LUẬT PHÁP & ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG PR

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Luật pháp & Đạo đức trong hoạt động PR":

NGUYÊN TẮC TÁCH BIỆT QUẢNG CÁO VÀ TÁC PHẨM BÁO CHÍ TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ

NGUYÊN TẮC TÁCH BIỆT QUẢNG CÁO VÀ TÁC PHẨM BÁO CHÍ TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ

định nên không ít tờ báo chuyển sang quảng cáo qua bài viết và như vậy đãxảy ra việc không ít tờ báo đã thực hiện việc quảng cáo “trá hình” là mất đibản chất, ý nghĩa, vai trò của một tác phẩm báo chí. Đây đang là những vấnđề gây "đau đầu" cho các nhà quản lí hiện nay là những bài báo PR "trá hình"một bài viết đơn thuần.KẾT LUẬNRõ ràng việc phải tuân thủ nguyên tắc tách biệt giữa quảng cáo và tácphẩm báo chí để thực hiện đúng vai trò của một tác phẩm báo chí là mộtnguyên tắc với tất cả nhà báo và các cơ quan báo chí. Để thọc hiện tốtnguyên tắc này, các cơ quan báo chí, những người làm báo cần phải nâng cao1414nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thứctrách nhiệm về sản phẩm báo chí của mình. Chất lượng báo chí luôn luônphải là mục tiêu hàng đầu của người làm báo, thể hiện rõ trong mỗi bài báo,mỗi ấn phẩm và chương trình phát thanh, truyền hình, để cuối cùng đạt tới là:Đúng, Hay, Đẹp và hiệu quả xã hội ngày càng cao. Các cơ quan chỉ đạo,quản lý báo chí, cơ quan chủ quản báo chí phải quan tâm, tăng cường chỉđạo, quản lý, định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí, đào tạo, bồidưỡng đội ngũ những người làm báocó đủ năng lực, trình độ và phẩm chấtđạo đức; động viên, khen thưởng kịp thời; nhắc nhở, uốn nắn những lệch lạc,xử lý nghiêm khắc các sai phạm. Tuy nhiên, hoạt động báo chí thời gian quacũng còn bộc lộ một số vấn đề, như: hiện tượng "Thương mại hóa" hoạt độngbáo chí; thiếu nhạy cảm và trách nhiệm chính trị, trách nhiệm xã hội; thôngtin thiếu tầm nhìn bao quát và chiều sâu tư tưởng; ít tuyên truyền giới thiệunhững yếu tố tích cực, những cách làm hay, kết quả tốt, những tập thể và cá
Xem thêm

17 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VỀ LUẬT KINH TẾ: CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN TRẺ EM VIỆT NAM VÀ CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VÌ TRẺ EM VIỆT NAM

TIỂU LUẬN VỀ LUẬT KINH TẾ: CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN TRẺ EM VIỆT NAM VÀ CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VÌ TRẺ EM VIỆT NAM

Ngày 26111990 Việt nam ký công ước quyền trẻ em và ngày 2021990 Việt nam hoàn chỉnh thủ tục pháp lý phê chuẩn công ước này. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em.
Công ước quyền trẻ em là văn bản có tính chất rằng buộc pháp lý theo luật pháp quốc tế của các nước thành viên Liên Hợp Quốc, là sự đồng thuận của cả cộng đồng quốc tế về các quyền được xác định của trẻ em. Đây là công ước đầu tiên đề cập toàn diện các quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, trên cơ sở thừa nhận trẻ em có quyền được cham sóc và giúp đỡ đặc biệt.
Tại Việt Nam, công ước đã trở thành cơ sở pháp lý được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật. Công ước thực sự đi vào đời sống xã hội với những hoạt động thiết thực của uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em trẻ em từ trung ương đến cơ sở phường xã.
Chăm sóc và giáo dục trẻ em là truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta. Đảng, Bác Hồ và nhà nước luôn quan tâm tới việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em , coi đây là sự nghiệp cao quý, là trách nhiệm đối với thế hệ tương lai, với tiền đồ đất nước, dân tộc. Những năm qua, nhờ những thành tựu quan trọng của đổi mới đất nước, sự quan tâm của Đảng, nhà nước, toàn dân cuộc sống của trẻ em nươc ta đã có nhiều tiến bộ rõ rệt về vật chất tinh thần, đáp ứng những nhu cầu phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, sức khoẻ văn hoá của trẻ em.
Xem thêm

12 Đọc thêm

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XANH TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XANH TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

Tín dụng xanh là một yếu tố quan trọng, nó quyết định rất lớn tới sự tồn tại và phát triển vững bền của ngân hàng cũng như cả nền kinh tế nói chung. Vì thế nâng cao hiệu quả hoạt động của tín dụng xanh không những là trách nhiệm của cán bộ trực tiếp thẩm định cho vay mà còn là trách nhiệm của nhà quản trị, trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước và nhiều cơ quan quản lý khác. Những quy định luật pháp có liên quan đến việc điều chỉnh hoạt động kinh doanh của NHTM được ban hành bởi cơ quan lập pháp, Ngân hàng Nhà nước và ở các cấp độ khác nhau từ các văn bản luật đến các văn bản dưới luật. Bên cạnh các cơ quan quản lý tiền tệ, từng Ngân hàng thương mại đều rất quan tâm đến hiệu quả hoạt động của tín dụng xanh vì để phát triển vững bền nên phải được đặt lên hàng đầu. Ngân hàng phải có quy địnhvề bảo đảm an toàn cho từng khoản tín dụng xanh cho vay phù hợp với đặc điểm của mỗi ngân hàng. Các quy định này là căn cứ để chủ sở hữu ngân hàng giám sát toàn bộ quy trìnhhoạt động cho vay của Ngân hàng.Để hoạt động kinh doanh của NHTM ngày càng phát triển, đa dạng hóa các dịch vụ tín dụng xanh đòi hỏi ngân hàng phải không ngừng cải tiến, nâng cao công nghệ ngân hàng để đáp ứng được tiến trình hiện đại hoá ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh. Để hiện đạihoá ngân hàng đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ đáp ứng được công việc trong thời kỳ mới, giỏi nghiệp vụ và phải có đạo đức nghề nghiệp, giỏi nghiệp vụ thì mới đáp ứng được trình độ ngày càng đổi mới và phát triển của công nghệ ngân hàng, tận tâm với nghề, đạo đức tốt sẽ tránh được rủi ro nghề nghiệp.Hiện đại hoá ngân hàng, phát triển công nghệ ngân hàng sẽ giúp cho trung tâm phòng ngừa rủi ro ngày càng hiện đại. Trung tâm phòng ngừa rủi ro được chú trọng phát triển sẽ cung cấp được nhiều thông tin hơn, nhanh hơn, chính xác hơn. Từ đó sẽ giúp cho nhà quản trị ngân hàng có đầy đủ thông tin một cách nhanh nhất về khách hàng, về thị trường,... từ đó sẽ dễ dàng phân tích nhanh và chính xác để đưa ra quyết định đúng đắn giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng hiệu quả. Qua việc phân tích hoạt động tín dụng xanh tại một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam ta thấy được bên cạnh những khó khăn, thử thách các ngân hàng đã từng bước tiếp cận với tín dụng xanh, từng bước hội nhập với xu thế chung của thế giới đó là Tăng trưởng xanh phát triển bền vững, điều này sẽ góp phần giúp các ngân hàng thương mại tại Việt Nam ngày càng thân thiết hơn với khách hàng, đóng góp nhiều hơn cho việc bảo vệ môi trường sống đồng thời nâng cao tính cạnh tranh trong điều kiện hội nhập như hiện nay.
Xem thêm

75 Đọc thêm

CÂU HỎI ÔN TẬP CÓ ĐÁP ÁN MÔN KIỂM TOÁN CƠ BẢN_VCU

CÂU HỎI ÔN TẬP CÓ ĐÁP ÁN MÔN KIỂM TOÁN CƠ BẢN_VCU

Chương 1: Những vấn đề cơ bản của kiểm toánCâu 1: Điều lệ của TCT có phải là 1 loại chuẩn mực trong kiểm toán tuân thủ không? Vì sao? Trả lời: Có. Vì điều lệ của TCT là quy định của bản thân tổ chức công ty mà các cá nhân và bộ phận trong công ty phải tuân thủ. Câu 2: Chuẩn mực kiểm toán dùng để hướng dẫn công việc và điều chỉnh hành vi của kiểm toán viên? Đúng hay sai? Tại sao? Trả lời: Đúng. Vì: Chuẩn mực kiểm toán là những quy định về những nguyên tắc, thủ tục cơ bản và những hướng dẫn thể thức áp dụng các ngtắc, thủ tục cơ bản đó trong quá trình kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán gồm 2 bộ phận riêng biệt: Hệ thống các CM chuyên môn; quy tắc về đạo đức nghề nghiệp => CM kiểm toán là những nguyên tắc và chỉ dẫn vừa có tính bắt buộc, vừa có tính chất hướng dẫn, hỗ trợ Câu 3: KTV phải tuân thủ chuẩn mực kế toán khi thực hiện mọi cuộc kiểm toán. Đ or S? Why? Trả lời: Sai. Vì: KTC phải tuân thủ CM kiểm toán; Chuẩn mực kế toán là những quy định về những nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đó trong quá trình kế toán; Việc lập và trình bày BCTC là trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán còn kiểm toán viên có trách nhiệm đưa ra ý kiến về mức độ trung thực của BCTC do đó đơh vị được kiểm toán phải tuân thủ chuẩn mực kế toán và trình bày trên BCTC còn KTV chỉ cần phải hiểu biết chuẩn mực kế toán và tuân thủ chuẩn mực kiểm toán. Câu 4: Đối tượng của kiểm toán BCTC, KTHĐ, KTTT có giống nhau ko? Trả lời: Đối tượng ko giống nhau. Đối tượng của KT BCTC là BCTC và thực trạng về tài sản, nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Đối tượng của KTTT là thực trạng việc chấp hành luật pháp, chính sách chế độ và những quy định Đối tượng của KTHĐ là tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động.
Xem thêm

38 Đọc thêm

TỪ VỰNG TIẾNG HÀN CHỦ ĐỀ LUẬT PHÁP

TỪ VỰNG TIẾNG HÀN CHỦ ĐỀ LUẬT PHÁP

가가가: luật quốc tế가가가가가: luật sư quốc tế가가가가가가가: luật bầu cử đại biểu quốc hội가가가가: luật nghĩa vụ quân sự가가: qui định가가: qui tắc가가: chối thụ án vụ kiện가가가가 가: luật phá sản가가가: luật doanh nghiệp가가: giang hồ가가가: luật lao động가가가가: tranh chấp lao động가가가: luật công đoàn가가: đầu mối, manh mối vụ việc가가가가: kiểm tra và xử phạt가가가: toà án tối cao가가가: dân chuyên đào mộ , mộ tặc가가: đạo đức가가: ăn trộm가가가: trò ăn trộm가가: tờ niêm phong hoặc tờ phiếu phạt가가가: người chứng kiến가가가가: tịch thuBlog Sách & Tài Liệu Học Tiếng Hàn, Ôn Topik, KLPT – Hotline: 0977 173 309 (Zalo)BLOG HỌC TIẾNG HÀN – Facebook.com/BlogHocTiengHan가가가: tội phạm tù trung thân가가가가: phạt tù trung thân
Xem thêm

5 Đọc thêm

skkn Một số hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Hoạt động Giỏo dục đạo đức ở lớp 5 đạt hiệu quả

SKKN MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN HOẠT ĐỘNG GIỎO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở LỚP 5 ĐẠT HIỆU QUẢ

skkn Một số hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Hoạt động Giỏo dục đạo đức ở lớp 5 đạt hiệu quả
skkn Một số hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Hoạt động Giỏo dục đạo đức ở lớp 5 đạt hiệu quả
skkn Một số hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Hoạt động Giỏo dục đạo đức ở lớp 5 đạt hiệu quả
skkn Một số hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Hoạt động Giỏo dục đạo đức ở lớp 5 đạt hiệu quả

13 Đọc thêm

phần VI tư tưởng triết học, nhân văn, đạo đức hồ chí minh tiểu luận cao học

PHẦN VI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC, NHÂN VĂN, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN CAO HỌC

LỜI NÓI ĐẦU

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực đạo đức nhất là đạo đức cách mạng. Tư tưởng đạo đức của Người bao quát mọi đối tượng, đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động của con người, trên mọi quan hệ xã hội với phạm vi rộng, hẹp khác nhau.
Bên cạnh đó, thực tế xã hội hiện nay đang tồn tại những hiện tượng tiêu cực như: quan liêu, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, tình trạng suy thoái đạo đức ở một bộ phận cán bộ, đảng viên... làm tổn hại đến uy tín của Đảng, làm lu mờ vai trò nêu gương của người cán bộ, đảng viên trước quần chúng nhân dân. Trước thực trạng đó, việc làm rõ, quán triệt, vận dụng, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cách mệnh được đặt ra như một yêu cầu thường xuyên và cực kỳ quan trọng. Và đây cũng là nội dung cơ bản được đưa vào cuộc vận động Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.













NỘI DUNG

Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều nhất đến vấn đề đạo đức. Người không để lại những tác phẩm đạo đức lớn, những tư tưởng lớn về đạo đức của Người đã nằm trong những bài nói, bài viết ngắn gọn, được diễn đạt rất cô đọng, hàm súc theo phong cách phương Đông, rất quen thuộc với con người Việt Nam. Bản thân Người lại thực hiện trước nhất và nhiều nhất những tư tưởng ấy.

I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ NỀN ĐẠO ĐỨC MỚI VIỆT NAM
1. Nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc ta, đồng thời kế thừa đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt quan trọng là những tư tưởng đạo đức cũng như tấm gương đạo đức trong sáng của Mác, Ăngghen, Lênin để lại. Điều này đã thể hiện trong những lời viết của Người sau khi Lênin qua đời: Lênin là người “đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về sự giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ”. “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”
Xem thêm

23 Đọc thêm

XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT ĐỀ 6: MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC LIÊN HỆ THỰC TẾ VIỆT NAM

XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT ĐỀ 6: MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC LIÊN HỆ THỰC TẾ VIỆT NAM

ĐẶT VẤN ĐỀ
Các chuẩn mực xã hội có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội, được hình thành từ nhu cầu, đòi hỏi cần có một công cụ, phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, chịu sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật nhưng các chuẩn mực xã hội này cũng có tác động không nhỏ trở lại pháp luật. Như chúng ta đã biết, pháp luật và đạo đức đều là những bộ phận của hình thái của ý thức xã hội. Giữa chúng thường có những mối quan hệ, tác động qua lại, đan xen lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau dù bản thân chúng có những điểm riêng biệt. Chính mối quan hệ này đã góp phần thể hiện bản chất của pháp luật. Một trong những mối quan hệ mà chúng ta phải nói tới là mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức.
Bài viết này xin đi sâu tìm hiểu về mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức và liên hệ thực trong thực tế hiện nay. Do hiểu biết và phạm vi tìm hiểu còn hạn hẹp nên bài viết không tránh khỏi những lỗi sai. Vì vậy, em mong được sự thong cảm và góp ý từ phía thầy cô bộ môn.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1. Thế nào là chuẩn mực pháp luật?
Pháp luật (Luật pháp) dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.
Chuẩn mực pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.
2. Đạo đức là gì? Thế nào là chuẩn mực đạo đức?
Đạo đức là toàn bộ quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về long tự trọng, về công bằng hạnh phúc,…và những quy tắc xử sự hình thành trên cở sở ý niệm, quan điểm đó đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội trong xã hội.
Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUẨN MỰC PHÁP LUẬT VÀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC
1. Chuẩn mực pháp luật
Dưới góc nhìn của nhiều nhà xã hội học thì pháp luật thường được tiếp cận nghiên cứu với tư cách là một loại chuẩn mực xã hội. Vì vậy, tính chuẩn mực của pháp luật là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tính chuẩn mực của pháp luật nói lên những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi chủ thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép. Không thể có chuẩn mực chung chung, trừu tượng, mà nó phải thể hiện ra thành những quy tắc, yêu cầu cụ thể dưới dạng các quy phạm pháp luật. Chuẩn mực pháp luật là quy tắc điều chỉnh các hành vi; vì vậy, nếu không dặt ra các quy phạm pháp luật thì sẽ không có căn cứ pháp lý để đánh giá hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là bất hợp pháp.
Chuẩn mực pháp luật khác với các loại chuẩn mực khác ở một điểm cơ bản là nó mang tính cưỡng bức nhà nước. Các chuẩn mực xã hội khi được nhà nước thừa nhận, sử dụng và đảm bảo bằng khả năng cưỡng bức, sẽ trở thành chuẩn mực pháp luật. Nếu nhà nước không còn thừa nhận và thực hiện, áp dụng các chuẩn mực đó nữa thì nó sẽ trở nên vô vị và mất đi lợi ích của một chuẩn mực pháp luật.
Ở nước ta hiện nay, vị trí, vai trò, cũng như mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức ngày càng được nhìn nhận đúng đắn, tích cực.
Pháp luật được xây dựng trên quan điểm đạo đức của nhân dân; bởi vậy, nó không những thể hiện được tư tưởng đạo đức cách mạng, đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức tiến bộ mà còn thể hiện được ý chí, nguyện vọng và hướng tới lợi ích của nhân dân lao động. Chẳng hạn như ở Điều 2, hiến pháp 1992 “ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân….”
Pháp luật phản ánh tinh thần nhân đạo tư tưởng đạo đức cơ bản của nhân dân ta. Tính nhân đạo trọng hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện rất rõ trong các quy định về chính sách xã hội của nhà nước. Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi, quan tâm đặc biệt tới các thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng, người già, trẻ em không nơi nương tựa.
Đạo đức trong xã hội đã thực sự hỗ trợ, bổ sung và hoàn thiện cho pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống. Nhà nước ta thừa nhận tập quán có thể thay thế cho pháp luật trong những trường hợp pháp luật chưa quy định và nội dung tập quán không trái với quy định pháp luật. Ở chiều ngược lại, pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy các quan niệm đạo đức tốt đẹp, hình thành những tư tưởng đạo đức tiến bộ, ngăn chặn sự thoái hóa xuống cấp của đạo đức, loại trừ những tư tưởng đạo đức cũ lạc hậu, phản tiến bộ. Trong chừng mực nhất định, nhà nước pháp luật hóa các quy phạm, nguyên tắc đạo đức thành các quy phạm pháp luật – những quy tắc xử sự tương đối cụ thể cho các chủ thể trong xã hội, xác định rõ hành vi được phép thực hiện, các hành vi buộc phải thưc hiện, các hành vi bị ngăn cấm.
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp thì ranh giới điều chỉnh giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật chưa phù hợp hay sự pháp luật hóa các quy tắc, quan niệm đạo đức không cụ thể dấn đến khó ứng dụng trong thực tế. Chẳng hạn như, Bộ luật dân sự quy định, các giao dịch dân sự không được trái với đạo đức xã hội. Trên thực tế, đánh giá hành vi nào đó là trái hay không trái với đạo đức xã hội không phải là vấn đề đơn giản, cùng một hành vi nhưng có thể có các đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
Xem thêm

12 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐẠO ĐỨC CHẤP HÀNH VIÊN

TIỂU LUẬN ĐẠO ĐỨC CHẤP HÀNH VIÊN

LỜI MỞ ĐẦU

Trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều cần có những chuẩn mực đạo đức riêng, phù hợp với lĩnh vực hoạt động của mình. Nói đến đạo đức nghề nghiệp là nói đến những vấn đề thuộc về bản chất được quy định bởi tính chất đặc thù của lĩnh vực hoạt động mà ở đó mỗi cán bộ cần phải nắm bắt, tu dưỡng để hoàn thiện mình sao cho thực hiện một cách có hiệu quả nhất nhiệm vụ được giao. Đối với cán bộ công chức làm việc trong các ngành và lĩnh vực đó, ngoài yêu cầu về trình độ, nghiệp vụ để phục vụ công việc mình đang làm thì điều không thể thiếu đó là phẩm chất đạo đức. Nếu cán bộ công chức “có tài mà không có đức” thì là người vô dụng, còn người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Lơi dạy của Bác có 1 ý nghĩa nhân văn vô cùng to lớn và sâu sắc đối với tất cả mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước chứ không riêng gì đối với cán bộ công chức.
Xem thêm

14 Đọc thêm

HỒ CHÍ MINH BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN VÀ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG Ý NGHĨA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

HỒ CHÍ MINH BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN VÀ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG Ý NGHĨA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đất nước, Người luôn đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên trước hết phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết nhất để người cán bộ, đảng viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình và thực sự trở thành người hoạt động cách mạng chân chính. Trên thực tế, chính Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu, sinh động và trong sáng nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam.
Xem thêm

21 Đọc thêm

CÁC PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO CON NGƯỜI

CÁC PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO CON NGƯỜI

động, xúc phạm nhân cách con người, gâytổn thất hoặc có thể phá hủy hoàn toàn hệthống Điều kiện áp dụng: Khi tổ chức mới được hình thành Tổ chức cần yêu cầu tính hành chính caonhư: cơ quan nhà nước, cơ quan luật pháp,an ninh…b) Phương pháp kinh tế Khái niệm: Là các phương pháp tác động giántiếp vào đối tượng bị quản trị, thông qua các lợiích kinh tế và đòn bẩy kinh tế, để cho đối tượngbị quản trị tự ý lựa chọn phương án hoạt độnghiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động mà họkhông cần phải thường xuyên tác động về mặthành chính. Công cụ sử dụng: Tăng – Giảm tiền lương Tiền thưởng Phụ cấp, bồi dưỡng…b) Phương pháp kinh tế Ưu điểm: Phát huy tính năng động sáng tạo cấp dưới  Tạo độnglực mạnh mẽ thúc đẩy đối tượng thực hiện hiệu quả các
Xem thêm

32 Đọc thêm

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LƯƠNG VĂN TỤY TỈNH NINH BÌNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LƯƠNG VĂN TỤY TỈNH NINH BÌNH

1. Lý do chọn đề tài
1.1 . Về mặt lý luận
Thế kỷ XXI, thế kỷ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức, mỗi quốc gia, dân tộc đều thấy rõ hơn tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong năm nhiệm vụ quan trọng của nền giáo dục toàn diện. Ngày 21 tháng 10 năm 1964 khi về thăm trường ĐHSPHN, Bác Hồ đã dạy: “ Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quan trọng” 27;tr.3 Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là: Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có í chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.
Giáo dục đạo đức cho học sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam càng trở nên đặc biệt quan trọng. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặt trái của cơ chế thị trường đã có tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ. Các tệ nạn xã hội tác động tiêu cuwucj đến đạo đức, lối sống của học sinh phổ thông, không ít học sinh đã sa vào các tệ nạn xã hội, sống tùy tiện, cẩu thả. Đảng ta đã nhận định trong Nghị Quyết Trung ương II, khóa VII: “ Đặc biệt đáng lo ngại là trong bộ phận sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”.11; tr.7 Vì vậy, trong những năm tới cần: “ Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh…. Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa – thể thao phù hợp với lứa tuổi và yêu cầu giáo dục toàn diện”.
Các nghiên cứu lý luận cho thấy trong trường học nói chung và trường THPT nói riêng, biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là yếu tố ảnh hưởng mang tính quyết định đến chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Thế hệ học sinh trung học phổ thông đang trong độ tuổi mà tâm sinh lý có sự chuyển biến mạnh mẽ, rất thích cái mới những chưa đủ tri thức và bản lĩnh nên dễ bị ảnh hưởng của tác động tiêu cực trong đời sống xã hội, nhất là sự tác động của mất trái cơ chế thị trường, Do đó, việc giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách đối với các nhà trường nói chung.
Xem thêm

131 Đọc thêm

Giáo trình Đạo đức và văn hóa quản lý

GIÁO TRÌNH ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ

Văn hóa và đạo đức trong quản lý từ lâu đã được nhắc đến như một yếu tố tinh thần trong hoạt động quản lý. Quản lý thiếu văn hóa và thiếu đạo đức sẽ dẫn đến những hành vi sai lầm, lệch lạc, đi ngược lại lợi ích và mục tiêu của tổ chức, nghiêm trọng hơn còn làm sụp đổ một tổ chức.
Từ tầm quan trọng đó, trong khuôn khổ chương trình đào tạo ngành Khoa học quản lý của trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên, chúng tôi giới thiệu chuyên đề “Văn hóa và đạo đức quản lý” với hi vọng góp phần tạo những kiến thức nền tảng, căn bản nhất về văn hóa và đạo đức cho những sinh viên khoa học quản lý – những chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần làm trong sạch và lành mạnh đội ngũ lãnh đạo và quản lý của tương lai. Đây cũng là vấn đề được các nhà quản lý học rất đỗi quan tâm.
Xem thêm

59 Đọc thêm

TUAN 16

TUAN 16

- GV viết mẫu, kết hợp với việcnhắc lại cách viết từng chữ.- GV yêu cầu HS viết chữ “M” vàobảng con.• HS luyện viết từ ứng dụng.- GV gọi HS đọc từ ứng dụng: MạcThò Bưởi .- GV giới thiệu: Mạc Thò Bưởiquê ở Hải Dương, là một nữ dukích hoạt động ở vùng đòch tạmchiếm trong thời kì kháng chiếnchống thực dân Pháp. Bò đòch bắt,tra tấn dã man, chò vẫn không khai.Bọn giặc tàn ác đã cắt cổ chò.- GV yêu cầu HS viết vào bảng con.• Luyện viết câu ứng dụng.GV mời HS đọc câu ứng dụng.- GV giải thích câu tục ngữ: Khuyêncon người phải đoàn kết. Đoàn kếtsẽ tạo nên sức mạnh.* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS viếtvào vở tập viết.- GV nêu yêu cầu:- GV theo dõi, uốn nắn.- Nhắc nhở các em viết đúng nét,độ cao và khoảng cách giữa cácchữ.* Hoạt động 3: Chấm chữa bài.- GV thu từ 5 đến 7 bài để chấm.- GV nhận xét tuyên dương một số
Xem thêm

29 Đọc thêm

CHUONG 4 MOI TRUONG CHINH TRI LUAT PHAP

CHUONG 4 MOI TRUONG CHINH TRI LUAT PHAP

Chế độ chuyên chế (totalitarianism): Chế độ chuyên chế là chế độ chính trị trong đó nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội
Chế độ xã hội chủ nghĩa (Socialism): Chính phủ cần kiểm soát những phương tiện cơ bản của việc sản xuất, phân phối và hoạt động thương mại
Chế độ dân chủ (democracy)
Quyền sở hữu tư nhân: chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân.
Quyền lực có giới hạn của chính phủ: chính phủ nơi đây chỉ thực hiện một số chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân như bảo vệ quốc phòng, duy trì luật pháp và trật tự xã hội
Xem thêm

27 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN

đối với tàu được đóng mới, nâng cấp công suất máy chính từ 400CV trở lên.Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp khai thác hải sản.Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động khai thác hải sản, từ dịch vụhậu cần phục vụ trực tiếp hoạt động khai thác xa bờ; thu nhập từ đóng mới, nâng cấp tàu cá cótổng công suất máy chính từ 400CV trở lên để phục vụ khai thác hải sản.Miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu trong nướcchưa sản xuất được để đóng mới, nâng cấp tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên.Chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo:- Ban hành Chỉ thị số 429-CP ngày 5/12/1979 thực hiện chính sách đối với cán bộ miền núi,hải đảo do Thường vụ Hội đồng Chính phủ ban hành.- Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg ngày 24/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định:+ Mức hỗ trợ cho hộ gia đình di chuyển ra đảo:Đối với đảo cách đất liền 50 hải lý là 80 triệu đồng/ hộ.Đối với đảo cách đất liền từ 50 hải lý trở lên là 132 triệu đồng/hộ.Đối với đảo có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, phương tiện vận chuyển khó khăn, mức hỗtrợ căn cứ theo dự án.+ Chính sách hỗ trợ cộng đồng: hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu; sanlấp mặt bằng đất tại điểm tái định cư; khai hoang đất sản xuất; đường giao thông; thủy lợi nhỏ;phòng học tập bậc phổ thông cơ sở; công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và một số côngtrình thiết yếu khác; khuyến khích mô hình di dân để giảm bớt sức ép về đất đai và cơ sở hạtầng.- Ban hành Đề án 52 (năm 2009) với mục tiêu từng bước hoàn thiện và ban hành chính sáchđặc biệt về sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chăm sóc sức khỏe sinh sản kế hoạch hóa gia đình, nângcao chất lượng cuộc sống, chất lượng dân số để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân rađảo định cư, làm ăn lâu dài phát triển kinh tế và làm nhiệm vụ bảo vệ biển.→ Đánh giá chung về các chính sách biển:Các chính sách biển được đưa ra trong bối cảnh nước ta hiện nay đang đặt vấn đề biển đảolên hàng đầu. Các chính sách nhằm xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo.Đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; pháttriển đóng tàu thuyền và vận tải biển; bảo vệ môi trường, tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN

vẫn tiếp tục theo tập quán làm ăn từ trước tới nay. Đối với việc khai thác các tàinguyên thiên nhiên trong khu vực đó, hai bên sẽ cùng nhau thỏa thuận.Câu 17 : ND cơ bản Văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung vùng chồnglấn (MOU) giữa VN và Malaysia.- Chính thức xác nhận tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềmlục địa do Tổng cục dầu khí Việt Nam công bố năm 1977 và ranh giới thềm lụcđịa thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979.- Gác vấn đề phân định thềm lục địa để hợp tác khai thác chung vùngchồng lấn theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất.- Nếu có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực xác định và một phần nằmtrên thềm lục địa của Malaysia hoặc Việt Nam thì hai bên thỏa thuận thăm dò khaithác.- Về quản lý Nhà nước đối với các hoạt động trong vùng chồng lấn, vềnguyên tắc Việt Nam có quyền thực hiện quản lý về hải quan, cảng xuất dầu vàcông trình trên biển, về thuế, biên phòng…Tuy nhiên vì khu vực ở xa đất liền nên13Việt Nam có thể ủy quyền cho Malaysia đảm đương các nhiệm vụ trên trong vùngchồng lấn.Câu 18: Có mấy phương thức giải quyết tranh chấp về biển. Có mấy biệnpháp mang tính xét xử và có tính bắt buộc (kể tên) theo quy định của Côngước LHQ về Luật biển 1982.• Có 2 phương thức giải quyết tranh chấp về biển:- Thương lượng hoặc các biện pháp hòa bình như đàm phán hoặc hòa giải.- Tiến hành trao đổi về quan điểm nếu không nhất trí được với nhau về cách thứcgiải quyết hoặc cách thức đó không dẫn đến một giải pháp.• Các biện pháp mang tính xét xử và có tính bắt buộc:- Tòa án công lý quốc tế- Tòa án quốc tế về Luật biển
Xem thêm

20 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT báo CHÍ và đạo đức NHÀ báo

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT BÁO CHÍ VÀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO

LUẬT BÁO CHÍ VÀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO..Câu 1: Tìm hiểu các khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo:2Câu 2: Cơ sở để hình thành đạo đức nghề nghiệp?4Câu 3: Vai trò của đạo đức, đạo đức nghề báo trong hoạt động báo chí? Nêu và phân tích các ví dụ cụ thể để chứng minh:5Câu 4: Phân tích 9 điều quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam (có thể nêu ý kiến của mình về những quy định trên):6Câu 5: Nêu và phân tích những biểu hiện vi phạm đạo đức nghề báo (nêu ví dụ cụ thể):10Câu 6: Đánh giá việc thực hiện Quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam (Tích cực, hạn chế, chứng minh bằng những ví dụ cụ thể):24Câu 7: Phân tích nguyên nhân (chủ quan, khách quan) dẫn đến vi phạm đạo đức của người làm báo Việt Nam trong thời gian qua:26Câu 8: Đề xuất giải pháp, kiến nghị để nâng cao đạo đức của người làm báo Việt Nam trong môi trường tác nghiệp hiện nay:29Câu 9: Bài tập32 Câu 1: Tìm hiểu các khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo:Theo quan điểm phương Đông, đạo đức có nghĩa là “ đạo làm người” bao gồm nhiều chuẩn mực về các mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, bạn bè, anh em, làng xóm...Ở phương Tây, khái niệm đạo đức bắt nguồn từ chữ “ mos” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “ lề thói”, mosralis có nghĩa là “ thói quen”. Như vậy, khi nói đến đạo đức là nói đến các lề thói và tập tục biểu hiện trong mối quan hệ giao tiếp hàng ngày giữa người với người. Khái niệm quốc tế của đạo đức là “ moral”.Theo C.Mác, đạo đức là một “ hình thái xã hội” chịu sự tác động qua lại của các hình thái ý thức xã hội khác và cùng với các hình thái ý thức xã hội ấy, đạo đức chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Do đó, đạo đức có “ bản chất xã hội”.Ngày nay, đạo đức được định nghĩa “ là một hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”.Như vậy, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Thích ứng với mỗi một xã hội thì có một đạo đức xã hội tương ứng. Suy cho cùng, sự phát sinh, phát triển của đạo đức phụ thuộc vào sự phát triển của phương thức sản xuất.Về mặt xã hội, đạo đức được biểu hiện bằng thái độ cụ thể của dư luận xã hội. Đó là những ý kiến, trạng thái tinh thần tán thưởng, khẳng định ( tích cực) hoặc phê phán, phủ định ( tiêu cực) của một số đông người đối với một hành vi, ý tưởng của cá nhân hay một nhóm người nào đó. Về mặt cá nhân, đạo đức được coi là “ tòa án lương tâm” có khả năng tự phê phán, đánh giá và suy xét từng hành vi, thái độ và ý nghĩ của bản thân trong mỗi cá nhân.
Xem thêm

39 Đọc thêm

Đạo đức nghề nghiệp đối với nghề y

ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI NGHỀ Y

Mỗi thành viên trong xã hội có thể có một nghề nhất định. Mỗi nghề nghiệp do con người lựa chọn hoặc do xã hội phân công đều có những đặc điểm riêng. Xuất phát từ đặc điểm ấy, qua thực tiễn, xã hội đặt ra những yêu cầu cụ thể về đạo đức nghề nghiệp trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau.Nghề nào cũng cần nêu cao đạo đức nghề nghiệp. Riêng với nghề y, đạo đức đóng vai trò quan trọng hàng đầu, bởi đây là nghề chữa bệnh cứu người.I. Giới thiệu chung.1. Đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là những chân giá trị mà những người lao động trong nghề phải tuân theo và hướng tới trong hoạt động hành nghề của mìnhĐạo đức nghề nghiệp được duy trì dựa trên những nỗ lực của cá nhân, của tổ chức nghề nghiệp, nhà nước và kỳ vọng của xã hội.2. Nghề y đạo đức nghề ya. Nghề y Nghề y là 1 nghề nghiệp mang tính nhân đạo, nhân văn. Đây là nghề chuyên tổ chức việc phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cho con người.=> Nghề y là 1 nghề cao quýb. Đạo đức nghề y. Đạo đức nghề y là một bộ phận của đạo đức nghề nghiệp, là những quy tắc, nguyên tắc tắc phẩm hạnh và các chuẩn mực phẩm hạnh của người thầy thuốc (đại diện cho nghề y) trong quan hệ với bệnh nhân, với công việc, với y học, với đồng nghiệp và với xã hội.=> nhờ đó mà mọi cán bộ y tế (từ hộ lý đến bộ trưởng,..) phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và tiến bộ của ngành y tế.
Xem thêm

7 Đọc thêm

GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ LỚP 3 CHAM SOC CAY TRONG VAT NUOI

GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ LỚP 3 CHAM SOC CAY TRONG VAT NUOI

Con trâuChăm sóc cây trồng,Đạo đứcvật nuôiKết luận:Các loại cây trồng vật nuôi mà em đã quan sát có tác dụng:* Làm đẹp cảnh quan môi trường.* Cung cấp cho con người thức ăn, lương thực thực phẩm cần thiết chosức khoẻ.Chăm sóc cây trồng,Đạo đứcvật nuôiHoạt động 2: Quan sát tranh và trả lời câu hỏiCho biết các bạn trong mỗi tranh dưới đây đang làm gì? Việc làm đó cótác dụng gì?2

14 Đọc thêm