NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Nội dung đường lối đổi mới":

Hãy nêu nội dung đường lối đổi mới kinh tế và chính trị của Đảng.

Hãy nêu nội dung đường lối đổi mới kinh tế và chính trị của Đảng.

Thực hiện kế hoạch 5 năm 1986-1990. 1.Thực hiện kế hoạch 5 năm 1986-1990 a)Đại hội VI (12-1986) mở đầu công cuộc đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (họp từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986) đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí của Nhà nước  trong thập niên cả  nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng trong thời kì đổi mới. Đại hội khẳng định tiếp tục đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế-xã hội xã hội chủ nghĩa do các Đại hội IV và V của Đảng đề ra. Tuy nhiên, đến Đại hội VI, Đảng ta nhận thức được thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cả một thời kì lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều chặng và hiện chúng ta đang ở chặng đường đầu tiên. Trước mắt, trong 5 năm (1986-1990) cần tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêu của Ba chương trình kinh tế lớn : lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Muốn thực hiện những mục tiêu của Ba chương trình kinh tế, thì nông nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, phải được đặt đúng vị trí là mặt trận hàng đầu và được ưu tiên đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư, về năng lực, vật tư, lao động, kĩ thuật v.v.. b)Kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới bước đầu đạt thành tựu, trước tiên trong việc thực hiện các mục tiêu của Ba chương trình kinh tế. Về lương thực-thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989, chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, vượt so với năm 1987 là 2 triệu tấn, và năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn. Hàng hóa trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng, dồi dào và lưu thông tương đối thuận lợi, trong đó nguồn hàng sản xuất trong nước tuy chưa đạt kế hoạch nhưng vẫn tăng hơn trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng. Các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Phần bao cấp của Nhà nước về vốn, giá, vật tư, tiền lương v.v. giảm đáng kể. Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước về quy mô, hình thức. Từ năm 1986 đến năm 1990, hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần. Từ năm 1989, chúng ta tăng thêm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lướn như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới khác. Năm 1989, nước ta xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo. Nhập khẩu giảm đáng kể, tiến gần đến mức cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Một thành tựu quan trọng khác đã kiềm chế được một một bước đà lạm phát. Nếu chỉ tăng giá bình quân hàng tháng trên thị trường năm 1986 là 20%, thì năm 1990 là 4,4%. Ở nước ta bước đầu đã hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước . Đây là chủ trương chiến lược lâu dài của Đảng. Chủ trương này thực sự phát huy quyền làm chủ kinh tế của nhân dân, khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của quần chúng để phát triển sản xuất và dịch vụ, tạo thêm việc làm cho người lao động và tăng sản phẩm cho xã hội. Bộ máy nhà nước các cấp ở trung ương và địa phương được sắp xếp lại. Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị có một số đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử. Những thành tựu, ưu điểm tiến bộ đạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém. Nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát vẫn ở mức cao, lao động thiếu việc làm tăng, hiệu quả kinh tế thấp, chưa có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Chế độ tiền lương bất hợp lí, đời sống của những người sống chủ yếu bằng tiền lương hoặc trợ cấp xã hội và của một bộ phận nông dân bị giảm sút. Sự nghiệp văn hóa có những mặt tiếp tục xuống cấp. Tình trạng tham nhũng, nhận hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội và nhiều hiện tượng tiêu cực khác chưa được khắc phục. 2.Thực hiện kế hoạch 5 năm 1991-1995 a)Đại hội VII (6-1991) tiếp tục sự nghiệp đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (họp từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991) đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm thừa kế, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đtạ được; khắc phục những khó khăn, yếu kém mắc phải trong bước đầu đổi mới; điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiến lên. Đại hội còn quyết định một số vấn đề về chiến lược lâu dài, đó là thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000. Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội VII của Đảng đề ra nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xã hội của kế hoạch 5 năm 1991-1995 là : đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát; ổn định, phát triển và nâng cao hiêu quả sản xuất xã hội. Ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân; bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Để thực hiện mục tiêu trên, cần phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa. b)Tiến bộ và hạn chế của sự nghiệp đổi mới Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu và tiến bộ to lớn. Trong 5 năm, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, GDP tăng bình quân hằng năm là 8,2%; công nghiệp tăng bình quân hằng năm 13,3%; nông nghiệp là 4,5%. Trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ: Nạn lạm phát từng bước bị đẩy lùi từ mức 67,1% năm 1991, xuống mức 12,7% năm 1995. Tỉ lệ thiếu hụt ngân sách được kiềm chế. Trong 5 năm, xuất khẩu đạt 17 tỉ USD: tăng số mặt hàng có khối lượng xuất khẩu lớn như dầu thô, gạo, cà phê, hải sản, may mặc….; nhập khẩu trên 21 tỉ USD. Quan hệ mậu dịch mở rộng với trên 100 nước và tiếp cận với nhiều thị trường mới. Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 5 năm tăng nhanh, bình quân hằng năm là 50%. Đến cuối năm 1995, tổng số vốn đăng kí cho các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD, trong số đó có khoảng 1/3 đã thực hiện. Hoạt động khoa học và công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường. Công tác giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới sau một số năm giảm sút. Thu nhập và đời sống của các tầng lớp nhân dân ở các vùng đều được cải thiện với mức độ khác nhau. Mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Tình hình chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được củng cố. Nước ta ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây, tham gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng quốc tế. Đến năm 1995, ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước. Các công ti của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào nước ta. Tháng 7-1995, Việt Nam và Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sau 5 năm thực hiện kế hoạch, bên cạnh thành tựu và tiến bộ, còn nhiều khó khăn và hạn chế chưa được giải quyết. Lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, cơ sở vật chất-kĩ thuật lạc hậu; trình độ khoa học  và công nghệ chuyển biến chậm; hiệu quả sản xuất kinh doanh , năng suất lao động thấp. Tình trạng tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, làm ăn phi pháp chưa được ngăn chặn. Những hiện tượng tiêu cực nghiêm trọng kéo dài trong bộ máy Nhà nước. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp cư dân tăng nhanh; đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa,còn gặp nhiều khó khăn. 3.Thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000 a)Đại hội VIII (6-1996) đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996) đã kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VII; tổng kết 10 năm đất nước thực hiện đường lối mới, đề ra chủ trương, nhiệm vụ trong nhiệm kì mới. Xuất phát từ đặc điểm tình hình thay đổi, từ nhận định nước ta đã rời khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược-xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh “ nước ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đại hội của Đảng đề ra nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996-2000 là : Đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần…Phấn đấu và vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội. Cải thiện đời sống nhân dân. Nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. b)Chuyển biến tiến bộ và khó khăn, hạn chế của công cuộc đổi mới Trong 5 năm, GDP tăng bình quân hằng năm là 7%; công nghiệp là 13,5%; nông nghiệp là 5,7%. Lương thực bình quân đầu người tăng từ 360 kg (1995) lên 444kg (2000). Nông nghiệp phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế-xã hội. Cơ cấu các ngành kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động xuất, nhập khẩu không ngừng tăng lên: xuất khẩu đạt 51,6 tỉ USD, tăng bình quân hằng năm 21% với ba mặt hàng chủ lực là gạo (đứng thứ hai thế giới), cà phê (đứng thứ ba) và thủy sản; nhập khẩu khoảng 61 tỉ USD, tăng bình quân hàng năm 13,3%. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt được 10 tỉ USD, gấp 1,5 lần so với 5 năm trước. Các doanh nghiệp Việt Nam từng bước mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Đến năm 2000, đã có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ. Đến hết năm 2000, có 100% tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học và xóa mù chữ: một số tỉnh, thành phố bắt đầu thực hiện chương trình phổ cập giáo dục Trung học cơ sở. Trong 5 năm, có khoảng 6, 1 triệu người có việc làm, bình quân mỗi năm thu hút 1,2 triệu người. Đến năm 2000, nước ta có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư  từ nước ngoài. Những thành tựu, ưu điểm trong 5 năm 1996-2000 và trong 15 năm 1986-2000 thực hiện đường lối đổi mới đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Bên cạnh những thành tựu và ưu điểm, chúng ta gặp không ít khó khăn và yếu kém. -Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc; năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, gia thành cao; hiệu suất và sức cạnh tranh thấp. -Kinh tế Nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể chưa mạnh. -Các hoạt động khoa học-kĩ thuật và công nghệ chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển Tổ quốc. -Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao. Mức sống của nhân dân, nhất là nông dân, ở một số vùng còn thấp. Trong bối cảnh lịch sử đầu thế kỉ XXI, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới đật nước. Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng (4-2001) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2001-2005) và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010), nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại …”. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2001-2005) là rất quan trọng đối với việc thực hiện chiến lược 10 năm (2001-2010). Bước vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm đầu tiên của thế kỉ XXI, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi và hời cơ, song cũng có không ít khó khăn và thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta luôn chủ động nắm bắt thời cơ, tạo ra thế và lực mới, đồng thời luôn tỉnh táo đoán biết và kiên quyết  đẩy lùi nguy cơ, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên mạnh mẽ, đúng hướng.           >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

Đọc thêm

Quá trình thực hiện đường lối đổi mới (1986-2000)

Quá trình thực hiện đường lối đổi mới (1986-2000)

Đường lối đổi mới của Đảng. Đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến năm 2000 đã được thực hiện qua 3 kế hoạch Nhà nước 5 năm. 1.Thực hiện kế hoạch 5 năm 1986-1990 a)Đại hội VI (12-1986) mở đầu công cuộc đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (họp từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986) đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí của Nhà nước  trong thập niên cả  nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng trong thời kì đổi mới. Đại hội khẳng định tiếp tục đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế-xã hội xã hội chủ nghĩa do các Đại hội IV và V của Đảng đề ra. Tuy nhiên, đến Đại hội VI, Đảng ta nhận thức được thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cả một thời kì lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều chặng và hiện chúng ta đang ở chặng đường đầu tiên. Trước mắt, trong 5 năm (1986-1990) cần tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêu của Ba chương trình kinh tế lớn : lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Hình 86. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)   Muốn thực hiện những mục tiêu của Ba chương trình kinh tế, thì nông nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, phải được đặt đúng vị trí là mặt trận hàng đầu và được ưu tiên đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư, về năng lực, vật tư, lao động, kĩ thuật v.v.. b)Kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới bước đầu đạt thành tựu, trước tiên trong việc thực hiện các mục tiêu của Ba chương trình kinh tế. Về lương thực-thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989, chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, vượt so với năm 1987 là 2 triệu tấn, và năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn. Hàng hóa trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng, dồi dào và lưu thông tương đối thuận lợi, trong đó nguồn hàng sản xuất trong nước tuy chưa đạt kế hoạch nhưng vẫn tăng hơn trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng. Các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Phần bao cấp của Nhà nước về vốn, giá, vật tư, tiền lương v.v. giảm đáng kể. Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước về quy mô, hình thức. Từ năm 1986 đến năm 1990, hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần. Từ năm 1989, chúng ta tăng thêm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lưowng thực như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới khác. Năm 1989, nước ta xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo. Nhập khẩu giảm đáng kể, tiến gần đến mức cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Một thành tựu quan trọng khác đã kiềm chế được một một bước đà lạm phát. Nếu chỉ tăng giá bình quân hàng tháng trên thị trường năm 1986 là 20%, thì năm 1990 là 4,4%. Hình 87. Xuất khẩu gạo tại cảng Sài Gòn   Ở nước ta bước đầu đã hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước . Đây là chủ trương chiến lược lâu dài của Đảng. Chủ trương này thực sự phát huy quyền làm chủ kinh tế của nhân dân, khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của quần chúng để phát triển sản xuất và dịch vụ, tạo thêm việc làm cho người lao động và tăng sản phẩm cho xã hội. Bộ máy nhà nước các cấp ở trung ương và địa phương được sắp xếp lại. Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị có một số đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử. Những thành tựu, ưu điểm tiến bộ đạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém. Nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát vẫn ở mức cao, lao động thiếu việc làm tăng, hiệu quả kinh tế thấp, chưa có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Chế độ tiền lương bất hợp lí, đời sống của những người sống chủ yếu bằng tiền lương hoặc trợ cấp xã hội và của một bộ phận nông dân bị giảm sút. Sự nghiệp văn hóa có những mặt tiếp tục xuống cấp. Tình trạng tham nhũng, nhận hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội và nhiều hiện tượng tiêu cực khác chưa được khắc phục. 2.Thực hiện kế hoạch 5 năm 1991-1995 a)Đại hội VII (6-1991) tiếp tục sự nghiệp đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (họp từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991) đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm thừa kế, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đtạ được; khắc phục những khó khăn, yếu kém mắc phải trong bước đầu đổi mới; điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiến lên. Đại hội còn quyết định một số vấn đề về chiến lược lâu dài, đó là thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000. Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội VII của Đảng đề ra nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xã hội của kế hoạch 5 năm 1991-1995 là : đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát; ổn định, phát triển và nâng cao hiêu quả sản xuất xã hội. Ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân; bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Để thực hiện mục tiêu trên, cần phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa. b)Tiến bộ và hạn chế của sự nghiệp đổi mới Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu và tiến bộ to lớn. Trong 5 năm, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, GDP tăng bình quân hằng năm là 8,2%; công nghiệp tăng bình quân hằng năm 13,3%; nông nghiệp là 4,5%. Trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ: Nạn lạm phát từng bước bị đẩy lùi từ mức 67,1% năm 1991, xuống mức 12,7% năm 1995. Tỉ lệ thiếu hụt ngân sách được kiềm chế. Hình 88. Khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ trên Biển Đông   Trong 5 năm, xuất khẩu đạt 17 tỉ USD: tăng số mặt hàng có khối lượng xuất khẩu lớn như dầu thô, gạo, cà phê, hải sản, may mặc….; nhập khẩu trên 21 tỉ USD. Quan hệ mậu dịch mở rộng với trên 100 nước và tiếp cận với nhiều thị trường mới. Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 5 năm tăng nhanh, bình quân hằng năm là 50%. Đến cuối năm 1995, tổng số vốn đăng kí cho các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD, trong số đó có khoảng 1/3 đã thực hiện. Hoạt động khoa học và công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường. Công tác giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới sau một số năm giảm sút. Thu nhập và đời sống của các tầng lớp nhân dân ở các vùng đều được cải thiện với mức độ khác nhau. Mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Tình hình chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được củng cố. Nước ta ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây, tham gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng quốc tế. Đến năm 1995, ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước. Các công ti của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào nước ta. Tháng 7-1995, Việt Nam và Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Hình 90.Lễ kết nạp Việt Nam là thành viên thứ bảy của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)   Sau 5 năm thực hiện kế hoạch, bên cạnh thành tựu và tiến bộ, còn nhiều khó khăn và hạn chế chưa được giải quyết. Lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, cơ sở vật chất-kĩ thuật lạc hậu; trình độ khoa học và công nghệ chuyển biến chậm; hiệu quả sản xuất kinh doanh , năng suất lao động thấp. Tình trạng tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, làm ăn phi pháp chưa được ngăn chặn. Những hiện tượng tiêu cực nghiêm trọng kéo dài trong bộ máy Nhà nước. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp cư dân tăng nhanh; đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa,còn gặp nhiều khó khăn. 3.Thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000 a)Đại hội VIII (6-1996) đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996) đã kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VII; tổng kết 10 năm đất nước thực hiện đường lối mới, đề ra chủ trương, nhiệm vụ trong nhiệm kì mới. Xuất phát từ đặc điểm tình hình thay đổi, từ nhận định nước ta đã rời khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược-xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh “ nước ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Hình 90. Nhà máy thủy điện Yaly (Gia Lai-Kon Tum)   Đại hội của Đảng đề ra nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996-2000 là : Đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần…Phấn đấu và vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội. Cải thiện đời sống nhân dân. Nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. b)Chuyển biến tiến bộ và khó khăn, hạn chế của công cuộc đổi mới Trong 5 năm, GDP tăng bình quân hằng năm là 7%; công nghiệp là 13,5%; nông nghiệp là 5,7%. Lương thực bình quân đầu người tăng từ 360 kg (1995) lên 444kg (2000). Nông nghiệp phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế-xã hội. Cơ cấu các ngành kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động xuất, nhập khẩu không ngừng tăng lên: xuất khẩu đạt 51,6 tỉ USD, tăng bình quân hằng năm 21% với ba mặt hàng chủ lực là gạo (đứng thứ hai thế giới), cà phê (đứng thứ ba) và thủy sản; nhập khẩu khoảng 61 tỉ USD, tăng bình quân hàng năm 13,3%. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt được 10 tỉ USD, gấp 1,5 lần so với 5 năm trước. Các doanh nghiệp Việt Nam từng bước mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Đến năm 2000, đã có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ. Đến hết năm 2000, có 100% tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học và xóa mù chữ: một số tỉnh, thành phố bắt đầu thực hiện chương trình phổ cập giáo dục Trung học cơ sở. Hình 91. Cầu Mĩ Thuận bắc qua sông Tiền (khánh thành ngày 21-5-2000)   Trong 5 năm, có khoảng 6, 1 triệu người có việc làm, bình quân mỗi năm thu hút 1,2 triệu người. Đến năm 2000, nước ta có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư  từ nước ngoài. Những thành tựu, ưu điểm trong 5 năm 1996-2000 và trong 15 năm 1986-2000 thực hiện đường lối đổi mới đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Bên cạnh những thành tựu và ưu điểm, chúng ta gặp không ít khó khăn và yếu kém. -Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc; năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, gia thành cao; hiệu suất và sức cạnh tranh thấp. -Kinh tế Nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể chưa mạnh. -Các hoạt động khoa học-kĩ thuật và công nghệ chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển Tổ quốc. -Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao. Mức sống của nhân dân, nhất là nông dân, ở một số vùng còn thấp. Trong bối cảnh lịch sử đầu thế kỉ XXI, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới đật nước. Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng (4-2001) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2001-2005) và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010), nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại …”. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2001-2005) là rất quan trọng đối với việc thực hiện chiến lược 10 năm (2001-2010). Bước vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm đầu tiên của thế kỉ XXI, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi và hời cơ, song cũng có không ít khó khăn và thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta luôn chủ động nắm bắt thời cơ, tạo ra thế và lực mới, đồng thời luôn tỉnh táo đoán biết và kiên quyết  đẩy lùi nguy cơ, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên mạnh mẽ, đúng hướng.           >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

Đọc thêm

Đường lối đổi mới của Đảng

Đường lối đổi mới của Đảng

Trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm. 1.Hoàn cảnh lịch sử mới Trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1985), cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, song cũng gặp không ít khó khăn. Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, trước hết là khủng hoảng kinh tế-xã hội. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là do ta mắc phải “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng và nhà nước ta phải tiến hành đổi mới. Những thay đổi của tình hình kinh tế thế giới và quan hệ giữa các nước do tác động của cách mạng khoa học-kĩ thuật trở thành xu thế thế giới: cuộc khủng hoảng toàn diện, trầm trọng ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải tiến hành đổi mới. 2.Đường lối đổi mới của Đảng Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (12-1986), được điều chỉnh, bổ sung và phát triển tại Đại hội VII (6-1991), Đại hội VIII (6-1996) , Đại hội IX (4-2001). Đổi mới đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, từ kinh tế chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hóa. Đổi mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới chính trị nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế. Về đổi mới kinh tế, Đảng chủ trương xóa bỏ chế độ quản lí kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường; xây dựng nền kinh tế quốc dân với cơ cấu nhiều ngành, nghề, nhiều quy mô, trình độ công nghệ; phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Về đổi mới chính trị. Đảng chủ trương xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác. >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

Đọc thêm

Đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo trong đổi mới

Đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo trong đổi mới

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta. Hơn ba phần tư thế kỷ đã trôi qua từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam vào con đường đấu tranh cách mạng và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, có nghĩa lịch sử thời đại. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược cũng như trong tổ chức thực hiện đường lối đó. Độc lập, tự chủ, sáng tạo không chỉ là truyền thống, mà còn là nét nổi bật thuộc về bản lĩnh chính trị của Đảng. Bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo biểu hiện rõ nhất ở những lúc cách mạng gặp khó khăn, trước những bước ngoặt của lịch sử, từ đó tạo ra cao trào cách mạng rộng khắp để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhờ có tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã có đường lối cách mạng đúng đắn, luôn luôn chủ động, sáng tạo để đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp, đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua những khó khăn thử thách và giành được những thành tựu to lớn. Vì vậy, việc nghiên cứu về: “Phát huy quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Xem thêm

Đọc thêm

Nội dung và kết quả của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 19501954

Nội dung và kết quả của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 19501954

Nội dung và kết quả của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 19501954Nội dung và kết quả của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 19501954Nội dung và kết quả của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 19501954Nội dung và kết quả của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 19501954

Đọc thêm

Tieu luan đlđn “Bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”

Tieu luan đlđn “Bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 1. Tính khách quan và bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế 3 1.1. Tính khách quan Đảng phải đẩy mạnh quan hệ đối ngoại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế 3 1.2. Bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế 8 2. Một số kinh nghiệm rút ra qua quá trình Đảng hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế 19 2.1. Kiên định với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ; đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế vì lợi ích quốc gia dân tộc 19 2.2. Xác định rõ đối tác và đối tượng trong các hoạt động đối ngoại để có chủ trương, chính sách phù hợp 21 2.3. Coi trọng xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng, tạo vành đai an ninh ổn định để xây dựng và phát triển đất nước 24 2.4. Có thái độ ứng xử đúng đắn trong quan hệ với các nước lớn và các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế 25 KẾT LUẬN 27 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Xem thêm

Đọc thêm

ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI HỘI NHẬP QUỐC TẾ THỜI KÌ ĐỔI MỚI

ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI HỘI NHẬP QUỐC TẾ THỜI KÌ ĐỔI MỚI

ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI NĂM 1986 – 1996 ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI HỘI NHẬP QUỐC TẾ THỜI KÌ ĐỔI MỚI phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan. Đàm phán thành công với Malaixia về giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở vùng biển chồng lấn giữa hai nước thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiêp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý. Về mở rộng thị trường Tham gia các tổ chức quốc tế. Năm 1993, Việt Nam khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế  từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh 1)Bộ luật nào được ban hành vào tháng 121987 là cơ sở pháp lý cho các hoạt động FDI vào Việt Nam. a.Luật thông số đất đai b.Bộ luật tố tụng hình sự c.Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2)Nghị quyết về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới tháng 51988? a.Nghị quyết 10 b.Nghị quyết 13 c.Nghị quyết 07 3)Đại hội VIII có chủ trương “ mở rộng quan hệ với các đảng …… và các đảng phái”? a.Chính quốc b.Cường quốc c.Dân chủ 4)Phương châm của Đại hội VII (2461991) là gì? a.Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển b.Thêm bạn bớt thù c.Tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển KTXH, CNHHĐH đất nước. 5)Tính đến nay Việt Nam đã gia nhập được bao nhiêu tổ chức quốc tế? a.63 b.69 c.85   . 
Xem thêm

Đọc thêm

NỘI DUNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM Môn Đường lối

NỘI DUNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM Môn Đường lối

NỘI DUNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 1. Cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội VN là mâu thuẫn giữa:a. Nông dân địa chủb. Vô sảntư sảnc. Dân tộc VN chủ nghĩa đế quốcd. Tư sản dân tộc và tư sản mại bản 2. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời vào khoảng thời gian nào?a. Trong năm 1884b. Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I của Phápc. Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ IId. Sau chiến tranh TG II 3. Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời vào khoảng thời gian nào?a. Trong năm 1884b. Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I của Phápc. Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của Phápd. Sau chiến tranh TG II 4. Các tổ chức tiền thân của ĐCSVN bao gồm:a. Đảng Tân Việtb. Hội Việt Nam cách mạng thanh niênc. 3 tổ CS: Đông Dương CS Đảng, Đông Dương CS liên đoàn, An Nam CS Đảngd. a, b, c đều đúng 5. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp các yếu tố:a. Chủ nghĩa MácLênin, phong trào công nhân, phong trào yêu nướcb. Chủ nghĩa Mác và phong trào công nhânc. Chủ nghĩa MácLênin, phong trào công nhân, phong trào nông dând. Cả a, b, c sai
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Sử năm 2015 - Bình Định

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Sử năm 2015 - Bình Định

SỞ GD & ĐT BÌNH ĐỊNH ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II – NĂM HỌC 2014 – 2015 TRƯỜNG THPT SỐ 1 PHÚ MỸ Môn: LỊCH SỬ 12 – Thời gian: 45 phút Câu 1: Trình bày ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứ nước (1954 – 1975 )? Theo anh (chị) nguyên nhân nào quan trọng nhất? Giải thịch vì sao? Câu 2: Qua công cuộc đổi mới đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay.Hãy làm sáng tỏ các ý sau: -          Vì sao ta phải đổi mới đất nước? -          Đổi mới như thế nào cho đúng? -          Nêu nội dung đường lối đổi mới đất nước về kinh tế và chính trị? -          Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, với những gì đã đạt được theo anh (chị) chúng ta có thế rút ra được những bài học kinh nghiệm gì? => Tham gia Group học tập trao đổi thông tin phục vụ kỳ thi THPT quốc gia năm 2015: @Môn Toán: @Môn Lý: @Môn hóa: @Môn Sinh: @Môn Văn: @Môn Anh @Môn Địa Lý:  @Môn Lịch sử: 
Xem thêm

Đọc thêm

GIÁO TRÌNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

GIÁO TRÌNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

hiện đoàn kết với giai cấp vô sản các nước, với phong trào cách mạng thếgiới.Từ năm 1925 - 1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mở các lớphuấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Hội đã xây dựng đượcnhiều cơ sở ở các trung tâm kinh tế, chính trị trong nước. Năm 1928, Hộithực hiện chủ trương “vô sản hóa”, đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồnđiền để rèn luyện lập trường, quan điểm giai cấp công nhân; để truyền báchủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận giải phóng dân tộc nhằm thúc đẩy sự pháttriển của phong trào cách mạng Việt Nam.Ngoài việc trực tiếp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanhniên Nguyễn Ái Quốc còn lựa chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi đihọc tại trường Đại học Phương Đông và trường Lục quân Hoàng Phố nhằmđào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.Cùng với việc đào tạo cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức ra các tờ báoThanh niên, Công nông, lính cách mệnh, Tiền phong nhằm truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Quan điểm cách mạng của Nguyễn ÁiQuốc đã thức tỉnh và giác ngộ quần chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranhyêu nước của nhân dân phát triển theo con đường cách mạng vô sản.Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuấtbản tác phẩm Đường cách mệnh .Nội dung tác phẩm Đường cách mệnh:- Đường cách mệnh chỉ rõ: tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Namlà cách mạng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hai cuộc cáchmạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng chứ không phải việc một hai người, do đó phải đoàn kết toàn dân.Nhưng cái cốt của nó là công- nông và phải luôn ghi nhớ rằng công nông làngười chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh.-Về vai trò của Đảng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: Cách mạng muốn thắnglợi thì phải có một đảng lãnh đạo. Đảng có vững, cách mạng mới thành công9
Xem thêm

128 Đọc thêm

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp vềbiên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ởnhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp, các mâu thuẫn lớn của thời đạivẫn rất gay gắt..."[13, tr73-74] là hoàn toàn đúng đắn. Trong bối cảnh thế giớihai cực bị phá vỡ, quan hệ quốc tế dường như đã chuyển từ đối đầu sang đốithoại và nảy sinh xu hướng đa dạng hoá, đa phương hoá trong tiến trình toàncầu hoá, phát triển và phụ thuộc lẫn nhau.Toàn cầu hoá về kinh tế tác độngđến mọi mặt của đời sống quốc tế theo hai chiều thuận nghịch buộc các quốcgia, các tổ chức quốc tế không thể không tính đến trong quá trình hoạch địnhđường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao của mình.Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướngcông cuộc đổi mới, đến năm 1988 Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam đổi mới tư duyđối ngoại. Đường lối đối ngoại đổi mới được công bố tại diễn đàn Đại hộiVII, các Đại hội VIII, IX, X và XI đã khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo, nhạy4bén trong việc hoạch định và thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng,đồng thời bổ sung và phát triển các quan điểm trong đường lối này. Sau hơnhai mươi lăm năm tiến hành đổi mới toàn diện, Viê ̣t Nam đã thu được nhiềuthắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Là một bộ phận hợp thành đường lốiđổi mới của Đảng, đường lối và chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng vàNhà nước Việt Nam đã cho phép khai thác có hiệu quả các nhân tố quốc tế,kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chống chiến lược "diễn biếnhoà bình" của các thế lực thù địch hòng phá hoại thành quả cách mạng ViệtNam, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và đưa cách mạng nước tatiếp tục tiến lên. Tuy những nguy cơ đối với nước ta mà Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣tNam chỉ ra vẫn tồn tại, diễn biến ngày càng phức tạp, tác động lẫn nhau,không thể xem nhẹ nguy cơ nào nhưng nước ta còn những cơ hội lớn được tạora bởi các nhân tố như thế và lực của đất nước ta đã tăng lên sau hơn hai thập
Xem thêm

Đọc thêm

bài giảng chương 5 môn đảng cộng sản Việt Nam

bài giảng chương 5 môn đảng cộng sản Việt Nam

bài giảng chương 5 môn đảng cộng sản Việt Nam về ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA I. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới a. Cơ chế kế họach hóa tập trung quan liêu, bao cấp b. Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Đọc thêm

BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO

BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO

1. Phương hướng- Định hướng nghiên cứu khoa học lý luận, nghiên cứu khoa học gắn chặtvới tổng kết thực tiễn trong nước và thế giới; khẳng định tính đúng đắn, vậndụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đểphát triển đường lối đổi mới của Đảng; giải pháp có sức thuyết phục những vấnđề lý luận và thực tiễn do công cuộc đổi mới đặt ra; từ đó từng bước làm sáng tỏlý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.- Tập trung chỉ đạo việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động trênlĩnh vực tuyên giáo để truyền bá một cách rộng rãi, sâu sắc chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện Đại hội XII của Đảng nhằm xâydựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cán bộ, đảng viên vàđông đảo quần chúng nhân dân, tạo sự nhất trí cao trong Đảng, đồng thuận trongxã hội về cương lĩnh, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước.- Tăng cường tuyên truyền, động viên toàn Đảng, toàn quân và toàndân quyết tâm tự giác, tích cực, sáng tạo thực hiện thắng lợi chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để nhân dân cóniềm tin tất thắng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và chủ nghĩa xã hội; nângcao hiệu quả và đưa vào chiều sâu việc “Học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh”; tuyên truyền kiến thức về quốc phòng, an ninh, bảo vệvững chắc tổ quốc. Nâng cao cảnh giác cách mạng, tiến hành kiên quyết, phốihợp đồng bộ, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòabình” trên các lĩnh vực chính tri, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội…; ngănchặn đẩy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa, phản bác kịp thờinhững luận điệu xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối đổi mới của Đảng của bọn phản động và các thế lực thù địch;đổi mới công tác tuyên truyền nhằm tăng tính thuyết phục, hiệu quả, nâng caotính chủ động và tính chiến đấu, tạo sự gắn bó với nhân dân và thực tiễn đấtnước; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; phát hiện, nhân rộng điển hình,nhân tố mới; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Xem thêm

146 Đọc thêm

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

1.Lý do cấp thiết của đề tàiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Con đường cách mạng của nước ta từ một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp. Cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta rất lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thời kì đổi mới nhận mạnh : “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận”. Đồng chí đặt vấn đề để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, với niềm tin yêu của dân, Đảng phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự lãnh đạo của mình. Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập, nếu thiếu trình độ lý luận, học vấn thì khó mà làm được. Đây là lĩnh vực đầy rẫy những cấp bách, thậm chí là cấp bách nhất phải đổi mới.Trải qua gần 15 năm (1986 – 2000), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đất nước cũng có nhiều điểm khác so với thời kỳ trước đây.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986) của Đảng, trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về các vấn đề của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định Xét trên tổng thế, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội và đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về những vấn đề cơ bản của quá trình đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, và là sinh viên chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em lựa chọn đề tài Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000”.Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào một số quan điểm trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986).
Xem thêm

Đọc thêm

bài giảng chương 6 môn đảng cộng sản Việt Nam

bài giảng chương 6 môn đảng cộng sản Việt Nam

bài giảng chương 6 môn đảng cộng sản Việt Nam về ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ I. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI(19451989) 1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị Hệ thống chuyên chính vô sản (giai đoạn 1955 1975 và 1975 1986) 2. Đánh giá việc thực hiện đường lối

Đọc thêm

đề cương môn Lịch sử Đảng Tư tưởng Hồ Chí Minh

đề cương môn Lịch sử Đảng Tư tưởng Hồ Chí Minh

PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Câu 1: Khái niệm: 3 Câu 2: Nội dung vấn đề dân tộc theo tư tưởng HCM: 5 Câu 3: HCM lựa chọn con đường đi lên CNXH cho cách mạng VN vì: 8 Câu 4: Con đường và biện pháp quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở VN theo TT HCM 12 Câu 5: Sự sáng tạo của HCM trong quan điểm về sự ra đời của Đảng CS VN: 14 Câu 6: Quan điểm của HCM về đại đoàn kết thể hiện trong câu nói: 15 “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết 15 Thành công, thành công, đại thành công ”. 15 Câu 7: Quan điểm của HCM về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. 18 Câu 8: Nội dung phẩm chất đạo đức cách mạng theo quan điểm HCM: 21 PHẦN 2: LỊCH SỬ ĐẢNG 27 Câu 1: ĐCSVN ra đời là 1 tất yếu lịch sử của xã hội VN cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tại vì: 27 Câu 2: Chủ trương phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng CSVN từ 1939 – 1945: 30 Câu 3: a, Nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân (1946 – 1954): 33 Câu 4: Phân tích nội dung và ý nghĩa của đường lối CM dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, được đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 (91960) của Đảng đề ra: 36 Câu 5: Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 (121986) của Đảng đề ra: 38 Câu 6: Nội dung cơ bản của cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do đại hội 7 đề ra: 39 Câu 7: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi của cách mạng VN, thực tế lịch sử CM VN đã chứng minh điều đó: 41
Xem thêm

Đọc thêm

Quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở việt nam

Quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở việt nam

Đường lối Đảng cộng sản Việt NamBài viết Phân tích đường lối xây dựng và phát triển văn hoá của Đảng từ 1986 đến nay, giải thích tại sao Đảng ta lại coi xây dựng và phát triển văn hoá là một trong ba trụ cột của công cuộc đổi mới hiện nay.

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC LICH SU DANG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI

TIỂU LUẬN CAO HỌC LICH SU DANG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI

cho Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, biệnpháp phù hợp, đúng đắn hơn để thực hiện đổi mới ngày càng mạnh mẽ hơn.Từ những kết quả ban đầu của đổi mới kinh tế, Đảng cộng sản Việt Nam đãnhận thức rất rõ vai trò của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, nếu người dân không được tựdo, tự chủ trong kinh doanh, không thật sự được giải phóng mọi nguồn lực, mọisức sáng tạo trong phát triển kinh tế thì không có nền kinh tế thị trường. Điềukiện then chốt để người dân được tự do, tự chủ trong kinh doanh là phải thựchiện dân chủ hóa trong kinh tế.Đại hội XI của Đảng (1/ 2011) đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảocho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảngvà sự quản lý của Nhà nước đồng thời cũng cần phát huy quyền làm chủ củanhân dân tức là cần có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân vào việcthực hiện đường lối và sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để nângcao đời sống nhân dân. Trên thực tế thì những phát minh, sáng tạo của quầnchúng nhân dân được áp dụng vào thực tế rất nhiều, không những là phát minhcủa các nhà khoa học mà còn có sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, đặc biệtlà những người nông dân, họ đã tham gia trực tiếp vào sự sáng tạo ra những máymóc, công cụ lao động phục vụ trực tiếp cho cuộc sống của họ nhằm thay sứclao động chân tay bằng lao động máy móc với mục đích cao nhất là nâng caonăng suất lao động, giải phóng sức lao động. Ví dụ điển hình như tại Hội chợquốc tế AGROVIET 2007 đang diễn ra tại Hà Nội, có một khu trưng bày đặcbiệt, thu hút được sự quan tâm của đông đảo khách thăm quan. Đó chính là cácgian trưng bày máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp do những nông11dân sáng chế, như : Máy bơm nước đạp chân DH4 của ông Nguyễn Tấn Hải(Đồng Hợp, Quỳ Hợp, Nghệ An) sử dụng cho những hộ canh tác lúa ở vùng núi,
Xem thêm

Đọc thêm

CHUYỂN BIẾN KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015

CHUYỂN BIẾN KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015

trọng và phát huy.Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dânTân Yên một lòng theo Đảng làm cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của TWĐảng, cán bộ và nhân dân Tân Yên đã cùng với cả nước đứng lên làm cuộccách mạng tháng Tám thành công, tiến hành các cuộc đấu tranh bảo vệ tổquốc. Phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, bước vào thời kỳ đổi mớiĐảng bộ và nhân dân huyện Tân Yên đã tiếp nhận, vận dụng sáng tạođường lối đổi mới của Đảng do Đại hội VI tháng 12/1986 của Đảng đề ra.Thực tiễn của gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện củaĐảng, huyện Tân Yên đã có những chuyển biến quan trọng về kinh tế - xãhội. Sự chuyển biến đó đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng cũngnhư sự vận dụng một cách chủ động, sáng tạo đường lối của Đảng vào hoàncảnh cụ thể của Tân Yên, nhằm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đạihoá của Tân Yên nói riêng và Bắc Giang nói chung.Tuy công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Tân Yêntrong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn song vẫn còn nhữnghạn chế cần phát huy được tiếp tục tổng kết rút kinh nghiệm nhằm đưa ranhững giải pháp thích hợp để phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế.Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Chuyển biến kinh tế,xã hội huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang từ năm 1997 đến năm 2015’’ làmđề tài luận văn thạc sĩ lịch sử.Từ trước đến nay vấn đề kinh tế , xã hội cả nước nói chung, ở các địa2. Tình hình nghiên cứu đề tàiphương nói riêng, không chỉ được các nhà lãnh đạo mà cả các nhà nghiên cứukhoa học tự nhiên và khoa học xã hội quan tâm.Ngoài các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc, Đảng bộ tỉnh, Đảng bộhuyện, cùng các chủ trương của Đảng, còn có các cuốn sách khảo cứu như:Cuốn sách Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông2
Xem thêm

89 Đọc thêm

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

+ Dương Văn Thịnh (chủ biên), Một số chuyên đề triết học Mác –Lênin: Dùng cho sinh viên chuyên ngành triết học, Nxb. Đại học quốc gia HàNội, năm1997.3+ Trần Văn Thụy , Triết học – lý luận và vận dụng, Học viện Chính trịquốc gia, Hà Nội. Giới thiệu về triết học và vai trò của triết học trong đờisống xã hội. Trình bày khái lược lịch sử triết học trước Mác và triết học Mác Lênin. Tìm hiểu về chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguyên tắc thống nhất giữalý luận và thực tiễn của triết học Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.+ Trần Viết Quang, Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn trong giảng dạy triết học, Trường Đại học Vinh, http://truongchinhtrina.gov.vn- Về vấn đề đổi mới ở Việt Nam: vấn đề này đã được nhiều người quantâm, nghiên cứu như:+ Các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước có nhiều tác phẩm và bài viếtvề công cuộc đổi mới như tác phẩm “Đổi mới để tiến lên” của đồng chíNguyễn Văn Linh gồm 2 tập do nhà xuất bản sự thật xuất bản năm 1988 và1989. Tác phẩm đã khẳng định đổi mới là tất yếu nhằm thúc đẩy cách mạngXHCN không ngừng phát triển. Tác phẩm “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vìCNXH” của đồng chí Đỗ Mười, gồm 5 tập do nhà xuất bản Sự thật xuất bảnnăm 1992 và 1993 đã nêu lên đường lối, quan điểm, biện pháp tiến hành côngcuộc đổi mới trong tất cả các lĩnh vực.+ Một loạt đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ do các nhà khoahọc đầu ngành chỉ đạo tập trung nghiên cứu về thời kỳ quá độ lên CNXH ởViệt Nam như đề tài “Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam kinh nghiệm vàlý luận” do PGS,TS Nguyễn Ngọc Long (Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh) làm chủ nhiệm, đề tài cấp bộ, thực hiện năm 1991, đã nghiệmthu tháng 5/1992. Đề tài đã đề cập đến mô hình, con đường đi lên CNXH ở
Xem thêm

106 Đọc thêm

Cùng chủ đề