TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẰM KHẮC PHỤC BỆNH KINH NGHIỆM , BỆNH GIÁO ĐIỀU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm , bệnh giáo điều ":

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỚI CÔNG TÁC LÝ LUẬN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỚI CÔNG TÁC LÝ LUẬN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

Thống nhất giữa lý luậnthực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinhthần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướngdẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựatrên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếukhông sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau,nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lýluận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắcphục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luậnnhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì tronghoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đốihóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạtđộng thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm chobệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài.Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo21giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sựthực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểurõ toàn cuộc của cách mạng". Những cán bộ ấy quên rằng, “kinhnghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉthiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như mộtmắt sáng một mắt mờ” . Thực chất là họ không hiểu vai trò của lýluận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đốivới thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng
Xem thêm

55 Đọc thêm

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI

1. Lý do chọn đề tài Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên lý cơ bản nhất của triết học Mác Lênin. Đây là nguyên lý được thể hiện trong mọi mặt của đời sống, giúp con người tránh khỏi bệnh kinh nghiệm giáo điều, đồng thời có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của thực tiễn cũng như lý luận. Trong lý luận nhận thức mácxít thì giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó, thực tiễn có vai trò quyết định. V.I.Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”. 30; 230 Về vấn đề lý luận phải liên hệ thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.” 42; 496, đó là thứ lý luận xa rời và không giúp ích gì cho thực tế cuộc sống. Hồ chí Minh yêu cầu người dạy và người học phải tuân thủ theo những cách thức, phương pháp nhất định trong quá trình giảng dạy và học tập lí luận chính trị. Lấy triết học Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận của mình, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn vận dụng triệt để nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong suốt quá trình lãnh đạo giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt, nguyên lý này đã được vận dụng hết sức sáng tạo và linh hoạt trong công tác giáo dục tư tưởng thời kì đổi mới hiện nay. Học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu cầu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay có tầm quan trọng hết sức đặc biệt và cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay vấn đề này dường như đang bị xem nhẹ, nếu không nói là bị bỏ qua. Trong rất nhiều giờ giảng, giảng viên hầu như chỉ nhắc lại những điều đã có, đã được ghi chép một cách đầy đủ, rõ ràng trong sách vở, tài liệu. Nhiều giờ học trôi qua trong sự nhàm chán, nặng nề bởi giáo viên hầu như chỉ biết có lý thuyết suông. Bài giảng thiếu sức sống, không thuyết phục, không sinh động đang là một hiện tượng khá phổ biến tại các trường, các cơ sở đào tạo hiện nay. Hệ quả tất yếu kéo theo đó là chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, giảng dạy thấp, thậm chí đôi khi còn phản tác dụng và tạo ra tâm lý ức chế, khiên cưỡng, gò ép cho người học. Từ đó, nhiều người dễ cho rằng chính trị dường như là một lĩnh vực khô khan, thiếu sức sống, thiếu sức truyền cảm. Xuất phát từ thực trạng hiện nay các bài giảng của một số giảng viên về cơ bản mang nặng tính lý thuyết, thiếu tính thực tiễn nên nhiều người cho rằng dường như học chính trị chỉ là học một mớ lý thuyết mang tính kinh viện, sáo rỗng, không thực tế. Cũng xuất phát từ quan niệm sai lầm này mà trong thực tế nhiều sinh viên đã đến với các bài học, bài thi các môn chính trị bằng một tâm lý đối phó, chỉ chú trọng học vẹt, học thuộc lòng, học sao cho miễn là qua được các kỳ thi, còn bản chất vấn đề thì hầu như không hiểu hoặc không cần hiểu, niềm đam mê hứng thú hầu như không có. Với những quan niệm và tâm lý xuất phát điểm như vậy thì rõ ràng chất lượng, hiệu quả ở đây có lẽ là vấn đề đáng được báo động. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội” làm luận văn khoa học giáo dục.
Xem thêm

124 Đọc thêm

ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”

ĐỀ TÀI “VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ QUẢNG NINH”

ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được triển khai sâu, rộng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Do đó, đòi hỏi lực lượng lao động được đào tạo cơ bản theo hướng vừa “hồng”, vừa chuyên. Nghĩa là vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức, vừa có năng lực chuyên môn nghề nghiệp cao, sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn. Để đáp ứng yêu cầu trên, cần phải có sự đầu tư cả về qui mô và chất lượng, trong đó trách nhiệm quan trọng trước hết thuộc về ngành giáo dục và đào tạo. Đại hội XI khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Trong đó, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [24, 126]. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng gắn lý luận với thực tiễn là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đây là nhiệm vụ quan trọng không chỉ đối với đội ngũ giảng viên mà cả đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và toàn xã hội. Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học chính là thực hiện nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội, với sản xuất và trong từng môn học, rèn luyện năng lực sáng tạo nhằm nâng cao năng lực thực tiễn của người học. Đây là nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong thực tế việc dạy học các môn lý luận Mác - Lênin nói chung và môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng chưa thực sự tích cực, sáng tạo, trong việc phát hiện, tìm tòi, vận dụng vào thực tiễn, nên đã làm cho quá trình tiếp ĐỀ TÀI : “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạ y học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” 2 thu tri thức của sinh viên trở nên nặng nề và thụ động. Các kiến thức cơ bản về lịch sử cũng như về chính trị, kinh tế và xã hội chưa được sinh viên hiểu và vận dụng một cách có hiệu quả. Nội dung bài giảng của các giảng viên còn nặng về lý thuyết, ít được lý giải, minh chứng bằng thực tiễn sinh động. Thực trạng đó đã tác động không nhỏ tới thái độ sinh viên trong việc tiếp cận môn học. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi trong quá trình giảng dạy cần có sự gắn kết giữa nội dung của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn sinh động, qua đó sinh viên sẽ được rèn luyện kỹ năng, được giáo dục thái độ, hành vi ứng xử trong những tình huống thực tế, những biến đổi lớn lao của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Mặt khác, với một trường mang tính chất đặc thù cao như trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh, sinh viên là những người có xu hướng theo chuyên ngành đào tạo, vì thế, những bài học mang tính chất lý luận với các phương pháp truyền thống không tạo được tâm lý hứng thú cho sinh viên cả trong quá trình nghe giảng cũng như tự học, tự nghiên cứu. Điều này đã làm giảm sự ham muốn nghiên cứu của sinh viên, thậm chí tạo ra tâm lý sợ học môn này, sinh viên sẽ có những suy nghĩ chống đối học là để thi cho qua. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi trong quá trình dạy học, đặc biệt với tư tưởng Hồ Chí Minh phải có sự gắn kết giữa nội dung (lý luận) của môn học với thực tiễn đời sống. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành lý luận và phương pháp giảng dạy giáo dục chính trị là cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu Đổi mới giáo dục Đại học, Cao đẳng là một trong những chủ đề nóng ĐỀ TÀI : “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạ y học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” 3 hiện nay ở Việt Nam. Trên nhiều diễn đàn, vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, gắn nội dung dạy học với thực tiễn cuộc sống là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cũng như chính đội ngũ cán bộ, giảng viên. Tiêu biểu cho ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
Xem thêm

136 Đọc thêm

NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CỦA ĐẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CỦA ĐẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Phân tích những nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Bài tập học kỳ Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng Cộng Sản Việt Nam giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc làm nên sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng Sản như kim chỉ nam, dẫn lối, soi đường cho cách mạng giải phóng dân tộc. Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi được tập hợp, đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị là Đảng Cộng Sản Việt Nam.Vai trò của Đảng trong thời chiến là lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và có xứ mạng lịch sử đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, còn hiện nay vai trò của Đảng là lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội nhằm đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới đất nước. Vì vậy, trong thời kì nào, Đảng luôn luôn giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Là một lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội thì Đảng Cộng Sản Việt Nam phải có nguyên tắc cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ trong việc tổ chức và hoạt động nên em xin chọn đề tài: “ Phân tích những nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I, Các nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đảng Cộng Sản Việt Nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Vì vậy, Hồ Chí Minh tuân thủ các nguyên tắc tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin vào việc xây dựng, tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam. 1, Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Về tập trung, người nhấn mạnh tập trung trong Đảng là phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động. Do đó“ Cá nhân phải phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng số nhiều; cấp dưới phải phục tùng cấp trên; các địa phương phải phục tùng Trung ương”. Từ đó làm cho“ Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người”.Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh dân chủ trong Đảng. Quan niệm gốc của vấn đề này là ở chỗ, Hồ Chí Minh cho rằng: nước ta là nước dân chủ, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, là thành quả của cách mạng, là làm cho mọi người mạnh dạn có ý kiến, làm cho Đảng tập trung được trí tuệ, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do, bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lí. Đó là một quyền lợi, cũng là nghĩa vụ của mồi người. Người luôn luôn nhấn mạnh phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Người cho rằng: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt”. Đồng thời, Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng và trong nội bộ các tổ chức chính trị xã hội. Trong nguyên tắc này, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau. Dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung, chứ không phải là dân chủ tuỳ tiện, phân tán, vô tổ chức. Tập trung là tập trung trên cơ sở dân chủ, chứ không phải tập trung quan liêu theo kiểu độc đoán chuyên quyền. Nguyên tắc này có ý nghĩa nhằm bảo đảm cho Đảng phát huy sức mạnh trí tuệ của tập thể, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Tức là đề cao vai trò của tập trung, thực hiện tập trung trong Đảng để tạo sự thống nhất ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh lãnh đạo to lớn trong tiến trình cách mạng. Đây là biểu hiện cụ thể tính tiên phong, tính chiến đấu của giai cấp công nhân. Cùng với tập trung phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là một yêu cầu khách quan của một tổ chức đảng chân chính. Khi nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm sẽ làm cho Đảng suy yếu, nội bộ Đảng mất đoàn kết, đường lối, chủ trương của Đảng lệch lạc, sai lầm, uy tín của Đảng bị giảm, Đảng sẽ dần mất quyền lãnh đạo với quần chúng. Vì vậy, phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng nhằm xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng đảng giai đoạn hiện nay. Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề mang tính hệ thống và trên cơ sở bảo đảm giữ vững các nguyên tắc sinh hoạt đảng. 2, Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Người cho rằng: “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn đi đôi với nhau”. Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi đến mấy, dù có nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Do đó, cần phải có nhiều người. Nhiều người sẽ có nhiều kinh nghiệm, người thấy rõ mặt này, người thấy rõ mặt kia của vấn đề đó. Nhờ đó, mọi mặt của vấn đề đều được xem xét, vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Từ đó, có thể thấy vai trò lãnh đạo tập thể là rất lớn. Chỉ có lãnh đạo tập thể mới huy động được toàn bộ trí tuệ của đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đưa đến các tệ bao biện, độc đoán, chủ quan kết quả là hỏng việc”. Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo mới chỉ là một vế của nguyên tắc. Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Trong công tác xây dựng Đảng, trách nhiệm của cá nhân được đề cao. Cá nhân phụ trách nhằm tạo ra tính chuyên trách, gắn trách nhiệm để giải quyết công việc một cách tốt nhất. Khi một vấn đề đã được tập thể bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì cần giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch mà thi hành. Nếu không cho cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra tệ người này ỷ lại người kia, kết quả là không ai thi hành. Người khẳng định: “ Phụ trách không do cá nhân thì sẽ đi đến cái bừa bãi, lộn xộn, vô Chính phủ. Kết quả là hỏng việc”. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc có ý nghĩ to lớn. Thứ nhất là phát huy được sức mạnh tập thể đồng thời khẳng định năng lực cá nhân. Thứ hai là tránh được tình trạng quan liêu, chống lại bệnh độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân chủ trong Đảng; đồng thời chống lại tệ dựa dẫm tập thể, không dám chịu trách nhiệm. Đây là hiện tượng thường thấy hàng ngày, khi có thành tích thì nhận về mình, còn khuyết điểm sai lầm thì đổ lỗi cho tập thể. Không chú ý đến lãnh đạo tập thể thì sẽ bao biện, độc đoán, chủ quan; đồng thời không chú ý đến cá nhân phụ trách thì sẽ dẫn đến bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Trong giai đoạn đất nước mở cửa hội nhập với thế giới hiện nay, trách nhiệm của tập thể , của cá nhân càng phải được phát huy để tổ chức Đảng không ngừng phát triển lớn mạnh, đủ sức dẫn dắt toàn dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. 3, Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, luật phát triển của Đảng. Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyên tắc này, nó là vũ khí để rèn luyện Đảng viên, để nâng cao trình độ của lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Người thường đặt “ tự phê bình” lên trước “phê bình” vì Người cho rằng mỗi đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Hơn nữa nếu tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người xem đây là vũ khí để rèn luyện đảng viên, nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ hơn. Đó cũng là vũ khí để nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng, để Đảng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, làm tròn trách nhiệm trước giai cấp và dân tộc… Người đã thẳng thắn vạch rõ : “ Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu là có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Tự phê bình và phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, muốn thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Người đã phê phán những thái độ lệch lạc, sai trái thường xảy ra trong tự phê bình và phê bình như thiếu trung thực, che giấu khuyết điểm của bản thân, sợ phê bình, không dám phê bình, dĩ hoà vi quý, hoặc ngược lại lợi dụng phê bình để nói xấu, bôi nhọ, đả kích người khác… Nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm nhấn mạnh mục đích của tự phê bình và phê bình là cốt để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để làm cho tư tưởng và hành động được đúng hơn tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn. 4, Kỷ luật nghiêm minh và tự giác là quy luật phát triển sức mạnh của Đảng. Người đặc biệt coi trọng việc xây dựng một kỉ luật nghiêm minh và tự giác trong Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng. Sức mạnh to lớn của Đảng là ở tinh thần kỉ luật tự giác, ý thức tổ chức kỉ luật nghiêm minh của cán bộ Đảng viên. Mọi Đảng viên đều bình đẳng trước kỉ luật của Đảng. Nghiêm minh là nguyên tắc thuộc về tổ chức Đảng, vì đó là kỉ luật đối với mọi cán bộ, Đảng viên, không phân biệt cán bộ lãnh đạo cao hay thấp, là cán bộ lãnh đạo hay đảng viên thường, mọi cán bộ, Đảng viên đều bình đẳng trước kỉ luật của Đảng. Tự giác thuộc về mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên đối với Đảng, một tổ chức của những người tự nguyện đứng trong hàng ngũ để cùng chiến đấu cho độc lập dân tộc và cho chủ nghĩa xã hội. Yêu cầu cao nhất của kỷ luật Đảng là chấp hành các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo và sinh hoạt đảng, các nguyên tắc xây dựng Đảng. Có như vậy Đảng mới thành một khối thống nhất về tư tưởng và hành động nếu không “ Đảng sẽ xệch xoặc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bế tắc”. Từ việc phải tuân thủ kỉ luật của Đảng, mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, mỗi cấp ủy dù ở cấp bộ nào cũng phải nghiêm túc chấp hành kỷ luật của các đoàn thể và pháp luật của nhà nước, tuyệt đối không ai được cho phép mình coi thường, thậm chí đứng trên tất cả. Ý thức kỉ luật đó là ý thức Đảng của giai cấp công nhân. Việc đề cao ý thức kỉ luật đó đối với mọi cán bộ, đảng viên từ trên xuống dưới làm tăng thêm uy tín của Đảng; ngược lại ý thức kỉ luật xuống thấp, nếu cán bộ, đảng viên có nhiều vi phạm kỉ cương phép nước, tự cho mình là người lãnh đạo, coi thường kỉ luật của các đoàn thể nhân dân, thì uy tín của Đảng giảm thấp, càng dẫn tới nhiều nguy cơ cho Đảng. 5, Đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguyên tắc quan trọng của Đảng. Thực sự đoàn kết thì mới thống nhất được ý chí và hành động của tổ chức Đảng. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài gian khổ, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, phải thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, mọi Đảng viên phải bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng như bảo vệ con ngươi của chính mắt mình. Việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng cũng như khối đại đoàn kết toàn dân luôn được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Bỡi lẽ, việc xây dựng khối đoàn kết trong Đảng làm nòng cốt cho việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân. Người viết: “ Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ con ngươi của mắt mình”.Cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ Đảng nhằm tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động, thông qua đó mà hiện thực hóa đường lối, quan điểm của Đảng trong cuộc sống. Hồ Chí Minh viết: “ Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”. Ngày nay, tình hình thế giới và trong nước phát triển phức tạp, nhiệm vụ của Đảng ngày càng nặng nề, thực tế này đòi hỏi Đảng phải củng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng đến sự thống nhất của nhiều cán bộ đảng viên, đến toàn đảng. Để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Người thường nêu những yêu cầu như: phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ cán bộ đảng viên có thể tham gia bàn bạc đến nơi đến chốn những vấn đề hệ trọng của Đảng, phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần trung thực, chân thành, thẳng thắn, tự nghiêm khắc với mình và có tình yêu thương đồng chí… II. Đánh giá các nguyên tắc xây dựng và tổ chức Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam và những biện pháp nâng cao hiệu quả của tổ chức Đảng.Ở bất kỳ thời nào, dù là thời chiến hay thời bình thì 5 nguyên tắc tổ chức Đảng vẫn giữ nguyên vị trí của nó trong quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng. Mỗi một nguyên tắc lại giữ một vai trò quan trọng có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất làm nên Đảng cộng sản của ngày hôm nay. Nguyên tắc quan trọng nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ví nó làm cho tổ chức Đảng có tính kỉ luật chặt chẽ, loại trừ được sự chia rẽ bè phái, đảm bảo tập trung thống nhất tạo nên sức mạnh của Đảng. Nếu nguyên tắc này không được đảm bảo thì Đảng sẽ không thể trở thành tổ chức đoàn kết thống nhất, rất dễ lâm vào tình trạng chuyên quyền, độc đoán, vô tổ chức. 5 nguyên tắc này cần phải nhìn nhận một cách tổng thể và khái quát. Ví như nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Người giải thích: “ Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”. Hay để nhấn mạnh nguyên tắc tự phê bình và phê bình, Người nhấn mạnh: “ Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Theo đó, nguyên tắc tự phê bình và phê bình là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc khác như nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng, kỉ luật nghiêm minh và tự giác…. Tư tưởng xây dựng Đảng của chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa soi đường cho Đảng ta xây dựng và trưởng thành. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, qua đó làm tăng thêm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường phát triển của đất nước. Trong bối cảnh, điều kiện mới, đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức không nhỏ, Đảng ta vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, đồng thời xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng về mọi mặt, nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh; phát huy những thành quả đã đạt được, khắc phục, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi những hạn chế, yếu kém; để lấy lại niềm tin trong nhân dân, xứng đáng với vai trò người lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Cụ thể: Thứ nhất, tăng cường giáo dục động cơ, bồi dưỡng kỹ năng, xây dựng tinh thần tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ đảng viên nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu, đòi hỏi mới của xã hội của chức trách, nhiệm vụ, lĩnh vực, sát với công việc thực tế, thiết thực của mỗi đảng viên. Thứ hai, mỗi đảng viên cần phải tự xác định rõ về mình và tích cực giải quyết những mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, của địa phương, ngành, của cơ quan, đơn vị mình với trình độ bất cập của bản thân để xây dựng kế hoạch, xác định ý chí, quyết tâm thường xuyên tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ trí tuệ, kiến thức, năng lực cần thiết và phẩm chất đạo đức lối sống, phương pháp, tác phong công tác, làm việc của mình để hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho. Thứ ba, tạo môi trường, điều kiện rèn luyện thực tiễn và phong trào tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ đảng viên gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Đảng lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng chủ trương, hoạch định chính sách xây dựng và phát triển đất nước vì vậy, vai trò của Đảng Cộng sản vô cùng quan trọng trong cả thời chiến và thời bình. Để làm được điều ấy, không phải chỉ trong quá trình làm cách mạng giải phóng dân tộc, mà cho đến ngày nay, đất nước hoàn toàn thống nhất, trải qua 80 năm hoàn thiện và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa khi nào rời xa các nguyên tắc hoạt động và tổ chức Đảng. Có thể nói khi nào còn chủ nghĩa xã hội, còn Đảng Cộng sản lãnh đạo thì khi đó năm nguyên tắc trên vẫn là kim chỉ nam dẫn dắt quá trình hoạt động và tổ chức của Đảng.
Xem thêm

11 Đọc thêm

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Phân tích giá trị và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh Bài tập học kỳ Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án. A. LỜI MỞ ĐẦU: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa hết sức to lớn: trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nâng cao thêm lòng yêu nước, tinh thần phục vụ nhân dân, đạo đức cách mạng cả mỗi người, để làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. B. NỘI DUNG: 1. Nội dung của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh chính là việc nghiên cứu và vận dụng hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh, bao gồm các tư tưởng chủ yếu như: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân do dân và vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức Cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân;... Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta phải nắm bắt được yếu tố cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là: tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. 2. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: 2.1. Việc học tập, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh giúp người học tiếp cận, hiểu rõ hơn về con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh (1951890 – 291969) là một nhà cách mạng, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Người là nhà lãnh đạo nổi tiếng được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, một vị nguyên thủ tài ba mà gần gũi, được hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu mến. Hồ Chí Minh đồng thời cũng là một nhà văn hóa lớn với nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị để lại cho đời. Có thể nói, có rất nhiều yếu tố để tạo nên một con người vĩ đại với những thành tựu xuất chúng và dành được trái tim, tình cảm của nhiều đồng bào trong nước nói riêng và nhân dân thế giới nói chung. Song một yếu tố quan trọng then chốt và cơ bản đó chính là nội lực tự thân bên trong Hồ Chí Minh là toàn bộ tư tưởng, quan điểm, nhận thức cũng như phẩm chất đạo đức của Người. Vì vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta khám phá và hiểu rõ hơn những phẩm chất, quan niệm sâu sắc của Người, cũng là qua đó tìm ra cho mình một tấm gương sáng để noi theo và những bài học bổ ích để vận dụng trong cuộc sống. Đối với Hồ Chí Minh, giữa tư tưởng với đạo đức – phong cách – lối sống là luôn thống nhất nên việc nghiên cứu tư tưởng của Người không chỉ cho ta cái nhìn giản đơn về những quan niệm của Người trong các lĩnh vực, mà mặt khác còn cho ta cảm nhận được phẩm chất, đạo đức cao đẹp của Người. Hồ Chí Minh là con người “bằng xương bằng thịt” nhưng Người làm được những việc phi thường, to lớn không phải bất cứ một ai cũng làm được. Hồ Chí Minh cùng thành quả của Người chính là tấm gương sáng “người thực việc thực” cho những ai am hiểu sâu sắc về những tư tưởng của Người có thể học tập, làm theo. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn là một trong những con đường để nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về công lao to lớn của Người đối với nhân dân, đất nước Việt Nam và nhân dân của các nước thuộc địa trên thế giới. Thấm thía công lao của Người cũng sẽ khơi gợi trong mỗi một người dân Việt Nam lòng biết ơn, lòng tự hào dân tộc, thể hiện được nét đẹp truyền thống của dân tộc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. 2.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác trong thời đại ngày nay. Những tư tưởng của Hồ Chí Minh mặc dù có tính khái quát cao về các lĩnh vực có nội hàm rộng lớn như dân tộc và cách mạng dân tộc, chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản, Nhà nước, tư tưởng đại đoàn kết, quân sự, nhân văn, đạo đức, văn hóa... nhưng lại có tính thực tiễn và áp dụng rất cao, có thể được vận dụng hiệu quả trong từng công việc nhỏ lẻ của mỗi người dân. Thấm nhuần được các tư tưởng chủ đạo, ta sẽ có nền tảng vững chắc về mục đích lao động, mục tiêu đúng đắn để phát triển đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa và có bản sắc riêng. Từ đó ta sẽ tìm ra đường hướng cụ thể để phát triển năng lực của bản thân, xây dựng đất nước. Trên nền tảng kiên định lập trường, vững vàng quan điểm ấy, việc nắm rõ được bản chất của các tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cho mỗi người nâng cao được khả năng tư duy lý luận sắc bén và cải tiến phương pháp lao động hiệu quả và khoa học hơn. Thay đổi được tư duy nhận thức đúng đắn cũng chính là loại bỏ, bài trừ những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực, phiến diện, phản động, hướng con người đến những tư tưởng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Nếu đổi mới tư duy có vai trò dẫn dắt khởi nguồn cho sự tiến bộ thì cải tiển phương pháp cũng quan trọng không kém trong việc hiện thực hóa những dự định, quan điểm đổi mới đó. 2.3. Giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh... nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong điều kiện thực tiễn hiện nay, mặt trái của cơ chế thị trường tác động mạnh mẽ, tạo nên sự phân hóa giàu nghèo, phần tầng xã hội, sự suy đồi về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, Đảng viên đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin, tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân vào Đảng. Vì vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, noi gương đạo đức của Người trở nên cần thiết, cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết giúp đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội. 2.4. Nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo. Luôn luôn xuất phát từ thực tế, hết sức tránh lặp lại những lối cũ, đường mòn, không ngừng đổi mới và sáng tạo. Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa, các thế lực phản động thù địch không từ bỏ âm mưu nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội đối với nước ta thông qua cơ chế thị trường và trao đổi, giao lưu văn hóa. Trong điều kiện đó, chúng ta có thể làm gì để vừa mở cửa, hợp tác phát triển kinh tế mà vẫn giữ được độc lập, chủ quyền dân tộc. Muốn vậy chúng ta phải tạo ra nguồn sức mạnh nội lực làm cơ sở cho sự phát triển. Một trong những sức mạnh nội lực đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh. Người có căn dặn: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần cách mạng và khoa học, cái tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, để giải quyết tốt những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn đổi mới hiện nay, tức là phải luôn biết gắn lý luận với thực tiễn, từ tổng kết thực tiễn mà bổ sung làm phong phú thêm lý luận. Do vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là việc học tập có ý nghĩa về mặt định hướng giá trị, tạo nên sức mạnh đồng thời là kim chỉ nam, là nền tảng tư tưởng cho mọi hành động của cả dân tộc. 3. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế hệ thanh niên Việt Nam nói chung và sinh viên ngành Luật nói riêng: Trong huấn thị gửi Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người viết: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy, cho nên phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người.” Điều này cho thấy Người luôn quan tâm đến thanh niên những người chủ tương lai của đất nước. Là sinh viên Luật, không chỉ là những người chủ tương lai của đất nước, mà còn là lực lượng nòng cốt xây dựng nên hệ thống pháp chế nước nhà, xương sống của quốc gia, chúng ta cần phải luôn quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng của mỗi sinh viên Luật ngay từ trong ghế nhà trường. Rèn luyện TÀI: Tự giác trau dồi kiến thức pháp luật, tận dụng triệt để những điều kiện mà xã hội đang tạo ra, không để làm phí hoài tuổi trẻ. Học phải có lý tưởng, phải trả lời được hai câu hỏi của người “Học để làm gì? Học để phục vụ ai?”. Mặt khác, phải thường xuyên tham khảo nhiều phương pháp học trong và ngoài nước để tìm hiểu, đóng góp cho pháp luật nước nhà. Rèn luyện ĐỨC: Ngành luật là chuyên ngành xương sống của quốc gia nhưng cũng vô cùng nhạy cảm cả trong nghề lẫn trong chính trị. Sinh viên luật phải tự nhắc nhở đạo đức nghề nghiệp, đạo đức với quốc gia dân tộc. Kết hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội sinh viên, thường xuyên tổ chức tham gia các buổi học về tư tưởng chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh; cùng nhau thảo luận vai trò của sinh viên Luật và để thấm nhuần hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh trong thế kỉ mới. Kế thừa tư tưởng đó của chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam nói chung và sinh viên Đại học Luật Hà Nội nói riêng trong thời đại mới đang ra sức học tập, để đưa nước nhà “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”. 4. Thực tiễn việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay: Việc giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cách mạng luôn được coi trọng, đặc biệt là giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay đã được đưa vào chương trình giảng dạy của nhiều trường cao đẳng, đại học. Không ít những đoàn viên, thanh niên noi theo tấm gương của Bác đạt nhiều thành công trong học tập cũng như những lĩnh vực khác. Cũng nhờ việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, các cán bộ, đảng viên và đông đảo tầng lớp nhân dân đã nâng cao được nhận thức tư tưởng, cải tiến phương pháp và phong cách làm việc, kiên định mục tiêu, góp phần đưa công cuộc đổi mới đi tới những thắng lợi to lớn. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, việc học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh chưa thật sự hiệu quả. Vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đơn vị, người dân chưa thấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, chưa tự giác tham gia. Việc vận dụng, học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính dập khuôn, cứng nhắc. Một số cán bộ chủ chốt chưa gương mẫu và tích cực trong học tập do đó chưa tạo được phong trào học tập sôi nổi ở cơ quan đơn vị. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một công tác vô cùng quan trọng, nhưng lại chưa thật sự mạnh mẽ, chưa huy động được nhiều lực lượng tham gia. ` C. KẾT LUẬN: Với những ý nghĩa hết sức to lớn như trên, tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 1991), Đảng đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Và từ đó tới nay, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là ngọn đèn soi sáng cho con đường của chúng ta, là vũ khí lý luận có giá trị khoa học sâu sắc và có ý nghĩa thực tiễn to lớn; là tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Liên hệ bản thân

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. LIÊN HỆ BẢN THÂN

Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa MacLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta. Một trong những nguyên tắc lý luận cơ bản mà Đảng ta đã vận dụng là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác Lênin.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơbản, là linh hồn của triết học Mác Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học,C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó vớithực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lýluận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và cơsở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận động,biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhấtbiện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những biểuhiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử.Để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nghiên cứu mặtlý luận của vấn đề này, bằng những kiến thức được học từ môn Những nguyênlý cơ bản của chủ nghĩa MácLê nin, đặc biệt là nội dung về lý luận và thựctiễn, em xin nghiên cứu đề tài: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và các căn bệnh do không quán triệt mỗi nguyên tắc này (bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa)”
Xem thêm

12 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn thi triết học và gợi ý trả lời

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI

Câu 1:Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 2: Phân tích cơ sở lý luận của khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Câu3 :Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.Câu 4:Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến.Nguyên tắc toàn diện là gì – các yêu cầu của nguyên tắc toàn diện?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc toàn diện gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 6: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển nguyên lý về sự phát triển.Nguyên tắc phát triểnlà gì – các yêu cầu của nguyên tắcphát triển ?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc phát triểngợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 9: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin. Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nưoc ta hiện nay.Câu10: Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu11: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KTXH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?Câu12:Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người. Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.Câu13:Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?CÂU 14: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin:“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Gợi ý Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học… C. Mác Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hội hình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội; PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung.+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội+ Bản chất con người…+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sửCÂU15: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin:“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Gợi ýGải thích: Luận điểm trên chỉ rõ sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên diễn ra theo các quy luật khách quan mà quy luật cơ bản, quan trọng nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; điều đó có nghĩa, xét tới cùng sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu từ sự phát triển của LLSXKhái niệm HTKT – XH và cấu trúc của HTKT – XHChứng minh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên theo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là được bắt đầu từ sự phát triển của LLSX.CÂU 16: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.Gợi ýGiai cấp là gì?Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt lý luận: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt thực tiễn Dùng thực tế lịch sử để chứng minhCâu 17: Anh ( chị) hãyphân tích quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người và vận dụng các quan điểm này vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.Gợi ýQuan niệm về con người trong triết học Mác:+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội+ Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội+ Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sửVận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay:+ Phải biết quan tâm đến con người bản năng+ Phải biết quan tâm đến lợi ích vật chất của con người+ Phải biết quan tâm đến lợi ích cá nhân,kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể+ Phải biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người trong quá khứ; đồng thời phải biết xây dựng mẫu người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử…Dùng thực tế lịch sử để chứng minhBÀI LÀMCâu 1: Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dung nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Cơ sở lý luận:Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện . Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan. Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải : Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là: Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội...) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.Câu 2: Phân tích cơ sở triết học (lý luận và phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức. Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định . Phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học đời cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của MÁC và Ăngghen .Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức . Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người .Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức, tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất.Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan.Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan .Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như vậy , từ chủ nghĩa MácLênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên.Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước a trãi qua. Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên: Triết học DVBC chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi vạn vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao. Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội:Triết học DVBC chỉ ra rằng, chính lao động và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ . Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn. Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển . Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức. Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó là phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết ... Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ tính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo TGKQ. Ý thức mang bản chất xã hộiKhi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ. Đây là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Liên hệ thực tế: Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 121986). Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn. Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức..” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” một cơ chế gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông. Còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng.Câu 4: AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý‎ luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn?Trả lời: (Tham khảo thêm sách TH P2, trang 70).
Xem thêm

52 Đọc thêm

Đề cương ôn tập triết học Cao học Kinh tế quốc dân

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC CAO HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Đề cương ôn tập triết học Cao học Kinh tế quốc dânCâu 1: Thông qua một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng duy vật anh (chị) hãy làm rõ những tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp la mã cổ đại.Câu 2: Tại sao nói mối quan hệ giữa đức tin và lý tính là vấn đề trung tâm của triết học Tây Âu thời trung cổ Câu 3: Bằng những kiến thức triết học anh (chị) hãy làm rõ đặc điểm triết học thời kỳ phục hưng ở Tây Âu. Câu 4: Anh (chị) hãy làm rõ vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận là một trong những trọng tâm của thiết học Tây Âu thời cận đại.Câu 5: Từ lập trường triết học duy vật biện chứng anh (chị) hãy đánh giá về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.Câu 6: Anh (chị) hãy trình bày triết lý của Phật giáo về thế giới và con người.Câu 7: Triết học Trung Hoa cổ đại:+ Khổng tử+ Lão Tử+ Pháp GiaCâu 8. Vấn đề con người trong triết học Mác Lênin và ở nước ta hiện nayCâu 9. Thống nhất nguyên tắc giữa lý luận và thực tiển trong triết học Mác Lênin (nhận định của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của chủ nghĩa Mác Lênin)Câu 10. Chủ nghĩa duy vật Mác Lênin cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học
Xem thêm

17 Đọc thêm

 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG BẠO LỰC – GIÁTRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG BẠO LỰC – GIÁTRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

con đường hoà bình để giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp và giải phóngdân tộc. Nhưng cơ hội đó thật vô cùng hiếm hoi và những người bị áp bức bóclột, bị xâm lược không thể trông chờ vào sự "tự giác" trao quyền lực của giai cấpthống trị cho mình. Lịch sử cách mạng thế giới và Việt Nam đã chứng minh điềuđó. Kinh nghiệm thực tiễn cũng chỉ ra rằng, tiến hành đấu tranh bằng con đườngbạo lực cách mạng sẽ rút ngắn sự khổ đau, quằn quại của quần chúng nhân dândưới sự bóc lột hà khắc của giai cấp thống trị, sự xâm lược của chủ nghĩa đếquốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "... những người cách mạng ViệtNam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sức sống của Cách mạng tháng Mười vàchủ nghĩa Mác - Lênin. Điều đó tựa như người đi đường đang khát mà có nướcuống, đang đói mà có cơm ăn". Sử dụng bạo lực trong đấu tranh cách mạng củagiai cấp vô sản khác về bản chất so với việc giai cấp thống trị và những kẻ đixâm lược dùng quân đội nhà nghề với súng đạn, phương tiện quân sự để tiêudiệt những người cách mạng nhằm bóp chết phong trào đấu tranh giai cấp, đấutranh dân tộc để thiết lập, duy trì sự thống trị của chúng. Do vậy, việc lựa chọnbạo lực cách mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dântộc, giải phóng con người không mâu thuẫn với quan điểm lý luận; trái lại, làbiện pháp tích cực để thực hiện nguyện vọng được giải phóng của quần chúngcần lao, là con đường đúng đắn nhất để thực hiện mục tiêu cao đẹp - vì lợi íchcủa nhân dân lao động. Trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam vàđế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đại diện cho ý chí của dân tộcnêu quyết tâm "CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ”có thể còn kéo dài. Đồng14bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyếttâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn".- Trong tư tưởng về sử dụng bạo lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiệnsâu sắc, sinh động ở cách tổ chức lực lượng và hình thức tiến hành bạo lực cáchmạng. Trên cơ sở nhận thức vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với
Xem thêm

25 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT BÀN VỀ BỆNH KINH NGHIỆM, GIÁO ĐIỀU TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT BÀN VỀ BỆNH KINH NGHIỆM, GIÁO ĐIỀU TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Người mắc bệnh kinh nghiệm thường thoả mãn với vốn kinh nghiệm bản thân, ngại học lý luận, không chịu nâng cao trình độ lý luận, coi thường khoa học – kỹ thuật, coi thường giới tri thức, thiếu nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ trì trệ. Ở nước ta, điều kiện sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ dân trí còn thấp, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển, tư tưởng Nho giáo phong kiến còn ảnh hưởng nhiều trong nhân dân là mảnh đất lợi cho bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa nảy sinh.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Bài giảng: Tư tưởng Hồ Chí Minh

BÀI GIẢNG: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

THÔNG TIN CHUNG VỀ MÔN HỌC Tên môn học: Tư tưởng Hồ Chí Minh Mã môn học: Số tín chỉ: 2 Thuộc chương trình đào tạo trình độ Đại học, Cao đẳng các khối không chuyên ngành MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại môn học: bắt buộc Các môn học tiên quyết: Sinh viên phải học xong môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácLênin. Các môn học kế tiếp: Đường lối cách mạng của Đảng CSVN Giờ tín chỉ đối với các hoạt động: + Nghe giảng lý thuyết: tiết + Thảo luận tại lớp: tiết Khoa phụ trách môn học: Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, thuộc Khoa Lý luận chính trị. Nội dung: Ngoài chương mở đầu, nội dung môn học gồm 7 chương + Chương 1: Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh + Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc + Chương 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam + Chương 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam + Chương 5: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế + Chương 6: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân + Chương 7: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới Tài liệu học tập:1. Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn MácLênin tư tưởng Hồ Chí Minh, “Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb CTQG…2. Bộ Giáo dục Đào tạo, “Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb CTQG, HN2009…3. Hồ Chí Minh, “Hồ Chí Minh toàn tập”, Nxb CTQG, HN2000.4. Ban Tư tưởng văn hóa TW, “Tài liệu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb CTQG, HN2003.5. Các Nghị quyết, văn kiện của Đảng6. Các sách, báo, công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh (của các tác giả khác)Chương mở đầuĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHGv: Lý Kim Cương__________I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh a. Khái niệm “tư tưởng” Tư tưởng là hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo thực tiễn, cải tạo hiện thực. Nhà tư tưởng: là người biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trịsách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát. b. Khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người (Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, HN2009, tr 14)I.ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1.Đối tượng nghiên cứu Hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam. Quá trình vận động, hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh  khẳng định sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử. Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung, đặc điểm, bản chất khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Quá trình nhận thức, vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và nhà nước ta. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với kho tàng lý luận cách mạng thế giới.3. Mối quan hệ của môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh với các môn lý luận chính trị khác Mối quan hệ của môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh với môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácLênin: Chủ nghĩa MácLênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng MácLênin. Mối quan hệ của môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh với môn học Đường lối cách mạng của Đảng ộng sản Việt Nam: tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng là bộ phận nền tảng tư tưởng của đường lối Đảng.II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Cơ sở phương pháp luận Thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa MácLênin và những quan điểm có giá trị phương pháp luận của Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận quan trọng giúp ta hiểu đúng nội dung, bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin yêu cầu khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: a. Nguyên tắc tính đảng và tính khoa học b. Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn c. Quan điểm lịch sử cụ thể d. Quan điểm toàn diện và hệ thống e. Quan điểm kế thừa và phát triển f. Kết hợp nghiên cứu tác phẩm với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí Minh. 2. Các phương pháp cụ thể Phương pháp lịch sử và logique Các phương pháp khác: phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp khai thác nhân chứng lịch sử, phương pháp trực quan… III. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác 2. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trịChương ICƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHGv: Lý Kim CươngI. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Cơ sở khách quan a. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX Các đặc điểm chính trịxã hội nổi bật của Việt Nam cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX ?  Yêu cầu của xã hội? Các đặc điểm, các yêu cầu trên có tác động gì đến Hồ Chí Minh? Đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? Bối cảnh thời đại (quốc tế) + Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của nhân dân lao động thuộc địa và giai cấp vô sản ở chính quốc. <=> Cách mạng thuộc địa muốn thắng lợi phải đoàn kết với nhau và đoàn kết với cách mạng vô sản thế giới. + Năm 1917, cách mạng tháng Mười (Nga) thành công mở ra một thời đại mới: thời đại thắng lợi của cách mạng vô sản, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một xu thế tiến bộ, xu thế tất yếu của lịch sử. + Tháng 3 năm 1919, Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) ra đời, tạo điều kiện cho việc thực hiện liên minh chiến đấu giữa phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản thế giới. Các đặc điểm thời đại có tác động gì đến quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?b. Các tiền đề tư tưởng lý luận a. Giá trị truyền thống dân tộc Các giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc Việt Nam? (SV phát biểu, trao đổi tại lớp)+ Chủ nghĩa yêu nước+ Tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa, tương thân tương ái+ Tinh thần cần cù, hiếu học, sáng tạo+ Tinh thần lạc quan Kết luận: Truyền thống văn hóa dân tộc là cơ sở lý luận quan trọng  hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh: + Thúc đẩy Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước + Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kế thừa và phát triển các giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc. b. Tinh hoa văn hóa nhân loạiHồ Chí Minh tiếp thu và chọn lọc, phát triển các giá trị tích cực trong các trào lưu tư tưởng văn hóa nhân loại phương Đông, phương Tây: Phương Đông? + Tư tưởng Nho giáo+ Tư tưởng Phật giáo+ Tư tưởng của các nhà cách mạng phương Đông: Tôn Trung Sơn, Gandhi Phương Tây: tư tưởng dân chủ và cách mạng của các trào lưu dân chủ tư sản phương Tây+ Chủ nghĩa nhân văn trong văn hóa Phục hưng+ Tư tưởng dân chủ trong văn hóa khai sáng + Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái – ngọn cờ của cách mạng tư sản phương Tâyc. Chủ nghĩa MácLênin Chủ nghĩa MácLênin trang bị cho Hồ Chí Minh thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học  tạo nên sự chuyển biến sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh: chuyển từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang yêu nước theo lập trường vô sản.  giúp Hồ Chí Minh xác định đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản.==> Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa MácLênin là “cẩm nang thần kỳ”, là ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa MácLê nin với tinh thần sáng tạo và phát triển cho phù hợp với đặc điểm cách mạng Việt Nam chứ không giáo điều, máy móc.2. Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh Khả năng tư duy và trí tuệ của Hồ Chí Minh? Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh? II.Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh a.Trước 1911: Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước Môi trường giáo dục của quê hương, gia đình và thực tiễn xã hội Việt Nam  hình thành những phẩm chất cao quý ở Hồ Chí Minh (mầm mống đầu tiên của những tư tưởng lớn: yêu nước, thương dân, sớm có hoài bão cứu nước…).b.19111920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Khảo sát các nước  Hồ Chí Minh kết luận: chủ nghĩa đế quốc là cội nguồn của mọi áp bức, bất công. 1861919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gởi đến Hội nghị Versailles bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”. Sau sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là trò bịp bợm lớn” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t1, tr 416). Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa (Lênin)  bước đầu lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia bỏ phiếu tán thành Quốc tế III  góp phần sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản, chuyển từ yêu nước truyền thống sang yêu nước theo lập trường vô sản).c. 19201930: giai đoạn hình thành về cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam Hoạt động thực tiễn? + Nguyễn Ái Quốc phụ trách Ban nghiên cứu thuộc địa của ĐCS Pháp. + Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa (71921) và tờ báo Le Paria (báo Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa. + Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, tham dự nhiều Đại hội quốc tế. Tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế nông dân (cuối năm 1923), Đại hội Quốc tế thanh niên, Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924)… + Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Trung Hoa Liên lạc với những người Việt Nam yêu nước, mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên yêu nước Việt Nam (tại Quảng Châu). Tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (61925)  báo Thanh niên. Triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam  Đảng Cộng sản Việt Nam (321930). Hoạt động lý luận?+ Viết báo+ Viết sách (Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh)+ Tham luận tại các Đại hội quốc tế + Giảng dạy chủ nghĩa MácLênin và đường lối cách mạng Việt Nam cho các lớp huấn luyện chính trị do Người tổ chức tại Quảng Châu.+ Soạn thảo các văn kiện đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quốc dân) Nội dung các văn kiện Đảng, các tác phẩm, bài viết… đã xác định những vấn đề cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam (xác định phương hướng, mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ cách mạng, phương pháp cách mạng, lực lượng cách mạng của cách mạng Việt Nam).d.19301945: giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng Những khó khăn, thử thách? Nguyễn Ái Quốc và các quan điểm tư tưởng của Người bị Quốc tế Cộng sản phê phán là hữu khuynh, xa rời lập trường của giai cấp công nhân, là dân tộc chủ nghĩa, thiếu tinh thần quốc tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định trong thực tiễn? Từ sau ĐH VII của Quốc tế Cộng sản (71935), Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện triệt để những quan điểm đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc  Cách mạng Tháng Tám thành công. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam.e. 19451969: tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam  Hồ Chí Minh tổng kết, phát triển lý luận về kháng chiến đi đôi với kiến quốc, về nghệ thuật quân sự, về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chiến tranh và đất nước bị chia cắt hai miền, về Đảng Cộng sản, về đạo đức, nhân văn, văn hóa; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân … III. GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc a. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc ta b. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển thế giới a. Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng thời đại: độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội, xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác, hữu nghị… b. Tư tưởng Hồ Chí Minh vạch ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người: Xác định con đường cứu nước ở các thuộc địa: giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản. Phương pháp thức tỉnh các dân tộc bị áp bức Phương thức đấu tranh chống CNĐQ c. Cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN1. Phân tích nguồn gốc, cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong các nguồn gốc đó, nguồn gốc nào là quan trọng nhất, quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh? Vì sao?2. Trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những giai đoạn đó, giai đoạn nào tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa vạch đường đi cho cách mạng Việt Nam? Chứng minh?3. Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh?
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.PHẦN I : MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN PHẠM TRÙ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I Phạm trù lý luận và phạm trù thực tiễn1.Nhận thức luận của các nhà triết học trước Mác2. Phạm trù thực tiễn và lý luận trong triết học MacLenin2.1 Phạm trù thực tiễn:2.2 Phạm trù lý luận2.3 Vai trò rất to lớn của thực tiễn đối với nhận thứcII Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 1. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn2. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn3. Lý luận và thực tiễn là thống nhất4. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin.5. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn góp phần thúc đẩy sự phát triển của trình độ nhận thứcPHẦN II : VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNGI.Quá trình phát triển kinh tế Việt NamII. Lý luận thực tiễn trong sự phát triển kinh tế xã hội và đổi mới kinh tế hiện nay2.1 Sự phát triển kinh tế xã hội 2.2 Nghiên cứu tham khảo : “Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Hội thảo khoa học quốc gia tại trường ĐH KTQD ngày 22092009)III . Phương hướng giải pháp cho thời gian tới1) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các tri thức khoa học mà nhân loại đã đạt được vào điều kiện cụ thể của nước ta2) Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.3) Trong giáo dục, đào tạo phải kết hợp lý luận với thực tiễn, học với hành4) Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Xem thêm

31 Đọc thêm

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Triết học Mác Lê Nin. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏi cấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cá nhân, của tổ chức và của một chính đảng. Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối quan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý. .. luôn là chìa khóa để để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định. Ngược lại, nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ quan duy ý chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại mà đối với một chính đảng, sự thất bại đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.Trên cơ sở những nhận thức trên của bản thân về tầm quan trọng của việc thấu hiểu nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong mỗi hoạt động, em đã quyết định lựa chọn nội dung: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin” làm đề tài bài tiểu luận của mình.
Xem thêm

21 Đọc thêm

ĐÁP ÁN 30 CÂU ÔN TẬP TRIẾT HỌC PHẦN 2

ĐÁP ÁN 30 CÂU ÔN TẬP TRIẾT HỌC PHẦN 2

ĐÁP ÁN 30 CÂU TRIẾT PHẦN 2 Câu 1: Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế gới quan khoa học (TGQKH). Câu 2: Anh ( chị) hảy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta? Câu 3: Đảng ta khẳng định: “mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Anh chị hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó? Câu 4: Bằng lý luận và thực tiễn, anhchị hãy chứng minh rằng ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo thế giới? Câu 5: AnhChị hãy phân tích hoàn cảnh xuất hiện, nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng Câu 8: Nguyên lý? Nguyên tắc? Mối quan hệ giữa chúng. AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Câu 10: Phân tích nội dung quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó. Câu 11: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phụ định và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận. Câu 12: Bằng lý luậnvà thực tiễn. Anh chị hãy chứng minh rằng cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới luân là qúa trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ. Câu 13: Anh Chị hãy giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm” Câu hỏi 14: Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử cụ thể (LSCT) là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc LSCT. Câu 15. Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng? Câu 16: Lý luận? thực tiễn? Anh chị hãy phân tích những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Câu 18: AnhChị hãy nêu ra những nguyên nhân cơ bản của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải quán triệt nguyên tắc nào trong triết học Mác – Lênin? Phân tích các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc đó. Câu 19: Anhchị hãy phân tích những tiền đề xuất phát mà Các Mác dựa vào để xây dựng lý luận hình thái kinh tế, xã hội? Câu 20: Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. CÂU 21: Anh Chị hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến triến thượng tầng (KTTT). Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào vào quá trình xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay. Câu 22: Anh (chị) hãy phân tích tư tưởng của Mac: “sự phát triển hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên” Câu 23: Anh(chị) hãy phân tích ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của học thuyết HTKTXH Câu 24: Phân tích Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Câu 25: AnhChi hay phan tich nhung cong hien to lon cua C.Mac, Ph.Angghen va V.I.Lenin vao su phat trien ly luan ve giai cap va dau tranh giai cap? CÂU 26: Anhchị hãy trình bày quan điểm mácxít về đấu tranh giai cấp và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay như thế nào? Câu 27: Anh chị hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nhà nước pháp quyền tư sản? Câu 28: Phân tích vai trò của Nhà Nước đối với quá trình phát triển kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Câu 29. AnhChị hãy phân tích quan điểm của triết học MacLênin về bản chất con người và về vấn đề giải phóng con người. Câu 30: Anh chị hãy trình bày mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của việc xây dựng con người Việt Nam đáp ứng giai đoạn cách mạng hiện nay?
Xem thêm

45 Đọc thêm

CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA ĐÔNG Y QUA NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH

CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA ĐÔNG Y QUA NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH

1. Lý do chọn đề tài Triết học vốn là một ngành khoa học giữ vai trò là nền tảng lý luận, định hướng về mặt thế giới quan và phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học cụ thể. Điều đó có nghĩa rằng triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể, mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luận nhận thức mang tính phổ quát. Phát triển song hành cùng các khoa học cụ thể, triết học đã vạch ra lôgíc của các quá trình nhận thức, trở thành phương pháp luận của nhận thức khoa học ngay từ khi mới ra đời mặc dù chỉ là những tư tưởng còn mang nặng tính trực quan, cảm tính. Triết học Trung Quốc cổ đại với những thành tựu đáng kể cũng đã định hướng cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó chịu ảnh hưởng nhiều nhất, trực tiếp nhất có thể nói đến là Đông y hay Y học cổ truyền. Đông y học có sự gắn bó mật thiết với sự phát triển của các tư tưởng Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại, mối quan hệ này được biểu hiện ngay từ trong quá trình hình thành nên những học thuyết cơ bản đầu tiên của Đông y, trong đó triết học giữ vai trò là nền tảng về mặt lý luận, định hướng cho quá trình nghiên cứu các vấn đề quan trọng của lý luận Đông y như: phương pháp dưỡng sinh; biện chứng luận trị; phương pháp trị bệnh theo thời; … Mối quan hệ giữa triết học với Đông y với tư cách là một ngành khoa học tự nhiên độc lập có thể được lý giải như sau: Khoa học tự nhiên có liên quan đến hệ thống tri thức lý luận của quy luật vận động vật chất. Triết học có liên quan đến học thuyết của thế giới quan, hệ thống quan điểm căn bản của con người đối với chỉnh thể tự nhiên giới. Sự phát triển và hình thành của bất cứ một môn khoa học tự nhiên nào cũng không rời khỏi triết học, mà Đông y học lại thuộc phạm trù khoa học tự nhiên, nên hệ thống lý luận trước sau vẫn không tách rời khỏi triết học cổ đại. Đông y học vận dụng phạm trù khái niệm của triết học để quan sát sự vật, nhờ đó làm sáng tỏ được các vấn đề, đồng thời quán xuyến tất cả các phương diện hệ thống lý luận Đông y, khiến cho hệ thống này trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống lý luận Đông y. Các khái niệm và phạm trù này, thông qua thực tiễn chẩn đoán trị liệu lâm sàng mà có được sự tìm tòi, nghiệm chứng và đào sâu, từ đó làm cho phong phú và phát triển thêm lý luận triết học cổ đại. Như vậy, sự hình thành và phát triển của Đông y, về mặt lý luận, gắn liền với sự tồn tại và phát triển các học thuyết triết học cơ bản của Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại như: tư tưởng thiên nhân hợp nhất; học thuyết Âm dương – Ngũ hành; học thuyết về Khí; một số nội dung triết học được thể hiện trong Chu dịch;… Đây là những tư tưởng triết học xuất hiện từ rất sớm với nội dung phong phú, chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc trong quan niệm cũng như sự đánh giá về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, điều này ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành lý luận Đông y với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu về con người ở phương diện điều trị bệnh tật và chăm sóc sức khỏe. Trên thực tế hiện nay, việc kết hợp điều trị bệnh học giữa Tây y hiện đại với Đông y đã và đang mang lại hiệu quả tương đối rõ rệt, do đó sự kết hợp này đã trở thành mục tiêu hướng đến trong chính sách y tế của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, cũng có một thực tế không thể tránh khỏi đang diễn ra ở nước ta từ khi xuất hiện Đông y cho đến nay chính là sự hiểu biết chưa đầy đủ, hoặc hiểu sai lệch về Đông y. Có nhiều người cho rằng, việc chữa bệnh theo Đông y chỉ đơn giản là kinh nghiệm dân gian được tích lũy, hoặc đó chỉ là những bài thuốc đơn giản từ những loài thảo dược dân gian. Hơn thế nữa, có nhiều thầy thuốc chữa bệnh theo Đông y cũng chưa thực sự hiểu biết đúng đắn về lĩnh vực này với tư cách là một ngành khoa học, dẫn đến những sai lầm không đáng có trong việc xác định nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị bệnh. Điều này không chỉ hạn chế sự phát triển của Đông y mà còn mang lại những tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người. Vấn đề đặt ra lúc này là cần phải có những cơ sở xác thực rằng Đông y không đơn giản chỉ là một phương pháp chữa bệnh dân gian mà hơn thế, nó đã trở thành một ngành khoa học có vị trí không nhỏ trong hệ thống các ngành khoa học cụ thể nói chung và trong lĩnh vực Y học nói riêng. Một ngành khoa học sẽ không được thừa nhận nếu như không có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn chặt chẽ, xác thực. Chính vì vậy, để có thể giải quyết được vấn đề đã nêu trên đối với Đông y thì việc đi tìm cái cơ sở lý luận đầu tiên hình thành nên hệ thống lý luận Đông y là một việc làm cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra. Từ đó, góp phần mang lại sự hiểu biết đúng đắn về Đông y, duy trì và phát huy những giá trị tích cực vốn có của ngành khoa học này trong công tác chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, đồng thời cũng chứng minh và làm rõ ý nghĩa ứng dụng của triết học trong các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Khi bàn về sự ảnh hưởng của các tư tưởng Triết học Trung Quốc cổ đại đối với sự hình thành và phát triển lý luận Đông y đã có rất nhiều tác phẩm và những công trình khác nhau, trong đó nổi bật lên là tác phẩm Hoàng Đế nội kinh – một trong “Tứ đại kỳ thư” của nền văn hóa phương Đông. Hoàng Đế nội kinh được coi là nền tảng của toàn bộ lý luận Đông y, tác phẩm là kết quả của sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các tư tưởng cơ bản như: học thuyết Âm dương Ngũ hành, học thuyết về Khí, tư tưởng Thiên nhân hợp nhất vào việc xác định nguyên nhân gây bệnh, cách phòng và chữa bệnh sao cho phù hợp với sự sinh hóa của trời đất từ đó góp phần lý giải về nguồn gốc hình thành nên lý luận cơ bản của Đông y học. Những giá trị mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học đến nay vẫn còn giữ nguyên, đồng thời đang được củng cố và tiếp tục vận dụng phát triển ở mức độ cao hơn, phù hợp hơn với mục tiêu mà xã hội hiện đại đặt ra đối với vấn đề sức khỏe con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đến Hoàng Đế nội kinh, cũng như những nội dung, giá trị mà tác phẩm mang lại và hầu như các công trình nghiên cứu về tác phẩm này ở góc độ triết học còn rất hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu những tư tưởng y học cơ bản được thể hiện ở Hoàng Đế nội kinh trong mối quan hệ với các học thuyết triết học từ đó góp phần làm rõ cơ sở triết học của Đông y, đồng thời khẳng định những giá trị thiết thực mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học hiện đại đã trở thành một vấn đề mang tính thời sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề sức khỏe của con người đang được quan tâm hàng đầu. Xuất phát từ những lý do trên đây chúng tôi chọn vấn đề Cơ sở Triết học của Đông y qua nghiên cứu tác phẩm Hoàng Đế nội kinh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Xem thêm

123 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

TIỂU LUẬN: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

CHƯƠNG I: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC I. Quan điểm Trong lịch sử triết học, các nhà triết học duy vật trước Mác không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội. Mac-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắng, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng. II. Hoạt động của thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung. Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội là hình thức hoạt động đặc thù của con người. Thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được đặt ra từ trước. Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới. Trong quá trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy, không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở
Xem thêm

23 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT NGUYÊN tắc THỐNG NHẤT GIỮA lý LUẬN và THỰC TIỄN

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Nghiên cứu nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm giúp chúng ta cơ sở phương pháp luận khoa học để giải quyết mọi công việc trong hoạt động thực tiễn. Giúp chúng ta có cơ sở đấu tranh với những biểu hiện sai trái, nhất là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm chống lại các thế lực đang chống phá công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng, phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác trong tình hình mới.

10 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Nghiên cứu nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm giúp chúng ta cơ sở phương pháp luận khoa học để giải quyết mọi công việc trong hoạt động thực tiễn. Giúp chúng ta có cơ sở đấu tranh với những biểu hiện sai trái, nhất là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm chống lại các thế lực đang chống phá công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng, phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác trong tình hình mới.

38 Đọc thêm

LUẬN VĂN: NÂNG CAO KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT” Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN: NÂNG CAO KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT” Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN TỈNH HÀ NAM

Trong đời sống xã hội pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu đảm bảo cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội, bồi đắp nên những giá trị mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỉ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển những giá trị chân chính. Phần “Công dân với pháp luật” trong môn Giáo dục công dân nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều đó thực sự hữu ích cho thế hệ trẻ Việt Nam, giúp họ hiểu biết và vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống. Hiện nay, chúng ta thấy một thực trạng là số lượng vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng, trong số đó có một số lượng không nhỏ là các vụ vi phạm pháp luật do học sinh THPT gây ra. Chúng ta có thể thấy được tình trạng đạo đức, lối sống của một bộ phận học sinh THPT hiện nay còn nhiều bất ổn, từ thái độ học tập, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật của nhà trường,chấp hành pháp luật đến những hành vi tiêu cực trong học tập, thi cử của học sinh và sự xâm nhập các tệ nạn xã hội vào học đường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật và kỹ năng thực hành pháp luật còn rất hạn chế trước những tình huống mà thực tiễn đang đặt ra. Từ những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao kỹ năng thực hành pháp luật trong dạy học phần “ Công dân với pháp luật” ở trường THPT Nguyễn Khuyến Tỉnh Hà Nam”, làm đề tài nghiên cứu. 2.Lịch sử nghiên cứu Việc nâng cao kỹ năng vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn được xem như là nguyên tắc đảm bảo thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học. Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của nhiều tác giả nói về vấn đề này. Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra nguyên tắc phải thống nhất giữa lí luận và thực tiễn để chống lại bệnh kinh viện và bệnh giáo điều. Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách quan hay không, không phải là một vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí”. [14, 491]. Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và trong hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Thực tiễn không có lí luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng. Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông”. [41, 496]. Từ các quan điểm trên đặt ra yêu cầu : Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn. Khi nghiên cứu lí luận phải liên hệ với thực tiễn; học phải đi đôi với hành; lí thuyết gắn liền với thực tiễn; nhà trường phải gắn liền với xã hội. Yêu cầu vận dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh là vấn đề quan trọng của lí luận dạy học ngày nay. Nhìn chung, có nhiều tài liệu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề kỹ năng thực hành của học sinh ở nhiều góc độ khác nhau: Tài liệu giáo dục học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề thực hành
Xem thêm

114 Đọc thêm

GIÁ TRỊ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

GIÁ TRỊ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Việc nghiên cứu, khẳng định và có niềm tin vững chắc vào bản chất cách mạng, khoa học của phép biện chứng duy vật sẽ giúp những người cộng sản có cơ sở nắm vững bản chất những nguyên lý về thế giới quan và phương pháp luận của triết học mácxít, không rơi vào tả khuynh hoặc hữu khuynh, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa xét lại, nhằm vận dụng sáng tạo lý luận triết học MácLênin vào thực tiễn.

20 Đọc thêm

Cùng chủ đề