Agni (thần lửa) , Varuna (thần không trung)... Con người không hề có sựtác động gì đối với thế giới họ đang sống do đó chỉ có cúng tế kêu cầu thì conngười mới được Thần linh phù hộ trong mọi công việc.Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượmsang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sựthiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống:thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinhsôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của cácthị tộc Mẫu hệ. Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm mụcđích phục vụ cho sự củng cố và phát triển của dân tộc. Tất cả các vị thần ấycòn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra vị thần ấy còn tồn tại của đế chế và đượcchấp nhận như một tôn giáo chính thống. Theo thời gian, do nội dung của cáctôn giáo mang tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với cácvị thần cụ thể, với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hayđịa phương nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàngthích nghi với các dân tộc khác. Do vậy, dù được phổ biến bằng cách nào(chiến tranh hay hòa bình), các tôn giáo đó đã được các quốc gia bị lệ thuộctrực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác tiếp nhận và trên nền tảngcủa tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo riêng của quốc gia đó. Sựbành trướng kiểu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp vàcho đến tận ngày nay. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, giữa tôn giáo khuvực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh chấp xung đột
Xem thêm

27 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

32 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHOI-Ơ-BẮCBản thể luận Nhìn chung ông có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng còn thô sơ và siêu hình. Bởi lẽ, vậtchất theo ông mới chỉ là những gì cảm giác được. Hay là khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâmnói chung, chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói riêng, ông đã không thấy được “hạt nhân hợp lý”trong triết học của Hêghen và đã phủ định một cách tuyệt đối.MBA K23A - Nhóm 4TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHOI-Ơ-BẮCNhận thức luậnCó công lớn trong việc phát triển lý luận nhận thức duy vật: Cho rằng thế giới khách quan làđối tượng của nhận thức và con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan.Quan niệm nhận thức gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.•Cảm giác là giai đoạn đầu của nhận thức, là kết quả của sự tác động của thế giới khách quan lêngiác quan của con người.•
Xem thêm

Đọc thêm

DỤ NGÔN TRONG KINH BỔN SINH (JATAKA)

DỤ NGÔN TRONG KINH BỔN SINH (JATAKA)

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ thứ VI trước Công nguyên ở miền Bắc Ấn Độ, do đức Thích Ca Mâu Ni (vốn là hoàng tử Siddhattha của vương triều Sakya ở Bắc Ấn) giác ngộ và giáo hóa chúng sinh. Đạo Phật ra đời là làn sóng mạnh mẽ chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt của giáo lí Bà La Môn bấy giờ. Với những triết lí đạo đức nhân sinh tích cực, hướng về sự bình đẳng trong quần chúng nhân dân, Phật giáo đã nhanh chóng thu hút được một số lượng đông đảo tín đồ hết lòng sùng kính. Họ thấy được sự bình an trong tâm hồn, thấy được sự giải thoát khỏi kiếp sống nhân gian đau khổ. Đức Phật trở thành cứu cánh, là niềm tin, người dẫn đường cho chúng sinh đến được bến bờ an lạc.
Khởi nguồn từ mảnh đất lưu giữ những dấu tích đầu tiên nền của văn minh nhân loại, giống như những tôn giáo sớm xuất hiện khác như Hindu giáo, Phật giáo mang trong nó sự hòa quyện “gắn bó khăng khít như hình với bóng giữa tôn giáo, triết học và văn học nghệ thuật”11, 5, là bệ đỡ tinh thần cho nhiều tầng lớp người dân Ấn Độ. Các nhà nghiên cứu khẳng định ở Ấn Độ, “tôn giáo đọc cho văn học chép”. Nếu như dòng văn học Hindu giáo khởi nguồn từ kinh Veda, Upanishad… thì văn học Phật giáo sở hữu bộ Tam tạng kinh điển đồ sộ bao gồm Tạng kinh, Tạng luật, Tạng luận. Đây là hợp tuyển những truyện kể, thi kệ, những quy tắc, những bài giảng cứu… được viết bằng hai ngôn ngữ chủ yếu Sanskrit và Pali. Từ góc nhìn xã hội học, Tam tạng kinh điển là bức tranh rộng lớn về đời sống nhân dân Ấn Độ với các sự kiện chính trị, xã hội, các luồng tư tưởng, trường phái trong thời Phật tại thế. Từ góc nhìn tôn giáo triết học, Tam tạng kinh điển nêu lên những quan điểm về thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo. Từ góc nhìn văn học, Tam tạng kinh điển là tác phẩm mẫu mực về nghệ thuật thuyết pháp, chuyển tải những bài học tư tưởng nhân sinh sâu sắc.
Hệ thống Tam tạng kinh điển được sắp xếp gồm các bộ kinh khác nhau; hướng đến một đạo tư tưởng tích cực, “một hượng vị duy nhất là giải thoát chúng sinh khỏi vòng phiền nhược khổ đau” 11, 206; hình ảnh xuyên suốt là bậc thế tôn tự tại, an nhiên, dù lẻ bóng trong hành trình tự giác và giác tha; những triết lí thâm sâu được dung tải trong mạch văn chương tinh tế; những bài học đạo đức được chuyển tải bằng giọng điệu ca tụng, lối nói so sánh, ví von; lớp mĩ từ, ái ngữ giàu hình ảnh, gần gũi chứa đựng tinh thần từ bi hỉ xả… Kinh tạng giúp chúng đệ tử thầm nhuần những tư tưởng vô lượng, thực hành, chứng ngộ cho chính mình và hoằng dương Phật pháp. Tiếp cận kinh điển Phật giáo như những văn bản văn học giúp chúng ta đến gần hơn với những triết lí uyên thâm của nhà Phật. Mặt khác, thấy được lối tư duy sáng tạo đầy nghệ thuật của những con người giàu niềm tin chốn tâm linh.
1.2. Trong hệ thống Tam tạng kinh, Bổn sinh kinh (còn gọi là kinh Jataka, Chuyện tiền thân Đức Phật, Bản duyên kinh…) được giới nghiên cứu đánh giá là “có tính chất văn chương hơn cả” 11, 222. Bổn sinh kinh là một phần trong mười lăm Tiểu kinh nhỏ thuộc Tiểu Bộ kinh. Tiểu Bộ kinh lại là một trong năm bộ trong Tạng kinh (gồm: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh và Tiểu Bộ kinh). Bổn sinh kinh ra đời vào khoảng thế kỉ thứ IV TCN là sự nỗ lực của các đệ tử Phật trong việc sưu tầm, biên cải, sắp xếp những lời thuyết giảng của Phật. Nội dung của bộ kinh xoay quanh cuộc đời của đức Phật trong 547 tiền kiếp, 547 kiếp phù sinh. Lấy chất liệu từ những câu chuyện dân gian và truyền vào đó những triết lí riêng để giáo hóa chúng sinh, các đệ tử nhà Phật đã tạo ra một bộ kinh vừa mang hơi hướng thần tích với mô hình kiểu kết cấu truyện cổ tích, với lối nói kín đáo của ngụ ngôn; vừa mang tính uyên bác của văn học thành văn với các đặc điểm về nhân vật, không gian, thời gian, hệ thống ngôn từ chọn lọc… Sự tổng hòa đó tạo ra tính dụ ngôn cho 547 câu chuyện tiền thân. Sử dụng truyện dụ ngôn là một trong những đặc điểm giúp cho giáo lí nhà Phật dù thâm sâu nhưng vẫn dễ hiểu, góp vào kho tàng văn học dân gian Ấn Độ một dòng mạch triết lí, huyền diệu và nhiệm màu.
1.3. Dụ ngôn là khái niệm văn học chưa thực sự gần gũi với độc giả Việt Nam. Loại truyện này thường xuất hiện trong văn chương tôn giáo, gắn với hình ảnh của những bậc chí tôn khai sáng. Nếu như trong Kitô giáo, chúa Giêsu với các đệ tử bằng dụ ngôn, thì trong Phật giáo, đức Adiđà cũng truyền dạy giáo lí của Người bằng những câu chuyện mang đặc điểm tương tự. 547 câu chuyện trong Bổn sinh kinh là những dụ ngôn giàu ý nghĩa, mang đến cho mỗi người đọc những suy nghĩ và đốn ngộ khác nhau. Tìm hiểu những đặc điểm của dụ ngôn trong Bổn sinh kinh cũng là đi vào nghệ thuật thuyết pháp của đức Phật. Đây là một phương thức độc đáo giúp chúng ta chiêm ngưỡng và gợi mở thêm những chân giá trị còn ẩn tàng trong vài nghìn trang kinh điển đồ sộ này.
Xem thêm

122 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TUYÊN TRUYỀN ĐIỆN TỬ CHUẨN CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG VÀ CÔNG LAO TO LỚN CỦA HỒ CHÍ MINH

BÀI GIẢNG TUYÊN TRUYỀN ĐIỆN TỬ CHUẨN CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG VÀ CÔNG LAO TO LỚN CỦA HỒ CHÍ MINH

SOẠN CHI TIẾT VỀ NHỮNG NÉT CƠ BẢN TRONG CUỘC ĐỜI CŨNG NHƯ SỰ NGHIỆP CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH. PHÂN TÍCH VÀ KIẾN GIẢI NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC TRONG TƯ TƯỞNG VÀ NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG, ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ TO LỚN CỦA HỒ CHÍ MINH QUA LỜI CỦA CÁC HỌC GIẢ VÀ CHÍNH TRỊ GIA QUỐC TẾ.BIÊN SOẠN CÔNG PHU MỜI CÁC BẠN THEO DÕI

41 Đọc thêm

VẤN ĐỀ Ý THỨC TRONG DUY THỨC HỌC

VẤN ĐỀ Ý THỨC TRONG DUY THỨC HỌC

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Duy thức học là một tông phái lớn của Phật giáo Phát triển. Sự ra đời của
Duy thức học đã đáp ứng nhu cầu giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ
Phật giáo, là sự tranh luận giữa Phật giáo Trung quán và Phật giáo Nhất thiết
hữu bộ về vấn đề tự tính của vạn pháp. Bên cạnh đó, tư tưởng của Duy thức
học đã góp phần bổ túc, luận giải những vấn đề then chốt của Phật giáo Phát
triển như: vấn đề nhân quả, mê và ngộ, Phật và chúng sinh điều này đã làm
cho Phật giáo Phát triển trở nên hoàn thiện. Vì vậy, nghiên cứu về Duy thức
học không chỉ giúp hiểu rõ hơn về giáo lý của Phật giáo Phát triển, mà còn có
cách nhìn toàn diện về triết học Phật giáo.
Ý thức là nội dung quan trọng của Duy thức học và các ngành khoa học
khác như: triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học, v.v. Ngày nay, trong khoa học
hiện đại, nhiều vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp về ý thức vẫn chưa
được sáng tỏa như: cơ chế hình thành cảm giác của con người trong tâm lý
học, mối quan hệ giữa vô thức và ý thức, cơ chế thống nhất giữa chủ thể và
khách thể trong hoạt động nhận thức của con người trong triết học, v.v. Duy
thức học được xem là môn chuyên biệt về tâm, các luận sư duy thức đã có
những phân tích chi tiết, phức tạp về vấn đề ý thức trong đời sống cá nhân và
xã hội, vì thế, nghiên cứu về ý thức trong Duy thức học có thể trở thành
những gợi ý quan trọng đối với sự phát triển của các ngành khoa học nghiên
cứu về ý thức.
Phật giáo có mặt ở Việt Nam rất sớm, dưới sự tiếp biến văn hóa, tư tưởng
Phật giáo đã thâm nhập và trở thành một bộ phận tham gia cấu thành văn hóa
con người Việt. Ở Việt Nam, Duy thức học không trở thành một tông phái riêng
biệt như ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản, song tư tưởng của Duy thức học đã
xuất hiện rất sớm trong Phật giáo thời kì Lý – Trần. Hiện nay, những công trình nghiên cứu về Phật giáo ở Việt Nam là rất nhiều, song đa phần những công trình
tiếp cận Phật giáo với tư cách là một tôn giáo, hay khi tiếp cận ở góc độ triết học,
thì chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ về đạo đức và văn hóa, những nghiên cứu về
nhận thức luận Phật giáo không nhiều. Những nghiên cứu về Duy thức học, hay
ý thức trong Duy thức học còn khá ít, vì thế nghiên cứu về Duy thức học là cần
thiết để nhận thức rõ hơn triết học Phật giáo nói chung và tư tưởng triết học Phật
giáo thời kì Lý - Trần nói riêng.
Ở góc độ triết học, điểm nổi bật trong vấn đề ý thức của Duy thức học là
không thừa nhận sự tồn tại tách biệt, độc lập của đối tượng với chủ thể nhận
thức; ngược lại các luận sư Duy thức học có xu hướng coi chủ thể đang nhận
thức đối tượng là tồn tại thật sự. Trong một tác phẩm triết học nổi tiếng, V.I.
Lênin từng nhận định rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có tính tuyệt
đối trong giới hạn những vấn đề nhận thức cơ bản, ngoài giới hạn ấy ra sự đối
lập giữa vật chất và ý thức (suy rộng là chủ thể và khách thể, chủ quan và khách
quan) chỉ có tính tương đối. Điều đó cho thấy, các vấn đề về mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức, giữa khách thể và chủ thể, khách quan và chủ quan, chỉ có thể
sáng tỏ và được giải quyết triệt để từ lập trường triết học duy vật biện chứng.
Nghiên cứu về ý thức trong Duy thức học từ góc nhìn duy vật biện chứng, không
chỉ giúp nhận thức rõ và toàn diện hơn về triết lý của Phật giáo Phát triển, mà
qua đó, còn góp phần chỉ ra những giá trị của quan điểm về ý thức trong Duy
thức học đối với việc nghiên cứu vấn đề ý thức trong giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Vấn đề ý thức trong Duy thức
học làm đề tài luận án của mình.
Xem thêm

162 Đọc thêm

Cảm thức về người đẹp trong thơ chữ Hán Nguyễn Du từ góc nhìn nữ quyền luận

CẢM THỨC VỀ NGƯỜI ĐẸP TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU TỪ GÓC NHÌN NỮ QUYỀN LUẬN

Trong sự nghiệp văn chương Nguyễn Du, bên cạnh tuyệt tác Truyện Kiều, thơ chữ Hán của ông cũng luôn có sức “vẫy gọi” người đọc bởi giá trị nhân bản và giá trị nghệ thuật đặc sắc. Ngày nay, từ góc nhìn nữ quyền luận kết hợp triết học hiện sinh, đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta thấy rõ hơn tính nhân văn cao cả trong thơ ông, đó là tinh thần đấu tranh cho quyền sống, quyền làm người của những mỹ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh. Trong cảm thức nghệ thuật của Nguyễn Du, những mỹ nữ ấy đã hiện hữu với tư cách là một nhân vị. Họ không chỉ có nhan sắc tuyệt trần mà còn là người đa tài, đa cảm, đa tình, biết yêu cái đẹp và dẫu bi kịch đến đâu vẫn luôn khát vọng hướng đến tự do trong tình yêu và cuộc sống.
Xem thêm

21 Đọc thêm

KHÔNG có VUA PHÂN tâm học

KHÔNG CÓ VUA PHÂN TÂM HỌC

Không có vua góc nhìn phân tâm học. Phân tích và dẫn chứng từ tác phẩm Không có vua của NguyễN Huy Thiệp, từ góc nhìn cơ bản nhất của phân tâm học, để cho người đọc một cách nhìn đúng đắn và toàn vẹn nhất.

18 Đọc thêm

Một vài suy nghĩ về tư tưởng triết học việt nam trong nền văn hoá dân tộc

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM TRONG NỀN VĂN HOÁ DÂN TỘC

II. Nguồn gốc, đổi tương và đặc điểm của tư tưởng triết học Việt Nam
2.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng triết học Việt Nam
Như chứng ta đã biết, triết học ra đời với hai nguồn gốc: nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.
2.1.1. về nguồn gốc nhận thức
Triết học với tiêu chí như là một hệ thống những tri thức chung nhất của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy chỉ ra đời khi nhận thức của con người đạt tới một giới hạn nhất định. Đó là ở trình độ nhận thức lý luận. Điều đó cũng có nghĩa là khi ngôn ngữ đã phát triển tới giai đoạn có chữ viết.
Ở Việt Nam, theo các nhà khoa học, cách nay bốn nghìn năm, vào thời kỳ Tiền Đông Sơn, thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, mà trước hết là hoạt động sản xuất, nhận thức của cư dân người Việt đã đạt đến trình độ tư duy trừu tượng. Những nhận thức này được biểu hiện thông qua kỹ thuật chế tác công cụ lao động bằng đá và bằng kim loại. "Do đó, chúng ta phải đánh giá cao hoạt động tư duy trừu tượng của cư dân Tiền Đông Sơn, mà trong một chừng mực nào đó, có thể gọi là tư duy khoa học của họ. Chính thứ tư duy chính xác đó được phát triển nhờ hoạt động sản xuất, nhưng nó lại có tác động ngược lại một cách tích cực với kỹ thuật sản xuất". Theo suy đoán, từ thời kỳ Đông Sơn về sau, đã hình thành các huyền thoại, hơn nữa có quan điểm còn cho rằng thời kỳ này cũng bắt đầu xuất hiện một hệ thống thần thoại khá ổn định.
Như vậy, ở thời kỳ Đông Sơn, nước ta đã hình thành và phát triển những mầm mống của triết học, "tiền triết học" hay nói như Nguyễn Đăng Thục là "ngụ ý triết học", "là triết học bình dân". Những mầm mống của triết học ấy chính là nguồn vật liệu phong phú mà con người Việt Nam trực tiếp tích luỹ được từ hoạt động thực tiễn của mình để sau đó, khi có chữ viết, cùng với việc kế thừa có phê phán và chọn lọc những tư tưởng triết học Trung Quốc và triết học Ấn Độ, cũng như triết học phương Tây về sau, nền triết học Việt Nam đã tồn tại và phát triển, gắn với thực tiễn khắc nghiệt dựng nước và giữ nước của dân tộc và do đó, đã tạo nên những sắc thái riêng của mình.

Nền văn hoá lâu đời ở Việt Nam đã hình thành,lưu giữ và tiếp biến nhiều tư tưởng phản ánh tiến trình dựng nước, giữ nước và những khả năng sang tạo của nhiều thế hệ người Việt Nam trong lịch sử dân tộc. Những t tưởng ấy rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Chúng trở thành nội dung, đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau như: sử học, văn học, kinh tế học, chính trị học, luật học, xã hội học, khoa học quân sự, khoa học ngoại giao.. .trong đó có triết học. Thế nhưng lịch sử triết học Việt Nam với tư cách là một bộ môn khoa học chỉ mới ra đời cách đây không lâu ở Việt Nam. Bởi vậy, đòi hỏi các nhà lý luận tiếp tục làm rõ những vấn đề lien quan đến lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam tư tưởng triết học đã từng định hướng sự phát triển, bao quát một cách rộng rãi, chi phối suy nghĩ và hành động của con người Việt Nam trong từng mốc phát triển lịch sử của nó. Đó là các vấn đề như: Ở Viêt Nam có triết học hay không? Nguồn gốc hình thành, đối tượng, phạm vi, đặc điểm của tư tưởng triết học Việt Nam la gì?Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn chủ đề “ Một vài suy nghĩ về tư tưởng triết học Việt Nam trong nền văn hoá dân tộc” làm đề tài tiểu luận của mình.B.Nội dungI.Khái quát chung về mếỉ quan hệ giữa văn hoá, triết lý và triết học trong tiến trình phát triển tư tưởng của dân tộcVăn hoá là nguồn nuôi dưỡng các triết lý, các tư tưởng và hệ thống triết học, là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển các hệ thống triết học. Các triết lý, các hệ thống triết học lại là những bộ phận cốt lõi nhất trong nền văn hoá của một dân tộc.Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với các hệ thống triết học, song nó chính là chất liệu của các hệ thống triết học bác học.Có thể khẳng định rằng văn hoá, các triết lý và các hệ thống triết học chính là ba tầng bậc khác nhau của văn hoá theo nghĩa rộng.Văn hoá là nguồn nuôi dưỡng các triết lý, các tư tưởng và hệ thống triết học, là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển các hệ thống triết học. Các triết lý, các hệ thống triết học lại là những bộ phận cốt lõi nhất trong nền văn hoá của một dân tộc. Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với các hệ thống ứiết học, song nó chính là chất liệu của các hệ thống triết học bác học. Theo tác giả, văn hoá, các triết lý và các hệ thống triết học chính là ba tầng bậc khác nhau của văn hoá theo nghĩa rộng.Các thành tố văn hoá trong hệ thống chỉnh thể bao hàm và gắn kết lẫn nhau tạo nên những cái chung, những triết ỉỷ mang tỉnh thể giới quan, trong đó tích trữ những kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được. Chứng không phải là những phạm trù triết học dù chứng phản ánh hiện thực, thể hiện thành những quy tắc, chuẩn mực của hoạt động, thành những triết lý, thành các cái chung văn hoá. Các triết lý có thể hoạt động và phát triển cả ở bên ngoài các hệ thống triết học, nhưng chứng lại vốn có trong các nền văn hoá mà ở đó, chưa có những hình thức phát triển của các hệ thống triết học.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Tiểu luận triết học: Sự khác nhau căn bản giữa triết học Tây Âu cận đại và triết học cổ điển Đức

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: SỰ KHÁC NHAU CĂN BẢN GIỮA TRIẾT HỌC TÂY ÂU CẬN ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

Sự khác nhau căn bản giữa triết học Tây Âu cận đại và triết học Đức CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌCI. Khái niệm triết họcII. Vai trò của triết học trong đời sống xã hộiIII. Phân kỳ lịch sử triết họcCHƯƠNG II. SỰ KHÁC NHAU CĂN BẢN GIỮA TRIẾT HỌC TÂY ÂU CẬN ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨCI. Về điều kiện ra đờiII. Sự khác nhau căn bản về nội dung giữa triết học Tây Âu cận đại và triết học cổ điển Đức1. Tư tưởng về nguồn gốc thế giới2. Tư tưởng nhận thức3. Tư tưởng con người 4. Tư tưởng về đạo đứcCHƯƠNG III. KẾT LUẬN
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌM HIỂU ĐẠO ĐỨC KINH TÌM HIỂU TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌM HIỂU ĐẠO ĐỨC KINH TÌM HIỂU TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ

: MỞ ĐẦU

Nghiên cứu Lịch sử Triết học là một nhiệm vụ quan trọng của những người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Lịch sử của các trào lưu triết học Phương Đông rất đồ sộ được biên soạn từ hai cái nôi lớn của tư tưởng triết học nhân loại là Ấn Độ và Trung Quốc.
Trong tư tưởng triết học Trung Quốc, Lão Tử là một nhà triết học lớn, đã có lúc Khổng Tử đánh giá rất cao tư tưởng của Ông. Ông không có những tác phẩm đồ sộ nhưng tư tưởng triết học của Lão Tử khá đặc sắc, thể hiện một trình độ trừu tượng hoá và khái quát hoá cao. Một trong những tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc, các nước lân cận kể cả phương Tây chính là tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử.
Nghiên cứu tư tưởng triết học Lão Tử trong tác phẩm “Đạo đức kinh” sẽ góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng triết học Trung Quốc nói chung cũng như tư tưởng triết học Lão Tử nói riêng.
Với ý nghĩa đó, Em lựa chọn đề tài “Tìm hiểu tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử” làm tiểu luận môn học Lịch sử Triết học.
Đề tài được kết cấu gồm ba phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Nội dung cơ bản tác phẩm Đạo đức kinh.
Phần 3: Kết luận
Một số nhận xét ( Thay cho lời kết của tiểu luận)
Để hoàn thành nhiệm vụ này, Em trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đình Cấp, Tiến sĩ Bùi Thanh Hương đã nhiệt tình giảng dạy và truyền thụ những kiến thức quý báu của môn học lịch sử Triết học để từ đó giúp Em có được những kiến thức cơ bản và phương pháp nghiên cứu khoa học để tiếp tục nghiên cứu hiểu rõ hơn những tư tưởng Triết học vĩ đại của nhân loại.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội , nhằm tìm ra các quy luật của đối tượng nghiên cứu. Mục đích cơ bản của Triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận.
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội , hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy. Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức ( tinh thần ) là vấn đề cơ bản của Triết học.
Vấn đề cơ bản của Triết học là vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy , giữa vật chất và ý thức . Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của Triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học.
Nó có 2 mặt : Mặt thứ nhất là giải quyết vấn đề vật chất và ý thức , cái nào có trước, cái nào có sau; Mặt thứ hai giải quyết vấn đề con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không. Tùy theo cách giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản mà các nhà Triết học chia làm hai phe chính : những người theo chủ nghĩa duy tâm và những người theo chủ nghĩa duy vật.
Tùy theo cách giải quyết mặt thứ hai mà mà các nhà Triết học chia thành những người thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới ( khả tri ) và những người phủ nhận khả năng ấy ( bất khả tri)
Triết học ra đời rất sớm , ngay từ khi mới ra đời , Triết học đã phân làm hai phe đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm , và sự đấu tranh giữa hai phe ấy đã trở thành quy luật phát triển của Triết học. Cùng với cuộc đấu tranh ấy, trong quá trình phát triển của Triết học cũng xuất hiện và ngày càng biểu hiện sâu sắc hơn sự đối lập giữa hai phương pháp tư duy : biện chứng và siêu hình .
Các trào lưu Triết học trong lịch sử đã có thể có những biện pháp khác nhau nhưng không thóa t ra khỏi nhưng sự đôi tâm , giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
Chính cuộc đấu tranh giữa hai trường phái duy tâm và duy vật đã thể hiện tính giai cấp của Triết học. Triết học là thể giới quan của một lực lượng xã hội , một giai cấp nhất định cho nên cuộc đấu tranh trên mặt trận triết học cũng phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng và chính trị.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Một góc nhìn về khủng hoảng tài chính đông á và những bài học kinh nghiệm cho việt nam

MỘT GÓC NHÌN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐÔNG Á VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Một góc nhìn về khủng hoảng tài chính đông á và những bài học kinh nghiệm cho việt nam

32 Đọc thêm