PHÂN TÍCH CÂU NÓI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH “MUỐN CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC KHÔNG CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHÁC,CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN’’ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở VN.DOCX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Phân tích câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác,con đường cách mạng vô sản’’ Ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở VN.docx":

MUỐN CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC KHÔNG CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHÁC NGOÀI CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN

MUỐN CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC KHÔNG CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHÁC NGOÀI CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN

CƠ SỞ KHOA HỌC . NỘI DUNG GIÁ TRỊ LUẬN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH “ MUỐN CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC KHÔNG CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHÁC NGOÀI CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN

Đọc thêm

Đề cương ôn tập Câu hỏi ôn tập môn tư tưởng hồ chí minh có trả lời

Đề cương ôn tập Câu hỏi ôn tập môn tư tưởng hồ chí minh có trả lời

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (Câu hỏi và trả lời)Câu 1: Phân tích nguồn gốc tư tưởng, lý luận đối vóỉ việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh2Câu 2: Phân tích quá trình hình thành và phát trỉễn tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1921 đến 19306Câu 3: Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân tộc vi sự vận dụng của Đẳng ta hiện nay9Câu 4: Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc15Câu 5: Phân tích và chứng minh quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Ý nghĩa quan điểm trên đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.20Câu 6: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.25Câu 7: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về quy luật ra đời và bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam.29Câu 8: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng Cộng sản Việt Nam.34Câu 9: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và sự vận dụng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.38Câu 10: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân và sự vận dụng của Đảng ta vào xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.43Câu 11: Phân tích quan điểm HCM về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh và sự vận dụng của Đảng vào xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN VN hiện nay.48Câu 12: Phân tích quan điểm HCM về nguyên tắc và phương pháp đại đoàn kết dân tộc.51Câu 13: Phân tích các chuẩn mực đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh56Câu 14: Phân tích các nguyên tắc xây dựng đạo đức mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Liên hệ với bản thân.60Câu 15: phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực chính của văn hóa và sự vận dụng của Đảng ta vào xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hiện nay64 Câu 1: Phân tích nguồn gốc tư tưởng, lý luận đối vóỉ việc hình thành tư tưởng Hồ Chí MinhTrả lời:Cho đến nay, đã có khoảng 70 định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ XI của Đảng đưa ra đinh nghĩa như sau: “Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vện dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kể thừa và phát triển các giá trị truyền thống tổt đẹp của dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quỷ giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp CM của nhân dân ta giành thẳng lợi”.Định nghĩa trên nêu rõ 3 nguồn gốc tư tưởnglý luận của TT Hồ Chỉ Minh: chủ nghĩa Mác — Lênin, giả trị truyền thống văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa của nhân loại.1. Truyền thổng văn hóa dân tộc Việt Nam:Việt Nam là dân tộc có nền văn hóa lâu đời, được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử, có bản sắc riêng, trở thành nguồn nuôi dưỡng tinh thần, nguồn sống mãnh liệt giúp cho dân tộc chiến thắng âm mưu đồng hóa của mọi kẻ thù xâm lược.Thử nhất, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chi bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Yêu nước là một trong nhũng truyền thống cơ bản, sâu sắc, nổi bật của con người Việt Nam, được the hiện qua nhiều thế hệ từ xưa tới nay, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đổ là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nồi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước vả lũ cướp nước.Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đỉ sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc. Chính sức mạnh truyền thống ây đẵ thúc giục Nguyễn TẤt Thành ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã viết: “Lúc đầu, chính lả chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
Xem thêm

Đọc thêm

Tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân tộc thuộc địa

Tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân tộc thuộc địa

Đây là mẫu silde về vấn đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc thuộc địa phục vụ cho môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh. Bàn về vấn đề dân tộc thuộc địa trong tư tưởng của Hồ Chí Minh.NHÓM 1TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC ,Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG ĐÓ VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘCTư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc . Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc , nhấn mạnh sự kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp ,độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ,chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế,đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình , đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác .Nhưng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc có những nội dung cần được nhấn mạnh hơn , nhất là thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa, quyền dân tộc tự quyết , đặc biệt là mối quan hệ không thể tách rời giữa độc lập dân tộc và thống nhất đất nước1.1Vấn đề dân tộc thuộc địa1.1.1Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa 1.1.1.1Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc Cuộc cách mạng ở thuộc địa là một cuộc đấu tranh dân tộc hay đấu tranh giai cấp? Đâu là cái cốt của cuộc cách mạng ở thuộc địa? Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã từng có luận điểm cho rằng “ thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề nông dân “ , mà nông dân thì gắn liền với ruộng đất , vì thế phải nhấn mạnh cách mạng ruộng đất và cuộc đấu tranh giai cấp ở thuộc địa. Với HCM thì không phải như vậy,người nhận thấy yêu cầu bức thiết nhất,trước nhất của xã hội thuộc địa là phải tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp như các xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây. Đối tượng của cách mạng thuộc địa là chủ nghĩa thực dân chứ không phải là chủ nghĩa tư bản ,chủ nghiã đế quốc nói chung Trong nhiều tác phẩm như tam địa thực dân, Bình đẳng , Vực thẳm thuộc địa , Công cuộc khai hóa giết người … HCM tập trung tố cáo chủ nghĩa thực dân , vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chúng . Người viết “ để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người , chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng : Bác ái, Bình đẳng….” nếu lối hành hình theo kiểu Linsơ của những bọn người Mỹ hèn hạ đối những người da đen là một hành động vô nhân đạo,thì tôi không còn biết gọi việc những người Âu nhân danh đi khai hóa mà giết hàng loạt người châu Phi gọi là cái gì nữa”. Trong những bài có tiêu đề Đông Dương và nhiều bài khác , người lên án mạnh mẽ chế độ hà khắc , sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa , giáo dục. Người chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa , đó là mâu thuẫn không thể điều hòa đượcNếu như C.Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, Lê nin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thì HCM tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Mác Lê nin bàn nhiều về đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa thì HCM bàn nhiều về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa1.1.1.2Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại HCM khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc VN trong bối cảnh thời đại mới là chủ nghĩa xã hội . Hoạch định con đường phát triển từ cách mạng giải phóng dân tộc lên cách mạng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề hết sức mới mẻ. Từ một nước thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản VN ,HCM viết :” làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” con đường đó kết hợp cả nội dung dân tộc , dân chủ và chủ nghĩa xã hội ,xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội “ Đi tới xã hội cộng sản “ là hướng phát triển lâu dài . Nó quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản,đoàn kết mọi lực lượng dân tộc , tiến hành cuộc cách mạng chống đế quốc và chống phong kiến cho triệt để Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa. Đó cũng là nét độc đáo, khác biệt với con đường phát triển của dân tộc đã phát triển lên chủ nghĩa tư bản ở phương Tây1.1.2Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng ,bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa 1.1.2.1Cách tiếp cận từ quyền con người HCM hết sức trân trọng quyền con người . Người đã tìm hiểu và tiếp cận những nhân tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ , Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của Cách mạng Pháp , như quyền bình đẳng ,quyền được sống , quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc . Người khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Nhưng từ quyền con người ,HCM đã khái quát và nâng cao thành quyền dân tộc :” tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng , dân tộc nào cũng có quyền sống , quyền sung sướng và quyền tự do”1.1.2.2Nội dung của độc lập dân tộcĐộc lập tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa . Độc lập hoàn toàn và thật sự trên tất cả các mặt kinh tế,chính trị, quân sự , ngoại giao. Trong nền độc lập mọi người đều được ấm no, tự do , hạnh phúc .Độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa+HCM nói:” tự do cho đồng bào tôi, tự do cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn ; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”+Năm 1991, thay mặt những người VN yêu nước, Nguyễn Aí Quốc gửi tới hội nghị Vec xây bản Yêu sách gồm tám điểm , đòi quyền tự do dân chủ cho nhân dân VN+Đầu năm 1930, Nguyễn Aí Quốc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng , một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo , có tư tưởng cốt lõi là độc lập, tự do cho dân tộc+ Tháng 51941 HCM chủ trì hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trương ương Đảng , viết thư kính cáo đồng bào, chỉ rõ :”trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” . Người chỉ đạo thành lập VN độc lập đồng minh,ra báo VN độc lập, thảo Mười chính sách của Việt Minh, trong đó mục tiêu đầu tiên là “ cờ treo độc lập nền xây bình quyền “+Tháng 81945 ,HCM đúc kết ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân trong câu nói bất hủ “ dù hy sinh tới đâu , dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập”+Cách mạng tháng Tám thành công, Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, và sự thật đã thành một nước VN độc lập. Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng , tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật sự, hoàn toàn , gắn với hòa bình thống nhất , toàn vẹn lãnh thổ của đất nước+ Trong các thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và Chính phủ các nước vào thời gian sau Cách mạng Tháng Tám , HCM trịnh trọng tuyên bố “ Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình . Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất : toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”+ Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ. Thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc, HCM ra lời kêu gọi vang dội núi sông “ Không Chúng ta thà hy sinh tất cả , chứ nhất định không chịu mất nước , nhất định không chịu làm nô lệ “+ Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh , ồ ạt đổ quân viễn chinh và phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam , đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô và cường độ ngày càng ác liệt, HCM nêu cao chân lý lớn nhất của thời đại “ Không có gì quý hơn độc lập tự do”Độc lập dân tộc, cuối cùng, phải đem lại cơm no, áo ấm , hạnh phúc cho mọi người dân1.1.3 Chủ nghĩa yêu nước chân chính một động lực lớn của đất nướcXuất phát từ vị trí của người dân thuộc địa mất nước và xuất phát từ truyền thống dân tộc VN Bác đánh giá cao chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính HCM thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào :” dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn . Đó là một truyền thống quý báu của ta . Từ xưa tới nay , mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng , thì tinh thần ấy lại sôi nổi , nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ , to lớn , nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,khó khăn ,nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước “ Theo HCM “ chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay , kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc , kiên quyết xây dựng một nước VN độc lập, thống nhất , dân chủ, tự do , phú cường, một nước VN dân chủ mới” Trong tư tưởng HCM chủ nghĩa dân tộc chân chính là một bộ phận của tinh thần quốc tế “ khác hẳn tinh thần “ vị quốc “ của bọn đế quốc phản động” Với niềm tin truyền thống yêu nước của nhân dân VN , Người khẳng định “ địch chiếm trời, địch chiếm đất , nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta” 1.2Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp , độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội , chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế1.2.1Vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhauHCM rất coi trọng vấn đề dân tộc , đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước , nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc . Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của HCM thể hiện : khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản trong quá trình Cách mạng VN ; chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức , dưới sự lãnh đạo của Đảng ; sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù ; thiết lập chính quyền nhà nước của dân,do dân ,vì dân; gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội1.2.2Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết , trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội HCM xác định cách mạng VN trải qua 2 giai đoạn : làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản + Năm 1960 , Người nói :” chỉ có chủ nghĩa xã hội , chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ . Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do , thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Do đó sau khi giành được độc lập , phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội , làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người được sung sướng tự do + Người khẳng định “ yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày được no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày được giàu mạnh thêm” Tư tưởng HCM về sự gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản , vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,giải phóng con người1.2.3Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp HCM giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp , nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc . Giải dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp. Vì thế , lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc Tháng 51941 Người cùng với Trung ương Đảng khẳng định:”trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử , tồn vong của quốc gia , của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1.2.4Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khácNgười khẳng định : quyền tự do , độc lập là quyền bất khả xâm phạm của các dân tộc, “ dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”Là một chiến sĩ chân chính , HCM không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc VN , mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức . Tôn trọng độc lập của các dân tộc khác +Khi ủng hộ quỹ kháng chiến của người Anh , năm 1914 , Người nói với bạn :” chúng ta phải đấu tranh cho tự do độc lập của các dân tộc khác như là đấu tranh cho dân tộc ta vậy” + Năm 1930 Người đề nghị đặt tên đảng là Đảng Cộng sản VN . Vì theo Lê nin , dân tộc tự quyết là cách mạng ở mỗi nước không thể do Đảng Cộng sản ở nước khác áp đặt,làm thay. Mỗi Đảng Cộng sản là thuộc về một dân tộc , phải chịu trách nhiệm trước dân tộc mình +Người nêu cao tinh thần dân tộc tự quyết , nhưng không quên nghĩa vụ quốc tế: Người giúp đỡ thành lập các Đảng Cộng sản ở một số nước Đông Nam Á đầu những năm 30,50 thế kỉ 20. Ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, chống Pháp của nhân dân Lào và Campuchia , đề ra khẩu hiệu :” giúp bạn là tự giúp mình” và chủ trương phải bằng thắng lợi cách mạng mỗi nước mà đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng thế giớiTư tưởng HCM về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc , thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp , chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng . Đúng như Ph.Ăngghen từng nói:”những tư tưởng dân tộc chân chính trong phong trào công nhân bao giờ cũng là tư tưởng quốc tế chân chính”2Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG HCM VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAMLà sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin vào cách mạng VNĐưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân VN vượt qua mọi gian khổ, khó khăn , đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Thắng lợi của cách mạng tháng 8 là kết quả của việc làm theo lí luận giải phóng dân tộc của HCM “ Không có gì quý hơn độc lập tự do “ một trong những tư tưởng lớn của HCM trong cách mạng VN đã trở thành chân lý của dân tộc VN và cả nhân loại có lương tri. Độc lập ,tự do cho nhân dân –tư tưởng HCM đã trở thành mục tiêu hàng đầu của cách mạng VN, tư tưởng đó quán triệt trong toàn bộ tiến trình cách mạng VN và nó được thể hiện nổi bật trong các thời điểm có tính bước ngoặt lịch sửTư tưởng HCM phản ánh quy luật khách quan trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản , vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng giai cấp,giải phóng con ngườiTư tưởng HCM mang tính khoa học, vừa mang tính cách mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vấn đề dân tộc với giai cấp , độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước,chủ nghĩa quốc tếXác định con đường cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc , giành độc lập cho dân tộc , tự do cho nhân dân,sau đó đưa cả nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương ôn tập lịch sử 9 hkII

Đề cương ôn tập lịch sử 9 hkII

• BÀI 1 HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC Ở NƯỚC NGOÀI TRONG NHỮNG NĂM 1919 – 1925 I. Nguyễn Ái Quốc ở Pháp (1917 1923). 18 6 1919 N.A.Quốc gửi đến hội nghị Véc xai bản yêu sách của nhân dân An Nam à đòi chính phủ Pháp thừa nhận quyền tự do, dân chủ, bình đẳng, quyền tự quyết của DT Việt Nam. 7 1920, Người đọc sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê Nin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản. 12 1920, Tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp > đánh dấu bước ngoặt trong quá trình hoạt động cách mạng của Người từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin Năm 1921, Người sáng lập hội liên hiệp thuộc địa ở Pa ri. Năm 1922, Người sáng lập báo Người cùng khổ, viết bài cho báo Nhân đạo, Đời sống công nhân và viết cuốn “Bản án CĐTD Pháp. > Các báo chí đó được bí mật chuyển về Việt Nam. II. Nguyễn Ái Quốc ở L.Xô (1923 1924) 6 1923 N.A.Quốc sang L.Xô dự hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào Ban Chấp hành. Trong thời gian ở L.Xô, người làm nhiều việc: nghiên cứu, học tập, viết bài cho báo sự thật, tạp chí thư tín quốc tế. 1924, người dự đại hội V của Quốc tế Cộng sản và tham luận về vị trí, chiến lược của cách mạng các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa. => N.A.Quốc đó chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng cộng sản VN. III.Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc (1924 1925) Sự thành lập hội VN cách mạng thanh niên. Cuối 1924 N.A.Quốc từ L.Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) 6 . 1925 thành lập hội VN cách mạng Thanh Niên mà nòng cốt là cộng sản Đoàn. Tổ chức và hoạt động. Mở các lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ, đưa cán bộ về hoạt động trong nước. Xuất bản báo chí, tuyên truyền. + Tuần báo Thanh niên + Tác phẩm lí luận chính trị Đường kách mệnh (1927) Chủ trương. «Vô sản hóa » nhằm tạo điều kiện cho hội viên tự rèn luyện, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin, tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh. > Chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng. c Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (19191924) Năm 1911, Người bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Sau nhiều năm bôn ba khắp thế giới, năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, sau đó gia nhập Đảng xã hội Pháp. Tháng 61919, Nguyễn Ái Quốc gởi bản yêu sách đến hội nghị Vécxai đòi quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng cho nhân dân Việt Nam. 71920, Người đọc bản Luận cương của Lênin và quyết định đứng về Quốc tế cộng sản. Tháng 121920, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp. Như vậy, Người đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng vô sản: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tinh thần yêu nước gắn liền với tinh thần quốc tế vô sản. Từ 19211923: sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa thực dân, ra báo “Người cùng khổ”, viết nhiều bài cho các báo “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân”, biên soạn tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Cuối năm 1923: Người sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, 1924: Người dự và đọc tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sản. Cuối năm 1924, người từ Liên Xô đi Quảng Châu (TQ) trực tiếp tuyên truyền, giáo dục lí luận, xây dựng tổ chức cách mạng Công lao của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 19191924 +Tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc VN: con đường cách mạng Vô sản +Tích cực truyền bá chủ nghĩa MácLê nin về nước +Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị làm nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng Sản VN sau này =>Công lao tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc VN là to lớn nhất vì nhờ tìm ra con đường cứu nước đúng đắn mới có sự ra đời của Đảng Cộng Sản VN, thực hiện cách mạng tháng 8 thành công, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, giành độc lập cho dân tộc
Xem thêm

Đọc thêm

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Chương IITƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘCGv: Lý Kim CươngI. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1. Vấn đề dân tộc thuộc địa. a. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc: độc lập dân tộc  CNXHChính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. b. Độc lập dân tộc, nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc về quyền độc lập tự do của dân tộc  xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam: hoàn toàn độc lập. Mục tiêu độc lập dân tộc được Hồ Chí Minh tuyên truyền, khơi dậy, xây dựng thành ý chí của toàn dân tộc. Đó là ý chí: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người luôn động viên nhân dân đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để bảo vệ cho được quyền thiêng liêng ấy (xem: Chính cương vắn tắt; Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…) Theo Hồ Chí Minh, độc lập tự do phải bao gồm các quyền sau: + Quyền bình đẳng và dân chủ giữa các dân tộc (xem Yêu sách của nhân dân An Nam, Tuyên ngôn độc lập). + Phải độc lập thực sự – độc lập hoàn toàn trên tất cả các mặt (chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ). + Độc lập phải gắn với nền hòa bình chân chính (hòa bình trong độc lập tự do). + Độc lập tự do phải gắn với ấm no, hạnh phúc, bình đẳng của mỗi người dân. Hồ Chí Minh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (HCM, Toàn tập, t4, tr 56). Độc lập tự do chỉ có được bằng nỗ lực đấu tranh của bản thân các dân tộc.c. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước Luận điểm này là một trong những sáng tạo của Hồ Chí Minh khi tiếp thu chủ nghĩa MácLê nin và vận dụng vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Đặc điểm xã hội Việt Nam: + Kinh tế lạc hậu  phân hóa giai cấp không triệt để  xung đột giai cấp bị giảm thiểu. + VN là nước thuộc địa ==> mâu thuẫn giữa toàn dân tộc và đế quốc xâm lược rất gay gắt.  các giai cấp có thể đoàn kết thành một khối để chống đế quốc xâm lược. ==> Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở Việt Nam nói riêng cũng như các nước phương Đông nói chung. Do đó, những người Cộng sản phải biết phát huy chủ nghĩa yêu nước, nắm lấy ngọn cờ dân tộc để đoàn kết toàn dân xung quanh giai cấp vô sản nhằm đấu tranh thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng.2. Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp a. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhauThể hiện trong các quan điểm: Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nông. Khẳng dịnh vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân (thông qua Đảng CS) Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc vấn đề giai cấp: b. ĐLDT gắn liền với CNXH. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách bóc lột”  Người lựa chọn con đường giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh giải phóng dân tộc đồng thời đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong đó, giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; mục tiêu giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ được thực hiện từng bước, hợp lý, phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể của cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. c. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấpĐộc lập dân tộc là mục tiêu hàng đầu, là tiền đề để tiến lên CNXH.CNXH là điều kiện bảo đảm cho ĐLDT được triệt để, bền vững. d. Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, đồng thời là một chiến sĩ quốc tế. Do đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự kết hợp đó thể hiện qua các luận điểm: + Đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời đấu tranh cho độc lập của dân tộc khác. + Mở rộng đoàn kết quốc tế nhưng luôn nêu cao tinh thần dân tộc tự quyết, bình đẳng giũa các dân tộc. + Thực hiện nghĩa vụ quốc tế với tinh thần “Giúp bạn là tự giúp mình”.II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC 1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộca. Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa Mâu thuẫn chủ yếu ở xã hội thuộc địa?  Tính chất của cách mạng thuộc địa? Đối tượng của cách mạng thuộc địa? b. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”2. CMGPDT nuốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô sảnGiải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản là kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn của Hồ Chí Minh:Nghiên cứu lý luận về cách mạng tư sản và lý luận của chủ nghĩa MácLênin  Hồ Chí Minh kết luận: Chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất (Đường cách mệnh, HCM Toàn tập, t2, tr 268)Khảo sát thực tiễn: + Thực tiễn xã hội Việt Nam: Các phong trào yêu nước, chống Pháp thất bại chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản ở Việt Nam. Xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản? Để giải quyết cả hai mâu thuẫn trên, chỉ có thể bằng cách mạng vô sản.+ Thực tiễn thế giới Đặc điểm xu thế thời đại  Yêu cầu: Muốn thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, các thuộc địa phải đoàn kết với nhau và đoàn kết với cách mạng vô sản thế giới. Nghiên cứu xã hội tư bản phương Tây  Hồ Chí Minh kết luận: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng không đến nơi, vì nó chỉ thay hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác, và ở đó côngnông vẫn cứ cực khổ. Nghiên cứu xã hội Liên Xô  Hồ Chí Minh kết luận: Cách mạng Nga là cách mạng thành công đến nơi, vì ở đó dân chúng được tự do, hạnh phúc, bình đẳng thực sự.Giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Tại sao?3.Trong thời đại mới, cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo a. Cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng lãnh đạo “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu và theo chủ nghĩa ấy… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t2, tr 267268).  Chức năng, nhiệm vụ của Đảng lãnh đạo:+ Ra đường lối  định hướng, hướng dẫn quần chúng làm cách mạng.+ Tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, tập hợp lực lượng cách mạng trong nước và quốc tế. Cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo (Đảng Cộng sản). Đảng đó lấy chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng  đường lối đúng  tập hợp tối đa lực lượng cách mạng  cách mạng thành công. => Hồ Chí Minh nỗ lực xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam.4. Lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc Hồ Chí Minh xác định lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân tộc. Đó là một lực lượng rộng lớn, bao gồm mọi giai cấp, tầng lớp (Xem Sách lược vắn tắt).+ Lực lượng cách mạng gồm những ai?+ Lực lượng nòng cốt?+ Giai cấp lãnh đạo? Tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng cách mạng toàn dân tộc còn được thể hiện trong các quan điểm về xây dựng Đảng và nhà nước (Đảng và nhà nước phải “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”), trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh (tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện…)5. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành tích cực, chủ động và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc a. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo, vì: Cách mạng giải phóng dân tộc có vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới: + Cách mạng thuộc địa là một trong những cái cánh của cách mạng thế giới + Nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở thuộc địa + HCM ví chủ nghĩa đế quốc như là con đỉa có hai vòi… Muốn giành thắng lợi, cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động, sáng tạo không ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của bên ngoài.b. Quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc Đó là quan hệ bình đẳng, hỗ trợ nhau Cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước và khi đó, nó tác động tích cực tới cách mạng vô sản thế giới:Hồ Chí Minh: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh…, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t1, tr 36).6. CMGPDT phải được tiến hành bằng con đường bạo lực cách mạnga. Tính tất yếu của bạo lực trong chiến tranh giải phóng dân tộc Tại sao phải dùng bạo lực cách mạng? Do bản chất của chủ nghĩa thực dân, đế quốc là bạo lực phản cách mạng. Phương thức bất bạo lực đã từng thất bại ở Việt Nam. Nội dung bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh? Bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu chuộng hòa bình: Ta chỉ sử dụng bạo lực cách mạng khi hòa bình và độc lập dân tộc bị xâm phạm mà không thể giải quyết được bằng con đường hòa bình, đàm phán. Hồ Chí Minh không tuyện đối hóa đấu tranh quân sự, trái lại, bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn kết hợp nhiều hình thức đấu tranh nhằm hạn chế sự đổ máu cho cả đôi bên.b. Hình thái của bạo lực cách mạng trong chiến tranh cách mạng Việt Nam Khởi nghĩa toàn dân Chiến tranh nhân dân Kháng chiến toàn dân, toàn diện Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chínhKẾT LUẬN1. Với nhiều luận điểm sáng tạo, đặc sắc, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của chủ nghĩa MácLênin về cách mạng thuộc địa. 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho thắng lợi của CMGPDT Việt Nam giành thắng lợi.CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN1. Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Để thực hiện luận điểm: kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, chúng ta phải làm gì?2. Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.3. Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng minh rằng, luận điểm: cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Câu 1:Trình bày khái quát quá trình chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc cho sự ra đời của ĐCSVN: Tháng 61911 Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc. Trải qua gần 10 năm đi nhiều nước, tiếp xúc với nhiều người, Người đã rút ra được một kết luận: nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. Đặc biệt Người tìm hiểu kĩ các cuộc CM điển hình trên thế giới, nhất là cuộc CM Tháng Mười Nga năm 1917 và đi đến nhận định: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Tháng 71920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình.Người đi đến kết luận quan trọng: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đi theo Quốc tế thứ III. 121920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường Cộng sản. Sau khi tìm ra con đường cứu nước và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, NAQ tích cực học tập, nghiên cứu, hoạt động cách mạng và tích cực truyền bá chủ nghĩa MácLênin về Việt Nam. Người thành lập và tham gia vào một số tổ chức cách mạng như Hội Liên hiệp thuộc địa, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông. Đặc biệt Người viết nhiều sách báo để vạch trần bộ mặt của chủ nghĩa đế quốc, để tuyên truyền, tập hợp lực lượng đấu tranh như báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân,đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. 111924, Người từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc). 61925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng. Từ 19251927, Hội Thanh niên mở các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Hội đã xây dựng được cơ sở ở nhiều nơi trong nước.Năm 1928, Hội Thanh niên thực hiện chủ trương “vô sản hóa” để rèn luyện bản lĩnh, lập trường cho hội viên. Cùng với việc đào tạo cán bộ, NAQ đã tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong nhằm truyền bá CN MLn về VN. Quan điểm cách mạng của NAQ đã thức tỉnh và giác ngộ quần chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân phát triển theo con đường cách mạng vô sản. Những bài giảng của NAQ tại các lớp huấn luyện chính trị được tập hợp lại và in thành sách “Đường cách mệnh”. + Tác phẩm chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của CMVN là CM giải phóng dân tộc mở đường tiến lên CNXH. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do đó phải đoàn kết toàn dân. + Cách mạng muốn thắng lợi phải có Đảng lãnh đạo. + CMVN là một bộ phận của CMTG. + Về phương pháp cách mạng: phải giác ngộ quần chúng nhân dân .khởi nghĩa giành chính quyền Tác phẩm đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị., chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho việc thành lập ĐCSVN. Như vậy. qua gần 10 năm tích cực hoạt động, truyền bá tư tưởng, chính trị và chuẩn bị về tổ chức, NAQ đã chuẩn bị đầy đủ và kỹ lưỡng mọi mặt cho sự ra đời của ĐCSVN.
Xem thêm

Đọc thêm

73 câu hỏi ôn tập lịch sử VN 1919

73 câu hỏi ôn tập lịch sử VN 1919

73 câu hỏi ÔN TẬP LSVN 1919 2000 Câu 1. Trình bày nội dung cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Đông Dương và phân tích ảnh hưởng của nó đối với sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1929. Vì sao ngoài giai cấp công nhân và giai cấp nông dân lại có thể vận động các giai cấp khác và các tầng lớp khác tham gia cách mạng ? Câu 2. Cho biết những nét chính về chính sách chính trị, văn hoá – xã hội của thực dân Pháp ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Câu 3. Cho biết chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tại Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Chương trình khai thác lần này có những điểm gì mới ? Câu 4. Phân tích thái độ và khả năng của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Vấn đề này đã được đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (3 – 2 – 1930) như thế nào ? Câu 5. Trình bày sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930. Phân tích vị trí, vai trò của phong trào công nhân đối với sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3 – 2 – 1930). Câu 6. Bằng các sự kiện và số liệu cụ thể, hãy phân tích và chứng minh phong trào công nhân Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1929 đã phát triển chuyển biến từ “tự phát” sang “tự giác”. Câu 7. Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ra đi tìm con đường cứu nước mới ? Trình bày về quá trình hoạt động từ năm 1911 – 1930 và những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam. Câu 8. Tại sao lại nói Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời chính đảng vô sản ở Việt Nam ? Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng nào ? Nêu những điều kiện chủ quan và khách quan tác động đến sự lựa chọn ấy ? Câu 9. Tại sao nói Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam? Nêu những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam trong thời gian từ năm 1911 đến 1930. Câu 10. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, anh (chị) hãy phân tích vai trò của Hồ Chí Minh với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và tổ chức lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, chủ yếu từ năm 1941 đến năm 1945. Câu 11. Trình bày khái quát những sự kiện lịch sử liên quan đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến 1945. Trong các sự kiện nêu trên, hãy chọn một sự kiện mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Trình bày chi tiết sự kiện lịch sử đó. Câu 12. Nêu vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trình bày ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Câu 13. So sánh những điểm chủ yếu trong nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và Luận cương chính trị năm 1930. Nêu những
Xem thêm

Đọc thêm

Nội dung cơ bản của học tập và làm theo tư tưởng

Nội dung cơ bản của học tập và làm theo tư tưởng

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm và tư tưởng của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tổng kết, hệ thống hóa. Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam,1 từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển Chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.2Các nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển gắn với các thời kì hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế3 vào đầu và giữa thế kỷ 20. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh nhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam, tư tưởng cách mạng Pháp, tư tưởng tự do của Hoa Kỳ, lý tưởng cộng sản MácLênin, tư tưởng văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây và phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh.4Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được xác định là một hệ tư tưởng chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam bên cạnh chủ nghĩa MácLênin, được chính thức đưa ra từ Đại hội VII của Đảng. Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam cùng các quan điểm chính thống ở Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa MácLênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và coi tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam.5 Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lấy Chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.67 Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tăng cường tuyên truyền thúc đẩy việc học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh ở tất cả các tầng lớp trong xã hội.Phần lớn các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh không phân tích các quan điểm của ông theo các thời kỳ lịch sử, không phân tích cụ thể các tác phẩm của ông theo chiều thời gian. Điển hình như năm 1930 khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông cho rằng đấu tranh giải phóng dân tộc đi kèm đấu tranh giải phóng giai cấp. Khi thành lập Việt Minh thì gác lại chủ trương đấu tranh giai cấp mà thực hiện đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ và đoàn kết toàn dân chống phát xít theo đường lối Quốc tế Cộng sản (chủ trương này khá trùng lặp với đường lối của Nguyễn Văn Cừ khi làm Tổng bí thư). Đến giai đoạn năm 1945, khi cần tranh thủ sự ủng hộ của Đồng Minh cho nền độc lập của Việt Nam, ông tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương và tán dương dân chủ tư sản.Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ chính thức đưa vào Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991, sau khi công cuộc Đổi mới phát động, chấp thuận phân hóa giai cấp, nhiều lý luận của chủ nghĩa MácLênin không có tính khả thi trong cơ chế thị trường phải gác lại như đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo lao động trên toàn xã hội.v.v. (chủ nghĩa cộng sản đặt ra mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ giai cấp, bóc lột, xóa bỏ giàu nghèo, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, công hữu trên nền tảng dân chủ, xóa bỏ giáo điều tôn giáo được xem là mị dân, xóa bỏ nhà nước đi đến dân chủ trực tiếp và bình đẳng, xóa bỏ các đường biên giới quốc gia, đưa các dân tộc đến cùng một lợi ích, xóa bỏ bất bình đẳng giữa các dân tộc trên phạm vi thế giới...). Các giáo trình của Việt Nam thường khai thác tư tưởng Hồ Chí Minh theo chiều hướng này...Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, không mở ra cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Không phát huy được những thế mạnh của truyền thống dân tộc và đất nước, không chống lại được âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 và đến năm 1883, triều đình Huế ký kết Hiệp ước Harmand với đế quốc Pháp, thừa nhận quyền bảo hộ của họ trên khắp An Nam.8 Từ sau Hiệp ước Patenôtre năm 1884, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.Trong suốt quá trình thực dân Pháp cai trị, từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống thực dân Pháp. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu Cần vương do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang này mang đậm tinh thần yêu nước và dũng khí trước quân thù, nhưng đều dưới sự dẫn dắt của các tư tưởng phong kiến và tư sản, là các trào lưu tư tưởng đã lỗi thời, lạc hậu trong sự phát triển của thế giới đương đại và không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nên không tránh khỏi thất bại. Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng khoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.9Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấpxã hội sâu sắc. Tạo tiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóng đân tộc đầu thế kỷ XX. Xã hội Việt Nam tồn tại nhiều mâu thuẫn. Có thể kể ra các mâu thuẫn chính sau:1011Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp.Mâu thuẫn giữa người dân lao động và triều đình phong kiến.Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp tư sản.Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng đều thất bại (chủ trương cầu viện, dùng vũ trang khôi phục độc lập của Phan Bội Châu; chủ trương ỷ Pháp cầu tiến bộ bằng cách chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh, trên cơ sở đó mà dần dần tính chuyện giải phóng của Phan Châu Trinh; khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiến của Hoàng Hoa Thám; khởi nghĩa theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản của Nguyễn Thái Học).Sự thất bại của phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của hệ tư tưởng tư sản, vừa từng bước chuẩn bị tiền đề cho một phương hướng mới của sự nghiệp giải phóng dân tộc.1213 Theo Tạp chí Cộng sản, những điều này cho thấy, phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam muốn đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới, đó là con đường cách mạng vô sản.14Thế giớisửa | sửa mã nguồnThế giới trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX cũng đang có những biến chuyển to lớn:Chủ nghĩa Tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Đế quốc với bản chất của mình đã trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.15Thực tế lịch sử: trong quá trình xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân, tại các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, sự bóc lột phong kiến trước kia vẫn được duy trì và bao trùm lên nó là sự bóc lột tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia, đã xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp xã hội mới, trong đó có công nhân và tư sản.16Chiến tranh Thế giới I bùng nổ.15Từ cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn đến một cao trào mới của cách mạng thế giới với đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917). Cuộc cách mạng vĩ đại này đã làm Thức tỉnh các dân tộc châu Á, Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công đã nêu một tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc bị áp bức, mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.13Quốc tế III được thành lập (1919). Phong trào công nhân trong các nước Tư bản Chủ nghĩa và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của họ là Chủ nghĩa Đế quốc. Năm 1923, trong lý lịch tự khai khi đến Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu: Tôi xuất thân từ một gia đình nhà Nho, nơi mà các thanh niên đều theo học đạo Khổng. Rồi tại Đại hội Quốc tế cộng sản năm 1935, Nguyễn Ái Quốc lại ghi trong lý lịch: Thành phần gia đình nhà nho.Hồ Chí Minh đã dùng những từ ngữ, những mệnh đề của Khổng Tử vốn rất thân thuộc với truyền thống văn hoá Việt Nam để thức tỉnh dân tộc, truyền cho nhân dân ý thức tự cường để đứng lên làm chủ đất nước, đồng thời kết nối những giá trị chung trong học thuyết Nho giáo và học thuyết Marx. Trong bài Le Grand Confucius (Đức Khổng Tử vĩ đại) đăng trên tạp chí Communise số ra ngày 15051921, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu thuyết Đại đồng như sau: Đức Khổng Tử vĩ đại (năm 551 trước Công nguyên) khởi xướng nền đại đồng và thuyết giáo quyền bình đẳng về của cải. Người nói tóm lại là: Nền hoà bình trên thế giới chỉ nảy nở từ nền Đại đồng trong thiên hạ. Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằngTrong thời kỳ chống Mỹ, ở miền Bắc buộc phải thực hiện chế độ phân phối thời chiến, Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở cán bộ về tư tưởng Khổng Tử: Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng, không sợ đói chỉ sợ lòng dân không yên.Tổng kết 30 năm tiếp thu các dòng tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đúc kết:Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Marx có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách thích hợp với điều kiện của nước ta… Khổng Tử, Giêsu, Karl Marx, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ ở một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất tốt đẹp như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ.18Quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minhsửa | sửa mã nguồnTư tưởng Hồ Chí Minh không hình thành ngay một lúc mà đã trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Hồ Chí Minh.16 Có thể chia quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh thành 5 thời kỳ sau:19Thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước, thương nòi (trước năm 1911): thời kỳ này Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.19Thời kỳ tìm tòi con đường cứu nước, giải phóng dân tộc (19111920): thời kỳ này Hồ Chí Minh tìm hiểu cuộc sống của những người lao động; đã khảo sát, tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga, học tập và đã tìm đến với chủ nghĩa Lênin, tham dự Đại hội Tua, đứng về phía Quốc tế cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng; từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa MácLênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành một chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Đây là một bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.1920Thời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam (1921 1930): thời kỳ này Hồ Chí Minh đã có hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi, phong phú ở Pháp (19211923), ở Liên Xô (19231924), ở Trung Quốc (19241927), ở Thái Lan (19281929)... Trong thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản. Hồ Chí Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các tác phẩm và bài viết của Hồ Chí Minh thời kỳ này đã thể hiện những quan điểm lớn, độc đáo va sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam, có thể kể tên các tác phẩm như: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách mệnh (1927) và những bài viết khác.19Thời kỳ thử thách, kiên trì giữ vững quan điểm, nêu cao tư tưởng độc lập, tự do và quyền dân tộc cơ bản (19301945): trên cơ sở tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản, trong mấy năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng tả đang chi phối Quốc tế Cộng sản, chi phối Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời.19Thời kỳ tiếp tục phát triển mới về tư tưởng kháng chiến và kiến quốc (19451969): đây là thời kỳ Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân (1945 1954) mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ; tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thời kỳ này nổi bật là các nội dung như: Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc; tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, đó là cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm một mục tiêu chung trước mắt là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền v.v. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hoá nhân loại...21”Định nghĩa trên là một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí Minh, làm định hướng cho các nhà nghiên cứu tiếp tục đi sâu tìm hiểu về tư tưởng của Hồ Chí Minh, đặc biệt là xác định nội dung giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân tộc Việt Nam.22 Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận trung tâm của chuyên ngành Hồ Chí Minh học thuộc ngành Khoa học chính trị Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xây dựng được hệ thống lý luận toàn diện về cách mạng Việt Nam phù hợp với thực tiễn của đất nước và dòng chảy thời đại. Hệ thống đó bao gồm một số nội dung cơ bản sau:22Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người;Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;Sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc;Quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân;Quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân;Phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;Đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;Chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau;Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam diễn ra năm 1991 tại Hà Nội đã xác định: lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.24Từ đây Tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào giảng dạy trong tất cả trường đại học như một bộ môn bắt buộc đối với tất cả các sinh viên thuộc mọi ngành học. Những lớp tập huấn đồng thời thảo luận giữa các chuyên gia chính thức cho môn học này bắt đầu từ năm 1997 tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.Các nhà nghiên cứu trong nước và những đồng chí của Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm về Tư tưởng Hồ Chí Minh như Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1982) do Lê Mậu Hãn chủ biên; Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh (1993) của tập thể tác giả Viện Hồ Chí Minh; Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí sống mãi (1991), Về tư tưởng Hồ Chí Minh (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (1997) của Võ Nguyên Giáp; Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh (1998) của Phạm Văn Đồng; Sự hình thành về căn bản tư tưởng Hồ Chí Minh (1997) của Trần Văn Giàu; Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh (1998) của Hoàng Tùng.25Ý nghĩa của việc nghiên cứu và học tậpsửa | sửa mã nguồnMục đích nghiên cứu học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh là nhằm áp dụng vào con đường xây dựng đất nước Việt Nam vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.26 Đối với thế hệ trẻ nói chung, với học sinh, sinh viên trong các trường cao đẳng và đại học nói riêng, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, đặc biệt là giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao lý luận, phương pháp tư duy biện chứng, góp phần đào tạo sinh viên thành những chiến sĩ đi tiên phong trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn và to đẹp hơn như Di chúc của Hồ Chí Minh để lại: Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.2627Chính sách ưu đãi của Nhà nướcsửa | sửa mã nguồnHiện nay bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại các trường đại học đang thiếu giáo viên nhưng ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh lại có số lượng thí sinh đăng ký dự thi ít, tỷ lệ chọi và điểm chuẩn thấp so với các ngành còn lại.28 Do đó Chính phủ Việt Nam có Nghị định 74 miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập trong các cơ sở giáo dục quốc dân cho một số đối tượng học sinh, sinh viên; trong đó sinh viên chuyên ngành Mác Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh được miễn học phí.29 Mặc dù có miễn giảm học phí, nhưng chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn không phải lựa chọn của nhiều sinh viên
Xem thêm

Đọc thêm

đề cương môn tư tưởng HCM có đáp án

đề cương môn tư tưởng HCM có đáp án

Câu 1 Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ được Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại và xuất bản thành tác phẩm gì? ________________________________________ A) Đường cách mệnh ________________________________________ B) Bản án chế độ thực dân Pháp ________________________________________ C) Con Rồng tre ________________________________________ D) V.I.Lênin và Phương Đông Câu 2 Một trong những nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh là tiếp thu: ________________________________________ A) Chủ nghĩa MácLênin ________________________________________ B) Tư tưởng của văn hoá phương Đông ________________________________________ C) Tư tưởng của văn hoá phương Tây ________________________________________ D) Các giá trị văn hóa tiến bộ của thời kỳ Phục hưng Câu 3 Luận cương của V.I.Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ? Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta”. Nguyễn Ái Quốc nói câu nói ấy khi đang ở đâu? ________________________________________ A) Maxcơva, Liên Xô ________________________________________ B) Luân Đôn, Anh ________________________________________ C) Quảng Châu, Trung Quốc ________________________________________ D) Paris, Pháp Câu 4 Một trong những truyền thống tốt đẹp của tư tưởng và văn hoá Việt Nam được Hồ Chí Minh tiếp thu để hình thành tư tưởng của mình là: ________________________________________ A) Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ________________________________________ B) Những mặt tích cực của Nho Giáo ________________________________________ C) Tư tưởng vị tha của Phật giáo ________________________________________ D) Tư tưởng bình đẳng, dân chủ chất phác của Phật giáo Câu 5 Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước, thương nòi của Nguyễn Ái Quốc được tính từ khoảng thời gian nào sau đây? ________________________________________ A) Trước năm 1911 ________________________________________ B) Năm 1911 đến năm 1920 ________________________________________ C) Năm 1921 đến năm 1930 ________________________________________ D) Năm 1930 đến năm 1941 Câu 6 Giai đoạn tìm tòi con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được tính từ: ________________________________________ A) Năm 1911 đến năm 1920 ________________________________________ B) Năm 1890 đến năm 1911 ________________________________________ C) Năm 1921 đến năm 1930 ________________________________________ D) Năm 1930 đến năm 1941 Câu 7 Giai đoạn hình thành cơ bản tư tưởng của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được tính từ: ________________________________________ A) Năm 1921 đến năm 1930 ________________________________________ B) Năm 1911 đến năm 1920 ________________________________________ C) Năm 1930 đến năm 1941 ________________________________________ D) Năm 1941 đến năm 1969 Câu 8 Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam được tính từ ________________________________________ A) Năm 1930 đến năm 1945 ________________________________________ B) Năm 1911 đến năm 1920 ________________________________________ C) Năm 1921 đến năm 1930 ________________________________________ D) Năm 1941 đến năm 1969 Câu 9 Trong những luận điểm sau đây, luận điểm nào thể hiện tư tưởng dựa vào sức mình là chính: ________________________________________ A) Tất cả đều đúng ________________________________________ B) Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em ________________________________________ C) Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta ________________________________________
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương ôn tập hết học phần tư tưởng Hồ Chí Minh

Đề cương ôn tập hết học phần tư tưởng Hồ Chí Minh

Câu 1. Cơ sở khách quan hình thành tư tưởng HCM (4 điểm)1. Bối cảnh lịch sửTrong nước, chính quyền triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm lượccủa tư bản Pháp, thừa nhận nền bảo hộ của thực dânPháp trên toàn cõi VN.Cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” đều thất bại. Hệ tư tưởng PK đã lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.Các cuộc khai thác thuộc địa của TDPháp ở VN đã làm cho XHVN có sự phân hóa giai cấpXH sâu sắc. Tạo tiền đề bên trong cho PT đấu tranh GPDT đầu thế kỷ XX.Đầu thế kỷ XX, các PTVT kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng thất bại. PT cứu nước của ND muốn thắng lợi phải theo con đường mới. CNTB từ cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền, xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn TG. CNĐQ trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa. Cuộc đấu tranh của công nhân các nước TBCN cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn đến một cao trào mới của CMTG với đỉnh cao là CM10 Nga thắng lợi (1917),đã mở ra trước mắt họ thời đại CM chống ĐQ, thời đại GPDT. Quốc tế III được thành lập (1919). Phong trào công nhân trong các nước TBCN và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là CNĐQ.2. Những tiền đề tư tưởng lý luận Truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất; tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, đoàn kết; ý chí vươn lên; trí thông minh, sáng tạo quý trọng, khiêm tốn… là tiền đề tư tưởng, cơ sở khách quan hình thành tư tưởng HCM. Trong những giá trị đó, CN yêu nước là giá trị thiêng liêng cao quý nhất, trong lịch sử dân tộc VN. CN yêu nước có trong mỗi con người VN, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của con người VN và là chuẩn mực đạo đức cơ bản của cả dân tộc. VH phương Đông: HCM tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo. Đó là các triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo; đó là ước vọng vềXH bình trị, hòa mục, hòa đồng; triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính; đề cao lễ giáo, truyền thống hiếu học. VH phương Tây: HCM đã nghiên cứu tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của nền văn hóa dân chủ và CM phương Tây; giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp và giá trịquyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập Mỹ. HCM còn tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, nếp sống có đạo đức, bình đẳng, dân chủ, đề cao LĐ, chống lười biếng… của Phật giáo.Người tiếp thu tư tưởng của Lão Tử, Mạc Tử, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Trước sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc và lòng yêu nước, NAQ ra đi tìm đường cứu nước. Thực tiễn trong gần 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, nhất là sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về VĐDT và VĐ thuộc địa của Lênin (71920). Từ đó đã tìm thấy con đường GPDT. Chính Luận cương của Lênin đã nâng cao nhận thức của HCM về con đường giải phóng. HCM coi tiếp thu lý luận CN MácLênin trước hết phải nắm vững phương pháp biện chứng; phải vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác Lênin để giải quyết những VĐ thực tiễn của CMVN.=>CNMác Lênin là TG quan, PP luận của tư tưởng HCM giúp HCM tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước. Đó là con đường CMVS.Tất cả các nội dung trên cho thấy, việc xuất hiện tư tưởng HCM không chỉ là nhu cầu tất yếu khách quan của CMVN, mà còn là tất yếu của CMTG. Câu 2. Thực chất của VĐ dân tộc thuộc địa (4 điểm)Tư tưởng HCM không đề cập đến các VĐ dân tộc nói chung mà là VĐ dân tộc thuộc địa. Thực chất của VĐ dân tộc trong tư tưởng HCM là:1.Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc HCM giành sự quan tâm đến đấu tranh chống CNTD, xóa bỏ ách thống trị, bóc lột của người nước ngoài; GPDT, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền tự quyết, thành lập Nhà nước dân tộc độc lập. Nếu Mác bàn về cuộc đấu tranh chống CNTB, Lê nin bàn về cuộc đấu tranh chống CNĐQ và bàn nhiều về cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước TBCN thì HCM tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống CNTD, về cuộc đấu tranh GPDT ở các nước thuộc địa.2. Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Từ thực tiễn của phong trào cứu nước của dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh mới của thời đại là CNXH. Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là việc làm hết mới mẻ: từ 1 nước thuộc địa đi lên CNXCH phải trải qua nhiều giai đoạn chiến lược khác nhau. Con đường đó, như trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN, Người viết: “Làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới XH cộng sản”. Thực chất là con đường ĐLDT gắn liền với CNXH. “Đi tới XH cộng sản”. Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh của các nước thuộc địa, nó hoàn toàn khác biệt với các nước đã phát triển đi lên CNXH ở phương Tây. Đây là nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh.Câu 3. Tư tưởng HCM về CM vô sản (6 điểm)1. Rút ra bài học kinh nghiệm từ sự thất bại của con đường cứu nước trước đó. Để GPDT khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, ông cha ta đã sử dụng nhiều con đường gắn với nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau và sử dụng nhiều vũ khí tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên đều bị thực dân Pháp chìm trong bể máu. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước đã trở thành thuộc địa, nhân dân chịu cảnh lầm than. HCM đã chứng kiến các PT yêu nước của cha ông và Nguời nhận thấy con đường của PBC chẳng khác nào “đưa hổ của trước rước beo cửa sau”, con đường của PCT thì chẳng khác nào “xin giặc rủ lòng thương”. Tuykhâm phục tinh thần cứu nước của cha ông nhưng NAQ không tán thành con đường của, Người quyết tâm đi nhiều nơi trên thế giới để tìm ra con đường CM mới.2. CM tư sản là không triệt để Trong thời gian 10 năm khảo sát và tìm hiểu thực tiễn về VĐCM ở nơi nhất là ở Anh, Pháp, Mỹ. Nguyễn Ái Quốc cho rằng đó là cuộc CM không triệt để vì sau khi giải phóng thì quyền lợi thuộc về giai cấp tư sản còn các giai cấp khác vẫn bị áp bức. Vì vậy, Người không đi theo con đường CM tư sản.3. Con đường GPDT HCM nhận thấy CM tháng 10 Nga không chỉ là cuộc CM vô sản mà còn là cuộc CM GPDT. Nó nêu tấm gương về sự giải phóng các dân tộc thuộc địa và “mở ra trước mắt họ thời đại CM chống đế quốc, thời đại GPDT”. Người tin theo Lê nin và quốc tế 3 vì đã bênh vực cho các DT bị áp bức. Người thấy trong lý luận của Lê nin một phương hướng mới để GPDT: con đường CM vô sản. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sỹ phu và các nhà CM đương thời, HCM đã đến với học thuyết CM của CN Mác – Lê nin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định vai trò to lớncủa CMVS, chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người LĐ trên thế giới khỏi ách nô lệ. Câu 4.CMGPDT phải được tiến hành bằng con đường CM bạo lực (6 điểm)a) Tính tất yếu của bạo lực CM Theo Mác: bạo lực là bà đỡ của mọi chính quyền CM, vì giai cấp thống trị bóc lột không bao giờ tự giao chính quyền cho lực lượng CM. Theo HCM, CMGPDT phải được thực hiện bằng con đường CM bạo lực như sau:+ Sự thống trị của TDĐQ ở thuộc địa vô cùng hà khắc, không hề có một chút quyền tự do dân chủ nào, không có cơ sở nào cho thực hành đấu tranh không bạo lực.+ Chế độ thực dântự bản thân nóđã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Vì thế, con đường để giành và giữ ĐLDT chỉ có thể là con đường CM bạo lực.+ CMGPDT là lật đổ chế độ TDPK, giành chính quyền về tay CM, được thực hiện bằng khởi nghĩa vũ trang. ỞVN đó là khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Quán triệt quan điểm “CM là sự nghiệp của quần chúng”, HCM chỉ rõ, bạo lực CM ở đây là bạo lực của quần chúng, nghĩa là toàn dân vùng dậy đánh đuổi quân xâm lược. Hình thức: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, nhưng phải tuỳ tình sử dụng đúng khéo kết hợp các chúng. Ngoài ra còn phải tận dụng đấu tranh trên mặt trận ngoại giao.b) Tư tưởng bạo lực CM gắn bó hữu cơ với tư tưởng nhân đạo và hoà bình Xuất phát từ tình yêu thương, quý trọng sinh mạng con người, HCMtranh thủ mọi khả năng giành và giữ chính quyền ít đổ máu, ngăn chặn xung đột vũ trang, giải quyết xung đột bằng hoà bình, chủ động đàm phán, thương lượng và nhượng bộ có nguyên tắc.+ Hội nghị Việt Pháp và ký các Hiệp định năm 1946, việc kiên trì yêu cầu đối phương thi hành Hiệp định Giơnevơ thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo và hoà bình của HCM.+ Người viết: “Tôi không muốn trở về HNtay không. Tôi muốn khi về nước sẽ đem cho VNnhững kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà tôi mong đợi ở nước Pháp”. Chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng. Chỉ khi không còn khả năng hoà hoãn, khi kẻ thù ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, chỉ muốn giành thắng lợi bằng quân sự, thì HCM mới kiên quyết phát động chiến tranh. Trong khi tiến hành chiến tranh, Người vẫn tìm mọi cách vãn hồi hoà bình.Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, Người đã nhiều lần gửi thư cho Chính phủ và nhân dân hai nước này đề nghị đàm phán hoà bình để kết thúc chiến tranh. c) Hình thái bạo lực CM Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và địch, HCM chủ trương khởi nghĩa toàn dân và phát động cuộc chiến tranh nhân dân. Người nói: “Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể nào thắng lợi được”. Toàn dân KN, toàn dân nổi dậy là nét đặc sắc của HCM về hình thái bạo lực CM. Phương châm chiến lược: toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh Trong chiến tranh, “quân sự là việc chủ chốt”, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị..Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược nhằm thêm bạn bớt thù, phân hoá, cô lập kẻ thù, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế. “vừa đánh vừa đàm”, “đánh là chủ yếu, đàm là hỗ trợ”.Đấu tranh KT là ra sức tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế của ta, phá hoại kinh tế của địch.Chiến tranh về mặt văn hoá hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém phần quan trọng. Tháng 8 năm 1945 khi thời cơ xuất hiện, Người kêu gọi toàn quốc, đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà giải phóng cho ta. Độc lập tự chủ, tự lực tự cường kết hợp với tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế về vật chất và tinh thầncũng là một quan điểm nhất quán trong tư tưởng HCM.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

1.Lý do cấp thiết của đề tàiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Con đường cách mạng của nước ta từ một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp. Cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta rất lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thời kì đổi mới nhận mạnh : “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận”. Đồng chí đặt vấn đề để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, với niềm tin yêu của dân, Đảng phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự lãnh đạo của mình. Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập, nếu thiếu trình độ lý luận, học vấn thì khó mà làm được. Đây là lĩnh vực đầy rẫy những cấp bách, thậm chí là cấp bách nhất phải đổi mới.Trải qua gần 15 năm (1986 – 2000), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đất nước cũng có nhiều điểm khác so với thời kỳ trước đây.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986) của Đảng, trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về các vấn đề của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định Xét trên tổng thế, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội và đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về những vấn đề cơ bản của quá trình đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, và là sinh viên chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em lựa chọn đề tài Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000”.Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào một số quan điểm trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986).
Xem thêm

Đọc thêm

Đường lối 20 câu hỏi ôn tập cô Tố Uyên FTU full

Đường lối 20 câu hỏi ôn tập cô Tố Uyên FTU full

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN ĐLCMCĐCSVN CHƯƠNG 1: Xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của Thực dân Pháp? Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng? Ý nghĩa của Cương lĩnh? CHƯƠNG II: Giai đoạn( 19391945) + Nghị quyết TW lần thứ 8 (51941) + Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”(1231945) + Hội nghị toàn quốc của Đảng (13 đến 1581945) + Kết quả, ý nghĩa của cách mạng tháng Tám năm 1945 CHƯƠNG III: Chống Pháp ( Giai đoạn 19451946) + Hoàn cảnh nuớc ta sau cách mạng tháng Tám + Chỉ thị “kháng chiến kiến quốc của Đảng” + Sách lươc hoà hoãn với quân Tưởng và Pháp Chống Mỹ (19541975) + Nghị quyết 15(11959) + Đại hội III + Hội nghị TW lần thứ 12( 121965) CHUƠNG IV : Đường lối CNH,HĐH CNH thời kỳ đổi mới Quá trình đổi mới tư duy Các quan điểm chỉ đạo Một số định huớng CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.... CHUƠNG V: Đuờng lối xây dựng nền KTTT định huớng XHCN Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về KTTT Cơ chế quản lý kinh tế truớc năm 1986 Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Nhận thức, tư duy của Đảng về KTTT từ năm 1986 đến nay CHƯƠNG VII : Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hoá.... Quá trình nhận thức và nội dung đuờng lối xây dựng và phát triển nền văn hoá Các quan điểm chỉ đạo CHUƠNG VIII: Đường lối đối ngoại Cơ sở hình thành đường lối đối ngoại của Đảng Quá trình hình thành và phát triển đường lối đối ngoại 20 câu hỏi ôn tập môn đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Câu 1: hoàn cảnh lịch sử dẫn đế sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam . 1. Bối cảnh quốc tế a. Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó Từ cuối thế kỷ thứ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh chống xâm lược diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa. b. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin Chủ nghĩa Mác Lênin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra Đảng Cộng sản. Sự ra đời Đảng Cộng sản là một yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột. Chủ nghĩa Mác Lênin được truyền bá vào Việt Nam , phong trào yêu nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam . Chủ nghĩa Mác Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam . c. Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản Năm 1917, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Mở đầu thời đại mới “Thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Tháng 31919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập. Đối với Việt Nam , Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam . 2. Hoàn cảnh trong nước a. Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp Chính sách cai trị của thực dân Pháp Về chính trị: Thực dân Pháp tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ , Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng, cấu kết với địa chủ. Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư vốn khai thác tài nguyên (mỏ than, mỏ thiết, mỏ kẽm…); xây dựng một số cơ sở công nghiệp (điện, nước); xây dựng hệ thống đường bộ, đường thuỷ, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của nước Pháp. Về văn hoá: Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá giáo dục thực dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu… Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam Giai cấp địa chủ Việt Nam : Giai cấp địa chủ chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn nhưng đã nắm trong tay 50% diện tích ruộng đất. Sự cấu kết giữa giai cấp địa chủ với thực dân Pháp gia tăng trong quá trình tổ chức cai trị của người Pháp. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức khác nhau. Giai cấp nông dân: Là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam (chiếm khoảng 90% dân số), bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Giai cấp công nhân Việt Nam : Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng mỏ. Xuất thân từ giai cấp nông dân, ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê nin, nhanh chóng trở thành một lực lượng tự giác, thống nhất. Giai cấp tư sản Việt Nam : Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp, tư sản nông nghiệp. Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ. Thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam : Bao gồm học sinh, trí thức, thợ thủ công, viên chức và những người làm nghề tự do… Có lòng yêu nước, căm thù đế quốc thực dân và rất nhạy cảm với những tư tưởng tiến bộ bên ngoài vào. Tóm lại, Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Tính chất của xã hội Việt Nam là thuộc địa, nửa phong kiến. Hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược (mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu) và mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến. b. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Phong trào Cần Vương (18851896). Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang 18841913). Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu. Đại biểu cho xu hướng cải cách là Phan Chu Trinh. Tóm lại, trước yêu cầu của lịch sử xã hội Việt Nam , các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi dưới nhiều trào lưu tư tưởng. Mặc dù bị thất bại, nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có ý nghĩa rất quan trọng: Tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc. Tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận chủ nghĩa Mác Lê nin. Sự thất bại của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. c. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam . Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) ra đi tìm đường cứu nước. Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”. Vào tháng 71920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 121920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và Người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Tháng 111924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 61925 người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Mở các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam . Tác phẩm Đường cách mệnh chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “là việc cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”, do đó phải đoàn kết toàn dân. Nhưng cái cốt của nó là công nông và phải luôn ghi nhớ rằng công nông là người chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh. Muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Về vấn đề đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam , Nguyễn Ái Quốc xác định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Về phương pháp cách mạng, Người nhấn mạnh đến việc phải giác ngộ và tổ chức quần chúng cách mạng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng, biết đồng tâm hiệp lực để đánh đổ giai cấp áp bức mình, làm cách mạng phải biết cách làm, phải có “mưu chước”, có như thế mới bảo đảm thành công cho cuộc khởi nghĩa với sự nổi dậy của toàn dân… Tác phẩm Đường cách mệnh đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam . Vào tháng 71920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 121920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và Người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Tháng 111924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 61925 người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Mở các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam . Tác phẩm Đường cách mệnh chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “là việc chúng cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”, do đó phải đoàn kết toàn dân. Nhưng cái cốt của nó là công nông và phải luôn ghi nhớ rằng công nông là người chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh. Muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN LUẬN ĐIỂM SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CÓ THỂ NỔ RA VÀ GIÀNH THẮNG LỢI TRƯỚC CÁCH MẠNG VÔ SẢN Ở CHÍNH QUỐC

TIỂU LUẬN LUẬN ĐIỂM SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CÓ THỂ NỔ RA VÀ GIÀNH THẮNG LỢI TRƯỚC CÁCH MẠNG VÔ SẢN Ở CHÍNH QUỐC

Minh về tính chủ động trong cách mạng trong đường lối đối ngoại hiện nay.Trong Văn kiện Nghị quyết Đại hội X, Đảng ta bổ sung thêm “chủ động và tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế”(2) càng thể hiện sự vận dụng tư tưởng sáng tạo củaChủ tịch Hồ Chí Minh về tính chủ động trong cách mạng.Xác định chủ động và tích cực hội nhập phải trên cơ sở nhận thức đúng xuthế tất yếu khách quan của toàn cầu hoá, tự giác chuẩn bị những điều kiện, lựachọn những bước đi và hình thức, lộ trình phù hợp với lợi ích quốc gia dân tộc,không để đất nước bị lôi cuốn một cách bị động vào trào lưu toàn cầu hoá kinhtế và do sức ép từ bên ngoài hoặc không có sự chuẩn bị đầy đủ, hoặc nóng vộichủ quan, nôn nóng làm mất định hướng phát triển, gây thiệt hại cho quốc gia,dân tộc. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã chuẩn bị khá đầy đủ về mọi mặt đểthực hiện quan điểm “tích cực và chủ động” hội nhập trong xây dựng chủ nghĩaxã hội và bảo vệ Tổ quốc cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, cơ sở vật chất kỹthuật, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, hành lang pháp lý, khả năng cạnhtranh của nền kinh tế, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ, trình độ quản lý…Mặt khác, tiềm năng, thế mạnh của đất nước ta sau hơn 20 năm đổi mới đã đạtđược những thành tựu to lớn, toàn diện: “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinhtế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh,12Đảng CSVN, Văn kiện NQ ĐH IX, NXB CTQG, H, 2001, trang 43Đảng CSVN, Văn kiện NQ ĐH X, NXB CTQG, H, 2006, trang 11215sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõrệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng
Xem thêm

17 Đọc thêm

PHONG TRAO GPDT A PHI MỸ LA TINH

PHONG TRAO GPDT A PHI MỸ LA TINH

Chứng minh con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam là đúng đắn Chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản mới có thể vừa giải phóng dân tộc vừa giải phóng con người và giải phóng giai cấp. Các con đường khác có thể đem đến độc lập cho đất nước nhưng không thể đạt được mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Sau một quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế trên bình diện rộng lớn trong cũng như ngoài nước Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác bằng con đường cách mạng vô sản”. Tư tưởng đó đã được Đảng ta khẳng định, được cả dân tộc hưởng ứng và đi theo. Đó là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam. Sự lựa chọn này dựa trên cơ sở: Chỉ có chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động. Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lột người, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân lao động thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo điều kiện giải phóng và phát triển con người toàn diện. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Bối cảnh lịch sử VNcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1858: Thực dân Pháp xâm lược VN, sự xâm lược của TD Pháp đã gây ra nhiều hậu quả cho XHVN. Triều đình nhà Nguyễn đã từng bước khuất phục đầu hàng Pháp. 1884: Hòa ước Patonot , triều đình nhà Nguyễn đã chính thức công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta nổ ra, dâng cao, lan rộng trong cả nước và lần lượt bị thất bại. Đầu thế kỉ XX: + Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp từ 1895 đã làm cho XHVN có sự biến chuyển và phân hóa ( xã hội phong kiến chuyển sang XH thực dân nửa phong kiến, xuất hiện nhiều giai cấp tầng lớp XH mới: công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Công cuộc khai thác thuộc địa là sự bóc lột về KT, áp bức về CT và nô dịch về VH) + Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư” và ảnh hưởng của các trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào VN. => Làm cho các phong trào yêu nước ở nước ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Tất cả các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều không tránh khỏi hạn chế, đều không tránh khỏi sự đàn áp dã man và thất bại, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước. Bối cảnh đó đặt ra một yêu cầu bức thiết về việc phải tìm ra con đường cứu nước. Bối cảnh thời đại: CNTB chuyển sang giai đoạn CNĐQ và xác lập sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới, trở thành kẻ thù chung của nhân dân các dân tộc thuộc địa, khiến cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Ở các nước thuộc địa, ngoài mâu thuẫn vốn có là giai cấp nông dân và đại chủ còn xuất hiện mâu thuẫn mới: giữa nhân dân các thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc. XH phân hóa: xuất hiện giai cấp, tầng lớp xã hội mới: công nhân, tư sản. Các trào lưu cải cách ở Nhật Bản và Trung Quốc đang diễn ra mạnh mẽ. Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và thắng lợi có tác dụng thức tỉnh các dân tộc châu Á. Quốc tế cộng sản 3 ra đời (tháng 3 – 1919) đề cập tới vấn đề thuộc địa, bênh vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giúp đỡ đào tạo cách mạng, vạch ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. =>Bối cảnh trong nước đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra con đường cứu nước mới, bối cảnh thời đại đã tạo ra con đường mà VN đang cần, tất nhiên nó không phải hoàn toàn có sẵn.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích giá trị và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh

Phân tích giá trị và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh

Phân tích giá trị và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh Bài tập học kỳ Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án. A. LỜI MỞ ĐẦU: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa hết sức to lớn: trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nâng cao thêm lòng yêu nước, tinh thần phục vụ nhân dân, đạo đức cách mạng cả mỗi người, để làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. B. NỘI DUNG: 1. Nội dung của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh chính là việc nghiên cứu và vận dụng hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh, bao gồm các tư tưởng chủ yếu như: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân do dân và vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức Cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân;... Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta phải nắm bắt được yếu tố cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là: tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. 2. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: 2.1. Việc học tập, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh giúp người học tiếp cận, hiểu rõ hơn về con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh (1951890 – 291969) là một nhà cách mạng, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Người là nhà lãnh đạo nổi tiếng được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, một vị nguyên thủ tài ba mà gần gũi, được hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu mến. Hồ Chí Minh đồng thời cũng là một nhà văn hóa lớn với nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị để lại cho đời. Có thể nói, có rất nhiều yếu tố để tạo nên một con người vĩ đại với những thành tựu xuất chúng và dành được trái tim, tình cảm của nhiều đồng bào trong nước nói riêng và nhân dân thế giới nói chung. Song một yếu tố quan trọng then chốt và cơ bản đó chính là nội lực tự thân bên trong Hồ Chí Minh là toàn bộ tư tưởng, quan điểm, nhận thức cũng như phẩm chất đạo đức của Người. Vì vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta khám phá và hiểu rõ hơn những phẩm chất, quan niệm sâu sắc của Người, cũng là qua đó tìm ra cho mình một tấm gương sáng để noi theo và những bài học bổ ích để vận dụng trong cuộc sống. Đối với Hồ Chí Minh, giữa tư tưởng với đạo đức – phong cách – lối sống là luôn thống nhất nên việc nghiên cứu tư tưởng của Người không chỉ cho ta cái nhìn giản đơn về những quan niệm của Người trong các lĩnh vực, mà mặt khác còn cho ta cảm nhận được phẩm chất, đạo đức cao đẹp của Người. Hồ Chí Minh là con người “bằng xương bằng thịt” nhưng Người làm được những việc phi thường, to lớn không phải bất cứ một ai cũng làm được. Hồ Chí Minh cùng thành quả của Người chính là tấm gương sáng “người thực việc thực” cho những ai am hiểu sâu sắc về những tư tưởng của Người có thể học tập, làm theo. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn là một trong những con đường để nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về công lao to lớn của Người đối với nhân dân, đất nước Việt Nam và nhân dân của các nước thuộc địa trên thế giới. Thấm thía công lao của Người cũng sẽ khơi gợi trong mỗi một người dân Việt Nam lòng biết ơn, lòng tự hào dân tộc, thể hiện được nét đẹp truyền thống của dân tộc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. 2.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác trong thời đại ngày nay. Những tư tưởng của Hồ Chí Minh mặc dù có tính khái quát cao về các lĩnh vực có nội hàm rộng lớn như dân tộc và cách mạng dân tộc, chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản, Nhà nước, tư tưởng đại đoàn kết, quân sự, nhân văn, đạo đức, văn hóa... nhưng lại có tính thực tiễn và áp dụng rất cao, có thể được vận dụng hiệu quả trong từng công việc nhỏ lẻ của mỗi người dân. Thấm nhuần được các tư tưởng chủ đạo, ta sẽ có nền tảng vững chắc về mục đích lao động, mục tiêu đúng đắn để phát triển đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa và có bản sắc riêng. Từ đó ta sẽ tìm ra đường hướng cụ thể để phát triển năng lực của bản thân, xây dựng đất nước. Trên nền tảng kiên định lập trường, vững vàng quan điểm ấy, việc nắm rõ được bản chất của các tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cho mỗi người nâng cao được khả năng tư duy lý luận sắc bén và cải tiến phương pháp lao động hiệu quả và khoa học hơn. Thay đổi được tư duy nhận thức đúng đắn cũng chính là loại bỏ, bài trừ những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực, phiến diện, phản động, hướng con người đến những tư tưởng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Nếu đổi mới tư duy có vai trò dẫn dắt khởi nguồn cho sự tiến bộ thì cải tiển phương pháp cũng quan trọng không kém trong việc hiện thực hóa những dự định, quan điểm đổi mới đó. 2.3. Giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh... nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong điều kiện thực tiễn hiện nay, mặt trái của cơ chế thị trường tác động mạnh mẽ, tạo nên sự phân hóa giàu nghèo, phần tầng xã hội, sự suy đồi về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, Đảng viên đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin, tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân vào Đảng. Vì vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, noi gương đạo đức của Người trở nên cần thiết, cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết giúp đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội. 2.4. Nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo. Luôn luôn xuất phát từ thực tế, hết sức tránh lặp lại những lối cũ, đường mòn, không ngừng đổi mới và sáng tạo. Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa, các thế lực phản động thù địch không từ bỏ âm mưu nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội đối với nước ta thông qua cơ chế thị trường và trao đổi, giao lưu văn hóa. Trong điều kiện đó, chúng ta có thể làm gì để vừa mở cửa, hợp tác phát triển kinh tế mà vẫn giữ được độc lập, chủ quyền dân tộc. Muốn vậy chúng ta phải tạo ra nguồn sức mạnh nội lực làm cơ sở cho sự phát triển. Một trong những sức mạnh nội lực đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh. Người có căn dặn: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần cách mạng và khoa học, cái tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, để giải quyết tốt những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn đổi mới hiện nay, tức là phải luôn biết gắn lý luận với thực tiễn, từ tổng kết thực tiễn mà bổ sung làm phong phú thêm lý luận. Do vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là việc học tập có ý nghĩa về mặt định hướng giá trị, tạo nên sức mạnh đồng thời là kim chỉ nam, là nền tảng tư tưởng cho mọi hành động của cả dân tộc. 3. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế hệ thanh niên Việt Nam nói chung và sinh viên ngành Luật nói riêng: Trong huấn thị gửi Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người viết: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy, cho nên phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người.” Điều này cho thấy Người luôn quan tâm đến thanh niên những người chủ tương lai của đất nước. Là sinh viên Luật, không chỉ là những người chủ tương lai của đất nước, mà còn là lực lượng nòng cốt xây dựng nên hệ thống pháp chế nước nhà, xương sống của quốc gia, chúng ta cần phải luôn quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng của mỗi sinh viên Luật ngay từ trong ghế nhà trường. Rèn luyện TÀI: Tự giác trau dồi kiến thức pháp luật, tận dụng triệt để những điều kiện mà xã hội đang tạo ra, không để làm phí hoài tuổi trẻ. Học phải có lý tưởng, phải trả lời được hai câu hỏi của người “Học để làm gì? Học để phục vụ ai?”. Mặt khác, phải thường xuyên tham khảo nhiều phương pháp học trong và ngoài nước để tìm hiểu, đóng góp cho pháp luật nước nhà. Rèn luyện ĐỨC: Ngành luật là chuyên ngành xương sống của quốc gia nhưng cũng vô cùng nhạy cảm cả trong nghề lẫn trong chính trị. Sinh viên luật phải tự nhắc nhở đạo đức nghề nghiệp, đạo đức với quốc gia dân tộc. Kết hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội sinh viên, thường xuyên tổ chức tham gia các buổi học về tư tưởng chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh; cùng nhau thảo luận vai trò của sinh viên Luật và để thấm nhuần hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh trong thế kỉ mới. Kế thừa tư tưởng đó của chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam nói chung và sinh viên Đại học Luật Hà Nội nói riêng trong thời đại mới đang ra sức học tập, để đưa nước nhà “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”. 4. Thực tiễn việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay: Việc giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cách mạng luôn được coi trọng, đặc biệt là giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay đã được đưa vào chương trình giảng dạy của nhiều trường cao đẳng, đại học. Không ít những đoàn viên, thanh niên noi theo tấm gương của Bác đạt nhiều thành công trong học tập cũng như những lĩnh vực khác. Cũng nhờ việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, các cán bộ, đảng viên và đông đảo tầng lớp nhân dân đã nâng cao được nhận thức tư tưởng, cải tiến phương pháp và phong cách làm việc, kiên định mục tiêu, góp phần đưa công cuộc đổi mới đi tới những thắng lợi to lớn. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, việc học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh chưa thật sự hiệu quả. Vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đơn vị, người dân chưa thấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, chưa tự giác tham gia. Việc vận dụng, học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính dập khuôn, cứng nhắc. Một số cán bộ chủ chốt chưa gương mẫu và tích cực trong học tập do đó chưa tạo được phong trào học tập sôi nổi ở cơ quan đơn vị. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một công tác vô cùng quan trọng, nhưng lại chưa thật sự mạnh mẽ, chưa huy động được nhiều lực lượng tham gia. ` C. KẾT LUẬN: Với những ý nghĩa hết sức to lớn như trên, tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 1991), Đảng đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Và từ đó tới nay, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là ngọn đèn soi sáng cho con đường của chúng ta, là vũ khí lý luận có giá trị khoa học sâu sắc và có ý nghĩa thực tiễn to lớn; là tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích sự sáng tạo trong quan điểm hồ chí minh

Phân tích sự sáng tạo trong quan điểm hồ chí minh

Để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, ông cha ta đã sử dụng nhiều con đường gắn với những khuynh hướng chính trị khác nhau. Xong tất cả các phong trào của ông cha ta mặc dù đà diễn ra vô cùng anh dũng, nhưng đếu bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha ta, nhưng Bác Hố kính yêu của chúng ta không tán thành các con đường cứu nước của họ, người quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới. Hó Chí Minh đến nhiều quốc gia và Châu lục trên thê giới. Người đã tiếp xúc với bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tìm hiểu thực tiễn cách mạng Mỹ; Đọc bản tuyên ngôn dân quyển và nhân quyền của cách mạng Pháp, tìm hiểu cách mạng tư sản Pháp. Hổ Chí Minh cho rằng: “ Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản. Cách mệnh không đến nơi, không triệt để, tiếng nói là cộng hòa là dân chủ. Kỳ thực bện trong thì nó bóc nột công nông trong nước, ở ngoài thỉ áp bức thuộc địa:. Bởi lẽ đó, người không đi theo con đường cách mạng tư sản. Hố Chí Minh thấy được cách mạng tháng Mười Nga không chỉ là một cuộc cách mạng tư sản, mà còn ỉà một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. vượt qua sự hạn chế vể tư tưởng của các sỹ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Hổ Chí Minh đã đến với học thuyết chính trị vô sản. Thứ nhất: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản ”, “ chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô iệ\ Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, rút kinh nghiệm của cáXuất phát từ thực tiễn Việt Nam, rút kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trước đó. Xuất phát từ thực tiễn thế giới, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản. Cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tuy đà giành thắng lợi hơn 150 năm nay mà nhân dân lao động vần khổ và họ đang muốn làm cách mạng tư sản chỉ thay thế chế độ bóc [ột này bằng chế độ bóc lột khác tinh vi hơn chứ không xóa bỏ được áp bức bóc lột, vì thế Người cho rằng đó là những cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để. Do đó, cứu nước theo ngọn cờ của giai cấp tư sản không phải là lối thoát cho dân tộc. Người thấy được các cuộc cách mạng này không triệt đề nên không lựa chọn. Nghiên cứu cách mạng tháng Mười Nga, Người thấy đay là cuộc cách mạng triệt để (cách mạng vô sản). Người đằ nhận định cuộc cách mạng của chúng ta phải đi theo cách mạng tháng Mười Nga. Từ đấu những nam 20 thế kỷ XX, Nguyền Ái Quốc đâ chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc là một con đìa 2 vòi, một vòi bám vào chính quốc, môt òi bám vào thuộc địa. Man cut be được hai cái vòi của nó đi, ta phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; phải xem cách mạng, đánh bại chủ nghĩa đế quốc, mặt khác, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đây là nhận định đúng đắn mang tính sáng tạo của Hổ Chí Minh trong việc xác
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG CHÍNH TRỊ TỐT NGHIỆP K39L

ĐỀ CƯƠNG CHÍNH TRỊ TỐT NGHIỆP K39L

Câu 1: Môn học tư tưởng Hồ Chí Minh a, Phân tích định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh Định nghĩa: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của quá trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người …. Ở định nghĩa này, Đảng ta bước đầu làm rõ: + Về cấu trúc, của tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: hệ thống các quan điểm lý luận, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam. + Về nguồn gốc, của tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: chủ nghĩa Mác Lênin, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. + Về nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. + Về Mục tiêu của tư tưởng Hồ Chí Minh là: giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. + Về giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: Soi đường thắng lợi cho cách mạng Việt Nam; tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc. b, Thực chất vấn đề dân tộc là gì? Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giải phóng dân tộc giành độc lập dân tộc. + HCM không bàn đến vấn đề dân tộc nói chung, xuất phát từ nhu cầu khách quan của dân tộc VN, đặc điểm thời đại Người quan tâm đặc biệt đến các nước thuộc địa, vạch ra thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ ách thống trị, áp bức bóc lột của người nước ngoài, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước độc lập. + Người đã viết nhiều tác phẩm để tố cáo vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là khai hoá văn minh của chúng. Lựa chọn con đường phát triển dân tộc. + Từ thực tiễn phong trào cứu nước của cha ông và lịch sử nhân loại, HCM khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là giành độc lập dân tộc rồi đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên Người viết “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. + Con đường này phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa. Đó cũng chính là nét độ đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dân tộc lên chủ nghĩa tư bản ở phương Tây Câu 2: Môn học tư tưởng Hồ Chí Minh a, Phân tích định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh Định nghĩa: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của quá trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải
Xem thêm

32 Đọc thêm

Tư tưởng triết học hồ chí minh về chủ nghia xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xá hội ở việt nam với sự vận dụng của đảng ta hiện nay”

Tư tưởng triết học hồ chí minh về chủ nghia xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xá hội ở việt nam với sự vận dụng của đảng ta hiện nay”

1. Tính cấp thiết của đề tài Tinh hoa của dân tộc Việt Nam và trí tuệ của thời đại đã tạo ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, mà chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc và nhân dân Việt Nam. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa Người lên địa vị người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa lớn của nhân loại. Tổ chức văn hóa Liên hợp quốc Unesco kết luận: “Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản chất của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”. Là anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, là nhà văn hóa kiệt xuất được cả nhân loại thừa nhận. Đương nhiên, Hồ Chí Minh có hệ tư tưởng riêng của mình, trong hệ thống tư tưởng đó có tư tưởng chính trị, tư tưởng kinh tế, tư tưởng văn hóa, tư tưởng đạo đức… Toàn bộ những hệ thống tư tưởng đó của Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta một kho tàng tri thức quý báu, vô giá không gì có thể đánh đổi được: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Chính lẽ vậy mà Đảng, Nhà nước ta đã quyết định đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào hệ thống giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính những giá trị to lớn đó mà các văn kiện Đại hôi VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam đều khẳng định: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng cách mạng Việt Nam. Đây là bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Trước những thay đổi to lớn, phức tạp của thế giới, mà đặc biệt là sự tan rã, sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, cũng như những khó khăn phức tạp trong nước, có một số người đã vội vàng cho rằng: Hồ Chí Minh đã phạm sai lầm khi đưa chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội vốn có nguồn ngốc từ phương Tây vào Việt Nam. Sự thực cần phải tìm hiểu con đường khác. Không những thế có người lại còn cho rằng, Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, cống hiến của Hồ Chí Minh chủ yếu là về cách mạng giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh cơ bản là tư tưởng giải phóng dân tộc. Họ cho rằng nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh tức là nặng về dân tộc, nhẹ về giai cấp… Những quan điểm trên chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chưa có một cái nhìn khái quát, phát triển, cách mạng về chủ nghĩa Mác – Lênin. Du muốn hay không, tiến lên chủ nghĩa xa hội vẫn là xu thế vận động, tất yếu khách quan của lich sử nhân loại hiện nay. Bất chấp những lời bôi nhọ, những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, chủ nghĩa xã hội hiện thực, dù có những thăng trầm, thành bại ở nơi này hay nơi khác, nhưng đã tạc dấu ấn đậm nét, đóng vai trò to lớn không thể phủ nhận trong sự phát triển tiến bộ không ngừng của lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX. Hiện nay trong bối cảnh quốc tế mới dù phải đối mặt trước rất nhiều khó khăn nghiệt ngã, thách thức sinh tử, chủ nghĩa xã hội vẫn không ngừng vận động phát triển về chất lượng. Ngọn cờ chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, vẫn trở thành động lực mạnh mẻ trên con đường phát triển của sự tiến bộ phồn vinh đối với các quốc gia, dân tộc trong thời đại ngày nay – thời đại quá độ từ chư nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên quy mô toàn cầu. Đất nước chúng ta đang bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang được đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết. Do đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là vấn đề bức thiết và cấp bách để phục vụ trực tiếp cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Người là một thiên tài , một tấm gương sáng trong việc tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, đổi mới, áp dụng vào Việt Nam một cách có hiệu quả nhất. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về chủ nghia xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xá hội ở Việt Nam với sự vận dụng của Đảng ta hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Mặc dù hiện nay tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đang còn là vấn đề gây nhièu tranh cãi, và cần phải tiếp tục di sâu nghiên cứu, làm rõ.
Xem thêm

Đọc thêm

Bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản và liên hệ với việc xây dựng đảng cộng sản ở việt nam tiểu luận cao học

Bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản và liên hệ với việc xây dựng đảng cộng sản ở việt nam tiểu luận cao học

Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân mang bản chất của giai cấp công nhân. Trong quá trình phát triển,dù với các tên gọi khác nhau nhưng Đảng ta luôn luôn mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng thể hiện ở chỗ:mục tiêu,lý tưởng của Đảng là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa MácLê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ; Đảng liên hệ mật thiết với quần chúng; lấy phê bình và tự phê bình làm quy luật phát triển... Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã đề ra cương lĩnh đúng đắn, vạch ra con đường cứu nước khác về chất so với những con đường cứu nước do các nhà đương thời vạch ra và đã bị bế tắc thất bại. Chính cương lĩnh này đã dặt nền tảng cho một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, chưa từng có trong lịch sử dân tộc: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc có chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn trong chặng đường lịch sử dân tộc hơn 80 năm qua. Đánh giá ý nghĩa của sự kiện thành lập Đảng, chủ tịch hồ chí minh đã viết: “việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng việt nam ta. nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta sẽ trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”. Điều lệ Đảng do đại hội X thông qua đã ghi: “Đảng cộng sản việt nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Đảng cộng sản việt nam ra đời, tồn tại và phát triển không chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân mà còn vì lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Chính vì vậy mà Đảng ta được nhân dân yêu thương, cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, gọi Đảng cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Đó là vinh dự là niềm tự hào lớn, không phải Đảng nào trên thế giới cũng có được. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề bản chất giai cấp công nhân của Đảng và đề ra các chủ trương, giải pháp giữ vững và tăng cường bản chất ấy, xem đó là yêu cầu sống còn của Đảng, nhờ đó Đảng đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, làm tốt sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từng bước giành độc lập dân tộc và đưa đất nước tiến lên theo hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng kiên định, mẫu mực trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước xây dựng nền kinbh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiếp tục khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng và tăng cường bản chất ấy là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đảng là cánh chim đầu đàn của cách mạng Việt Nam, là ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho cách mạng việc nam đi đến thắng lợi cuối cùng. Việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp tăng cường lãnh đạo và sức chiến đấu cao trong thời đại hiện nay thực sự là vấn đề rất cấp thiết và cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Bản chất giai cấp công nhân của Đảng cộng sản và liên hệ với việc xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam”. Do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế nên bài làm sẽ không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong quý thầy cô sửa chữa góp ý để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề