PHÂN TÍCH NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.DOC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Phân tích những ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam hiện nay.doc":

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NHẰM THỰC HIỆN TỐT THUẾ NHẬP KHẨU

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NHẰM THỰC HIỆN TỐT THUẾ NHẬP KHẨU

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu Bài tập học kỳ Luật Tài chính 8,5đ
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tài chính
Hội nhập với thế giới là một một xu hướng chung của bất kì các quốc gia nào trong thời kì hiện nay, một trong những phương thức để hội nhập với kinh tế toàn cầu đó là xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xư hướng chung đó của toàn thế giới, chúng ta cũng không ngừng nỗ lực để phát triển nền kinh tế đất nước. Luật Thuế xuất nhập khẩu năm 2005 ra đời đã kịp thời điều chỉnh những quan hệ trong quá trình thu và quản lí hàng hóa xuất nhập khẩu. Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu”.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ NHẬP KHẨU

1. Một số nét về thuế nhập khẩu

a. Khái niệm về thuế nhập khẩu

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhập khẩu tùy thuộc và từng góc độ tiếp cận như :

Xét về phương diện kinh tế, thuế Nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hoá qua biên giới một nước.

Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu.

Ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thuế nhaaph khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào hành vi dịch chuyển hàng hóa qua biên giới của một quốc gia

b. Đặc trưng của thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu có 3 đặc trưng dễ nhận thấy nhất như sau:

Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hoá được phép vận chuyển qua biên giới.

Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu.

Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu.

c. Vai trò thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu có 3 vai trò lớn sau đây:

Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Thuế Nhập khẩu không chỉ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn có tác động tới số lượng và cơ cấu các nguồn thu từ các sắc thuế khác có liên quan. Trong mối quan hệ hữu cơ với các sắc thuế khác, thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách từ những hình thức thuế gắn với hoạt động kinh doanh, thương mại như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp…

Điều tiết hoạt động kinh tế. Thuế Nhập khẩu là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà nước đối với nền kinh tế. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước điều chỉnh quá trình phân bổ và phân bổ lại các nguồn lực của nền kinh tế. Với việc tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hóa trong thương mại quốc tế, thuế nhập khẩu điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và như vậy tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất.

Thuế Nhập khẩu là công cụ hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu đánh thuế ở mức khác nhau đối với từng loại hàng hóa nhập khẩu, từ đó điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và từ đó tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực cho các ngành sản xuất.

2. Pháp luật về thuế nhập khẩu

a. Khái niệm về pháp luật thuế nhập khẩu:

Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu phát sinh giữa nhà nước với người nộp thuế

b.Nội dung pháp luật thuế nhập khẩu

b1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu

Gồm người nộp thuế là tổ chức,cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu( điều 4 luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu) và người thu thuế là Nhà Nước trong đó có những cơ quan đại diện cho nhà nước để thu thuế nhập khẩu như cơ quan hải quan và một số cơ quan chức năng khác.

b2. Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu

Gồm:

Các quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu

Các sự kiện pháp lí

b3. Căn cứ xác định nghĩa vụ thuế nhập khẩu

Đối với những mặt hàng áp dụng thuế suất theo tỉ lệ phần trăm (%), căn cứ tính thuế là:

Số lượng,đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan

Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu

Thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với hàng hóa nhập khẩu

Đối với những mặt hàng nhập khẩu ấp dụng thuế tuyệt đối

Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan

Mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vi hàng hóa nhập khẩu

b4.Phương pháp tính thuế

Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x giá tính thuế x thuế suất(%) của từng mặt hàng ghi trong biểu thuế tại thời điểm tính.

Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối: Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị từng mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x mức thuế tuyệt đối quy định trên 1 đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính

b5. Đồng tiền tính thuế nhập khẩu; đồng Việt Nam, trong trường hợp được phép nộp bằng ngoại tệ thì phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.

b6. Trình tự, thủ tục nộp thuế nhập khẩu

1: Kê khai thuế và tính thuế nhập khẩu

2. Nộp thuế và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu

II. TÌNH HÌNH THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

Luật thuế Xuất khẩu,thuế Nhập Khẩu đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1993 và 1998). Tuy nhiên, luật này đã bộc lộ nhiều bất cập, quy định không hợp lý dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách và ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Để khắc phục, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 đã ra đời. Bên cạnh đó là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đạo luật này đã khắc phục được nhiều bấp cập của Luật Thuế xuất khẩu, thuế Nhập Khẩu 1991.

Trong quá trình thực thi từ 112006 đến nay, đạo luật này đã thể hiện nhiều ưu điểm, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Từ khi Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chính sách thuế, góp phần thúc đẩy hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Trong điều kiện quốc tế hóa nền kinh tế, Việt Nam gia nhập WTO, chính sách về thuế Nhập khẩu ngày càng được mở rộng, mức độ mở cửa thị trường ngày càng cao đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu. Pháp luật thuế nhập khẩu đã phản ảnh chủ trương mở rộng kinh tế quốc tế, mở rộng ngoại giao của nước ta. Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, có các ưu đãi thuế quan, xác định giá tính thuế phù hợp với pháp luật quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Từ đó, thúc đẩy quan hệ ngoại giao với các quốc gia liên quan.

Nguồn thu từ thuế Nhập khẩu là một nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước. Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, tính từ 112011 đến 3132111, thu ngân sách nhà nước của ngành hải quan ước đạt 44.000 tỷ đồng, tăng khoảng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 ra đời đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao sự minh bạch trong hoạt động hải quan, theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Tuy vậy vẫn còn một số hạn chế trong việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như sau:

Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu chưa thật sự triệt để, pháp luật thuế có nhiều chỗ còn lỏng lẻo tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế luồn lách.

Việc kê khai thuế, nộp thuế còn mất nhiều thời gian và còn quá nhiều uẩn khúc.

Còn nhiều cán bộ thuế chưa có đủ năng lực và trách nhiệm trong bộ máy quản lý thuế nhập khẩu….

III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Những nhân tố chung ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế nhập khẩu nói riêng

Pháp luật thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng chung với các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế ở Việt Nam như: Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước; Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới;Chính sách phát triển chung của nhà nước; Nhu cầu của Ngân sách

a. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu.

Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn đó. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chỉ là tấm gương phản chiếu thực trạng tình hình kinh tế và xã hội trong nước và quốc tế mà thôi. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích chung của từng quốc gia với lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, từng cá nhân và hộ gia đình, chính sách thuế xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ có thể sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ; mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc và mục tiêu tự do hóa thương mại.

. Tình hình kinh tế

Hiện nay nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đây bình quân đầu người tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức ổn định, đời sống của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như thất nghiệp, sản xuất suy giảm, hàng hóa sản xuất ngày càng kém cạnh tranh với hàng nước ngoài. Đặc biệt, trong những năm gần đây, hàng hóa tiêu dùng, hàng điện tử của các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngày càng tràn lan trên thị trong nước hàng nội địa gần như không có khả năng cạnh tranh, không còn chỗ đứng trên chính thị trường quốc gia của mình. Vì vậy, Thuế nhập khẩu đã ra đời với chức năng cơ bản của một loại thuế và quan trọng hơn nó còn có vai trò đặc thù đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa ngoại nhập. Vai trò này xuất phát từ nguồn gốc của hàng hóa, hàng nhập khẩu sẽ có giá cả cao hơn do phải chịu một mức thuế nhất định khi nhập khẩu qua các cửa khẩu, cảng biển trong khi hàng hóa trong nước lại không phải chịu phần thuế nhập khẩu này ( trừ những nguyên liệu, linh kiện phải nhập từ nước ngoài về).Vì vậy, Chính phủ xem việc đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để góp phần đảm bảo sức cạnh tranh cho hàng hoa strong nước, hanjc hế được phần nào sự độc chiếm thị trường của hàng ngoại nhập

. Tình hình trính trị

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Hiện nay tình hình chính trị nước ta tương đối ổn định, không xảy ra các cuộc chiến tranh, khủng bổ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thành phần chống phá Nhà nước, những người có hành động phản Đảng và những thế lực thù địch bên ngoài nên phải hết sức đề phòng. Trong thời gian qua, một số vụ tham nhũng, hối lộ đang diễn ra một cách phức tạp nổi cộm như vụ án Dương Chí Dũng với sự nhũng tay của không ít các quan chức cấp cao nhà nước đã gây ra những chấn động lớn đối với cục diện chính trị, kinh tế trong nước. Đặc biệt, gần đây, Trung Quốc đã sử dụng nhiều chiêu trò để thao túng thị trường nông sản trong nước gây ra những bất lợi nhất định đối với quá trình hội nhập kinh tế nước ta. Chính vì vậy, bên cạnh chính sách duy trì nền chính trị trong nước ổn định, Đảng và nhà nước ta cần siết chặt hơn nữa công tác quản lý hàng hóa nhập vào trong nước, tránh để trường hợp lợi dụng chính sách hội nhập để thực hiện âm mưu về chính trị, thao túng thị trường trong nước gây nên nhiều bất lợi cho quốc gia.

b. Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới

Trên thế giới xu hướng chung là các nước cùng liên minh thành lập lên những liên minh kinh tế thế giới để cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Theo đó các nước thành viên sẽ có những thỏa thuận tạo lên khung pháp lý mà muốn tham gia thì quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí đó. Trên thực tế, luật thuế nhập khẩu của mỗi quốc gia sẽ phán ánh tình trạng hội nhập của quốc gia đó và vì vậy nó chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của các điều ước quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, pháp luật thuế nhập khẩu ở mỗi nước( trong đó có cả Việt Nam) được xây dựng và hoàn thiện theo hướng cơ bản sau:
Chuyển hóa các cam kết quốc tế thành các quy định pháp luật trong nước bằng cách đưa vào luật những quy định mới hoặc sửa đổi, điều chỉnh những quy định đã có cho tương thích với các quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia đó đã hoặc sẽ tham gia.

Thừa nhận các quy định quốc tế để áp dụng, sau đó sửa đổi luật pháp cho phù hợp với các quy định quốc tế( Ở Việt Nam hiện nay, giải pháp này được goi là “nội luật hóa” các điều ước quốc tế).

Những chính sách trên đã có tác động lớn tới pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam và dẫn tới những thay đổi trong pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam.Ở Việt Nam,những thay đổi lớn lao và quan trọng trong chính sách thuế xuất nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của AFTA). Ngày 7112006 Việt Nam gia nhập WTO và trở thành thành viên chính thức của WTO từ ngày 1112007. Trước khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật như ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005,…để tương thích với các quy chế của WTO. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật bổ sung, hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật thời hậu WTO. Và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ, nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ. Hầu hết những thay đổi này đều được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn.
Như vậy có thể nói, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến nội dung và thực thi chính sách thuế nhập khẩu ở Việt Nam
c. Chính sách phát triển chung của nhà nước
Dựa trên bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới,Đảng ta đề ra đường lối hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kì. Đảng và nhà nước đã đưa ra hai xu hướng để phát triển kinh tế đất nước đó là:Bảo hộ mậu dịch, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước. Xu hướng thứ hai là tự do hóa thương mại, cắt giảm tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan của xu hướng tự do hóa thương mại. Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”.
Để phù hợp với xu thế chung của thế giới,Việt Nam là lần lượt trở thành quốc gia thành viên của WTO, APEC, IMF, ASEAN…Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương.

Tuy vậy việc trở thành thành viên của các liên minh kinh tế thế giới, việc kí kết những hiệp ước song phương, đa phương cũng lại trở thành một thách thức lớn cho Việt Nam vì Việt Nam phải cắt giảm quá nhiều loại thuế nhập khẩu đưa tới việc giá thành của những hàng hóa nhập khẩu đó giảm xuống trong khi đó chất lượng lại tốt hơn hàng hóa của Việt nam nên hàng hóa sản xuất trong nước không thể cạnh tranh được. Chính vì thế, để đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ về tập quán quốc tế về thuế quan và thương mại,ể bảo vệ được hàng hóa trong nước pháp luật thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam đã quy định việc áp dụng các biện pháp về thuế tự bảo vệ( nhằm bảo hộ các hàng hóa trong nước do bị cạnh tranh không chính đáng với hàng hóa cùng lọai được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam); áp dụng thuế chống bán phá giá( đối với hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam thấp hơn giá thông thường trong giao dịch thương mại; áp dụng thuế chống trợ cấp (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được trợ cấp từ nước xuất khẩu) và áp dụng thuế chống phân biệt đối xử (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt nam được xuất xứ từ nước ngoài mà trước đó đã có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Việt Nam). Đây là biện pháp quan trọng để bảo hộ nền sản xuất trong nước và tạo được nguồn thu đáng kể cho Ngân Sách Nhà nước từ việc “nhập khẩu” hàng hóa

d. Nhu cầu thu Ngân Sách Nhà Nước về thuế nhập khẩu.

Ngân sách nhà nước được hình thành để Nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội đồng thời tạo ra các hàng hóa, dịch vụ công cộng phục vụ cho người dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN trong đó có thuế nhập khẩu. Cũng giống như các quốc gia đang phát triển khác, bên cạnh vai trò bảo hộ hàng hóa, dịch vụ trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài thì ở nước ta, thuế nhập khẩu cũng giữ vai trò quan trọng cho ngân sách nhà nước. Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã ban hành và điều chỉnh các quy định pháp luật về thuế nhập khẩu cho phù hợp với từng giai đoạn nhất định của đất nước. Cụ thể, nhằm hạn chế tiêu dùng đối với một số hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, Nhà nước tăng thuế suất thuế nhập khẩu; đồng thời, để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước, pháp luật thuế nhập khẩu đã có các quy định hạn chế việc nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa mang tính chất tiêu dùng xa xỉ như ô tô, thuốc lá, rượu ngoại... Sự hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với hàng hóa nhập khẩu.

Những số liệu về tỷ trọng của số thu hải quan so với tổng thu ngân sách nhà nước đã thể hiện được sự quan trọng của thuế nhập khẩu. Tiêu biểu, theo số liệu từ phòng thuế xuất nhập khẩu chỉ riêng tại Cục Hải quan Quảng Ninh, tính tới ngày 3032014, Hải quan Quảng Ninh đã thu nộp ngân sách nhà nước đạt 4,734 tỷ đồng, đạt 25,3% kế hoạch Bộ Tài chính giao cho, tăng 62% so với cùng kì năm 2013. Trong đó, đặc biệt là thu từ xăng dầu nhập khẩu. Cụ thể, số thu từ nhóm mặt hàng này đã đạt 2,985 tỷ đồng, chiếm 63% tổng thu toàn Cục; tăng 57% (tương đương 1,087 tỷ đồng) so với cùng kì 2013. Yếu tố tác động tới việc tăng kim ngạch, số thu từ nhóm mặt hàng xăng dầu nhập khẩu được lí giải là do mức thuế suất thuế nhập khẩu nhóm hàng này tăng hơn 4% so với mức thuế suất cùng kì 2013, lượng xăng dầu nhập là 453.000 tấn, tăng 23% (tương đương 87.000 tấn), kim ngạch tăng 14% (tương đương 54 triệu USD) so với năm 2013.

Trước áp lực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4% với lộ trình thực hiện sau 5 đến 7 năm. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu – một trong những loại hình thuế gián thu quan trọng, đang đặt ra những thử thách mới cho việc xây dựng chính sách thuế gián thu, đó là làm sao tiếp tục bảo hộ sản xuất trong nước, tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước, không quá ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Thực tế đã cho thấy, khi thuế nhập khẩu bị cắt giảm, giá cả của một số nhóm hàng hóa như máy móc, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài cũng bị giảm theo. Do nhu cầu trong nước vẫn không giảm và có thể còn tăng lên nên những sản phẩm trong nước có cơ hội tăng lên về số lượng và giảm giá thành. Hệ quả này thúc đẩy nhu cầu mua sắm, tiêu dùng hàng hóa trong nước và làm tăng thu ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân,… Bên cạnh đó, ngoài việc bù đắp cho ngân sách bằng khoản thu của các loại thuế khác, việc cắt giảm thuế nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng nếu không muốn bị loại ra khỏi cuộc chơi.

Như vậy, có thể thấy, với nhu cầu của ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các khoản chi tiêu phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển của đất nước, Nhà nước bằng quyền lực của mình đã có những tác động không nhỏ tới các chính sách cũng như các quy định về pháp luật thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng.

2. Các yếu tố mang tính đặc thù ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam

a. Ý thức của người tham gia nộp thuế nhập khẩu

Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi Luật thuế nhập khẩu. Ý thức của người nộp thuế tốt thì việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu sẽ tốt và ngược lại. Nhưng trên thực tế, việc thực thi pháp luật thuế còn gặp nhiều bất cập và một lý do là do ý thức của người nộp thuế chưa được tốt.

Trên thực tế, người nộp thuế đã luôn có những hành vi gian lận thuế nhập khẩu như:

Khai báo không trung thực về giá tính thuế nhập khẩu,các chủ thể nộp thuế thường không khai báo chính xác mà khai giá nhập khẩu thấp hơn hoặc khai thấp về chất lượng hàng những chủ thể nộp thuế thường khai chất lượng hàng thấp hơn so với thực tế nhằm trốn thuế nhập khẩu…

Gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam cam kết giảm thuế. Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế suất thấp hơn…

Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu Mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập, trị giá hải quan ảnh hưởng đến công tác kiểm tra của hải quan. Một số kiểu lách luật khác….

Chính những hành vi gian lận trên đã có ảnh hưởng xấu tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Pháp Luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam vốn dĩ vẫn chưa được hoàn thiện và còn nhiều kẽ hở khiến cho việc người nộp thuế tìm ra những vết nứt để luồn lách khiến cho pháp luật thuế nhập khẩu đã hổng nay còn hổng hơn. Trong khi đó bộ máy quản lý pháp luật thuế nhập khẩu cũng vẫn chưa được hoàn thiện. Vậy nên có thể nói việc thực hiện pháp luât thuế nhập khẩu có tốt hay không phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của người đi nộp thuế. Nếu người nộp thuế có ý thức tự giác trong việc nộp thuế, sẵn sàng đóng góp ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế nhập khẩu thì dù có còn lỗ hổng thì việc thực thi và quản lý pháp luật thuế nhập khẩu vẫn sẽ trở nên rất dễ dàng ở Việt Nam.

a. Sự quản lý, trình độ quản lý của bộ máy quản lý thuế nhập khẩu

Trong những năm vừa qua, Nhà nước ta đã chăm lo nhiều đến công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, phẩm chất đạo đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ quản lí thuế, tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho công tác quản lí thuế, đổi mới cơ cấu tổ chức ngành thuế cho phù hợp, đổi mới cải cách thủ tục hành chính,… Nói chung, Nhà nước thực hiện các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực quản lí của cả bộ máy quản lí thuế để tiến đến việc ban hành các quy định mới trong pháp luật thuế như: quản lí thuế thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp; quản lí thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ, thực hiện quản lí thuế hiện đại theo chuẩn mực chung. Nhờ đó mà năng lực quản lý của cán bộ thuế ngày càng được bồi dưỡng và đạt được hiểu quả cao trong công tác. Việc thực thi pháp luật thuế trở nên đúng mực, dễ thực hiện hơn.

Tuy vậy cũng không thể không kể tới một số không nhỏ cán bộ công chức còn chưa có năng lực thực sự, thêm vào đó là bộ máy quản lý thuế nhập khẩu còn cồng kềnh, chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến những kẻ hở để những nhà nhập khẩu có thể lách luật nên công tác tự khai tự nộp thuế nhập khẩu ở nước ta vẫn chưa thể thực hiện được

b. Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động nhập khẩu cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Không thể phủ nhận là cơ sở vật chất của ngành hải quan đang ngày càng được hoàn thiện. Hiện nay, chúng ta đang triển khai mô hình thực hiện hải quan điện tử theo Quyết định 1032009QĐTTg, Thông tư 2222009TTBTC. Mô hình này đã đạt được những thành tựu nhất định. Đối với 13 cục hải quan tỉnh, thành phố, số doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện tử đã đạt 43.168 doanh nghiệp; số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đạt 1,58 triệu tờ khai, chiếm tỷ lệ 70%; kim ngạch thực hiện hải quan điện tử đạt 116,7 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 70,3% . Hải quan điện tử mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp như giảm chi phí thủ tục, thời gian…, giảm việc sách nhiễu, tiêu cực. Số chi cục thực hiện hải quan điện tử cũng đã đạt 80 chi cục, chiếm tỷ lệ 95%. Việc này giúp cho hoạt động kiểm tra, giám sát nhập khẩu được dễ dàng, thuận tiện hơn, giúp cho pháp luật thuế nhập khẩu có thể được thực hiện một cách triệt để hơn.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bất cập, thiếu thốn, là yếu tố trở ngại cho việc thực thi thuế nhập khẩu như:Phương tiện, trang thiết bị trợ giúp cho cán bộ hải quan vẫn còn lạc hậu, gây ra nhiều khó khăn, đặc biệt là trong công tác chống buôn lậu ; Nơi làm việc cho cán bộ công chức tại trụ sở Cục hải quan Thành phố cũng như tại các Chi cục cửa khẩu có nhiều khó khăn do mặt bằng làm việc chật hẹp. Tại các cửa khẩu Hải quan không có đất để xây dựng trụ sở mà phải lệ thuộc vào cơ quan chủ quản trên địa bàn (Cảng biển, sân bay, bưu điện…) nên rất khó khăn, bị động trong triển khai nghiệp vụ.

Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị, công nghệ thông tin cũ, không đồng bộ, phần mềm quản lý chưa hoàn thiện nhưng chưa được trang bị mới, nâng cấp, chưa được trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết như: camera quan sát, máy soi, máy phát hiện ma túy… Chính những khó khăn này đã gây ra những cản trở tới việc quản lý, giám sát các hoạt động thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta.

c. Nhu cầu của người tiêu dùng

Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Bởi lẽ có “cầu” thì mới có “cung”. Tuy Việt Nam vừa thoát khỏi danh sách những nước nghèo trên thế giới nhưng ở Việt Nam lại có tâm lí “sính hàng ngoại”. Tuy nhiên trước đây do thuế suất những mặt hàng nhập rất cao nên những mặt hàng nhập khẩu chỉ đến được tay giới thượng và đương nhiên tính về mặt bằng chung thì nhu cầu về hàng nhập khẩu cũng không lớn. Phải cho đến mấy năm gần đây, khi mà kinh tế của nước ta bắt đầu có bước phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, họ đã có nhu cầu nhiều hơn được sử dụng những mặt hàng nhập khẩu với chất lượng tốt, thêm vào đó thuế suất các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng giảm,nó đã làm cho nhu cầu của người dân về hàng nhập tăng lên. Như vậy phần nào nó cũng có ảnh hưởng gián tiếp tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu bởi lẽ khi người dân có nhu cầu, những nhà nhập khẩu sẽ tìm cách để cung ứng được cho khách hàng. Từ đó, những nhà nhập khẩu sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi việc áp dụng thuế nhập khẩu ở nước ta. Còn vấn đề thực thi thế nào(trung thực hay gian lận) lại phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của các nhà nhập khẩu.

d. Những yếu tố khác chi phối pháp luật thuế nhập khẩu.

Ngoài những vấn đề nêu trên, Thuế nhập khẩu Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố khác như những Hiệp định, các văn bản kí kết của Việt Nam với các quốc gia khác. Tính đến giai đoạn hiện tại, Việt Nam đã ký kết gần 50 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia, vùng lãnh thổ. Nội dung thỏa thuận trong các Hiệp định có những phần đã thể hiện tại các văn bản pháp luật trong nước nhưng còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nội luật hóa, khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ trong ngành thuế cũng gặp nhiều khó khăn. Thực hiện các cam kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thực chất liên quan đến quyền lực của Nhà nước về thuế trước xu thế toàn cầu hóa.Quan hệ pháp luật thuế không chỉ chịu tác động của quá trình hội nhập mà còn chịu tác động của quá trình tái cơ cấu các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia.Chính những tác động này ảnh hưởng đến chính sách thuế và hệ thống pháp luật thuế. Nếu không có chính sách và lộ trình, bước đi cụ thể, tác động của hội nhập có thể ảnh hưởng đến quyền tự quyết và quyền chính trị quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần đưa ra những đường lối, chính sách đúng đắn và hệ thống pháp luật thuế phải trên cơ sở đường lối, chính sách mà Đảng, Nhà nước đưa ra.

Yếu tố liên quan đến việc xây dựng và ban hành pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn của nhà lập pháp còn chưa cao, cơ quan lập pháp thể hiện ý chí chủ quan của mình, các văn bản pháp luật liên quan tuy nhiều nhưng chống chéo. Yếu tố liên quan đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật thuế chưa cao, trình độ nhận thức của người nộp

IV. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN PHÁP LÝ NHẰM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA

1. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật .

Thứ nhất : Cần bổ sung thêm một số quy định chi tiết và cụ thể hơn nữa nhằm tạo một hành lang pháp lý đầy đủ và thống nhất cho hoạt động nhập khẩu, đây là giải pháp đòi hỏi phải có tính đồng bộ nhằm tránh việc mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định của Luật và văn bản dưới luật. Trên cơ sở các cam kết của quá trình hội nhập, chúng ta phải nội luật hóa, từ đó xây dựng một hệ thống pháp luật tương thích với những quy tắc chung trong thương mại quốc tế, hướng đến một hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp và có tính khả thi.

Thứ hai: Pháp luật thuế nhập khẩu phải xây dựng một hàng rào bảo hộ thuế quan hợp lý. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế điển hình là việc chúng ta gia nhập WTO đòi hỏi chúng ta phải cắt giảm hàng rào thuế quan, do đó cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng các loại thuế nhập khẩu bổ sung như thuế nhập khẩu để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa. Trong luật thuế xuất nhập khẩu 2005 thì những quy định về các loại thuế này chỉ mang tính hình thức, quy định cho có chứ chưa làm rõ và chưa phát huy được vai trò của các loại thuế này. Trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay, khi vai trò của thuế nhập khẩu buộc phải giảm dần theo các cam kết quốc tế thì việc nâng cao vai trò của các loại thuế nhập khẩu bổ sung là vô cùng cần thiết.

Thứ ba: Về cách quy định thuế suất thuế nhập khẩu: theo quy định của luật thì “thuế suất thông thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng do chính phủ quy định”. Theo cách tư duy ngôn ngữ của người Việt thì quy định này dễ gây hiểu sang hướng thuế suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, tức là thuế suất thông thường tối đã bằng 70% thuế suất ưu đãi chứ không phải là 170% theo cách hiểu của nhà làm luật. Do vậy luật nên đổi lại cách diễn đạt cho phù hợp và dễ hiểu, nhằm giúp những người không nghiên cứu sâu về luật có được cách hiểu đúng nhất khi đọc luật thuế xuất, nhập khẩu năm 2005.

Thứ tư: Về thời hạn nộp thuế: hiện nay luật đưa ra hai tiêu chí để xác định thời hạn nộp thuế là thời hạn xác định theo mặt hàng nhập khẩu và thời hạn xác định theo sự chấp hành pháp luật thuế của chủ thể nộp thuế. Theo em, luật chỉ nên lấy một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế. Như vậy sẽ vừa phù hợp với Luật hải quan đã sửa đổi, bổ sung năm 2005, vừa khuyến khích sự chủ động, tự giác tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế. Nếu dựa trên mặt hàng nộp thuế để xác định thời hạn nộp thuế vô hình chung đã đánh đồng những người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật với những người không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tạo những kẽ hở cho những doanh nghiệp “ma” lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước để trục lợi, trốn thuế.

Thứ năm: Về thuế suất: hiện nay thuế suất thông thường được Bộ tài chính quy định áp dụng thống nhất ở mức bằng 150% thuế suất ưu đãi. Quy định này mang nặng tính duy ý chí và vô hình lấn át cả quy định của luật (luật cho phép dao động ở mức 100% đến 170%). Như vậy Bộ tài chính cần có những quy định cụ thể, trường hợp nào áp dụng thuế suất là bao nhiêu nhằm khắc phục sự cứng nhắc trong áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan cho từng trường hợp riêng lẻ nào.

2. Cải cách thủ tục hải quan theo hướng giản đơn, thông thoáng, hiệu quả, hợp lý.

Thứ nhất: đối với những cải cách trong thủ tục hải quan: hiện nay ngành hải quan đang nỗ lực trong việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan, đây là dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động nhập khẩu được thực hiện một cách nhanh gọn, hiệu quả. Song một số quy định của Luật tuy rất tiến bộ nhưng lại chưa phù hợp với thực tế. Theo những quy định của pháp luật thuế và hải quan kể từ năm 2006 chính thức thực hiện quy trình thủ tục hải quan thực hiện kĩ thuật quản lí rủi ro.

Quản lý thủ tục hải quan phải hướng tới áp dụng phương pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ số để phù hợp với xu hướng chung của thế giới, hạn chế được những khâu rườm rà trong việc kê khai thủ tục. Cùng với đó, phương thức quản lý này cũng giảm được đáng kể tình trạng khai lậu, trốn thuế, góp phần giảm thiểu đáng kể các khâu trong quá trình thu thuế, khai thuế và nộp thuế ở các cửa khẩu. Công tác này nếu dược thực hiện nghiêm túc sẽ đem lại kết quả cao trong công tác hải quan, quản lí và kiểm soát một cách chặt chẽ, sát thực tế nhất.

Thứ hai, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan như Tổng cục hải quan phải kết hợp với Bộ tài chính cải cách và phổ biến cách thức quản lý mới. Chúng ta cần đơn giản hóa bộ hồ sơ hải quan, cụ thể là bỏ bớt một số giấy tờ như giấy giới thiệu, tờ khai trị giá, bộ hồ sơ copy, hợp đồng thương mại. Đặc biệt, nhóm hàng gia công yêu cầu nộp bảng khai nguyên vật liệu cho doanh nghiệp tự cung ứng trong nước là không thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta cần cải cách mạnh mẽ khung pháp lý quản lý hàng nhập khẩu theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch đồng thời tăng cường hiện đại hóa ngành hải quan thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hải quan.

3. Nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và chất lượng đội ngũ cán bộ hải quan.

Cần đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật giúp các cán bộ hải quan hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Đề cập đến vấn đề này tại Hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2011, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Ban chỉ đạo 127 Trung ương phải khẩn trương tổng hợp và đề xuất bổ sung các phương tiện cụ thể để đáp ứng tốt hơn cho công tác chống buôn lậu trong thời gian tới. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng: “Về phương tiện và trang thiết bị, cần có danh mục và đề xuất phương án cụ thể. Trên cơ sở danh mục, đề xuất cụ thể đó, Chính phủ sẽ có chính sách để tập trung trong 1 số năm đẩy mạnh trang thiết bị cũng như công tác đào tạo cho các đồng chí để chúng ta có thể đáp ứng được yêu cầu”.

Đi đôi với việc cải cách thủ tục hành chính, chúng ta cần đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu vì nếu như có một hệ thống pháp luật khoa học, đúng đắn nhưng người thực hiện không làm đúng, làm tốt nhiệm vụ của mình thì cũng không thể mang lại hiệu quả cao được. Theo đó, chúng ta cần lựa chọn công chức có đạo đức, trình độ để bố trí vào những bộ phận cụ thể, có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cán bộ hải quan để nâng cao trình độ nghiệp vụ của họ đồng thời xử lí nghiêm minh công chức vi phạm pháp luật thuế nhập khẩu.

Bên cạnh đó cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu vì công tác thanh tra, kiểm tra có tác dụng bảo đảm việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu đúng đắn hơn, phát hiện những thiếu sót, hạn chế của chính sách để từ đó có thể khắc phục kịp thời, đồng thời tránh tình trạng quan liêu, cửa quyền hay lợi dụng quyền hạn để làm trái pháp luật của một số cán bộ công chức nhà nước.

C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Như vậy có thể nói có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay. Những nhân tố trên là nhân tố thúc đẩy pháp luật thuế nhập khẩu ngày một hoàn thiện hơn. Qua đó có thể thấy, pháp luật thuế nhập khẩu vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được lấp đầy, sửa đổi, bổ sung hơn nữa .
Xem thêm

25 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT CỦA NĂM 2014

PHÂN TÍCH NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT CỦA NĂM 2014

c. Yếu tố xã hộiSự phát triển của nền kinh tế đương nhiên sẽ dấn đến sự thay đổi của xã hội. Cácđiều kiện xã hội phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như văn hóa, giáo dục, y tế…Ngaynhững cái được coi là bản sắc cũng có thể bị mai một, thậm chí còn nhiều biến chấttrước sự thay đổi các điều kiện mới. Nhờ các điều kiện về kinh tế được nâng lên nêncác điều kiện về xã hội cũng có nhiều chuyển biến. Sự chuyển biến này cũng xảy ratheo hai xu hướng hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực. Khi nền kinh tế càng phát triểnthì sự giao lưu văn hóa, lượng thông tin, tri thức…cũng có nhiều hạn chế và do vậylàm khả năng hiểu biết của con người cũng bị giới hạn. Giới hạn này cũng có thểlàm cho con người không được tiếp xúc với pháp luật và vì vậy mà dẫn đến khôngbiết pháp luật mà vi phạm quy định của pháp luật. Ngược lại khi có nhiều thông tincó thể mang đến ảnh hưởng mạnh mẽ và cũng xảy ra theo hai xu hướng. Xu hướngthứ nhất đem lại hiểu biết của con người, các kiến thức về pháp luật thường thức, nótạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thói quen đấu tranh với những biểuhiện tiêu cực. Xu hướng thứ hai là nó có thể đem lại những hiểu biết có hại, nếu cácthông tin được cung cấp là những thông tin không “sạch”, có hại chẳng hạn như:Các thông tin về lẩn tránh pháp luật, mặt hạn chế của thuế tiêu thụ đặc biệt với kíchđộng không thực thu thuế…dễ dấn đền sự lệch chuẩn trong cách ứng xử, trong đócó vi phạm pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Do đó, vấn đề kiểm soát thông tin vàxây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật là vấn đề hết sứcquan trọng đối với nhà nước.Trong những năm qua, dư luận cũng chỉ đích danh Bộ Tài chính, hoặc ám chỉ“người ta” áp mức thuế cao quá, tổng thuế và phí đến hơn 8 ngàn đồng/lít xăng. Tuynhiên, mỗi nước có chính sách thuế khác nhau. Như Thái Lan, mỗi lít xăng gánh21,14 baht thuế và phí, tương đương 13.800 đồng/lít. Điều đáng nói đây là hìnhnhư Bộ Tài chính bị oan. Dư luận trách Bộ Tài chính sao lại áp thuế tiêu thụ đặcbiệt lên xăng. Nhưng Luật thuế tiêu thụ đặc biệt do Quốc hội ban hành năm 2008,ghi rõ mức 10% cho xăng các loại. Đâu phải Bộ Tài chính? Luật thuế bảo vệ môi
Xem thêm

20 Đọc thêm

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU TRONG NĂM 2013

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013 9 điểm
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tài chính
Bài tập học kỳ Luật Tài chính có đáp án.

A, MỞ ĐẦU

Đất nước ta ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu hướng phát triển chung của tất cả các quốc gia. Pháp luật thuế nhập khẩu phản ánh rõ nhất mức độ hội nhập cũng như sự bảo hộ của nhà nước đối với nền kinh tế.Đây không chỉ là chính sách thuế của nhà nước mà còn thể hiện chính sách ngoại giao của nước ta. Thuế nhập khẩu được quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ( Luật TXK, TNK) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong năm 2013, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu, tuy đã có một hệ thống pháp luật tương đối cụ thể nhưng việc thực thi trên thực tế ngoài những thành tựu đạt được thì còn gặp rất nhiều khó khăn.Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam cần được hoàn thiện để đảm bảo cho việc hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả hơn nữa. Để đi sâu nghiên cứu vấn đề này, em xin chọn đề tài : “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013; ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu”. Trong quá trình làm bài, do hiểu biết của em còn hạn chế và vấn đề mang tính thực tiễn cao, nên bài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, để hướng nhìn nhận vấn đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn

B, NỘI DUNG

I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU

1, Khái quát về thuế nhập khẩu

Khái niệm thuế nhập khẩu:

Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, còn nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhập khẩu:

Xét trên phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bang tiền của tổ chức cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước.

Xét trên phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước ( người thu thuế ) với tổ chức, cá nhân ( người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lí cho các bên trong quá trình thu thuế nhập khẩu.

Các đặc trưng cơ bản của thuế nhập khẩu:

+ Thứ nhất: Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới.

+ Thứ hai: Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu.

+ Thứ ba: Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ nền sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu.

2, Khái quát pháp luật về thuế nhập khẩu

Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng kí, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu, phát sinh giữa nhà nước và người nộp thuế.

Xét về phương diện hình thức, pháp luât về thuế nhập khẩu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội; nghị định và nghị quyết của Chính phủ; quyết định chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ…Xét về phương diện nội dung, pháp luật về thuế nhập khẩu lại bao hàm các vấn đề chủ yếu như: phạm vi áp dụng; căn cứ tính thuế nhập khẩu; trình tự, thủ tục tiến hành thu thuế nhập khẩu; chế độ miễn giảm thuế nhập khẩu và hoàn thuế nhập khẩu; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về thuế nhập khẩu.

Có quan điểm cho rằng nội hàm của khái niệm pháp luật về thuế nhập khẩu không chỉ là các quy định trong pháp luật quốc gia mà còn bao hàm cả các quy định trong pháp luật quốc tế có liên quan trực tiếp đến vấn đề thuế nhập khẩu, như Hiệp định CEPT; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định GATT…Như vậy, cần phải quan niệm nội hàm của khái niệm pháp luật về thuế nhập khẩu theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ các quy định trong pháp luật quốc gia mà còn bao gồm cả các quy định trong pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu. Quan điềm này là thích hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại trong giai đoạn hiện nay của thế giới.

II, THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU NĂM 2013

1, Những mặt đã đạt được

Thứ nhất, thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và sản xuất trong nước

Luật TXK, TNK năm 2005 ra đời đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối ngoại và yêu cầu về thu ngân sách nhà nước. Sau một thời gian thực hiện Luật TXK, TNK năm 2005 và Luật Hải Quan ( sửa đổi) đã phát huy tích cực, góp phần vào hiệu quả hoạt động hải quan. Ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu năm 2013 đã được nâng lên, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, giảm thiếu nợ thuế.Năm 2013, nước ta vẫn tiếp tục thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới.Pháp luật nhập khẩu đã tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thúc đẩy quan hệ ngoại giao của nước ta.

Trong năm 2013, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI. Về thị trường, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức 23,7 tỷ USD .Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng từ Trung Quốc tăng so với năm 2012: Máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 25,5% (1,2 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng 73,6% (2,3 tỷ USD); máy vi tinh sản phẩm điện từ và linh kiện tăng 36,8% (1,1 tỷ USD).

Thị trường ASEAN ước tính đạt 21,4 tỷ USD, tăng 2,8% (589 triệu USD) với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 56,3% (1,2 tỷ USD); máy móc thiết bị và phụ tùng tăng 7,9% (16,9 tỷ USD).

Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc ước tính đạt 20,8 tỷ USD, tăng 34,1% (5,3 tỷ USD) với các sản phẩm chủ yếu như: Máy vi tính tăng 60,3% (1,8 tỷ USD); máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 62,8% (993 triệu USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng 78,2% (918 triệu USD). Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 11,6 tỷ USD, giảm 0,18% (21 triệu USD). Thị trường EU ước tính đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4,2% (373 triệu USD). Hoa Kỳ đạt 5,1 tỷ USD, tăng 6,1% (296 triệu USD).

Thứ hai, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Bảng 1: Số liệu thu ngân sách và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 2011 – 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tổng thu ngân sách nhà nước 674.500 741.500 790.800
Tổngthu từ hoạt động xuất nhập k
khẩu 155.765 223.900 237.500
Tỉ trọng từ hoạt động xuất nhập
khẩu so với tổng thu ngân sách
nhà nước (%) 23,09 30,19 30,03

Từ bảng số liệu trên, ta có thể thấy tỉ trọng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu so với tổng thu ngân sách luôn đạt tỉ trọng khá cao, cụ thể năm 2013 là 30,03 %. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012.Tính từ đầu năm đến hết tháng 12 năm 2013, tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt hơn 132,13 tỷ USD, tăng 16,1% so với nhập khẩu năm 2012, tương ứng tăng 18,35 tỷ USD về số tuyệt đối.

Biều đồ 1: Trị giá nhập khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong 12 tháng2013 và 12 tháng2012


Thứ ba: Bảo hộ nền sản xuất trong nước

Về tổng thể, năm 2013 là năm chạm đáy khó khăn chung của cả nền kinh tế thế giới. Các dự báo kinh tế của hầu hết các tổ chức và quốc gia vẫn thường xuyên bị điều chỉnh theo hướng giảm xuống, xu hướng cải thiện nhẹ về tăng trưởng kinh tế sẽ đậm dần ở hầu hết các khu vực, khối và quốc gia. Thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm trong nước còn chưa đủ mạnh thì chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước có vai trò vô cùng quan trọng.

Ví dụ: Thuế NK thang máy đã bảo hộ cho sản xuất trong nước Đó là khẳng định của Bộ Tài chính trước kiến nghị ưu tiên sử dụng thang máy trong nước của Công ty cổ phần thang máy Thiên Nam. Doanh nghiệp đề nghị Bộ Tài chính duy trì mức thuế suất nhập khẩu cao nhất có thể.Trả lời Công ty cổ phần thang máy Thiên Nam về mức thuế suất nhập khẩu, Bộ Tài chính cho hay, theo Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông tư 1932012TTBTC của Bộ Tài chính, mặt hàng thang máy nâng hạ theo chiều đứng (bao gồm thang máy kiểu dân dụng, mã số 8428.10.10; thang máy sử dụng trong xây dựng, mã số 8428.10.21; thang máy nâng hạ loại khác, mã số 8428.10.29) được quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 10% bằng cam kết WTO năm 2013. Khung thuế suất do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định là 010% .Như vậy, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi MFN của các mặt hàng thang máy nâng hạ đã được quy định mức cao nhất có thể để bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất thang máy trong nước.

Hay nâng thuế nhập khẩu đường để bảo hộ nền sản xuất trong nước.Thông tư số 1932012TTBTC có hiệu lực thi hành từ ngày 112013 Bộ Tài chính vừa quyết định nâng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với đường thô từ 15% lên 25%; nâng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các loại đường khác từ 15% lên 40%. thuế nhập khẩu là bảo hộ sản xuất trong nước cùng với mục tiêu quan trọng là bảo vệ và khuyến khích ngành sản xuất mía đường trong nước phát triển, khuyến khích việc tiêu dùng đường sản xuất trong nước và góp phần cân đối cung cầu của mặt hàng đường.

2, Những tồn tại, hạn chế

Quá trình áp dụng Luật TXK, TNK năm 2005 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Tạo kẽ hở cho các nhà nhập khẩu trốn thuế, làm thất thu ngân sách nhà nước. Lợi dụng tình hình kinh tế khó khăn, không ít DN sử dụng nhiều “mánh” để gian lận thuế. Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, năm 2013, hàng loạt vụ việc trốn thuế, lách thuế bị phát giác với những con số cực kỳ lớn, gắn với những danh hiệu đình đám thậm chí rất nhiều án trốn thuế thuế khủng lại do chính những DN nghiệp lớn, luôn tự hào về thành công kinh doanh thực hiện. hàng chục những tên tuổi khác cũng bị cơ quan thuế bắt lỗi với mức trung bình cũng vài tỷ đồng mỗi đơn vị, như công ty cổ phần Sông Đà, Cao su Sao Vàng, nước giải khát Chương Dương…

Không chỉ giới DN tư nhân, đến cả những DNNN kinh doanh hàng thiết yếu nhất cũng vướng vào án “trốn thuế”. Đó là ngành xăng dầu với con số 470 tỷ đồng thuế nhập khẩu mà Kiểm toán Nhà nước vừa phát hiện.Vụ việc thực tế đã gây ồn ào từ tháng 4 năm nay.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng không thoát tai tiếng về nộp thuế. Số thuế bị phát giác khai thiếu không lớn, chỉ hơn 1 tỷ đồng tiền thuế nhập khẩu điện.Lỗi chính bắt nguồn từ việc, EVN đã không báo trước cho hải quan việc tính sản lượng điện mua của Trung Quốc hồi năm 2007 chỉ là tạm thời.

Có 7 doanh nghiệp cùng các sản phẩm sữa có giá khai báo thấp so với cơ sở dữ liệu giá. Các sản phẩm này đã bị Hải quan điều chỉnh tăng giá áp thuế nhập khẩu với mức điều chỉnh từ 2 65%. Tháng 9 năm 2013, Tổng cục Hải quan vừa chính thức công bố với các cơ quan truyền thống danh sách một số doanh nghiệp nhập khẩu sữa bị nghi ngờ khai thấp giá nhập khẩu để trốn thuế nhập khẩu. Và mặt hàng sữa cũng là mặt hàng được Tổng cục Hải quan đưa vào danh sách có nguy cơ cao hay những mặt hàng cần được kiểm tra chặt chẽ về giá do doanh nghiệp tự kê khai để tránh nguy cơ trốn thuế.

Để tìm ra căn nguyên của những tình trạng trên, về cả những mặt làm được và chưa làm được, sau đây e sẽ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu năm 2013.

III, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU TRONG NĂM 2013

Trong điều kiện nước ta ngày càng hội nhập với nền kinh tế quốc tế, pháp luật thuế nhập khẩu bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, sau đây, em xin đi sâu phân tích những yếu tố cơ bản nhất:

1, Yếu tố tích cực

Thứ nhất,trên tinh thần hội nhập và hoàn thiện các quy định của pháp luật, Luật TXK, TNK 2005 tỏ ra minh bạch và hiệu quả hơn những luật thuế trước đây. Luật đã có những quy định phù hợp với Luật Hải quan như các quy định về trị giá hải quan, kiểm tra hải quan.Luật quy định mở rộng hơn về đối tượng không chịu thuế và miễn thuế, phát huy tinh thần tích cực và chủ động của các chủ thể nộp thuế, tạo môi trường bình đẳng cho hàng hóa nhập khẩu vào nước ta… Có một hệ thống pháp luật và chúng phù hợp với thực tế là cơ sở để thực thi tốt pháp luật thuế xuất khẩu. Năm 2013, nhiều văn bản về thủ tục hải quan và quản lý thuế đã được ban hành mới, thay thế hoặc sửa đổi bổ sung văn bản cũ nhằm tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa Hải quan. Ngày 28102013, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Hải quan (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII. Dự án Luật Hải quan (sửa đổi) được đánh giá là dự án Luật quan trọng, có các quy định tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế trong nước và quá trình hội nhập quốc tế. Luật Hải quan (sửa đổi) sẽ thay đổi toàn diện hoạt động hải quan.Dự kiến Luật Hải quan (sửa đổi) sẽ được Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII và có hiệu lực từ ngày 112015.Có một hệ thống pháp luật và chúng phù hợp với thực tế là cơ sở để thực thi tốt pháp luật thuế xuất khẩu.

Thứ hai, tiếp tục mở cửa thị trường theo cam kết trong ASEAN, WTO: Trong năm 2013, một số cam kết về mở cửa thị trường, giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong ASEAN và WTO tiếp tục được thực hiện. Do đó, hàng hóa nước ngoài được đưa vào thị trường Việt Nam nhiều hơn, làm tăng lượng cung ứng hàng hóa trên thị trường và có thể khiến giá cả hàng hóa, đặc biệt là giá hàng tiêu dùng sẽ giảm xuống. Việc giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường là một yếu tố làm giảm đáng kể lạm phát trong năm 2013.

Thứ ba, các giải pháp tăng thu đã đem lại nhiều hiệu quả: Theo Cục Thuế xuất nhập khẩu Tổng cục Hải quan, số thu TXK TNK của ngành Hải quan tăng mạnh trong tháng 72013 có nguyên nhân từ việc áp dụng Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung (có hiệu lực từ 172013), cho phép thu ngay các khoản ân hạn thuế của các tờ khai XNK trong tháng 62013. Bên cạnh đó, khoản thuế thu từ các tờ khai phát sinh trong tháng 7 cũng tăng khá, do hoạt động XNK của doanh nghiệp có xu hướng hồi phục.Mặc dù nền kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy nhiên trong tháng 72013, hoạt động XNK, có dấu hiệu hồi phục, giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của ngành Hải quan ”bớt căng” hơn .

Theo Cục Thuế xuất nhập khẩu (Tổng cục Hải quan),các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, chống thất thu ngân sách của ngành Hải quan triển khai từ đầu năm đến nay đã và đang phát huy tác dụng, tạo tiền đề thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế.

Cục Thuế XNK cho biết, ngành Hải quan đang tiếp tục triển khai các đoàn công tác đến các tỉnh, thành phố cùng với các đơn vị hải quan nắm bắt tình hình và đánh giá hiệu quả của Luật Quản lý thuế tác động đến nhiệm vụ thu ngân sách. Ngành sẽ tiến hành rà soát, xác định lại chỉ tiêu thu ngân sách giao cho từng địa phương trên cơ sở số thực thu 2012 và theo nguyên tắc những địa phương được giao chỉ tiêu thấp hơn tỷ lệ chung thì trình Bộ Tài chính có văn bản giao chỉ tiêu bổ sung. Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) sẽ rà soát, sửa đổi chính sách liên quan đến quản lý hải quan đối với xăng dầu, xe ngoại giao, tài sản di chuyển; Quản lý hải quan đối với dầu thô nhập khẩu, nhập khẩu xăng dầu, máy móc thiết bị của hoạt động dầu khí…bảo đảm quản lý, giám sát được việc nhập khẩu dầu thô để thu đúng, đủ các loại thuế. Bên cạnh đó, ngành Hải quan cũng tiếp tục thực hiện các giải pháp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Thứ tư, trong 10 sự kiện nổi bật của ngành Hải quan năm 2013, không thể không kể đến những sự kiện là những tín hiệu đáng mừng đối với việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Từ ngày 112013, thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) được thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước theo Nghị định 872012NĐCP của Chính phủ và Thông tư 1962012TTBTC của Bộ Tài chính. Sự kiện này đánh dấu kết thúc giai đoạn thực hiện thí điểm (theo Quyết định 1492005QĐTTg năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ) và mở rộng thí điểm (theo Quyết định 1032009QĐTTg năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ). Sau 1 năm, cả nước có hơn 45.000 DN tham gia, chiếm trên 95% tổng số DN đang thực hiện thủ tục hải quan. Năm 2013, ngành Hải quan triển khai nhiều chuyên đề, kế hoạch trong phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại .

Thứ năm, tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách TNK và nội dung pháp luật thực định về TNK trong giai đoạn đó. Nhìn chung tuy nằm trong khó khăn chung của kinh tế toàn cầu nhưng năm 2013 có nhiều sắc hổng được thể hiện trong báo cáo kinh tế năm 2013, chính trị trong nước khá ổn định. Pháp luật TNK có mục tiêu quan trọng là công cụ khuyến khích, hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước.

2, Yếu tố tiêu cực

2.1, Hệ thống văn bản pháp luật tuy đã khá hoàn thiện nhưng còn một số bất cập

Hệ thống pháp luật còn thiếu sót. Hiện nay, hoạt động thương mại ngày càng được mở rộng, mức độ cạnh tranh ngày càng cao, hàng hóa được nhập khẩu vào nước ta từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau với giá cả cạnh tranh. Luât TXK, TNK đã quy định các biện pháp về thuế bổ sung như thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế chống trợ cấp và thuế chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa nhằm bảo vệ doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới ban hành ba pháp lệnh: Pháp lênh thuế tự vệ năm 2002, Pháp ệnh thuế chống bán phá giá năm 2004 và Pháp lệnh chống trợ cấp năm 2004. Nhưng đến nay, mới chỉ có một nghị định hướng dẫn cho thuế chống bán phá giá. Đối với thuế chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa chưa có một văn bản nào quy định cụ thể mà mới chỉ tồn tại trong Luật TXK, TNK. Với sự thiếu sót ấy đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật thuế xuất khẩu.

Hiện nay, một số quy định trong Luật TXK,TNK không phù hợp với những nội dung mà VN đã cam kết trong đàm phán quốc tế. Để đảm bảo tính minh bạch cho hệ thống luật VN, phải làm rõ một số qui định khác của luật hiện không còn phù hợp với luật thương mại của thế giới Ngoài một số qui định chưa phù hợp của luật hiện hành, còn có những qui định chưa rõ ràng, gây hiểu nhầm cho DN nước ngoài. Ông Stuart P Seidiel, cố vấn pháp luật của Dự án hỗ trợ Thương mại Star người có 30 năm quản lý trong ngành Hải quan tại Hoa Kỳ cho hay, ông đã nghiên cứu nhiều về Luật thuế XNK, Luật hải quan của VN. Rất khó để tìm kiếm 1 điều khoản qui định nào trong Luật thuế XNK, Luật hải quan của VN để áp dụng được vào trường hợp cụ thể của DN. Điều mà các bạn cần làm ngay là làm rõ tính minh bạch của luật và công khai luật trước công chúng. Tính minh bạch sẽ tạo thuận lợi cho việc XNK của DN cũng như giúp Nhà nước bảo đảm được nguồn thu ngân sách” ông Stuart P Seidiel nói.

Một số quy định của Luật còn chưa thông nhất: điểm c khoản 2 điều 10 của luật quy định thuế suất thông thường là không quá 70% thuế suất ưu đãi, điều này dễ gây hiểu nhầm cho những người đọc luật rằng thuế suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, chỉ bằng 70% thuế suất ưu đãi chứ không phải là 170%. Bộ Tài chính có thể quy định một mức thuế suất trong khung lớn từ 100% đến 170% so với thuê suất ưu đãi của hàng hóa tương ứng, nhưng lại tỏ ra cứng nhắc khi quy định thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo điểm b khoản 3 điều 92 Thông tư 1942010ttbtc. Ngoài ra còn có sự mâu thuẫn như điều 70 trong Luật hải quan mâu thuẫn với điều 2 10 của Luật TXK, TNK.Sự mâu thuận này gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trên thực tế.

Pháp luật chưa có cơ chế nào để kiểm soát việc mang hàng hóa từ nước ngoài về nước của các phi công, tiếp viên hàng không, thủy thủ…do vậy, họ ngang nhiên mang hàng “xách tay” về nước, các hàng hóa này khi được xách tay về nước đã trốn được thuế nhập khẩu, do vậy gây thất thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước.Gần nhất là vào rạng sáng 22.9.2013, trên chuyến bay VN106, một tiếp viên phó của VNA bị lực lượng an ninh sân bay Nội Bài phát hiện mang trái phép 50 chiếc iPhone 5S còn nguyên đai nguyên kiện, khi bay từ Paris (Pháp) về sân bay quốc tế Nội Bài. Người vi phạm là Bùi Ngọc Tuấn (sinh năm 1977), được tuyển dụng vào đoàn tiếp viên VNA từ năm 2005 .

2.2,Đội ngũ cán bộ, công chức hải quan còn yếu về cả số lượng chất lượng, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, công chức: nhân lực ở các đơn vị hải quan còn thiếu và yếu. Do yếu tố lịch sử, phần lớn nguồn cán bộ được biên chế vào ngành trước đây là từ các ngành như công an, quân đội, thuế...chuyển sang, tuy có nhiệt huyết với nghề nhưng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do biên chế ít và chính sách đãi ngộ chưa hợp lý nên hải quan địa phương rất khó thu hút nhân tài, tuyển dụng được các đối tượng có trình độ cao, giỏi công nghệ thông tin. Điều đó đã tạo nên hiện tượng thừa người hưởng lương, nhưng thiếu những người giỏi. Đơn cử tại Cục Hải quan Hà Nội trong 5 năm qua số biên chế chỉ tăng khỏang 20% so với yêu cầu, trong khi lượng công việc tăng gần chục lần, tại Cục Hải quan Long An, đơn vị quản lý hải quan tại 3 tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, đây là cửa ngõ giao thương khu vực miền Tây và một phần của vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ nhưng chỉ có 107 biên chế, lực lượng cán bộ quá mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ nên nhiều bộ phận phải bố trí làm việc kiêm nhiệm. Thiếu số lượng và không đồng đều về chất lượng cán bộ, cơ sở vật chất phục vụ làm việc không tăng đang là bất cập hạn chế hiệu quả hiện đại hóa và cải cách thủ tục hải quan. Tháng 102013 VBF đã thực hiện một cuộc khảo sát DN tại Việt Nam để biết tham nhũng ảnh hưởng thế nào đến họ mỗi ngày và nghe những đề xuất cải thiện. Những người tham gia xác định 3 lĩnh vực mà Chính phủ cần ưu tiên chống tham nhũng, xếp đầu tiên là Hải quan với 55,2% tiếp đó là đến thuế 46,2%. Trên thực tế, thời gian qua có hàng trăm cán bộ ngành Hải quan đã bị xử lý vì liên quan đến tham nhũng và hối lộ.

Tháng 62013, TAND tỉnh Lào Cai xử các bị cáo Trần Minh Thượng, sinh năm 1964, nguyên Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu Mường Khương 20 năm tù và Nguyễn Văn Cường 12 năm tù về tội nhận hối lộ gần 1,5 tỷ đồng của 1 DN, để làm dịch vụ cho một số đơn vị có hàng tạm nhập tái xuất, qua cửa khẩu Mường Khương cả trong và ngoài giờ hành chính .

Ngay cả những vụ nhập ụ nổi do 83M do Dương Chí Dũng nguyên là Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) thực hiện cũng có những vấn đề của nhân viên Hải quan.

Kết luận của Cơ quan điều tra cho thấy, mặc dù biết rõ ụ nổi 83M là tàu biển, có tuổi thọ 43 năm, đã cũ nát, hư hỏng nặng, không hoạt động được, không đủ điều kiện nhập khẩu nhưng một số cán bộ thuộc Chi cục Hải quan Vân Phong không báo cáo lãnh đạo mà vẫn làm thủ tục đề nghị cho thông quan, nhập khẩu. Nếu cán bộ Hải quan thực hiện đúng có thể Vinalines không nhập khẩu được ụ nổi và không gây thiệt hại hơn 335 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ sở vật chất:nhìn chung các đơn vị hải quan cơ sở đã được đầu tư theo chiều rộng nếu tính đến các số liệu như số máy tính trên tỷ lệ cán bộ, số lượng phần mềm quản lý, đầu mối đơn vị kết nối mạng Internet…Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của sự đầu tư này chưa cao, thậm chí còn dàn trải, gây lãng phí. Qua thực tế các đơn vị hải quan ở vùng xa, vùng biên giới như Móng Cái (Quảng Ninh), Cha Lo (Quảng Bình), La Lay (Quảng Trị) và Cầu Treo ( Hà Tĩnh)…chất lượng đường truyền dữ liệu chưa được tốt, công tác truyền, nhận thông tin nội bộ đến các đơn vị hải quan cửa khẩu này cũng hay gặp lỗi, thường xuyên trục trặc. Cùng với đó là nhà làm việc, trang thiết bị ở hải quan cơ sở phần lớn được xây dựng từ trước, có chỗ, có nơi không phù hợp với trang bị hiện đại hóa.không thể phủ nhận cơ cở vật chất của ngành hải quan đang ngày càng được hoàn thiện, nhưng còn nhiều thiếu thốn là yếu tố trở ngại đến việc đảm bảo thực thi pháp luật.Các doanh nghiệp cũng như cán bộ hải quan vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đường truyền hải quan điện tử bị nghẽn, việc đưa container qua máy soi,…công tác bắt hàng lậu trên biển, các đối tượng dùng xuồng có công suất lớn nên cán bộ hải quan khó tiếp cận được…

2.3, Ý thức của chủ thể nộp thuế nhìn chung còn chưa tốt

Chủ thể nộp thuế nhập khẩu cũng như các chủ thể nộp thuế khác, rất ít khi họ tự nguyện nộp thuế mà họ dựa vào các quy định của pháp luật để tìm ra mọi cách để trốn thuế, giảm số thuế phải nộp.Trong năm 2013, những thủ đoạn đó là một trong những yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu.

Trong điều kiện các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng không ngừng của kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời, các hành vi gian lận về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng gia tăng đáng kể về hình thức gian lận, số vụ gian lận và quy mô số thuế gian lận.

Theo thống kê của cơ quan Hải quan, gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng gia tăng trong năm 2013 và có diễn biến phức tạp với các phương thức, thủ đoạn gian lận thuế ngày càng tinh vi, thay đổi theo hướng lợi dụng những bất cập trong quy trình thủ tục hải quan và sự thay đổi chính sách mặt hàng... Trong đó, phổ biến nhất là các hành vi buôn lậu, gian lận, trốn thuế về mặt hàng, số lượng, mã hàng, xuất xứ, trị giá tính thuế hay lợi dụng các chính sách ưu đãi, ân hạn thuế hoặc nợ thuế để trốn thuế. Cụ thể như sau:

Một là, buôn lậu

Đây là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá cấm, không khai báo, tránh sự quản lý của hải quan và trốn nghĩa vụ thuế. Thời gian qua, việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp.Sau khi nhập lậu vào Việt Nam, các mặt hàng này được xé nhỏ, vận chuyển bằng xe khách, xe tải và được hợp pháp hoá bằng hệ thống hoá đơn mua qua bán lại giữa các DN.

Bên cạnh hoạt động buôn lậu nêu trên, lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục hải quan, nhiều chủ hàng đã thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không khai báo đầy đủ các mặt hàng hoặc cố tình khai thiếu số lượng hàng xuất khẩu, nhập khẩu để không phải nộp thuế.

Điển hình năm 2013, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án đối với Công ty CP Thực phẩm Sài Gòn, khai xuất khẩu 3.000 thùng thuốc lá, trị giá hàng hóa 23,6 tỷ đồng, nhưng kết quả hàng hóa qua kiểm tra thực tế là 20 tấn gạo. Đây là hoạt động buôn lậu, chiếm đoạt tiền thuế có tổ chức và diễn ra trong thời gian dài.

Hai là, khai sai chủng loại hàng hoá

Với sự gia tăng của khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong khi nguồn lực của cơ quan hải quan có hạn và thực hiện yêu cầu đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi trong thủ tục hải quan, cơ quan hải quan chỉ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa khi có nghi vấn hoặc có mức độ rủi ro cao. Do đó, việc phân loại, khai báo và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để tính thuế phụ thuộc rất lớn vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế. Thực tế thời gian qua, nhiều chủ hàng đã lợi dụng các vấn đề trên để thực hiện gian lận thuế nhập khẩu bằng việc khai báo sai tên hàng, sai mã số hàng hóa.Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại. Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%. Các hành vi thường gặp là:

Thứ nhất, Cố tình khai sai tên hàng hóa, chủng loại hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích giảm số thuế phải nộp.Tháng 52013, Cục Hải quan Hải Phòng đã phát hiện Công ty CP Minh Châu khai sai tên chủng loại, nhãn hiệu mặt hàng xe đạp điện, giá nhập về chỉ 60 USDchiếc. Cơ quan hải quan đã yêu cầu DN phải điều chỉnh giá xe đạp điện lên gấp 3 lần (khoảng 150 USDchiếc) và nộp bổ sung hơn 2 tỷ đồng tiền thuế .

Thứ hai, Người nộp thuế gian lận thuế bằng cách nhập khẩu hàng hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số bộ phận để trở thành hàng hóa chưa hoàn thiện nhằm hưởng thuế suất thấp của hàng linh kiện.

Ba là, khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu

Thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam được phân biệt theo xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Lợi dụng việc áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với các hàng hóa có xuất xứ từ các nước, vùng lãnh thổ, khu vực thị trường đã có thỏa thuận về ưu đãi tối huệ quốc hay ưu đãi đặc biệt với Việt Nam, các chủ hàng hóa cố tình khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và làm các giấy chứng nhận xuất xứ (CO) giả để được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt.

Bốn là, gian lận giá tính thuế

Gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thông qua giá tính thuế là hành vi rất phổ biến hiện nay. Các hành vi gian lận thường được các chủ hàng thực hiện dưới các hình thức sau:

Thứ nhất, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với những mặt hàng chịu thuế suất cao. Vụ gian lận giá hàng hóa điển hình bị Chi cục hải quan Cảng Sài Gòn KV 4 (TP. Hồ Chí Minh) phát hiện gần đây là lô hàng mang nhãn hiệu Pierre Cardin do Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Hoa Mặt Trời (trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh) NK vào tháng 52013. Theo khai báo của DN, hàng hóa gồm váy, quần lót, áo ngực… có giá nhập về chỉ từ 6.000 16.000 đồngchiếc. Trong khi đó, các sản phẩm này được bán trong các cửa hàng thời trang, trung tâm thương mại lớn, như: Vincom, Parkson với giá khoảng 300.000 400.000 đồngchiếc, tức là gấp 25 lần giá kê khai của DN.

Tương tự, khi làm thủ tục mở tờ khai hải quan, Công ty Tiến Thành khai báo những đôi giầy da hiệu Valentino có xuất xứ từ Trung Quốc, giá trị rất bèo, chỉ từ 16.000 300.000 đồngđôi.Thực tế, giá thị trường của loại giầy này vào khoảng 3 5 triệu đồngđôi, cao gấp chục lần giá khai báo. Với giá trị lô hàng giầy Valentino là 1,8 tỷ đồng, nếu làm thủ tục trót lọt thì DN đã né được khoản tiền thuế vài trăm triệu đồng.

Thứ hai, chủ hàng dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan hải quan để khai báo thấp trị giá của các lô hàng nhập khẩu giống hệt, tương tự thấp hơn trị giá giao dịch thực tế, sau đó khai báo thấp dần trị giá khai báo đối với các lô hàng cùng loại, tương tự đã nhập khẩu trước. Bằng hành vi này, chủ hàng đã lợi dụng các quy định về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo phương pháp trị giá giao dịch hàng nhập khẩu giống hệttương tự để được tính thuế với mức giá thấp hơn so với trị giá giao dịch thực tế. thời điểm cuối năm 2013 những tín đồ thời trang sẽ không khỏi giật mình khi biết đôi giày hiệu Valentino trị giá vài triệu đồng lại có giá nhập khẩu (NK) rất bèo bọt: chỉ từ 16.000 300.000 đồng. Bằng chiêu khai gian giảm giá trị hàng, nhiều doanh nghiệp (DN) NK quần áo, giầy dép, xe đạp, sắt thép... đã trốn hàng tỷ đồng tiền thuế.

Thứ ba, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với lô hàng nhập thử để thăm dò thái độ của cơ quan hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên tục trong một khoảng thời gian ngắn theo mức giá thấp đã khai báo trước đó và khi cơ quan hải quan chưa kịp xác minh, xử lý, chủ hàng đã tiến hành giải thể DN hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh.

Thứ tư, do theo chính sách thuế đối với linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu thấp hơn hàng nguyên chiếc nên DN thực hiện việc “down” giá bằng thủ đoạn tháo rời hàng nguyên chiếc thành linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu. Điều này được thực hiện qua việc chủ hàng thành lập nhiều công ty khác nhau hoặc tiến hành móc nối với nhiều công ty để mỗi công ty tiến hành nhập khẩu một bộ phận cấu thành của hàng nguyên chiếc về các cửa khẩu khác nhau trong nhiều thời điểm khác nhau để tránh sự kiểm soát của cơ quan hải quan.

Thứ năm, chủ hàng lợi dụng các quy định về chiết khấu, giảm giá hoặc không khai báo tiền bản quyền, phí giấy phép, các khoản trợ giúp, phí hoa hồng hoặc các khoản thanh toán gián tiếp để làm giảm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu.

Thứ sáu, chủ hàng khai tăng trị giá tính thuế so với giá trị thực tế của hàng hóa nhập khẩu để tăng vốn đầu tư và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…

Năm là, giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng ưu đãi thuế

Chứng từ thường hay được các chủ hàng giả mạo với mục gian lận thuế thường là các chứng từ nộp thuế (nhằm giải tỏa cưỡng chế thuế của cơ quan hải quan) hoặc các hồ sơ hải quan (để hợp thức hóa các lô hàng nhập lậu). Trong đó, các trường hợp phổ biến là gian lận thuế qua việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư; gian lận qua việc lợi dụng chính sách quản lý đối với hàng gia công; gian lận thông qua việc lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập... Điển hình nhất là vụ buôn lậu xăng A92 lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất, trị giá ước tính 27 tỷ đồng tại vùng biển Thanh Hoá; hành vi buôn lậu của Công ty TNHH một thành viên xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) dưới hình thức lợi dụng tạm nhập tái xuất xăng dầu qua cửa khẩu đường bộ để buôn lậu 296,6 tấn xăng A92, trị giá khoảng 8 tỷ đồng, số thuế DN gian lận ước tính 2,5 tỷ đồng.

Cũng theo thống kê của Hải quan, trong những năm qua đã có 500 ôtô nhập vào Việt Nam theo hình thức tạm nhập tái xuất nhưng đến nay chỉ có 100 chiếc làm thủ tục xuất và nhập trở lại. Nghĩa là còn 400 chiếc không làm thủ tục xuất và nhập trở lại mà lưu hành trong nội địa gây thất thu số tiền thuế rất lớn cho Nhà nước.

Ngoài ra, nhiều chủ hàng lợi dụng quy định chuyển cửa khẩu để gian lận thuế; lợi dụng chính sách ân hạn thuế để nợ thuế sau đó tẩu tán bán hàng và bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh mà không làm thủ tục giải thể DN để tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế...

Sáu là, lợi dụng Hải quan điện tử để trốn thuế

Theo Tổng cục Hải quan, trong năm 2013 lợi dụng hình thức khai báo thủ tục hải quan điện tử, xuất hiện một số doanh nghiệp sử dụng thủ đoạn tinh vi, giả mạo chứng từ hồ sơ hải quan bao gồm hợp đồng, giấy phép chuyên ngành, con dấu, chữ ký công chức hải quan… bằng cách chỉnh sửa (theo hình thức scan) các nội dung này trong quá trình chuyển đổi chứng từ, từ chứng từ giấy sang chứng từ điện tử. Có trường hợp doanh nghiệp lấy vận đơn, invoice, packing list gốc đem photo che phần ghi hàng hóa thực sau đó dùng thủ đoạn bắn tên hàng không thuế vào và scan lại, đóng dấu sao y để nộp hồ sơ giấy cho hải quan có nội dung khớp với phần khai hải quan điện tử .

III, Ý KIÊN PHÁP LÝ NHẰM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU

Để đảm bảo cho việc thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu trong thời gian tới, trên cơ sở những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như em đã phân tích ở trên trong năm 2013, theo em chúng ta cần thực hiện tốt những công việc sau:

1, Hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu

Trên cơ sở những cam kết, hiệp định mà chúng ta đã tham gia, các nhà làm luật cần xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, phù hợp với pháp luật quốc tế và có tính khả thi.

Một là, việc gia nhập WTO và các cam kết của AFTA đang buộc chúng ta cắt giảm hàng rào thuế quan.Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra, Luật Hải quan hiện hành phải được sửa đổi để nội luật hóa các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên như Công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Hiệp định về việc thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN và góp phần cơ sở pháp lý để tham gia đàm phán các Hiệp định…Việc xây dựng, hoàn thiện quy định, văn bản hướng dẫn các loại thuế nhập khẩu bổ sụng để điều tiết kinh doanh, bảo hộ nền kinh tế trong nước như thuế tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa là rất cần thiết. Mặc dù đã có quy định nhưng trên thực tế tính khả thi của chúng là rất thấp.

Hai là, cần thay đổi cách diễn đạt về cách quy định thuế suất thuế nhập khẩu đã phân tích ở phần trên cho phù hợp và dễ hiểu, nhằm giúp những người không nghiên cứu sâu về luật có được cách hiểu đúng nhất khi đọc văn bản luật.Bộ tài chính cần có những quy định cụ thể, trường hợp nào áp dụng thuế suất là bao nhiêu nhằm khác phục sự cứng nhắc trong áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thuế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan cho từng trường hợp riêng lẻ.

Ba là, Luật chỉ nên lấy một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế là tiêu chí xác định thời hạn nộp thuế. Như vậy vừa phù hợp với Luật Hải quan sửa đổi bổ sung vừa khuyến khích sự chủ động, tự tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế. Nếu dựa trên tiêu chí là mặt hàng nộp thuế để xác định thời hạn nộp thuế vô hình chung đã đánh đồng những người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật vơi những người không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tạo những kẽ hở cho những doanh nghiệp lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước để trục lợi trốn thuế.

Bốn là, đơn giản hoá và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế. Thông qua cải cách các quy trình, thủ tục về kê khai, nộp thuế và quản lý thuế, đảm bảo tính đơn giản, minh bạch, công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp và cơ quan quản lý thu thuế.

Năm là, Cân sửa đổi, bổ sung pháp luật nhằm tăng cường quản lý, đưa ra những biện pháp chế tài phù hợp nhằm ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm. Chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan có liên quan phối hợp tốt hơn trong hoạt động quản lý hải quan, xây dựng quy chế phối hợp để hoạt động có hiệu quả hơn trong phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và thu hồi nợ thuế.

2, Nâng cao cả về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hải quan cũng như nâng cao chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật

Để nâng cao chất lượng đội ngũ hải quan trong thời gian tới cần: Tiếp tục triển khai Kế hoạch cải cách phát triển hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 20112015 và Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020. Thực hiện tốt công tác tham mưu cho Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan; Phấn đấu không để chậm, tồn đọng công việc; Nâng cao chất lượng đề xuất, tham gia xây dựng văn bản; Cố gắng hoàn thành 100% các đề án, chương trình công tác đã đăng ký. Rà soát, hoàn thiện tổ chức bộ máy, chuẩn bị nguồn nhân lực sẵn sàng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan, thực thiện Dự án VNACCSVCIS và triển khai Luật Hải quan sửa đổi. Không ngừng trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng giải quyết công việc; Rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, thực hiện Tuyên ngôn phục vụ khách hàng của ngành Hải quan gắn với việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính, văn minh, văn hóa công sở theo các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan về tăng cường kỷ cương, kỷ luật khi thi hành công vụ. Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Hưởng ứng các phong trào thi đua hướng tới chuẩn bị kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan.Chú trọng công tác bồi dưỡng, phát triển, tuyên truyền nhân rộng điển hình tiên tiến trong toàn Ngành .

Về nâng cao chất lượng cơ sở vật chất: những đối tượng trốn thuế, buôn lậu,… ngày càng sử dụng những thủ đoạn tinh vi, phương tiện kỹ thuật hiện đại hỗ trợ. Nếu cán bộ hải quan vẫn phải tiến hành kiểm tra theo cách truyền thống, thô sơ thì rất khó phát hiện được hành vi sai phạm và rất khó khăn trong hoạt động chống buôn lậu ở nước ta. Vì thế, việc đầu tư vào các thiết bị kiểm tra, phương tiện truy bắt…là điều kiện thiết yếu để cán bộ hải quan thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu.

3, Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, chỉ đạo chính sách thuế nhập khẩu cho người dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu để nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế nhập khẩu, từ đó phần nào đảm bảo cho hoạt động thu, nộp thuế nhập khẩu được tiến hành dễ dàng, hiệu quả hơn. Kèm theo đó, pháp luật cần quy định các chế tài đủ mạnh đối với các hành vi trốn thuế, gian lận thuế...để răn đe, buộc họ phải chấp hành các quy định của pháp luật nghiêm chỉnh hơn.

C, KẾT LUẬN

Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu năm 2013 chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau, từ sự ảnh hưởng của các yếu tố khác quan như tình hình kinh tế xá hội trong nước cũng như nhiều quốc gia khác, sự ảnh hưởng của các chính sách kinh tế của quốc gia cho đến việc xây dựng, ban hành một hệ thống pháp luật đáp ứng đòi hỏi thực tế, năng lực của đội ngũ cán bộ thu thuế... Điều này phụ thuốc vào các nhà làm luật, trình độ lập pháp cũng như những cam kết quốc tế mà nước ta tham gia kí kết.Yêu cầu đặt ra trong những năm tới là phải tìm ra những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực để từ đó tìm ra giải pháp khác phục kịp thời, có như thế mới có thể đưa pháp luật thuế nhập khẩu vào thực tiễn đạt được hiệu quả cao.
Xem thêm

27 Đọc thêm

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU2005

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU2005

khẩu góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho NSNN; Là công cụ điều tiếthoạt động ngoại thương, hướng dẫn tiêu dùng xã hội và là công cụ hỗ trợ giúp bảohộ nền sản xuất trong nước, chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữahàng hóa trong nước với hàng hóa ngoại nhập.Theo đó, pháp luật thuế nhập khẩu là tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nướcban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng kí, kêkhai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các viphạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu phát sinh giữa nhà nước với người nộp thuế.Như vậy pháp luật thuế nhập khẩu là bao gồm cả các quy định trong pháp luật quốcgia và quy định trong pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu như: Hiệp định CEPT,Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ, Hiệp định GATT, Hiệp định WTO,…Trong hệ thống pháp luật thuế nhập khẩu, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm2005 giữ vai trò quan trọng, là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh những vấn đề cơbản trong việc quản lý những hoạt động liên quan đến thuế nhập khẩu nói chung.Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong thực tế là một vấn đề không đơn giản,đòi hỏi phải có sự hoạt động tích cực của cá cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.Trong điều kiện Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế theo xu hướng chung củathế giới thì pháp luật thuế nhập khẩu bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, đặcbiệt là bị chi phối của các quan hệ kinh tế. Trong rất nhiều yếu tố chi phối đến phápluật thuế nhập khẩu thì có một số yếu tố cơ bản như: chính sách phát triển kinh tếcủa Nhà nước; những yêu cầu và cam kết trong hội nhập quốc tế; nhu cầu thu Ngânsách của Nhà nước; thực trạng kinh tế - xã hội của quốc gia.Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu Việt Nam.Thứ nhất, chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước.Chính sách phát triển kinh tế của một số quốc gia là sự điều hành của nhà nước đốivới nền kinh tế của một quốc gia. Chính sách kinh tế thực chất thể hiện thái độ,quan điểm của Nhà nước đối với các quan hệ kinh tế và được thể hiện thông qua hệ
Xem thêm

12 Đọc thêm

Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước việt nam thời kỳ hậu WTO và các giải pháp tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước

ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU ĐẾN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.Tính cần thiết của đề tàiGia nhập WTO là một bước ngoặt khá quan trọng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam. Sự kiện này mở ra cho nền kinh tế Việt Nam rất nhiều cơ hội và cũng không ít những thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm sau khi Việt Nam gia nhập WTO là việc ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước. Khi bàn về vấn đề này đã có rất nhiều ý kiến, nhiều nhận định đưa ra về chiều hướng ảnh hưởng của chúng đến thu ngân sách nhà nước.Nhiều ý kiến cho rằng thuế xuất nhập khẩu là một trong những nguồn thu khá quan trọng vẫn chiếm tỷ lệ cao trong thu NSNN so với các nước đang phát triển (13% tổng thu NSNN bao gồm vả phí và lệ phí). Nhưng thuế xuất nhập khẩu lại phụ thuộc rất nhiều vào độ mở của nền kinh tế. Nên ảnh hưởng có thể coi là cực kỳ quan trọng đó là vấn đề ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế xuất nhập khẩu đến thu NSNN. Bởi vì sau khi gia nhập WTO, chúng ta phải cắt giảm hàng loạt các loại thuế xuất nhập khẩu. Mặc dù cắt giảm theo lộ trình nhưng ảnh hưởng của chúng tới thu ngân sách cũng khá lớn. Không những thế các doanh nghiệp nếu không tự đổi mới mình để cạnh tranh với các sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường quốc tế và ngay cả trên thị trường nội địa sẽ dẫn đến bị phá sản. Đây là tác động xấu tới thu nội địa.Nhiều ý kiến khác cho rằng việc cắt giảm thuế xuất nhập khẩu khi hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng vẫn có ảnh hưởng tích cực đó là kim ngạch thương mại tăng lên, và số thu từ thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ tăng vì số hàng nhập khẩu tăng. Ngoài ra khi cắt giảm thuế xuất nhập khẩu làm cho các doanh nghiệp trong nước đứng trước cả những thách thức nhưng vẫn có rất nhiều cơ hội. Đó là cũng được đãi ngộ khi tham gia vào thị trường thế giới, giúp doanh nghiệp đổi mới để cạnh tranh. Đó là các nhân tố làm tăng thu nội địa trong nước và thúc đẩy tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm cho tăng thu ngân sách bền vững. Mặt khác không chỉ là ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế xuất nhập khẩu mà còn có ảnh hưởng của việc tăng thuế suất của một số mặt hàng quan trọng. Điều này làm cho thu NSNN tăng lên.Vì vậy có thể nói ảnh hưởng thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước thời kỳ hậu WTO có rất nhiều chiều hướng. Vậy vấn đề cấp bách đặt ra là chúng ta phải nhìn nhận được những chiều hướng phức tạp đó nhằm có những giải pháp để đảm bảo tăng thu ngân sách một cách bền vững trong quá trình việc cắt giảm theo lộ trình thuế xuất nhập khẩu. Đây quả là một bài toán khó và cần giải quyết trong thời kỳ hậu WTO.Chính vì vậy qua thời gian thực tập tại Vụ Tài chính Tiền tệ thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư và tìm hiểu trên nhiều tài liệu em đã mạnh dạn chọn đề tài sau: “Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước Việt Nam thời kỳ hậu WTO và các giải pháp tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước ” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu2.1. Mục đích của đề tài Luận giải cơ sở lý luận về vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với thu ngân sách và thực tiễn kinh nghiệm về các chính sách cải cách hệ thống thuế khi gia nhập WTO của các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi trong quá trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO, cùng với việc phân tích ảnh hưởng của thuế XNK sau gia nhập WTO đến thu ngân sách nhà nước; từ đó đưa ra các quan điểm, phương hướng cơ bản, đồng thời đề xuất được các giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Phân tích những vấn đề lý luận chung về thu ngân sách và thuế xuất nhập khẩu, vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với thu ngân sách nhà nước trong điều kiện gia nhập WTO. Tóm tắt lộ trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam đồng thời phân tích tác động của nó tới thu ngân sách. Đánh giá các chính sách cải cách hệ thống thuế khi gia nhập WTO của các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi , rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Phân tích thực trạng thu ngân sách nhà nước sau một năm gia nhập WTO, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của thuế quan đến thu NSNN, đồng thời đưa ra quan điểm, phương hướng và đề xuất một số giải pháp cơ bản thúc đẩy tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước trong quá trình cắt giảm thuế theo cam kết gia nhập WTO.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu : Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO đến thu ngân sách nhà nước của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Thu ngân sách nhà nước của Việt Nam giai đoạn 20012007 mà tập trung vào năm 2007, và quá trình biến động thuế suất xuất nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO (chỉ nghiên cứu về hàng hoá, trọng tâm vào việc cắt giảm thuế nhập khẩu).4. Phương pháp nghiên cứuLuận văn sử dụng phương pháp biện chứng, kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích tổng hợp, sử dụng phương pháp thống kê, toán học, mô hình đồ thị để làm rõ kết quả nghiên cứu.5. Những đóng góp của luận vănLuận văn có những đóng góp sau :Một là, luận giải được những vấn đề lý luận chung về vai trò của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước trong điều kiện gia nhập WTO.Hai là, phân tích ảnh hưởng của cắt giảm thuế XNK đến thu ngân sách nhà nước của Việt Nam thời kỳ hậu WTO. Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi về các chính sách cải cách hệ thống thuế.Ba là, khái quát thực trạng thu ngân sách nhà nước sau một năm gia nhập WTO, đồng thời so sánh đối chiếu với giai đoạn 20012006 để rút ra những nhận xét về sự biến đổi của thu ngân sách.Bốn là, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của thuế XNK sau gia nhập WTO đến thu ngân sách, thấy được mức độ ảnh hưởng và chiều hướng tác động của chúng tới thu ngân sách. Từ đó rút ra những nhận định mang tính quy luật về sự ảnh hưởng này và đưa ra những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới.Năm là, nêu lên bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước tác động tới thu NSNN, những quan điểm phương hướng và mục tiêu nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước.Sáu là, đưa ra được một số quan điểm, phương hướng cơ bản và các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước trong lộ trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu.6. Kết cấu của Luận văn Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau :Chương 1: Vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với thu ngân sách nhà nước trong điều kiện gia nhập WTOChương 2: Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước Việt Nam thời kỳ hậu WTO.Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước trong lộ trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo WTO Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ cũng như thời gian nghiên cứu, chắc chắn luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo,đặc biệt là Thầy giáo PGS.TS. Lê Huy Đức , và các cán bộ làm việc tại Vụ Tài chính – Tiền tệ thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư và của tất cả các bạn đọc để giúp em hoàn thiện hơn đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

126 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÂN TÍCH NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

đối với hàng hóa thuộc diên truy thu nếu chuyển nhượng lại cho chủ thểđược miễn hoặc xét miễn thuế nhập khẩu để tránh những hiện tượng tiêu cựctrong thực tiễn. (Điểm a khoản 1 điều 21 nghị định 149/2005/NĐ-CP). Quiđịnh này dẫn đến hiện tượng các đối tượng thuộc diện chịu thuế câu kết vớitổ chức cá nhân thuộc diện miễn thuế hoặc xét miễn thuế hoặc cán bộ hảiquan làm hồ sơ gỉa để không bị truy thu thuế. Với sự ra đời của luật quản líthuế 2006 đã ghi nhận một cách cụ thể trình tự thu tục về kê khai thuế nhậpkhẩu, nộp thuế nhập khẩu, truy thu thuế nhập khẩu, hoàn thuế…Vì vậynhững qui định trong luật thuế nhập khẩu về những thủ tục này trở nênkhông cần thiết nữa thậm chí còn gây ra sự chồng chéo, không đồng nhất.Thực trạng thực thi pháp luật thuế nhập khẩu Việt Nam được nêu trênchịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố mà chúng ta sẽ cùng phân tích ởphần tiếp theo. Thực tế này đặt ra một vấn đề cấp thiết là phải hoàn thiệnhơn nữa pháp luật thuế nhập khẩu để việc thực thi có hiệu quả cao hơn.7II. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁPLUẬT THUẾ NHẬP KHẨU VIỆT NAM HIỆN NAYCó thể thấy việc thực thi luật thuế nhập khẩu trong thực tế chịu tácđộng của rất nhiều các yếu tố khác nhau. Trước tiên là sự ảnh hưởng đếnviệc của các yếu tố khách quan như tình hình phát triển của nền kinh tế,chính trị quốc tế cũng như của quốc gia; sự ảnh hưởng của các chính sáchkinh tế của quốc gia. Đồng thời việc thực thi luật có hiệu quả hay khôngđồng nghĩa với việc phải xây dựng, ban hành ra một hệ thống pháp luật thuếđáp ứng được các đòi hỏi của thực tế. Điều này phụ thuộc vào các nhà làmluật, trình độ lập pháp cũng như những cam kết quốc tế mà VN gia nhập.Trong qua trình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu, vai trò của các cơ quanchức năng thực hiện việc thu thuế cũng như ý thức của những đối tượng nộp
Xem thêm

16 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Giáo dục pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời quyết định hiệu lực của việc thực thi pháp luật, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống. Hiện nay, nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để pháp luật ngày càng trở thành phương tiện mà thông qua đó Đảng lãnh đạo xã hội và cơ sở pháp lý để Nhà nước nâng cao hiệu quả quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội; đảm bảo cho Nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật cần phải không ngừng nâng cao chất lượng GDPL cho mọi công dân, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp.
Xem thêm

118 Đọc thêm

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
BVQLNTD là một trong những hoạt động nhằm thực hiện một xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, qua đó góp phần duy trì và thúc đẩy một nền kinh tế phát
triển nhanh và bền vững. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, khi nền kinh tế thị
trường được mở rộng và phát triển thì sẽ càng nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến
NTD.
Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ tiêu dùng đã và đang phát triển nhanh
chóng với nhiều nguyên tắc và chế định mới mà thông qua đó vị thế của NTD trong
mối quan hệ với bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ trở nên cân bằng hơn. Tuy nhiên,
các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về vấn đề BVQLNTD vẫn còn khá đơn
giản so với những gì thực tế đòi hỏi.
Trong thời kỳ xã hội phát triển hiện nay và trong bối cảnh Việt Nam ra nhập
WTO, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ ngày càng phát triển không chỉ giới hạn
bởi biên giới quốc gia mà mở rộng ra khu vực và toàn thế giới thì vấn đề bảo vệ
NTD ngày càng trở nên cần thiết và là mối quan tâm của toàn xã hội nhằm nâng cao
mức sống và bảo vệ quyền lợi cho NTD, đặc biệt là quan hệ tiêu dùng đã được mở
rộng ở cả ba cấp độ: quốc gia, khu vực và quốc tế.
Việc giải quyết TCTD là một phần quan trọng trong vấn đề BVQLNTD và
được ghi nhận tại Chương IV của Luật BVQLNTD năm 2010. Tuy nhiên, hiệu quả
thực thi pháp luật và thực tiễn nghiên cứu về quan hệ pháp luật tiêu dùng, các
phương thức giải quyết TCTD hiện nay ở Việt Nam còn rất hạn chế, trong khi hoạt
động xây dựng luật còn cứng nhắc và chưa tính tới những đặc thù riêng có trong
môi trường pháp lý Việt Nam.
Việc tranh chấp về quyền và lợi ích giữa hai chủ thể bao gồm thương nhân
cung ứng hàng hóa, dịch vụ và một bên là cộng đồng NTD vẫn luôn tồn tại và phát
sinh như một tất yếu. Khi mối quan hệ này càng mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ
quốc gia về địa lý, mở rộng về quy mô và phạm vi thị trường tiếp nhận hàng hóa, hay tính chất phức tạp của chuỗi cung ứng hàng hóa cũng đồng nghĩa với sự gia
tăng về lượng và tính chất phức tạp của các TCTD, đòi hỏi những nghiên cứu thấu
đáo và đầy đủ về nội hàm quan hệ tiêu dùng để từ đó có cách thức lập pháp phù hợp
để bảo đảm quyền lợi của hai bên khi tranh chấp phát sinh.
Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: "Giải quyết tranh chấp tiêu dùng
theo pháp Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay " làm luận
văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật học.
Xem thêm

97 Đọc thêm

Huy động nguồn thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam theo hướng bền vững

HUY ĐỘNG NGUỒN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Bài viết đánh giá thực trạng huy động nguồn lực vào ngân sách nhà nước ở Việt Nam qua việc phân tích quy mô và cơ cấu thu ngân sách những năm gần đây. Sự thay đổi về bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước đặt ra yêu cầu cần phải cải cách, hoàn thiện chính sách động viên ngân sách cho phát triển. Để đảm bảo tính bền vững của ngân sách trong giai đoạn tới, Việt Nam buộc phải có những điều chỉnh về chính sách thuế đồng thời với chính sách chi ngân sách. Trong cơ cấu thu ngân sách, vai trò của các khoản thu nội địa, nhất là loại thuế tài sản, thuế tiêu dùng với hàng sản xuất nội địa (như thuế tiêu thụ đặc biệt), thuế thu nhập cá nhân sẽ ngày càng quan trọng hơn.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến của nhóm thực hiện nhằm khắc phục

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT VÀ Ý KIẾN CỦA NHÓM THỰC HIỆN NHẰM KHẮC PHỤC

Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến của nhóm thực hiện nhằm khắc phục

MỞ BÀI

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt.

Thuế tiêu thụ đặc biệt đảm bảo nguồn thu Ngân sách Nhà nước. Là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn, điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh,lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này. Thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước một cách công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó. Đồng thời, khắc phục tình trạng bất đối xứng thông tin trong việc tiêu dùng hàng hóa gây ảnh hưởng đến sức khỏe như thuốc lá, rượu…

Việc ban hành thuế tiêu thụ đặc biệt có ý nghĩa quan trọng như trên, vậy đối với việc áp dụng thực tiễn thuế tiêu thụ đặc biệt như thế nào?

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em đã chọn đề bài cho bài tập nhóm số 2 của mình như sau đề số 4 : “Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến của nhóm thực hiện nhằm khắc phục”.


NỘI DUNG

I. Những vấn đề chung về thuế tiêu thụ đặc biệt:

1. Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt:

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có tính chất như sau:

Một số hàng hóa, dịch vụ có giá bán cao.

Cầu của những hàng hóa này thường kém co giãn so với giá cả.

Hàng hóa có thể có hại cho sức khỏe, làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường.

2. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt:

Thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp. Việc quy định các hàng hóa, dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn tùy thuộc vào chính sách điều tiết của từng quốc gia, hoạt động sản xuất tiêu dùng của từng nước; thu nhập quốc dân; phong tục và tập quán tiêu dùng của một số loại hàng hóa, dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể. Nhìn chung, các quốcgia thường đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào mộtsố mặt hàng được coi là cao cấp và không thiết yếu, Nhà nước khôngkhuyến khích tiêu dùng như: thuốc hút, rượu, bia, xăng dầu.

Thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ
và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác. Thuế
suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ, tùy
theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia.

Tại Việt Nam, áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu dùng đặc biệt. Ví dụ : thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá có thuế suất là 65% ( Điều 7 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008).
Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa chịu thuế một cách gián tiếp thông qua giá cả. Người sản xuất và kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là người nộp thuế cho nhà nước, từ đó thấy đây là một loại thuế gián thu.
Thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản
xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phầnthu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này.

Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh giá một lần vào khâu sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Đây là loại thuế tiêu dùng một giai đoạn nên
không gây sự trùng lặp qua các khâu của quá trình luân chuyển hàng hóa.

3. Nội dung pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

 Chủ thể quan hệ pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

 Chủ thể quyền lực – cơ quan nhà nước Bộ tài chính và tổng cục thuế có thẩm quyền xem xét và quyết định các trường hợp miễn hoặc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt. Cơ quan thu (cơ quan thuế, hải quan, cơ quan tài chính) có thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thu nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và áp dụng các chế tài khi cần thiết.

 Chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt :

 Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, theo Điều 4, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.

 Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt: Nhìn chung, các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thường có các tính chất sau: Một số hàng hoá, dịch vụ có giá bán cao. Cầu của những hàng hoá này thường kém co giãn so với giá cả. Hàng hoá có thể có hại cho sức khoẻ, làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường.

Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì các hàng hoá, dịch vụ sau đây là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Hàng hoá: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; Rượu; Bia; Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng; Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3; Tàu bay, du thuyền; Xăng các loại, napta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng; Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống; Bài lá; Vàng mã, hàng mã.

Dịch vụ: Kinh doanh vũ trường; Kinh doanh mátxa (massage), karaôkê (karaoke); Kinh doanh casinô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắcpót (jackpot), máy sờlot (slot) và các loại máy tương tự; Kinh doanh đặt cược; Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; Kinh doanh xổ số.

 Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là :

Giá tính thuế là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định tại Điều 6 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008.

Và thuế suất : Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định theo Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt qui định tại Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, từ đó có thể xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp theo công thức:


Số thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB x (nhân ) thuế suất.

II. Thực tiễn thực hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt

1. Thành tựu

Việc thực hiện Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và các Luật sửa đổi, bổ sung đã cho thấy về cơ bản, thuế tiêu thụ đặc biệt đã đạt được mục tiêu đặt ra là hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách hợp lý, và tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ. Thuế suất cao áp dụng đối với nhiều mặt hàng như thuốc lá, rượu, bia, ôtô du lịch, kinh doanh vũ trường,... không chỉ nhằm mục tiêu động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn thực hiện vai trò định hướng tiêu dùng. Chính sách miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt được công bố trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất bia hơi, sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước,... tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại sản xuất kinh doanh trong nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc hình thành nên một ngành công nghiệp mới.

Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần ổn định và tang nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ thuế tiêu thụ đặc biệt trong tổng thu ngân sách từ thuế, phí lệ phí đã không ngừng tăng trong những năm qua. Theo quyết toán ngân sách nhà nước, thu ngân sách từ thuế tiêu thụ đặc biệt riêng với hàng hóa sản xuất trong nước năm 2008 đạt 22,123 tỷ đồng, năm 2009 ước đạt 29,728 tỷ đồng, năm 2010 đạt 37,906 tỷ và tính riêng 9 tháng đầu năm 2011 đã đạt 32,425 tỷ đồng. Năm 2013 đạt 38,606 tỷ đồng.

Thuế tiêu thụ đặc biệt đã góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng theo định hướng của Nhà nước. Đối tượng chịu thuế chủ yếu là những loại hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng như thuốc lá, rượu, bia, kinh doanh vũ trường hoặc hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước cần điều tiết như ô tô, kinh doanh sân gôn... Quy định này là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta cũng như thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, giảm nhập siêu, kiềm chế lạm phát, không gây đột biến trong sản xuất tiêu dùng. Báo cáo sơ bộ tổng cục thống kê cho biết nhập siêu 2011 ở mức 9,5 tỷ USD, giảm so với 2010 ( 12,4 tỷ USD), năm 2009 (12,8 tỷ).

Thuế tiêu thụ đặc biệt đã đáp ứng yêu cầu phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc quy định lộ trình từng bước điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng như ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; áp dụng một mức thuế suất đối với mặt hàng thuốc lá...

Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Tổng thu thuế tiêu thụ đặc biệt tăng qua các năm, năm 2003 là 11.046 tỷ đồng, năm 2004 là 14.861 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2003; năm 2005 là 18.326 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2004; năm 2006 là 20.835 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2005 và năm 2007 là 26.564 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2006.

Năm 2013 đạt 38,606 tỷ đồng

2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, theo yêu cầu của sự phát triển hiện nay và trong thời gian tới, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện:

Thứ nhất, công tác triển khai thực hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng như công tác quản lí thuế còn nhiều bất cập.

Việc thiếu phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, thiếu hệ thống điện toán toàn diện, thiếu máy kiểm tra chuyên dụng…trong giai đoạn hiện nay gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả áp dụng các loại thuế nói chung và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng. Đây là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng gian lận trốn thuế, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình trạng gian lận thuế ngày càng được thực hiện bằng những thủ đoạn tinh vi hơn.

Trong thời gian qua,việc quản lí in, phát hành, sử dụng hóa đơn đã phát huy hiệu quả tích cực góp phần phục vụ cho công tác quản lí thu thuế. Tuy nhiên, việc sử dụng hóa đơn cũng làm phát sinh nhiều vấn đề bất cập. Trong những năm gần đây việc vi phạm về hóa đơn diễn ra khá phổ biến và phức tạp, ví dụ như việc lập hóa đơn chậm, ghi sai lệch thông tin giữa các liên trên hóa đơn, chuyển nhượng hợp đồng in hóa đơn. Chế độ hóa đơn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, nhiều thủ đoạn trốn lậu tinh vi như hóa đơn giả hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn bộ tài chính để hợp pháp hóa việc mua bán hàng trốn lậu thuế, ghi danh thu chênh lệch giữa các liên của hóa đơn vẫn diễn ra.

Thứ hai, về đối tượng chịu thuế và không chịu thuế:

Theo quy định hiện hành thuế tiêu thụ đặc biệt hiện chỉ thu vào 17 loại hàng hóa và dịch vụ. Nhìn chung, đối tượng chịu thuế thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay ở nước ta còn khá hẹp, đi sâu nghiên cứu, cho thấy: có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ lẽ ra phải được điều chỉnh bởi thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa được đưa vào diện chịu thuế như các loại thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp,nước uống có ga…; Ngược lại, có trường hợp có loại hàng hóa đáng lý ra phải được khuyến khích tiêu dùng do yêu cầu sức khỏe, văn minh đô thị thì lại chưa được xem xét đưa ra khỏi diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như xe ôtô từ 1624 chỗ ngồi; Có trường hợp lại thể hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước. Ví dụ : Luật quy định: cơ sở lắp ráp sản xuất ô tô trong nước được giảm đến 95% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Điều này có nghĩa là nếu ô tô nhập khẩu thì phải chịu mức thuế suất tiêu thụ đặc biệt từ 30% 100%, còn nếu là ô tô sản xuất trong nước thì được giảm đến 95% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp, tức là chỉ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với mức thuế suất tương ứng từ 1,5% đến 5% mà thôi. Quy định phân biệt này nhằm bảo hộ cho ngành lắp ráp ô tô còn khá non trẻ ở nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang mở cửa hội nhập sâu rộng, đang thực hiện các cam kết theo chương trình CEPT, hiệp định thương mại Việt Mỹ…., quy định đó không còn phù hợp nữa vì đã vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia ; …Đó là những hạn chế cơ bản về đối tượng chịu thuế của loại thuế này.

Theo quy định hiện hành, xì gà và thuốc lá điếu thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên WTO, dự báo trên thị trường nội địa sẽ xuất hiện một số loại sản phẩm thuốc lá khác như: thuốc lá sợi dùng để hút tẩu và các dạng sản phẩm khác dùng để hút, nhai, ngửi. Đây cũng là các sản phẩm thuốc lá, sử dụng là có hại cho sức khoẻ nên không khuyến khích tiêu dùng.

Như vậy, quy định như hiện hành không bao quát được tất cả các loại sản phẩm thuốc lá khác, là những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khoẻ.

Đối với mặt hàng điều hoà nhiệt độ: Luật hiện hành quy định điều hoà nhiệt độ có công suất dưới 90.000 BTU là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên do trong Luật chỉ quy định chung điều hoà nhiệt độ có công suất dưới 90.000 thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên khi thực hiện có sự chưa rõ ràng và nhất quán trong việc thu hay không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số loại điều hoà nhiệt độ có công suất dưới 90.000 BTU sử dụng để lắp trên các phương tiện vận tải như ô tô, tàu hoả, tàu biển. Trên thực tế các loại điều hoà này được coi là tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất, lắp ráp phương tiện vận tải và trong hoạt động vận tải hành khách, nếu thu thuế tiêu thụ đặc biệt là không hợp lý.

Về hàng hoá nhập khẩu vào khu phi thuế quan: Theo quy định của pháp luật về hải quan và về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quan hệ trao đổi hàng hoá từ thị trường nội địa và từ nước ngoài vào các khu khu phi thuế quan là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của cũng đã có quy định hàng hoá từ thị trường trong nước nhập khẩu vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan thuộc diện không phải chịu các thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thông lệ quốc tế cũng cho thấy hàng hoá thuộc diện này đều không phải chịu các khoản thuế gián thu. Tuy nhiên, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành lại chưa có quy định này nên đã dẫn đến một số vướng mắc khi thực hiện.

Thứ ba, về t
Trong 17 mặt hàng, dịch vụ chịu thuế thuế tiêu thụ đặc biệt có đến 12 mức thuế suất cao thấp khác nhau từ 10% trở lên. Đối với mỗi loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau có mức thuế suất tương ứng khác nhau, trong một số trường hợp đối với cùng một loại hàng hóa nhưng lại chia theo các tiêu chí khác nhau để áp dụng các mức thuế suất rất chênh lệch nhau, nên biểu thuế càng thêm phức tạp, làm cho việc xác định mức thuế suất áp dụng chính xác rất khó khăn và dễ bị vận dụng tùy tiện. Ví dụ như cùng một mặt hàng là rượu nhưng có đến 3 mức thuế suất khác nhau : rượu từ 20 độ trở lên là 20%, từ 112010 – 31122012 là 45%, từ 112013 là 50%, còn rượu dưới 20 độ là 25% ;

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành quy định mức thuế suất áp dụng đối với ô tô chở người được phân biệt theo số chỗ ngồi: có tới 7 mức thuế khác nhau.Mặt khác, việc qui định thuế suất đối với ô tô chỉ theo số chỗ ngồi cũng chưa phù hợp, cần phân định theo dung tích xi lanh như đa số các nước đang thực hiện để thực hiện mục tiêu hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều tiết thu nhập hợp lý, tiết kiệm năng lượng và giảm ô nhiễm môi trường.

Các hoạt động kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng và kinh doanh đặt cược là các dịch vụ Nhà nước không khuyến khích, do đó cần điều chỉnh mức thuế suất cho phù hợp. Đối với kinh doanh gôn, thuế suất 10% cũng cần phải xem xét điều chỉnh cho hợp lý.

Thứ ba, về văn bản pháp luật:

Thuế tiêu thụ đặc biệt được thể hiện trong các văn bản Luật khác nhau là Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng năm 2005. Hiện nay, mới nhất là Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 và Nghị định số 26 2009, Nghị định số 1132011 sửa đổi Nghị định 26. Với nhiều văn bản cùng có quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt nên chưa tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. Qua thực tiễn áp dụng, chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành ở nước ta đã đặt ra một số vấn đề cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế cuộc sống, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể theo nhóm có một số vấn đề sau :

 Về vấn đề miễn giảm thuế : Theo quy định hiện hành của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt thì với các cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ (có công suất dưới 10 triệu lítnăm) đang hoạt động nếu nộp đủ thuế tiêu thụ đặc biệt mà bị lỗ, thì được xét giảm thuế tiêu thụ đặc biệt tương ứng với số lỗ trong năm xét giảm thuế. Quy định biệt này nhằm bảo hộ cho ngành lắp ráp ô tô còn khá non trẻ ở nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang mở cửa hội nhập sâu rộng, đang thực hiện các cam kết theo chương trình CEPT, hiệp định thương mại Việt Mỹ…., quy định đó không còn phù hợp nữa vì đã vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.

 Về giá tính thuế : Theo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, tức là giá bán có tính cả chi phí bao bì, vỏ hộp trong đó, thế nhưng trong thực tế thì lại áp dụng không thống nhất, có loại hàng hóa áp dụng trên cơ sở giá bán có bao bì, có trường hợp áp dụng giá bán không có bao bì nên không đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các hàng hóa cùng loại với nhau.

Mặt khác, do quy định hiện hành không khống chế về mức giá tính thuế đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên một số cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế đã lách thuế bằng cách thành lập các cơ sở kinh doanh thương mại hạch toán độc lập với cơ sở sản xuất để từ đó hạ giá bán của cơ sở sản xuất bán cho cơ sở kinh doanh nhằm làm giảm số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước.

Thứ tư, về ý thức pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ thuế, đối tượng nộp thuế chưa cao.
Hiện nay, tình trạng cán bộ ngành thuế còn thiếu trách nhiệm để xảy ra tình trạng gian lận thuế, trốn thuế còn xảy ra khá phổ biến. Thậm chí, 1 bộ phận cán bộ bị tha hóa, biến chất còn tiếp tay cho hành vi gian lận trốn thuế, trogn khi các văn bản pháp luật hiện nay gần như chưa có chế tài xử lí thích đáng đối với cán bộ thuế khi có vi phạm. Nếu không có chính bản thân cán bộ sẽ gợi ý cho đối tượng nộp thuế có quen biết cách trốn thuế.

Đối với đối tượng nộp thuế, khi thực hiện hành vi trốn thuế sẽ bị xử lí bằng các biện pháp hành chính hoặc hình sự tùy vào mức độ vi phạm. Tuy nhiên, thực trạng vi phạm pháp luật thuế vẫn diễn ra 1 cách phổ biến . Chẳng hạn như hiện nay tồn tại khá nhiều các doanh nghiệp thành lập ra không vì mục đích kinh doanh mà để mua bán các hóa đơn của nhà nước rồi bán lại cho các cá nhân, tổ chức khác để sử dụng vào việc khấu trừ khống tiền thuế của nhà nước và hợp thức hóa hàng hóa buôn lậu để trốn thuế, rút ruột tiền chi của ngân sách nhà nước ở các công trình xây dựng cơ bản, những đơn vị hành chính sự nghiệp. Ngoài ra cũng phải kể đến tâm lí chây ỳ nộp thuế của đối tượng nộp thuế. Các doanh nghiệp còn lợi dụng sự thông thoáng và chưa thực sự hoàn thiện của luật doanh nghiệp để chây ỳ nộp thuế.

Thứ năm, các chế tài xử lí các trường hợp vi phạm pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt chưa đủ sức răn đe, điều này dẫn đến tâm lí coi thường nghĩa vụ nộp thuế và cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước. Chẳng hạn như theo báo cáo thống kê của cục hải quan Bình Dương tính đến tháng 4 năm 2012 có tới 34 doanh nghiệp có chủ nước ngoài nợ thuế bỏ trốn, mất tích, không kinh doanh tại địa chỉ đăng kí, ngừng kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động. Tổng số tiền nợ thuế của các doanh nghiệp này lên tới 43,4 tỷ đồng, nợ thuế tiêu thụ đặc biệt là hơn 4,4 tỷ đồng.

III. Giải pháp hoàn thiện

Điều cần thiết hiện nay là chúng ta phải từng bước xây dựng ,triển khai ,hoàn thiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong đó cần tuân thủ các yêu cầu mang tính chất định hướng sau :

Một là hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Hoàn thiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt trên cơ ở kế thừa có chọn lọc những quy định trong pháp luật thuế hiện hành ,đảm bảo phù hợp với thực tiễn và hệ thồng pháp luật của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế . Ví dụ :Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành quy định mức thuế suất áp dụng đối với ô tô chở người được phân biệt theo số chỗ ngồi: có tới 7 mức thuế khác nhau.Mặt khác, việc qui định thuế suất đối với ô tô chỉ theo số chỗ ngồi cũng chưa phù hợp, cần phân định theo dung tích xi lanh như đa số các nước đang thực hiện để thực hiện mục tiêu hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều tiết thu nhập hợp lý, tiết kiệm năng lượng và giảm ô nhiễm môi trường.Các hoạt động kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng và kinh doanh đặt cược là các dịch vụ Nhà nước không khuyến khích, do đó cần điều chỉnh mức thuế suất cho phù hợp. Đối với kinh doanh gôn, thuế suất 10% cũng cần phải xem xét điều chỉnh cho hợp lý…

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt cần được đảm bảo tiếp thu những thành tựu của các đạo luật về thuế tiêu thụ đặc biệt trước đó đồng thời có những điều chỉnh hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũ .Việc ban hành luật thuế tiêu thụ đặc biệt lý luận,cơ sở thực tiễn để đảm bảo pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt luôn phù hợp với thực tiễn kinh tế,xã hội đất nước . ( Đồng thời pháp luật cũng phải có tính tiên liệu trước để thực tế có thể xảy ra,tránh tình trạng luật mới đã ban hành đã bị lỗi thời ,nhất là trong điều kiện Việt Nam đã và đang có những chuyển biến chóng mặt như hiện nay )

Với diện đánh thuế hẹp,thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ tập trung điều tiết một số hàng hóa và dịch vụ nhất định .Tùy theo quan điểm và chính sách của nhà nước trong từng thời kì mà pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng cần điều chỉnh và hoàn thiện danh sách hàng hóa,dịch vụ chịu thuế cho phù hợp và kịp thời với mục tiêu phát triển của thực tiễn và chính sách của Nhà nước . Có như vậy việc ban hành và áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới đảm bảo việc động viên một bộ phận thu nhập cao cho ngân sách nhà nước ; đảm bảo được mục tiêu hướng dẫn ,điều tiết sản xuất và tiêu dùng một số loại hàng hóa,dịch vụ đặc biệt theo của Nhà nước,hạn chế những xu hướng sản xuất hoặc tiêu dùng không có lợi cho nền kinh tế . Do đó pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt phải tiếp tục là công cụ điều tiết thu nhập trong xã hội ,góp phần bớt phân hóa giàu nghèo,thực hiện công bằng xã hội. Ví dụ nên mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại hàng hóa, dịch vụ sau : các thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp; điện thoại di động và dịch vụ kinh doanh nó; vật dụng cao cấp làm bằng pha lê, thảm len; mỹ phẩm cao cấp,… không phân biệt đó là hàng hóa sản xuất trong nước hay hàng hóa nhập khẩu. Bởi đây là những loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp mà thành phần sử dụng đa số là tầng lớp giàu có. Việc mở rộng diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với những loại hàng hóa dịch vụ này sẽ góp phần điều tiết thu nhập, định hướng tiêu dùng, mở rộng thêm được nguồn thu. Qua việc mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trên đây, sẽ cho phép tăng thu từ loại thuế này góp phần bù đắp cho việc giảm thu từ các loại thuế khác (thuế nhập khẩu , thuế sử dụng đất nông nghiệp…).

Hay như việc không nên áp dụng chế độ miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho các cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bởi đây là loại thuế gián thu do người tiêu dùng chịu thuế, các cơ sở sản xuất chỉ là người nộp hộ nên việc quy định miễn giảm thuế đối với loại thuế này là không hợp lý.Vì đây là những loại hàng hóa dịch vụ mà Nhà nước cần điêu tiết, định hướng cho việc sản xuất, tiêu dùng để đảm bảo lợi ích cộng đồng, hầu hết những loại hàng hóa dịch vụ này không phải là những mặt hàng thiết yếu cho đời sống nhân dân, không thuộc diện khuyến khích tiêu dùng (ngoại trừ những mặt hàng cá biệt như xăng), nên việc quy định miễn giảm thuế đối với các mặt hàng này là không cần thiết.

Xây dựng ,hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt bảo đảm tính minh bạch ,rõ ràng ,dễ hiểu,dễ thực hiện . Điều này không những góp phần tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật tiêu thụ đặc biệt mà còn giúp công tác thanh tra ,kiểm tra được thực hiện dễ dàng hơn.

Hai là, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân bằng cách tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng tới tất cả các tầng lớp. Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế mà nhiều người đã nộp mà không biết. Không phải riêng các đối tượng có thu nhập cao mới là người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của thuế này. Có những đối tượng là người dân bình thường khi sử dụng hàng mã, vàng mã, thuốc lá…Họ không biết mình đang phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và như vậy cần việc hướng dẫn và điều tiết chi tiêu của Nhà nước.

Ba là,cần xác định mức ấn định thuế tiêu thụ đặc biệt tối thiểu có thể sẽ cao hơn mức cần phải nộp thực tế của doanh nghiệp nhưng phải có biện pháp mạnh thì mới có thể răn de và hạn chế sự vi phạm. Tránh hành vi “thỏa thuận ngầm” giữa cán bộ thuế và đối tượng nộp thuế về mức ấn định thấp. Muốn thực thi được thuế tiêu thụ đặc biệt tốt thì trước hết cần có sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ. Các yếu kém của đội ngũ cán bộ có thể do 2 lý do: Thứ nhất là sự yếu kém trong trình độ, thứ hai là sự yếu kém trong quản lý. Đối với yếu kém trong trình độ thì cần có chính sách để đào tạo lại những cán bộ đã làm việc lâu năm, tránh việc hiểu sai, áp dụng sai. Và tạo nguồn cán bộ mới phù hợp với yêu cầu. Đối với yếu kém trong quản lý thì cần có chế tài xử lý nghiêm khắc để răn đe và cần quy định thêm hệ thống cán bộ thanh tra các bộ thuế.


KẾT LUẬN

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã đạt được những thành tựu nhất định khi đặt ra mục tiêu và đi vào thực tiễn.Song, để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế xã hội thì luật thuế TTĐB cần đẩy mạnh hơn nữa những quy định này trong thực tiễn để linh hoạt và đồng bộ hơn; đồng thời cần phải xem xét, sửa đổi và bổ sung kịp thời để khắc phục những hạn chế.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Thuế và các vấn đề liên quan

THUẾ VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Thuế và các vấn đề liên quan (việc gian lận thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay)
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì lại có định nghĩa về thuế khác nhau.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước”.
Còn theo Paul A.Samuelson “Thuế là một dạng cưỡng bức quan trọng. Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật. Sự thật là toàn bộ công dân tự mình đặt gánh nặng thuế lên mình và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng hóa công cộng do chính phủ cung cấp”.
Từ một số định nghĩa khác nhau về thuế, ta có thể có định nghĩa chung về thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Xem thêm

18 Đọc thêm

THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

2. Kinh doanh mát-xa (massage), karaoke3. Kinh doanh casino; trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót(jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự; kinh doanh đặt cược (bao gồm: đặtcược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật)4. Kinh doanh golf bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi golf;5. Kinh doanh xổ số.

3 Đọc thêm

ÔN TẬP PHÁP LUẬT KINH TẾ

ÔN TẬP PHÁP LUẬT KINH TẾ

NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN HỌC PHÁP LUẬT KINH TẾ HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
CAO HỌC ĐẠI HỌC
Câu 1: Thực trạng hệ thống pháp luật kinh tế tài chính ở Việt Nam hiện nay (Trang 1 – 4)
Câu 2: Phân tích ưu nhược điểm nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tại sao pháp luật là công cụ hiệu quả nhất được nhà nước sử dụng để quản lý nhà nước về kinh tế (Trang 4 – 6)
Câu 3: So sánh những vấn đề pháp lý giữa công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên và công ty cổ phần. So với công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên thì công ty cổ phần có lợi thế gì hơn trong quá trình kinh doanh? (Trang 6 – 10)
Câu 4: Những điểm mới của Luật kế toán năm 2015 với Luật kế toán 2003. Tại sao kinh doanh dịch vụ kế toán kiểm toán là ngành kinh doanh có điều kiện? Giải thích tại sao kinh doanh trong ngành phải tuân theo những điều kiện đó? (Trang 10 – 13)
Câu 5: Hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam (Trang 13 – 17)
Câu 6: Nội dung quyền tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Tại sao phải tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập này theo NĐ 162015CP (Trang 17 – 20)
Câu 7: Thực trạng pháp luật về quyền tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Định hướng và các giải pháp hoàn thiện. (Trang 20 – 23)
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÚC MAI LÂM

ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÚC MAI LÂM

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế, thị trường các sản phẩm đúc, cơ khí hiện nay rất sôi động và đầy tiềm năng. Nhu cầu của thị trường ngày càng đa dạng và phong phú. Do đó thu hút rất nhiều các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia.
Tại Việt Nam cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm đúc, cơ khí hiện nay rất mạnh. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO thì sự cạnh tranh này càng khốc liệt hơn. Điều này ảnh hưởng mạnh mẽ đến các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nói chung và Công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm nói riêng. Bài toán đặt ra lúc này cho Công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm là làm thế nào để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, phát triển hoạt động kinh doanh, giữ vững uy tín cũng như vị thế doanh nghệp trong tình hình kinh tế đầy biến động như hiện nay.
Sau một thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu tại Công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm, nhận rõ được những ưu khuyết điểm cũng như những hạn chế còn tồn tại trong công tác tiêu thụ sản phẩm của đơn vị. Em xin lựa chọn đề tài “ Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm “
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hiện nay của công ty và đưa ra giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty nhằm tiêu thụ sản phẩm được nhiều nhất, đạt doanh thu cao nhất và cuối cùng là thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm các vấn đề sau:
Cơ sở lí luận về tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Thực trạng tiêu thụ sản phẩm ở công ty đúc Mai Lâm. Phân tích những thuận lợi, khó khăn cũng như điểm mạnh điểm yếu của công ty. Từ đó tạo cơ sở đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Đưa ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty đúc Mai Lâm
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Là các hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm. Bao gồm:
Các sản phẩm của Công ty cổ phẩn Đúc Mai Lâm
Hoạt động nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động tổ chức, xúc tiến bán hàng, yểm trợ tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ sau khi tiêu thụ.
Hoạt động đánh giá kết quả tiêu thụ.
Phạm vi nghiên cứu:
Thị trường sản phẩm gang đúc tại Việt Nam
Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm
Thời gian nghiên cứu từ năm 20102012
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích số liệu, nắm bắt thông tin từ hoạt động thực tế, sử dụng dữ liệu sơ cấp, thứ cấp kết hợp lý luận, thực tiễn phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại doanh nghiệp.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận chung về tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Chương II : Thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm .
Chương III : Đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty Cổ phần Đúc Mai Lâm.
Xem thêm

173 Đọc thêm

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ

Phân tích hoạt động kinh doanh nói chung hiện nay càng trở thành nhu cầu của doanh nghiệp nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO. Có thể nói hầu hết những quyết định trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính có hiệu quả đều xuất phát từ các phân tích khoa học và khách quan vì vậy hoạt động phân tích kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng.
Nhiệm vụ chính của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh thông qua hệ thống chỉ tiêu đã được xây dựng, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình và kết quả kinh hoạt động kinh doanh. Từ đó các số liệu phân tích trên sẽ đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể, chi tiết phù hợp với thực tế của doanh nghiệp để có thể khai thác các tiềm năng và khắc phục yếu kém. Bên cạnh đó dựa vào kết quả phân tích còn có thể hoạch định phương án kinh doanh và dự báo kinh doanh.
Nhóm chúng tôi chọn Công ty cổ phần Kinh Đô để phân tích là vì: Kinh Đô (KDC) là một công ty cổ phần chuyên sản xuất và kinh doanh đồ ăn nhẹ tại Việt Nam. Sau hơn 25 năm hình thành và phát triển, Kinh Đô đã từng bước trở thành “người anh cả” trong làng bánh kẹo Việt Nam, 17 năm liền đạt danh hiệu: “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Theo số liệu thống kê năm 2019, Kinh Đô đang chiếm 35% thị phần bánh kẹo trong nước và trở thành đơn vị có lượng tiêu thụ bánh kẹo lớn nhất toàn quốc. Hệ thống sản phẩm của Kinh Đô rất đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu tập trung phát triển ở hai mảng chính là bánh kẹo hạng trung và cao cấp.
Xem thêm

Đọc thêm

thực trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam

THỰC TRẠNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI QUA GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

Thuế là một nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước, cạnh tranh với nước ngoài. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả là thu đúng, thu đủ và đúng hạn theo quy định của pháp luật về thuế, sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan theo Công ước Kyoto và để có được những cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu khoa học, phù hợp với quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay, đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn về cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả công tác xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam.
Tuy nhiên hiện trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế hiện nay ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Nguyên nhân chính của tình trạng gian lận thuế xuất nhập khẩu có thể do khách quan như chính sách chế độ thay đổi, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan như đối tượng nộp thuế cố tình gian lận, trốn thuế... Vì vậy, cùng với việc tổ chức, triển khai thực hiện chính sách thuế xuất nhập khẩu thì việc tìm ra giải pháp để chống gian lận thuế xuất nhập khẩu là một trong những nội dung hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả chính sách thuế của nhà nước.
Xem thêm

30 Đọc thêm

TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT? PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ ?

TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT? PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ ?

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được chính thức ban hành ở nước ta từ năm 1990, sau đó trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung để phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, đất nước, đã giúp chúng ta nhận thấy nhiều ưu điểm và hạn chế trong việc ban hành pháp luật và sự áp dụng các quy định vào thực tiễn cuộc sống. Nhóm 5 xin trình bày chủ đề: “Hiểu biết về Thuế tiêu thụ đặc biệt? Phân tích tác động của Thuế tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ”. Để thấy được bức tranh toàn cảnh về thuế tiêu thụ đặc biệt cũng như những tác động của thuế nhập khẩu.
Xem thêm

38 Đọc thêm

Thực thi chính sách công ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn

THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM, LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG. 3
1. Khái niệm chính sách công. 3
2. Thực thi chính sách và ý nghĩa thực thi chính sách. 4
4. Yếu tố ảnh hưởng tới thực thi chính sách. 7
5. Mô hình tổ chức thực thi chính sách. 9
6. Phương pháp tổ chức thực thi chính sách. 10
II. THỰC TIỄN THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM. 12
1. Chính sách công và việc tổ chức thực thi 12
2. Những hạn chế trong thực thi chính sách công hiện nay 13
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách công. 14
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Xem thêm

18 Đọc thêm