VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH - HĐH Ở VN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Vấn đề đổi mới LLSX và QHSX trong quá trình CNH - HĐH ở VN":

VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH Ở VN

VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH Ở VN

18có thể chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% đầu tư trong nước…nhằm làm cho quan hệ sở hữu vận động theo đúng bản chất của nó.Mục tiêu phát triển thành phần kinh tế này là thúc đẩy mạnh mẽlực lượng sản xuất trên cơ sở thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệmquản lý, thị trường thế giới và khai thác tiềm năng, lợi thế về tàinguyên, sức lao động, hướng về xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội, góp phần thực hiện CNH, HĐH thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, giải quyết công ăn việc làm mới cho người lao động.4. Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuấtphù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuấttrong sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay.Chúng ta đều biết rằng, từ trước đến nay, công nghiệp hoá - hiệnđại hoá là khuynh hướng phát triển tất yếu của các nước. Đối với nước ta,từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, nhanhchóng đạt tời trình độ của một nước phát triển tất yếu phải đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hoá như là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc.Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lịch sử sản xuất vậtchất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan phổ biến: Mộtmặt con người phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiênđó, quan hệ này được biểu hiện lực lượng sản xuất mặt khác con ngườiphải quan hệ với nhau để tiến hành sản xuất, quan hệ này được biểu hiện ởquan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là 2 mặt đối lậpnhau biện chứng của một thể thống nhất không thể tách rời. Tuy nhiên nếulực lượng sản xuất là cái cấu thành của toàn bộ lịch sử nhân loại thì quanhệ sản xuất là cải tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực củahoạt động sản xuất tinh thần và những thiết chế tương ứng trong xã hội.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Tác động của CNH, HĐH đến vấn đề việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây

TÁC ĐỘNG CỦA CNH, HĐH ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÀ TÂY

I. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều thập kỉ qua, làn sóng công nghiệp hóa, hiện đại hoá diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia trên thế giới, ở cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Với nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH trong thời kỳ đổi mới được coi là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, là một tỉnh nằm kề Thủ đô với nhiều tiềm năng phát triển, Hà Tây đã huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và đã trở thành một trong những tỉnh có tốc độ CNH, HĐH cao nhất trong cả nước.
Sau hơn 10 năm đổi mới, kinh tế xã hội của Hà Tây có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được, quá trình CNH, HĐH cũng đặt ra cho tỉnh nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết. Trong đó nổi cộm lên là vấn đề việc làm, thu nhập cho lao động nông nghiệp bị mất đất trong quá trình CNH, HĐH đang ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có những chính sách can thiệp hợp lý, nếu không sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.
Vì vậy, nghiên cứu về “Tác động của CNH, HĐH đến vấn đề việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây” vừa có ý nghĩa thực tế vừa có ý nghĩa lâu dài cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tây nói riêng và của nước ta nói chung.
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá một số lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Phân tích, đánh giá thực trạng CNH, HĐH và tác động của quá trình CNH, HĐH đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
Trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực của CNH, HĐH đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là những lao động nông nghiệp chịu sự tác động của quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây. Đồng thời nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Tây: Địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, dân số, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng,…từ đó đưa ra những giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến người lao động.
Chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi các đối tượng ở tỉnh Hà Tây khoảng 10 năm trở lại đây và nghiên cứu trong thời gian tới.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu của toàn chuyên đề.
Phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế và các phương pháp tổng hợp, phương pháp logic,… được sử dụng để phân tích, xử lý các số liệu về việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp Hà Tây và các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
V. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về CNH, HĐH và tác động của nó đối với việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Chương 2: Thực trạng lao động việc làm và đời sống của lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chính để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
Xem thêm

76 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế: Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH

1. Tính cấp thiết của đề tàiĐối với nước ta, kinh tế nông thôn có vị trí rất quan trọng trong nền KTQD; đó là khu vực kinh tế chiếm hơn 73% dân số, hơn 55,7% lực lượng lao động xã hội, đóng góp 20,36% GDP( ) của đất nước.Trong quá trình thực hiện CNH HĐH, kinh tế nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của KTNT, đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và vẫn duy trì được tốc độ phát triển bình quân 4 4,5%năm. Từ một nước thiếu ăn, nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo cho nước ta vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm ngư nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức bình quân 16,8%năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được tăng cường đáng kể đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn các vùng quê. Đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nâng lên cả tinh thần và vật chất. Công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được thế giới đánh giá cao…Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông thôn nước ta đang bộc lộ những mặt yếu kém, nổi bật như: Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn hạn chế, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải phóng nguồn lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn tuy có được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn và ngày càng cách xa đang là những vấn đề bức xúc lớn trong xã hội…Những mâu thuẫn, yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội và chính trị trong tương lai.Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? KTNT nước ta sẽ vận động, phát triển ra sao trong quá trình CNH HĐH với bối cảnh hội nhập? giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém; đảm bảo cho KTNT nước ta phát triển bền vững, đáp ứng các mục tiêu CNH HĐH đến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp). Đó đang là những vấn đề rất cần được lý giải hệ thống cả về lý luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH” là luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần vào giải quyết những vấn đề trên.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiCho đến nay, trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đã công bố kết quả ở các cấp độ khác nhau như: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá định hướng XHCN ở Việt Nam của Tiến sỹ Phạm Văn Huỳnh. Con đường CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tập hợp bài viết của nhiều tác giả do Ban tư tưởng văn hoá Trung ương phát hành. Đề tài phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại của nhóm tác giả GS.TS Vũ Trọng Khải, TS Đỗ Thúc Đồng và TS. Phạm Bích Hợp. CNH từ nông nghiệp của TS. Đặng Kim Sơn. Nông nghiệp Nông dân nông thôn là vật cản hay động lực cho tăng tốc CNH của TS. Đặng Kim Sơn Về Nông dân và chính sách với nông dân thời kỳ CNH HĐH của Nguyễn Văn Tâm. Đổi mới quản lý ở cấp huyện xã đối với nông nghiệp nông thôn của TS. Chu Tiến Quang. Đầu tư vào Nông nghiệp, nông thôn thực trạng và định hướng của TS. Chu Tiến Quang.Các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đều đề cập đến và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn nhưng thường là những vấn đề lý luận chung hoặc những khía cạnh hẹp về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, quan điểm về nông nghiệp định hướng XHCN hoặc yếu tố văn hoá trong phát triển nông thôn, đổi mới hình thức quản lý trong nông nghiệp … chưa có công trình nào lý giải được hệ thống và toàn diện các vấn đề nêu ở trên.Vì vậy, Đề tài này tác giả muốn kế thừa các thành quả nghiên cứu của các tác giả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm từ các quốc gia đã tiến hành CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn để lý giải rõ hơn các mâu thuẫn ở nước ta và kiến nghị một số giải pháp hữu ích cho giải quyết các mâu thuẫn đó. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của KTNT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HĐH (2000) đến nay. Đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình phát triển KTNT đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.4. Mục đích nghiên cứu.Trên cơ sở phân tích thực trạng KTNT dưới tác động của quá trình CNH HĐH để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực của tác động này trong điều kiện nước ta. Đồng thời phân tích nguyên nhân của những mâu thuẫn phát sinh, rút ra tính phổ biến của sự vận động của KTNT trong quá trình CNH HĐH, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các chính sách, giải pháp để khắc phục.Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính đột phá để thúc đẩy tiến trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo cho KTNT phát triển mạnh hơn và bền vững, đạt được các mục tiêu của CNH HĐH mà Đảng đã đề ra.5. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện từ Đại hội Đảng lần thứ IV đến Đại hội Đảng lần thứ X. Đề tài cũng sử dụng một số luận điểm của một số tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí, báo và công trình khoa học đã công bố.Số liệu sử dụng trong Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu đã công bố của Tổng cục Thống kê, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành có liên quan, báo cáo của các địa phương trong quá trình thực hiện CNH HĐH.Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Khảo sát thực tiễn ở một số địa phương; tổng hợp phân tích thống kê; hội thảo phục vụ cho việc luận giải, chứng minh cho các nội dung mà tác giả đã nêu trong Đề tài.6. Những đóng góp mới về khoa học. Hệ thống hoá các tác động tích cực và hệ quả tiêu cực có tính phổ biến của quá trình CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hệ quả tiêu cực trên. Qua đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu để hạn chế tác động tiêu cực, thúc đẩy quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tăng tốc hơn nhưng vẫn đảm bảo cho kinh tế nông thôn phát triển bền vững, đáp ứng được các mục tiêu của CNH HĐH trong bối cảnh hội nhập.7. Kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau Mở đầu Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH. Chương 2. Thực trạng kinh tế nông thôn nước ta dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 2001 2007. Chương 3. Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông thôn trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo.
Xem thêm

119 Đọc thêm

Tuyển tập 150 tiểu luận triết học p1 (Đề 01 đến 10)

TUYỂN TẬP 150 TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC P1 (ĐỀ 01 ĐẾN 10)

DANH SÁCH TIỂU LUẬNĐỀ 01. Bản sắc dân tộc trong nền KT mởĐỀ 02. Đấu tranh giai cấpĐỀ 03. Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCNĐỀ 04. LLSX và các quan hệ SXĐỀ 05. Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH HĐH đất nướcĐỀ 06. Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngườiĐỀ 07. Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nayĐỀ 08. Lý luận thực tiễn và sự vận dụng của chủ nghĩa Mác về con người vào quá trình đổi mới ở VNĐỀ 09. Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VNĐỀ 10. Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN ĐỀ 01. Tiểu luận về bản sắc dân tộc trong nền kinh tế mởMỤC LỤCA. Đặt vấn đề B . Giải quyết vấn đề Chương I. Quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Bản sắc văn hoá dân tộc là gì ? II . Bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc . Chương III : Bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước.I . Vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường II . Phát huy nội lực văn hóa trong quá trình phát triển . III . Toàn cầu hoá và bản sắc văn hoá dân tộc . Chương IV : Một số giải pháp nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển .I . Một số giải pháp trước mắt để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Biện pháp khắc phục những mặt tiêu cực trong đời sống văn hoá xã hội của đất nước.C. Kết thúc vấn đề A. Đặt vấn đề Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới .......................
Xem thêm

213 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG lối CM của ĐẢNG CSVN1

ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI CM CỦA ĐẢNG CSVN1

Câu 1: Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX có nhân tố nào tác động trực tiếp đến sự ra đời của ĐCSVN
Câu 2: Trình bày khái quát quá trình Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lenin vào VN
Câu 3: Trình bày những nội dung cơ bản về tư tưởng về cm giải phóng dtoc của NAQ?
Câu 4 : Luận cương chính trị của Đảng (101930) và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của đảng có những mặt thống nhất và khác nhau ntn?
Câu 5: Trình bày ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của CM tháng 81945?
Câu 6 : làm rõ “vận mệnh nước ta như ngàn cân treo sợi tóc” sau CM t8 1945? Chủ trương và phương hướng chỉ đạo của chủ tịc HCM và Đảng ta ?
Câu 7 : Trình bày chủ trương kháng chiến – kiến quốc của Đảng (25111945)?
Câu 8 : trình bày nội dung của bản chính cương của đảng lao động VN thông qua tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II ( 21951) của Đảng ?
Câu 9: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (91960)đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng VN trong giai đoạn mới như thế nào?
Câu 10 : trình bày ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước?
Câu 11 : Vì sao Đ nêu chủ trương nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian CNH so với các nước đi trước ? Để CNH theo con đg rút ngắn, chúng ta cần phải làm gì?
Câu 12: Phân tích quan điểm sau: CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế? Liên hệ thực tiễn hiện nay
Câu 13: Theo anh chị để phát triển nguồn lực con người cho CNH,HĐH cần chú trọng vấn đề gì? Nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH cần đáp ứng những yêu cầu gì?Liên hệ thực tiễn nước ta trong việc phát huy nguồn lực này ?
Câu 14: Anh chị hãy phân tích những thách thức trong vấn đề phát triển NN , nông dân , nông thôn ở nước ta hiện nay ? Các vấn đề NN, nông dân, nông thôn cần phải giải quyết để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH? Liên hệ vs thực tiễn nước ta?
Câu 15: Vì sao Đ ta xác định kte tri thức đc coi là yếu tố quan của nền kte và của CNH, HĐH đất nước? Liên hệ vs thực tiễn nước ta hiện nay
Câu 16: Anh chị hãy trình bày cơ chế quản lý kte thời kỳ trước đổi ms ở nc ta? Theo anh chị cơ chế quản lý hiện nay đã khắc phục đc những khuyết tật của cơ chế cũ hay chưa? Vì sao? Liên hệ vs thực tiễn nc ta?
Câu 17: Anh chị hãy trình bày những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền XHCN VN ? liên hệ vs thực tiễn nc ta hiện nay?
Câu 18: Anh ta chị hãy phân tích quan điểm chỉ đạo của Đ về xd, nền phát triển văn hóa : “Giáo dục đào tạo cùng vs khoa học công nghệ đc coi là quốc sách hàng đầu”. Liên hệ vs thực tiễn trong việc thực hiện quan điểm này.
Câu 19: Anh chị hãy trình bày những chủ trương của Đ ta về giải quyết các vấn đề xã hội. Liên hệ vs thực tiễn nc ta trong việc thực hiện những chủ trương này
Câu 20: Anh chị hãy trình bày những tư tưởng chỉ đạo của Đ ta trong đg lối đối ngoại, hội nhập quốc tế? Liên hệ vs thực tiễn trong việc thực hiện những tư tưởng này.
Xem thêm

17 Đọc thêm

BÀI GIẢNG CHI TIẾT KINH TẾ CHÍNH TRỊ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

BÀI GIẢNG CHI TIẾT KINH TẾ CHÍNH TRỊ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Mục đích, yêu cầu: Giới thiệu cho người học nắm được những vấn đề cơ bản về CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nắm chắc mục tiêu, quan điểm, nội dung, tiền đề điều kiện tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

17 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÁI THỤY, TỈN

TIỂU LUẬN CAO HỌC PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÁI THỤY, TỈN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn:
Về lý luận, hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế vừa có ý nghĩa kinh tế vừa mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Có thể nói, ý tưởng HTX là một ý tưởng hợp tác kinh tế vĩ đại của các bậc tiền bối. Ý tưởng này đã hình thành một cách tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong hoạt động kinh tế. Những lý luận về kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã đã được Mác, Ăngghen, LêNin nghiên cứu và đi vào hoạt động thực tiễn của nước Nga. Dựa trên cơ sở lý luận đó cùng với việc hiểu được vị trí, vai trò, ý nghĩa của “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế”. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, HTX cũng được đổi mới cả về nội dung, hình thức hoạt động, biểu hiện cụ thể ở việc ban hành Luật HTX (năm 1996). Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động theo mô hình HTX kiểu mới của các HTX nông nghiệp vấp phải rất nhiều khó khăn làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi HTX theo Luật HTX (1996), Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (32002) đã ra Nghị quyết về: Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, trong đó nhấn mạnh Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho HTX nông nghiệp phát triển. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI (ngày 26112003) đã thông qua Luật HTX mới (Luật HTX năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 172004).
Về thực tiễn, sau 7 năm hoạt động theo tinh thần của Luật HTX mới 2003, các HTX đã có những bước phát triển nhưng chưa đều, chưa thực sự đi sâu, đi sát vào đời sống của người lao động nhất là các hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) ở các địa phương. Điều đó cho thấy, để phát triển HTX, trong đó có HTXNN, cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới chính sách.
Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình – được biết đến là một huyện thuần nông và phát triển kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế xã hội của huyện. Để phát triển nông nghiệp thì một yếu tố giữ vai trò quan trọng đó chính là hoạt động của các HTXNN. Từ khi triển khai thực hiện Luật HTX năm 1996 và năm 2003 đến nay, HTX nông nghiệp ở huyện Thái Thụy có bước phát triển mới, đã đáp ứng được một phần nhu cầu của nông dân, của hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tếxã hội của địa bàn. Tuy nhiên, HTX nông nghiệp ở huyện Thái Thụy cũng còn tồn tại một số yếu kém như: Hầu hết các HTXNN kiểu mới đều thiếu vốn, trong lúc các thủ tục để vay vốn còn nhiều bất cập; cơ sở vật chất, kỹ thuật của các HTXNN vừa thiếu, vừa lạc hậu nên gây nhiều khó khăn trong việc mở rộng hoạt động SXKD; thiếu cán bộ có năng lực quản lý, có tâm huyết và khả năng điều hành các hoạt động; phương hướng kinh doanh không ổn định. Vì vậy, hiệu quả kinh tế của HTX còn thấp, thu nhập của người lao động trong các HTX còn thấp, sức hấp dẫn của các HTXNN chưa cao, HTX nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò kinh tếxã hội vốn có của nó…
Như vậy, sự tồn tại của các HTX nông nghiệp kiểu mới là cần thiết nhất là trong quá trình huyện đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn. Nhưng không phải là sự tồn tại một cách hình thức mà phải thực sự hoạt động có hiệu quả thì người nông dân mới thấy hết được ý nghĩa, vai trò của nó. Vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra đối với huyện Thái Thuy, tỉnh Thái Bình là phải đánh giá đúng tình hình và kết quả hoạt động của các HTX, rút ra những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế của các HTX nông nghiệp kiểu mới.
Đề tài “Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”, để nhìn lại quá trình hoạt động của HTX DVNN trong những năm qua, rút ra những hạn chế, những bài học thành công. Từ đó, đề ra các giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu, các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của một HTX DVNN. Hướng tới mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm sắp tới của huyện
Xem thêm

20 Đọc thêm

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN TRÃI TỈNH THÁI BÌNH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN TRÃI TỈNH THÁI BÌNH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

Quản lý hoạt động dạy học trường Trunghọc phổ thông Nguyễn Trãi tỉnh Thái Bình,đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay :Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 05 / PhạmXuân Lan ; Nghd. : PGS.TS. Trần QuốcThànhMỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiThế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới đã chuyển từ nền kinh tế hậu công nghiệp sangnền kinh tế tri thức hay còn gọi là nền kinh tế thông tin, kinh tế mạng đã ra đời. Sựphát triển khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhanh chóng nền kinh tế thế giới,yếu tố mang tính quyết định thay đổi đó chính là nguồn nhân lực chất lượng cao,nguồn lực con người, một sản phẩm của xã hội nói chung và của giáo dục nói riêng.Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH đòihỏi nguồn nhân lực chất lượng cao là một nhu cầu cấp bách. Xác định rõ vị trí vàtầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của đất nước, trong vănkiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Cùng với khoa học vàcông nghệ, Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”. Thực hiệnđược sứ mệnh to lớn mà Đảng và nhân dân trao phó cho GD-ĐT, chính là tráchnhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quan trọng. Để cóđược một nền giáo dục hiện đại hội nhập phải đổi mới toàn diện từ mục tiêu đến nộidung, chương trình, phương pháp, phương tiện, đặc biệt là đổi mới quản lý trong đóvai trò người Hiệu trưởng hết sức quan trọng, quyết định sự thành bại của một nhàtrường, một cơ sở giáo dục.1Có nhiều nội dung quản lý trường THPT nhưng cốt lõi vẫn là quản lý dạy học. Dạyhọc là hoạt động trung tâm của nhà trường. Quản lý có hiệu quả hoạt động dạy học sẽ
Xem thêm

25 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ (2001 2010)

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ (2001 2010)

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Theo thống kê hiện nay, nước ta có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, còn 53 DTTS chiếm 13,8% dân số. Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ khi ra đời và quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định vấn đề dân tộc có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, Đảng đã đề ra nguyên tắc quan hệ giữa các dân tộc là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đặc biệt gần đây nhất, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (62011) Đảng tiếp tục khẳng định: “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển” 24, tr.70.
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, công tác dân tộc và thực hiện CSDT đã thu được những thành tựu quan trọng. Sau hơn 25 năm đổi mới, KT XH ở vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, đã có những bước phát triển khá nhanh và toàn diện. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào ổn định chính trị xã hội của đất nước, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc miền Trung, có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển KT XH và quốc phòng, an ninh của khu vực cũng như cả nước. Toàn tỉnh có khoảng 20 DTTS, cư trú chủ yếu ở vùng rừng núi cao phía Tây, xa xôi, hẻo lánh. Từ xa xưa, các dân tộc sinh sống trên địa bàn Nghệ An luôn đoàn kết, gắn bó, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH, cùng với chủ trương tập trung phát triển KT XH, Đảng bộ tỉnh Nghệ An chú trọng lãnh đạo thực hiện CSDT, nhất là từ khi có Nghị quyết số 22NQTƯ, ngày 27 tháng 11 năm 1989 của Bộ Chính trị, các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết lần thứ bảy BCHTƯ Đảng khóa IX về công tác dân tộc. Theo đó, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương, quan tâm lãnh đạo phát triển KT XH ở vùng DTTS, thiết thực đóng góp vào sự nghiệp phát triển KT XH, đẩy mạnh CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh nhà.
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CSDT của tỉnh cũng còn nhiều hạn chế, nhất là về phát triển KT XH trên địa bàn cư trú của các DTTS. Đời sống của một bộ phận nhân dân trong vùng đồng bào dân tộc, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp, đời sống vật chất, tinh thần chưa được nâng lên đáng kể so với yêu cầu, sự lãnh đạo của các cấp, các ngành còn hạn chế, đầu tư cho xây dựng thiếu đồng bộ và vững chắc.
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng là việc làm cần thiết để góp phần khẳng định giá trị khoa học và thực tiễn công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta và đánh giá đúng đắn sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong việc thực hiện các CSDT của Đảng, rút ra những kinh nghiệm làm căn cứ phát triển cho những năm tiếp theo.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010”, làm luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

111 Đọc thêm

Vấn đề vốn và chính sách huy động vốn cho công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn

VẤN ĐỀ VỐN VÀ CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

Nông nghiệp, nông thôn từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam. Để đẩy nhanh sự phát triển trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương tiến hành Công nghiệp hoá nông nghiệp ,nông thôn. Đây là một bước đi dúng đắn nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp ,nông thôn thúc đẩy quá trình CNH HĐH đất nước.

Để có thể thành công trong quá trình này thì sự tích tụ và tập trung là yêu cầu bắt buộc. Vốn được xem như yếu tố đầu vào quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của mọi quá trình phát triển kinh tế. Để đảm bảo đủ nguồn vốn cho quá trình CNH nông nghiệp nông thôn ở nước ta trong giai đoan tới đoì hỏi phải có một chính sách huy động vốn đúng đắn. Trước yêu cầu đó nghiên cứu về vốn và chính sách huy động vốn là điều rất cần thiết. Trong bài viết nhỏ này em chỉ xin đề cập một cách khái quát về vấn đề vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, thực tai vấn đè vốn ,tín dụng và đầu tư ở Việt Nam và từ đó đề ra các chính sách, giải phát nhằm huy động tối đa các nguồn vốn cho quá trình CNH nông nghiệp ,nông thôn ở nước ta.

Vấn đề vốn nói riêng vốn cho nông nghiệp, nông thôn nói chung là một vấn đề kinh tế rộng ,chính vì vậy mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng đề án này chắc không thể đề cập được đầy đủ mọi khía cạnh của vấn đề . Em rất mong được thầy giáo và các bạn đọc và cho em những ý kiến để em có thể hoàn thiện hơn đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn Thầy Đào Hùng đã nhiệt tình hướng dẫn, và những góp ý quý báu của thầy giúp em hoàn thành đề án này.

Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

47 Đọc thêm

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 2

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 2

1. Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡ của công nghệ thông tin(CNTT). CNTT đã ở một bước phát triển cao đó là số hóa tất cả mọi dữ liệu thông tin, luân chuyển mạnh mẽ và kết nối tất cả chúng ta lại với nhau.
Cùng với sự phát triển của thời kì CNH HĐH đất nước. CNTT cũng có bước tiến mạnh mẽ. Không có lĩnh vực nào, không có nơi nào là không có mặt của CNTT.CNTT là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước.
Trong lĩnh vực giáo dục, cũng có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc. Đó chính là việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học(PPDH). Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học dự án, dạy học phát triển và giải quyết vấn đề càng có điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như: dạy học theo lớp, dạy học theo nhóm, cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT.
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo cuả Đảng và Nhà nước, nhất là chỉ thị 58CTUW của Bộ Chính Phủ ngày 07102001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp CNH HĐH đã chĩ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo. Đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính Phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2011 2015 thông qua quyết định số 812011QĐ TTg.
Nghị quyết 402000QH10 và chỉ thị 142001CT TTg ngày 09122000 về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến cả hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học.
Nếu trước kia người ta áp dụng phương pháp dạy học sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành, phát triển cho HS các phương pháp học chủ động. Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của HS. Như vậy, việc chuyển từ “ lấy GV làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn.
HS Tiểu học còn nhỏ, nên quá trình nhận thức thường gắn với những hình ảnh hoạt động cụ thể. Bởi vậy, phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt là các phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý của HS. Trong tiết học có đồ dùng trực quan đẹp sẽ thu hút sự chú ý của HS đến bài giảng hơn và kết quả học tập của HS sẽ tốt hơn.
Công nghệ phần mềm có nhiều bước tiến đáng kể, trong đó các phần mềm giáo dục như: Bộ Office, Cabri, E learning, Violet, MS Powe Point đã đạt được rất nhiều thành tựu.
Môn Tự nhiên Xã hội(TNXH) là một trong số những môn học mà HS có hứng thú và đam mê nhất khi học môn này, vì đây là môn học có rất nhiều hình ảnh sống động, lôi cuốn sự chú ý của HS. Những hình ảnh về hoạt động của con người, loài vật được đưa lên màn hình với những hiệu ứng khác nhau sẽ rất có hiệu quả mà không tốn nhiều thời gian so với phương pháp truyền thống. Chỉ cần bấm chuột, sau vài giây trên màn hình sẽ hiện ra nội dung mà chúng ta cần truyền thụ cho HS. Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH ở Tiểu học là rất cần thiết.
Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của CNTT trong công tác dạy học: Nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của HS, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không phải đơn thuần chỉ là “ thầy giảng trò nghe” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm kiến thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình. Do đó, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS là tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay, việc sử dụng CNTT ở nước ta đã trở nên phổ cập và mang tính thường nhật.
Chính vì lý do trên, tôi chọn đề tài: “Ứng dụng CNTT trong dạy học môn TNXH lớp 2” để làm khóa luận tốt nghiệp.
Xem thêm

74 Đọc thêm

BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ KINH TẾ CHÍNH TRỊ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ KINH TẾ CHÍNH TRỊ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Giới thiệu cho người học nắm được những vấn đề cơ bản về CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nắm chắc mục tiêu, quan điểm, nội dung, tiền đề điều kiện tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.

41 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÀO TẠO, PHỔ CẬP CHUYÊN MÔN NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÀO TẠO, PHỔ CẬP CHUYÊN MÔN NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta, nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đã xác định rõ vai trò của phát triển nông nghiệp, từ Đại hội V (1982), nông nghiệp được Đảng ta coi là “mặt trận hàng đầu”. Thực hiện quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Đại hội VIII đã xác định CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm trong những năm trước mắt. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020 do Đại hội XI của Đảng thông qua đã khẳng: “Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học ... Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn”4, tr....
Xem thêm

46 Đọc thêm

“Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”.

“PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY”.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con người không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, có thể nói rằng việc nghiên cứu nguồn lực con người luôn diễn ra thường xuyên, trong tất cả các giai đoạn lịch sử, ở hầu khắp các quốc gia. Như vậy, ta có thể thấy nguồn lực con người luôn là một vấn đề có tính thời sự. Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử. Chính vì thế, con người là nhân tố quan trọng đưa đến sự phát triển của xã hội, của đất nước. Bên cạnh đó, con người đó như thế nào lại bị chi phối bởi chính hoàn cảnh lịch sử ấy.
Từ cuối thập kỉ XX, nảy sinh hiện tượng, một số nước Đông Nam Á có tốc độ phát triển kinh tế thần kì gây ra nhiều sự chú ý trong giới nghiên cứu và họ đã cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao những nước như Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông ... lại có sự phát triển đó”. Kết quả của những cuộc nghiên cứu cho thấy, có nhiều nhân tố tạo lên như văn hóa, truyền thống, trình độ dân số, kĩ thuật, công nghệ… song câu trả lời làm giới nghiên cứu ngạc nhiên là sự nhảy vọt về kinh tế ấy là không phải do kĩ thuật, công nghệ mà là… văn hóa truyền thống. Vì vậy, nghiên cứu nguồn lực con người hiện đại cần phải có sự liên hệ với yếu tố truyền thống, con người truyền thống, gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
Đối với nước ta, xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp, nông nghiệp là chính, tiến lên xây dựng CNXH, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài. Việc khắc phục những tàn dư của xã hội cũ, nền sản xuất cũ như thói quen, tác phong sản xuất nông nghiệp của người nông dân, tâm lí sợ sệt trong đầu tư sản xuất kinh doanh, cách thức làm việc tùy tiện không khoa học, lối sống gia trưởng còn ăn sâu vào nếp nghĩ của con người Việt Nam hiện nay, nó đang là một sự cản trở lớn đối với sự phát huy nguồn nhân lực trong sự phát triển của xã hội.
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành CNH – HĐH để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH và cùng với nó là phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện khoa học – công nghệ trên thế giới đang phát triển như vũ bão và nền kinh tế thị trường thế giới đã phát triển đến trình độ cao. Nước ta đã tham gia và là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự tham gia đó đã mở ra nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức lớn đối với chúng ta. Với những yêu cầu bức thiết đó, hơn lúc nào hết phải xem xét nguồn nhân lực Việt Nam đang bộc lộ những ưu điểm gì, hạn chế nào và cần khắc phục đầu tư như thế nào để xây dựng một chính sách phát triển bền lâu, nâng cao dần chất lượng của người lao động, phát huy được nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp CNH HĐH đất nước. Đây cũng chính là nội dung của đề tàì mà chúng tôi đã lựa chọn: “Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề vai trò của nguồn nhân lực trong thời kì xây dựng CNH – HĐH đất nước đang là một vấn đề quan trọng và được nhiều nhà khoa học dày công nghiên cứu. Nhiều công trình đã đạt những giá trị cao. Tuy nhiên nghiên cứu của các tác giả mở ra phạm vi quá rộng, do vậy vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ.
Qua tìm hiểu, thống kê, chúng tôi thấy các tác giả, các nhà nghiên cứu đi trước đã tìm hiểu về vấn đề này theo những khía cạnh sau:
Hướng thứ nhất: Tìm hiểu vấn đề nguồn nhân lực ở những trường hợp tiêu biểu có giá trị, trên một khía cạnh nào đó của nguồn nhân lực như bàn về chất lượng nguồn nhân lực thông qua các bài viết như “Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực thông qua chương trình du học tại chỗ bằng kinh phí nhà nước”, của Phan Thủy Chi trong Nghiên cứu giáo dục số 82001. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hướng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua chương trình du học tại chỗ bằng nguồn hỗ trợ của nước ngoài bằng hai hình thức. Một là, các dự án đào tạo theo chương trình chuẩn quốc tế được thực hiện ngay ở trong nước. Hai là, các suất học bổng, gửi người ra nước ngoài học tập. Tất cả, đều nhằm mục đích chung là có được đội ngũ tri thức được đào tạo bài bản theo tiêu chuẩn quốc tế, trở thành hạt nhân cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước.
Xem thêm

50 Đọc thêm

VẤN ĐỀ CNH HĐD Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẤN ĐỀ CNH HĐD Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ Đại hội Đảng VIII đến nay, Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ. Nhiệm vụ CNH HĐH đã được thực hiện ở nước ta trong những năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng tạo thế và lực cho thời kỳ phát triển tiếp theo. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta không tránh khỏi những sai lầm. Để giải quyết những nhiệm vụ mới đặt ra cùng khắc phục những thiếu xót khiếm khuyết, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu về kinh tế đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc độc lập chủ quyền quốc gia thì không có con đường nào khác con đường đẩy mạnh CNH HĐH đất nước.
Xem thêm

27 Đọc thêm

 TƯ TƯỞNGHỒ CHÍ MINH

TƯ TƯỞNGHỒ CHÍ MINH

phát triển KT-VH, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cầnkiệm liêm chính chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạchvững mạnh, cán bộ, Đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Tư tưởngHồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là sản phẩm tinh thần to lớn của dân tộcta.Nói cách khác, khái niệm tư tưởng HCM bao gồm nguồn gốc, những nội dung chủ yếu và thực tiễn vận dụng tư tưởngHồ Chí Minh vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta2. Điều kiện lịch sử, xã hội, gia đình :Tư tưởng HCM là sản phẩm tất yếu của cách mạng VN, ra đời do yêu cầu khách quan, đáp ứng những nhu cầubức thiết do cách mạng VN đặt ra từ đầu TK XX cho đến nay.Từ năm 1858, đến đầu thế kỷ XX, nước ta đang bị đế quốc Pháp xâm lược. Các phong trào vũ trang kháng chiến,chống Pháp liên tục nổi lên, dâng cao và lan rộng trong cả nước nhưng do chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng,bất cập trước lịch sử, dựa trên ý thức hệ phong kiến hoặc xu hướng dân chủ tư sản nên không tránh khỏi thất bại vàbị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta. Tình hình đó cho thấy sự bế tắt vềđường lối cứu nước và phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi phải đi theo con đường cáchmạng mớiNghệ Tĩnh – quê hương của Hồ Chí Minh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, đã nuôidưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Những tội ác của bọn thực dân và thái độ ương hèn, bạcnhược của bọn quan lại Nam triều đã thôi thúc Người ra đi tìm một con đường cách mạng mới để cứu dân, cứu nước.Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gủi với nhân dân. Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thânphụ của Người là một nhà Nho giàu lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, lao động cần cù, có ý chí kiên cường vượt quagian khổ, khó khăn để đạt được mục tiêu, chí hướng. Chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị - xãhội của cụ Phó bảng Sắc đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành tư tưởng chính trị và nhân cách của HCM.Khi còn trong nước, HCM tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử của đấtnước mình, người đã thấy rõ con đường của các bậc cha anh không đem lại kết quả, phải đi tìm một con đường mới.Trong khoảng 10 năm, HCM đã vượt 3 đại dương, 4 Châu lục, đặt chân lên khoảng gần 30 nước. Nhờ đó, Người đãhiểu được bản chất chung của CNĐQ và hoàn cảnh chung của các nước thuộc địa trên thế giới. Tiếp xúc với tác phẩmSơ khảo lần thứ I những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của LêNin và các văn kiện ĐH III của Quốc tếCộng sản đánh dấu sự chuyến biến lớn trong nhận thức của HCM, nó khẳng định về mặt lý luận việc thực hiện mốiquan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, cái mà đang rất cần đối
Xem thêm

35 Đọc thêm

Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

1. Sự cần thiết của đề tài

Ngay từ khi mới dành được độc lập, Bác Hồ đã đã coi giải phóng phụ nữ là giải phóng được một phần hai sức lao động trong toàn xã hội. Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập, Người đã đề cập đến quyền bình đẳng nam, nữ, trong đó có quyền bình đẳng về lao động. Kể từ đó phụ nữ được tham gia lao động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay lực lượng lao động nữ trong giới trí thức chiếm tới 48%, trong lao động công nghiệp chiếm tới 53%, và trong lao động nông nghiệp là 60%. Lao động nữ giữ một vị trí cao hơn cả nam giới trong rất nhiều ngành nghề. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới vai trò của phụ nữ càng được phát huy trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm lao động nữ là ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ. Bởi thế họ có những đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định. Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản, chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo vệ quyền lợi và quyền bình đẳng cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng.
Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình này, lực lượng lao động nữ không những lớn mạnh cả về số lượng mà cả về chất lượng. Sự chú ý đối với họ ngày càng gia tăng từ các quan điểm nghiên cứu chính sách, nghiên cứu về giới. Lực lượng lao động Nữ đa số còn trẻ, có sức khỏe, chăm chỉ, cần cù, khéo léo… trong công việc cũng như trong đời sống gia đình, đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển của đất nước. Mặt khác, trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay, lao động Nữ đang có nhiều điều kiện được học tập, tiếp xúc với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, làm nâng cao năng suất lao động, giúp giải phóng bớt được sức lao động cho phụ nữ. Nhờ đó, lao động nữ càng có điều kiện thuận lợi hơn để chăm sóc bản thân và gia đình, góp phần vào sự bình ổn của xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của phụ nữ nói chung và nguồn lao động nữ nói riêng. Một bộ phận phụ nữ còn không được học hành cơ bản, thiếu việc làm, thiếu kỹ năng chuyên môn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức khoa học để làm việc và sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó là tình trạng gia tăng các tệ nạn xã hội như bạo hành phụ nữ, buôn bán phụ nữ, mại dâm, nghiện hút,...và sự bất bình đẳng giữa nam, nữ trong một bộ phận xã hội còn biểu hiện tương đối nặng nề. Từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả lao động của lao động nữ. Đồng thời các văn bản, chính sách đối với lao động nữ trước đây đã bộc lộ những hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình đất nước trong thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các chính sách đó chủ yếu mới chỉ nhìn nhận từ góc độ bình đẳng giới, chưa bao quát cả ở góc độ phát triển kinh tế xã hội, và có những điểm không còn phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Do vậy, Nhà nước cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho lao động Nữ, khai thác và sử dụng nguồn lao động nữ có hiệu quả, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ kinh tế, nhằm góp phần làm sáng rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng những kết quả đạt được và hạn chế, yếu kém thông qua việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ để nghiên cứu. Đồng thời mạnh dạn đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ Việt Nam nói chung và lực lượng lao động nữ nói riêng. Ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã đề cập đến bình đẳng giới, và nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ. Có một số đề tài nghiên cứu về chính sách lao động nữ nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề “Hoàn thiện chính sách đối với nguồn lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, để đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chích sách đối với lao động Nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
Phân tích, làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Đánh giá đúng thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ thông qua việc đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém,bất cập trong quá trình thực hiện chính sách
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lao động Nữ đã được triển khai từ trước tới nay và các đối tượng tham gia lao động trong phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam.
Nghiên cứu hệ thống chính sách đối với lao động nữ với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách đối với lao động nữ của Việt Nam. Phạm vi về mặt thời gian chủ yếu là từ giai đoạn sau đổi mới kinh tế, đặc biệt là từ khi có Bộ Luật lao động năm 1995 đến nay, trong đó tập trung đánh giá là từ năm 2000 đến nay. Phần kiến nghị, phương hướng giải pháp cho đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh.. để làm rõ nội dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài là: nghiên cứu và phân tích tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài, nghiên cứu thực tế, phỏng vấn, điều tra xã hội học và phân tích thống kê. Kết hợp với phương pháp tiếp cận liên ngành đối với nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới, lao động và việc làm ở nước ta hiện nay.
6, Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Góp phần khái quát hoá và làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động nữ và chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Phân tích, đánh giá được thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và làm rõ những hạn chế, bất cập của các chính sách cũng như nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất quan điểm và các giải pháp khắc phục được những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai thực hiện, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Tên đề tài :
Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau :
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời gian tới.
Xem thêm

107 Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNHĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPTSỐ 2 HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀOCAI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC, QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPTSỐ 2 HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI

1. Lý do chọn đề tài .Giáo dục có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Lịch sử đã cho thấy, mỗi quốc gia muốn phát triển và hưng thịnh đều phải coi trọng công tác giáo dục. Ở nước ta, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu – nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, trước những cơ hội và thách thức, căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu mới của Giáo dục đào tạo, Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH, là điều kiện phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ( ĐMPPDH) đang là trọng tâm chú ý của các cấp quản lý, là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục – đào tạo của nước ta vì vậy: “Đổi mới dạy học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học là tư tưởng chiến lược đào tạo con người của giáo dục Việt Nam”Văn kiện Đại hội X, chỉ rõ: Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất (CSVC) cho nhà trường….Nghị quyết TW 2 khoá VIII cũng nhấn mạnh tới việc ĐMPPDH và chỉ ra những định hướng: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…., từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện thời gian tự học tự nghiên cứu của học sinh”. Tinh thần cơ bản của ĐMPPDH theo quan điểm của Đảng ta là: phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng môn học, đối tượng học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm tin và hứng thú học tập cho học sinh.Vấn đề ĐMPPDH không phải là mới đối với nhà trường phổ thông. Nó đã được đề cập, phát động dưới nhiều cách thức khác nhau trong các nhà trường từ thập kỷ 70 (thế kỷ XX). Đội ngũ giáo viên phổ thông ít nhiều cũng đã được các nhà trường sư phạm trang bị vốn liếng về các PPDH tích cực. Vậy thì tại sao vấn đề đó bây giờ chuyển động vẫn rất chậm chạp, vẫn được đánh giá là yếu kém. Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan. Song nguyên nhân quan trọng nhất là: công tác quản lý, từ cấp quản lý hệ thống tới quản lý ở các cơ sở trường học còn nhiều bất cập. Phần đông các chủ thể quản lý (nhất là Hiệu trưởng nhà trường) chưa thực sự vào cuộc, thậm chí chưa được quan tâm trong công tác chỉ đạo, quản lý. Bởi vậy, muốn quá trình ĐMPPDH ở nhà trường phổ thông có hiệu quả, cần đổi mới công tác quản lý, nhằm giải quyết những bất cập, những trở ngại cho quá trình này. Trường THPT số 2 huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai đóng trên địa bàn kinh tế xã hội có nhiều khó khăn. Nhân dân trong vùng trường đóng còn nghèo, trình độ dân trí chưa cao, cơ sở vật chất của trường tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn không ít khó khăn, thiếu thốn. Đội ngũ giáo viên đa số mới ra trường, trình độ chuyên môn không đồng đều, một số ít nhận thức về vai trò của giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục còn hạn chế. Do vậy, muốn thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” mà toàn ngành Giáo dục đang triển khai và thực hiện thì nhà trường phải chú trọng đến việc “Dạy thực chất, học thực chất và thi thực chất”, đây là công việc khó khăn đòi hỏi nhà trường phải đưa lên hàng đầu trong chiến lược giáo dục của mình, trong đó công tác quản lý cần có những biện pháp chỉ đạo đúng hướng, kịp thời để góp phần nâng cao chất lượng quá trình ĐMPPDH – một yếu tố quan trọng đang được lưu tâm hơn bao giờ hết quyết định đến chất lượng, hiệu quả, thương hiệu của nhà trường.Xuất phát từ những lý do đã nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số biện pháp tổ chức, quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPTsố 2 huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai.
Xem thêm

37 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGUỒN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGUỒN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).CNH, HĐH là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới, khi các nước đó muốn tiến tới một xã hội hiện đại. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta. CNH, HĐH không chỉ đơn thuần là công cuộc xây dựng kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta đã xác định phải: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Xem thêm

211 Đọc thêm

Luận văn: Kinh tế các xã ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa từ năm 1996 đến năm 2012

LUẬN VĂN: KINH TẾ CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2012

Luận văn tốt nghiệp: Kinh tế các xã ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa từ năm 1996 đến năm 2012Hòa vào không khí của công cuộc CNH HĐH trên khắp mọi miền tổ quốc, nhân dân các huyện lị đã tiếp thu phương hướng, nhiệm vụ mục tiêu của Đảng và nhà nước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của địa phương. Trong hoàn cảnh chung của đất nước, nhân dân các xã ven biển huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa) đã phát huy những thành quả sau 10 năm đổi mới , và từng bước khắc phục khó khăn, đưa nền kinh tế tiến bước vào thời kì CNH HĐH và đạt nhiều thành tựu. Nghiên cứu tình hình kinh tế các xã ven biển trong thời gian từ năm 1996 đến năm 2012 được nhà nước chú trọng. Đây là hướng nghiên cứu có giá trị khoa học. Quảng Xương là một huyện đồng bằng ven biển, cả huyện có 9 xã ven biển. Sau 10 năm đổi mới, chính quyền và nhân dân huyện Quảng Xương bắt đầu bước vào thời kì CNH HĐH. Trong suốt thời kì thực hiện công cuộc CNH HĐH (1996 2012) nhân dân các xã này đã từng bước phát huy thế mạnh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đa dạng các loại hình kinh tế, bám đồng, bám biển, từng bước tạo ra những thành tựu to lớn trong đời sống vật chất cũng như tinh thần.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công cuộc CNH HĐH, các xã ven biển vẫn còn những hạn chế, vướng mắc như: kinh tế chậm phát triển, và chuyển biến chậm so với các xã khác trong huyện. Bên cạnh đó thì đời sống cư dân các xã này vẫn gặp nhiều khó khăn, thử thách trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nghiên cứu về kinh tế của các xã ven biển trên địa bàn huyện Quảng Xương từ năm 1996 đến năm 2012 nhằm góp phần vào việc nghiên cứu những chuyển biến trong đời sống kinh tế của cư dân vùng biển Thanh Hóa nói chung, và cư dân vùng ven biển huyện Quảng Xương nói riêng. Nghiên cứu vấn đề này có giá trị lớn về mặt khoa học. Từ việc nghiên cứu kinh tế các xã ven biển huyện Quảng Xương từ năm 1996 đến năm 2012, nhằm góp phần khẳng định bước đi đúng
Xem thêm

121 Đọc thêm