1 SỐ RỐI LOẠN LÂM SÀNG DÒNG BẠCH CẦU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "1 số rối loạn lâm sàng dòng bạch cầu":

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH CỤC BỘ PHỨC TẠP (TT)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH CỤC BỘ PHỨC TẠP (TT)

Tiêu chuẩn của Liên hội Quốc tế chống ®ộng kinh (ILAE – 1981).Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10 – 1992) phần G40. Cụthể là G40.2: động kinh cục bộ triệu chứng và hội chứng động kinh với cơn cụcbộ phức tạp.Hồ sơ bệnh án, theo dõi và khám xét lâm sàng của Viện sức khỏe Tâmthần-Bệnh viện Bạch Mai.52.2.4. Phương pháp nghiên cứu lâm sàng động kinh cục bộ phức tạp.Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu chung, các nguồn thông tinnhư phỏng vấn trực tiếp người bệnh và người nhà bệnh nhân, khám lâm sàng tạithời điểm bệnh nhân nhập viện, theo dõi, làm xét nghiệm cận lâm sàng.Đánh giá kết quả lâm sàng: thống kê các triệu chứng lâm sàng, đánh giácác loại rối loạn ý thức và các mức độ của chúng, đánh giá tần suất và tính chấtxuất hiện cơn, rối loạn cảm xúc và lo âu, rối loạn hoạt động và hành vi, các triệuchứng loạn thần như: hoang tưởng và ảo giác, suy giảm nhận thức trong cơnđộng kinh cục bộ phức tạp.2.2.5. Phương pháp ghi điện não ngoài cơn động kinh cục bộ phức tạp.Ghi điện não bằng máy Neurofax 9210K của hãng NIHON KOHDEN(Nhật Bản), có phòng ghi điện não chuyên dụng tại Viện Sức khoẻ Tâm thầnBệnh viện Bạch Mai.2.2.6. Phương pháp tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân động kinhcục bộ phức tạp.Nghiên cứu tiền sử trong thời kỳ thai nghén và bệnh lý liên quan đến cơnđộng kinh cục bộ phức tạp. Kết quả chụp sọ não bằng cộng hưởng từ ở bệnhnhân động kinh cục bộ phức tạp.2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu.Xử lý số liệu và đánh giá kết quả bằng các thuật toán thống kê. Các số liệuđược xử lý bằng chương trình Stata 8.0.CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Xem thêm

24 Đọc thêm

VÀI NÉT VỀ LEUKEMIA KINH DÒNG BẠCH CẦU HATR

VÀI NÉT VỀ LEUKEMIA KINH DÒNG BẠCH CẦU HATR

Vài nét vềleukemia kinhdòng bạch cầuKhái niệm• Thuộc nhóm tăng sinh tuỷ mạn tính áctính• Đặc trưng bởi tăng sinh bc hạt biệt hoáMáu ngoại vi có đủ lứa tuổi của dòng bchạt1.Giai đoạn mạnBc đoạn trung tính tăng cao,đủ các lứatuổi blast Tăng bc ưa acid và bazơ ở máuThiếu máu nhẹ,dòng hc ở tuỷ thường giảmvề % Tiểu cầu bình thường hoặc tăng.Hay gặpmẫu tc nhỏ ,giảm múi nhânTăng sợi reticulinCó thể gặp:tb Pseudo-gaucher,histiocyte2.Giai đoạn tăng tốcBlast chiếm 10-19% bc ở máu và/hoặc tb
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HUYẾT HỌC CỦA BỆNH LƠ XÊ MI KINH DÒNG HẠT GIAI ĐOẠN TĂNG TỐC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HUYẾT HỌC CỦA BỆNH LƠ XÊ MI KINH DÒNG HẠT GIAI ĐOẠN TĂNG TỐC

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng và huyết học của bệnh lơ xê mi kinh dòng hạt giai đoạn tăng tốc

71 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH BẠCH CẦU CẤP DÒNG LYMPHO NHÓM NGUY CƠ CAO Ở TRẺ EM THEO PHÁC ĐỒ CCG 1961

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH BẠCH CẦU CẤP DÒNG LYMPHO NHÓM NGUY CƠ CAO Ở TRẺ EM THEO PHÁC ĐỒ CCG 1961

death rate is 44% in the first 28 days of treatment. The reason for thehigh death rate is severe infection due to neutropenia anduncontrolled bleeding, brain hemorrhage. Comparing with otherresearch groups in the world shows that death rate during inductionphase is a serious problem that requires attention, supportive caresuch as proper & effective antibiotic usage and adequate supplementof blood products to prevent possible strokes has large impact ontreatment results.4.3.2 Side effect and toxic during induction phase:The induction phase uses 4 drugs, thus the patient has toendure a large amount of chemotherapy, leading to more side effectas myelosuppression due to leukopenia, anemia, thrombocytopenia.There are some, but not significant, differences between the sideeffect ratio researched and that of researches by LT Phuong and BNLan. These side effects are usually most serious from day 7-14 of thefirst stage, corresponding to mycositis, severe infection and feverneutropenia. When the bone marrow recovers, infection andmycositis in children also decrease and return to normal on week 4 ofinduction phase.4.3.3 Post induction of CCG 1961:Among the 102 patients treated and follow up according to22CCG 1961 protocol by the end of the research, 31/5/2015, the longestmonitoring period from diagnosis to the end of the research is 84months, the shortest period is 1 week when the patient died. Thereare 47 patients alive and among them 5 are expected to stop treatmentin August (2 patients), December (2 patients) and 1 patient will stopin October 2015. By the end of the research, among the 38 deaths: 12
Xem thêm

27 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TRẦM CẢM LƯỠNG CỰC ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TRẦM CẢM LƯỠNG CỰC ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

+ Chèn ép ống ngực chủ: tràn dưỡng chấp màng phổi.- Tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp tim.- Tràn dịch màng phổi.- Toàn thân: mệt mỏi, gầy sút, sốt.- Các dấu hiệu do di căn: hạch thượng đòn, nốt di căn da thành ngực.Di căn não: hội chứng tăng áp lực nội sọ, liệt thần kinh khu trú. Di căn xương:đau xương, gãy xương bệnh lý. Di căn phổi đối bên, di căn gan: thường khôngcó triệu chứng lâm sàng.- Các hội chứng cận ung thư: ngón tay dùi trống, đái tháo nhạt do khốiu bài tiết ADH, hội chứng Cushing do khối u bài tiết chất giống ACTH, tăngcalci máu do khối u bài tiết chất giống PTH, vú to, giọng cao, teo tinh hoàn dokhối u bài tiết chất giống gonadotropin, hội chứng giả nhược cơ, viêm da cơ.1.4. Cận lâm sàng [9].- Chụp Xquang lồng ngực thẳng-nghiêng: đám mờ, tràn dịch màng phổi.- Chụp cắt lớp vi tính: đánh giá hình ảnh khối u, hạch trung thất, vị trí,kích thước, mức độ lan rộng của tổn thương.- Nội soi phế quản: quan sát trực tiếp tổn thương, xác định vị trí hìnhthái tổn thương, thường gặp thể sùi và chít hẹp. Qua nội soi có thể tiến hànhsinh thiết trực tiếp tổn thương hoặc xuyên thành phế quản để chẩn đoán môbệnh học.- Siêu âm ổ bụng: phát hiện các tổn thương di căn.8- Xạ hình xương bằng máy SPECT: phát hiện di căn từ rất sớm so vớichụp Xquang thông thường.- Cắt lớp vi tính sọ não: phát hiện tổn thương di căn não.- Cộng hưởng từ sọ não: số lượng, kích thước vị trí tổn thương, môphỏng lập kế hoạch xạ trị bằng gamma knife.
Xem thêm

Đọc thêm

NHIỄM HIV AIDS

NHIỄM HIV AIDS

NHIỄM HIV/AIDSPGS.TS Nguyễn Đức HiềnThs Nguyễn Tiến Lâm1. Đại cươngĐại dịch HIV/AIDS chưa kiểm soát được đang là thách thức lớn trong lịch sử.Nhiễm HIV thường không có triệu chứng. Virus HIV xâm nhập cơ thể dần huỷ hoại hệmiễn dịch, cuối cùng dẫn đến giai đoạn AIDS với các biểu hiện nhiễm trùng cơ hội,ung thư và các biểu hiện liên quan rối loạn miễn dịch.Biểu hiện lâm sàng nhiễm HIV/AIDS gặp ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể, khôngcó nét đặc trưng riêng, đòi hỏi nhân viên y tế phải luôn lưu ý thăm dò phát hiện HIVsớm nhằm mang lại kết quả cao trong chẩn đoán và điều trị kịp thời.Bên cạnh việc điều trị các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và các rối loạn miễn dịch,việc điều trị thuốc kháng virus có giá trị nhất định trong việc kéo dài và nâng cao chấtlượng cuộc sống cho người bệnh. Tuân thủ điều trị đóng vai trò quan trọng trong việcđiều trị thuốc kháng virus.2. Tác nhân gây bệnh2.1. Đặc điểm chungHIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae, có dạng hình cầu, kích thước khoảng 80 120 nm.Bộ gen là ARN một sợi và có enzym sao chép ngược (RT).HIV1 và HIV2 gây bệnh ở người, thuộc nhóm Lentivirus có thời gian ủ bệnh dài vàtiến triển tương đối chậm.2.2. Cấu trúc của vi rút HIVVi rút HIV hoàn chỉnh có cấu trúc gồm 3 lớp:É Lớp vỏ ngoài: là một lớp Lipit kép, có 72 cấu trúc lồi trên bề mặt bản chất làglycoprotein (gp) trọng lượng phân tử 120 và 41 Kilo Dalton (gp120 và gp41).É Lớp vỏ trong: gồm 2 lớp Protein là p17 và p24.É Lớp lõi:·
Xem thêm

26 Đọc thêm

Sản xuất kháng thể đơn dòng kháng hormon FSH

SẢN XUẤT KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG KHÁNG HORMON FSH

TÓM TẮT
Việc định lượng chính xác Follicle Stimulating Hormone (FSH) có thể giúp phát hiện sớm các rối loạn sinh sản của gia súc. Có nhiều phương pháp định lượng FSH nhưng trên thực tế việc sử dụng phương pháp hóa miễn dịch, đặc biệt sử dụng kháng thể đơn dòng mang tính khả thi hơn so với các giải pháp khác cả về khả năng áp dụng và độ đặc hiệu. Trong nghiên cứu này, 02 dòng tế bào lai Mo_FSH1 và Mo_FSH8 sinh kháng thể đơn dòng đặc hiệu với FSH đã được tạo ra sau khi lai giữa tế bào lympho B của lách chuột mẫn cảm với kháng nguyên FSH gắn albumin với tế bào myeloma SP20Ag14. Nồng độ kháng nguyên gây miễn dịch tốt nhất là 250 µgconlần. Sau khi kiểm tra tính đặc hiệu trên các kháng nguyên glycoprotein khác nhau, dòng Mo_FSH8 được lựa chọn để nhân nuôi lượng lớn và gây báng trên chuột. Từ 7 chuột có báng trên tổng số 10 chuột thí nghiệm, đã thu được 38 ml dịch báng. Tiếp đó, 72,04 mg kháng thể đơn dòng được tinh sạch từ số dịch báng trên và cất giữ ở 800C để phục vụ nghiên cứu tạo kit định lượng FSH.
Xem thêm

9 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ - NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ INTERLEUKIN-6, CORTISOL TRONG HUYẾT TƯƠNG BỆNH NHÂN BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP (FULL TEXT)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ - NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ INTERLEUKIN-6, CORTISOL TRONG HUYẾT TƯƠNG BỆNH NHÂN BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tai biến mạch máu não là một bệnh rất phổ biến trên thế giới. Trong các bệnh viện, 80% các bệnh thần kinh là do mạch máu não.
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tử vong do tai biến mạch máu não đứng hàng thứ hai sau bệnh tim, ở Hoa Kỳ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và bệnh ung thư [5], [9].
Tỷ lệ tai biến mạch máu não tăng theo tuổi, khoảng 1/4 các trường hợp xảy ra dưới 65 tuổi, hơn 1/4 xảy ra trên 75 tuổi.
Người ta nhận thấy bệnh nhân bị tai biến mạch máu não nếu thoát được tử vong thường chịu hậu quả với di chứng tàn phế nặng nề cả thể xác lẫn tâm trí [147].
Vấn đề chẩn đoán tai biến mạch máu não ngày nay không khó nhưng việc điều trị và tiên lượng còn rất khó khăn.
Hiện nay nền y học rất phát triển, có nhiều phương pháp áp dụng vào điều trị tai biến mạch máu não như [100]:
- Điều chỉnh huyết áp, chống phù não, duy trì glucose huyết tương, lưu thông đường thở, giảm thân nhiệt, tăng cường nuôi dưỡng…
- Một số trường hợp cần thiết phải can thiệp bằng phương pháp ngoại khoa như: Kỹ thuật tạo hình động mạch qua da, giãi phóng làm tiêu cục máu đông, nong lòng các động mạch hẹp…
Tuy nhiên trong thực tế, tỷ lệ tử vong sau tai biến mạch máu não vẫn còn cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị các bệnh nhân tai biến mạch máu não. Bên cạnh các yếu tố kinh điển như [5], [6], [7], [9]:
- Rối loạn ý thức khi vào viện ( thang Glasgow dưới 7 điểm).
- Rối loạn hô hấp khi vào viện.
- Có cơn duỗi cứng mất não.
- Giãn đồng tử một hoặc hai bên.
- Rối loạn thân nhiệt, sốt cao liên tục [72], [82].
- Huyết áp tâm thu trên 200mmHg.
- Tuổi cao trên 70.
- Chảy máu tái phát.
- Ổ tụ máu lớn, ở sâu (thể tích trên 60cm3 ở bán cầu đại não, trên 20cm3 ở tiểu não, 5 đến 10cm3 ở thân não)
- Chảy máu não kèm chảy máu não thất bên, não thất III, não thất IV.
- Di lệch đường giữa trên 1cm.
- Cận lâm sàng: tăng protein phản ứng C (CRP), tăng fibrinogen, tăng số lượng bạch cầu.
Ngày nay, người ta thấy bên cạnh các yếu tố kinh điển kể trên [27], [36], [43], [45], ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp có sự gia tăng nồng độ interleukin-6 và cortisol trong huyết tương [46], [67].
Sự gia tăng nồng độ của hai yếu tố này rất có ý nghĩa về tiên lượng. Khi nồng độ của chúng càng cao tiên lượng càng nặng, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não càng cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
2.1. Khảo sát nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương ở các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
2.2. Tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương với các yếu tố tiên lượng như glucose, huyết áp và thang điểm Glasgow của các bệnh nhân trên.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
3.1.1. Trong tai biến mạch máu não giai đoạn cấp, có rất nhiều yếu tố để tiên lượng về độ trầm trọng và tỷ lệ tử vong. Ngoài các yếu tố như tuổi tác, các bệnh kèm theo (bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường…), tăng bạch cầu, tăng urê và creatinin, tăng fibrinogen, sự tăng nồng độ interleukin-6 và cortisol có giá trị rất lớn để tiên lượng ở các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não giai đoạn cấp [89], [95], [96], [97].
3.1.2. Qua xét nghiệm định lượng nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp, chúng ta có thể đánh giá được tình trạng nặng, nhẹ của bệnh nhân để có thái độ điều trị thích hợp.
3.2. Ý nghĩa thực tiển
3.2.1. Đề tài có ý nghĩa thực tiển vì đã chú trọng tới hai yếu tố tiên lượng ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
3.2.2. Khi định lượng, nếu thấy nồng độ interleukin-6 và/ hoặc cortisol huyết tương tăng cao thì phải nghĩ đến những hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra, chẳng hạn như nguy cơ tắc mạch tăng lên do interleukin-6 làm tăng kết dính bạch cầu, hoặc tăng thương tổn tế bào não do tăng nồng độ cortisol dẫn đến làm tăng glucose huyết tương.
Do vậy, để điều trị có hiệu quả, người thầy thuốc phải tìm cách để hạn chế các tác dụng có hại do interleukin-6 và cortisol gây ra.
3.2.3. Có mối tương quan giữa nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương với thang điểm Glasgow, glucose huyết tương, huyết áp ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
4. Đóng góp của luận án
Qua khảo sát sự biến đổi nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp đã có thể khẳng định interleukin-6 và/hoặc cortisol huyết tương có liên quan đến tiên lượng của bệnh nhân. Nồng độ interleukin-6 và/ hoặc cortisol huyết tương càng cao, tiên lượng càng nặng.
Xem thêm

151 Đọc thêm

Báo cáo thực tập Dược lâm sàng cuối kỳ

BÁO CÁO THỰC TẬP DƯỢC LÂM SÀNG CUỐI KỲ

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH, CÁC BẢNG ii
Chương 1. CÁC BẢNG TÓM TẮT 1
1.1. Tóm tắt bệnh án 1
1.2. Tóm tắt bệnh án từng ngày theo SOAP 5
1.3. Tóm tắt cận lâm sàng từng ngày theo thời gian 13
1.4. Tóm tắt dấu hiệu sinh tồn từng ngày theo thời gian 14
1.5. Tóm tắt sử dụng thuốc từng ngày theo thời gian 15
Chương 2. TỔNG QUAN VỀ BỆNH 17
2.1. Phân loại xơ gan 17
2.2. Triệu chứng lâm sàng 17
2.3. Cận lâm sàng theo dõi chẩn đoán 17
2.4. Chẩn đoán 18
2.5. Nguyên tắc điều trị và mục tiêu điều trị 18
2.6. Thuốc điều trị cụ thể 19
2.7. Các vấn đề cần tư vấn liên quan đến lối sống 20
Chương 3. MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN 23
3.1. Điều trị biến chứng 23
3.2. Điều trị nguyên nhân làm tổn thương gan 24
3.3. Điều trị nâng đỡ 24
3.4. Điều trị dự phòng 24
Chương 4. ĐÁNH GIÁ 25
4.1. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc từng ngày 25
4.2. Đánh giá quá trình sử dụng thuốc 38
4.3. Đề xuất can thiệp trên toàn bệnh án 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC TÊN BIỆT DƯỢC, HOẠT CHẤT, HÀM LƯỢNG, DẠNG BÀO CHẾ, ĐƯỜNG DÙNG 44
PHỤ LỤC CÁC CHỈ SỐ CẬN LÂM SÀNG BÌNH THƯỜNG 45
PHỤ LỤC MINH CHỨNG TRA CỨU TƯƠNG TÁC THUỐC 47


DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Ý nghĩa
BN Bệnh nhân
VGSV Viêm gan siêu vi

DANH MỤC CÁC HÌNH, CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Phân loại xơ gan theo Child-Pugh 16

Chương 1. CÁC BẢNG TÓM TẮT
1.1. Tóm tắt bệnh án
A. PHẦN HÀNH CHÁNH
- Họ và tên: NGÔ THỊ PHỈ, nữ, 62 tuổi
- Nghề nghiệp: già
- Địa chỉ: Xã Phong Điền, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ.
- Vào viện lúc 10h30 ngày 16/12/2015.
B. PHẦN CHUYÊN MÔN
1.1.1. Lý do vào viện
Chảy máu răng.
1.1.2. Bệnh sử
- Bệnh xơ gan, chảy máu răng, phù chi dưới tăng, bụng báng tăng => nhập viện.
- Tình trạng lúc nhập viện: Mạch: 75 lần/ phút, nhiệt độ: 370C, huyết áp: 140/90 mmHg, nhịp thở: 20 lần/ phút. Nặng: 94kg, cao 160 cm.
Bệnh nhân tỉnh, tổng trạng trung bình, da xám, niêm hồng vừa, không sốt, thở dễ, phù to 2 chi dưới.
1.1.3. Tiền sử
- Bản thân: Xơ gan.
- Gia đình: khỏe.
1.1.4. Khám bệnh của bác sĩ
- Toàn thân: tổng trạng trung bình, da xám, niêm hồng vừa, không sốt, thở dễ, phù to 2 chi dưới.
- Các cơ quan:
+ Tuần hoàn: Tim đều
+ Hô hấp: Phổi không rale
+ Tiêu hóa: bụng báng to
+ Thận – Tiết niệu – Sinh dục: chạm thận (-), bập bềnh thận (-).
+ Thần kinh: Bệnh tỉnh, tiếp xúc được.
+ Các cơ quan khác chưa phát hiện bất thường.
1.1.5. Chẩn đoán sơ bộ:
Xơ gan/ Rối loạn đông máu không đặc hiệu.
1.1.6. Diễn tiến bệnh phòng
N1 (16/12) lúc 11h02
Bệnh tỉnh tiếp xúc tốt, da niêm hồng. Tim đều, HA 110/70 mmHg. Phổi trong. Bụng mềm, báng. Tiêu tiểu được.
- XN rối loạn đông máu: PT: 65%, APTT: 51,4s, Fibrinogen: 1,29 g/l.
- Huyết sắc tố: 8,85 g/l, Số lượng tiểu cầu: 296, Số lượng bạch cầu: 2,65.109/l
- Albumin: 23 g/l, Bilirubin TP: 61,7 µmol/l, Bilirubin TT: 31,9 µmol/l, K+: 3,1 mmol/l, AST: 70 U/L, Glucose tm 10,4 mmol/l (187 mg/dl)
- Siêu âm bụng tổng quát: gan cấu trúc thô.
ĐT:
- Glucose 5% 500ml 1 chai TTM xxx g/p
- Vidxac 10mg 1 ống (TMC) 11h30’
- Vinzix 20mg 1 ống (TMC) 14h
- Duphalac 1 gói (u) 11h30’
- Kaliclorid 0,5g 2v × 2 (u) 14h – 20h
N2 (17/12) lúc 7h
Xem thêm

56 Đọc thêm

BẢN TIN Y HỌC CHỨNG CỨ SỐ 2 CHUYÊN ĐỀ

BẢN TIN Y HỌC CHỨNG CỨ SỐ 2 CHUYÊN ĐỀ

tổng hợp từ các nghiên cứu trên thế giới về cùng 1 vấn đề, phân tích sốliệu và đưa ra những kết luận có sức mạnh về mặt thống kê. Nguồn tàiliệu lớn nhất là Cochrane (http://www.cochrane.org).Chữ S thứ 3 – tóm tắt: những bài tóm tắt YHCC về 1 đề tài cụthể, các nguồn tham khảo bao gồm Centre for Review and Dissemination (http://www.crd.york.ac.uk/CRDWeb/SearchPage.asp), ACP Journal club (http://acpjc.acponline.org/Content/index.htm).Ở trẻ trên 3 tháng tuổi, tác nhân gây bệnh viêm màng não mủthường gặp là Hemophillus influenzea type B (HiB), Streptococcuspneumoniae và Neisseria meningitidis. Bệnh nhân nghi ngờ viêmmàng não mủ phải được chọc dò dòch não tủy ngay khi có thể. Chẩnđoán dựa vào triệu chứng lâm sàng và kết quả dòch não tủy (DNT) vớiđạm tăng, đường bình thường hoặc giảm, có bạch cầu trong DNT, cấyDNT. Kháng sinh đường tónh mạch là điều trò bắt buộc trên bệnh nhânviêm màng não mủ. Đây là một bệnh lý đã được đề cập từ lâu trong yvăn, tuy nhiên trên lâm sàng, việc chẩn đoán, điều trò và phòng ngừavẫn còn nhiều tranh cãi.Trong bản tin YHCC kỳ này, chúng tôi đưa ra một số vấn đềgây tranh luận liên quan đến viêm màng não mủ.Câu Hỏi Y Học Chứng CứCâu 1: Corticoid có lợi trên bệnh nhân viêm màng não mủ không?Câu 2: Có nên hạn chế dòch trên bệnh nhân viêm màng não mủkhông?Chữ S thứ 4 – tóm lược: các tài liệu, sách YHCC về 1 đề tài cụthể. Nguồn tài liệu Dynamed (https://dynamed.ebscohost.com), Clinical evidence (http://www.clinicalevidence.com/x/index.html).Câu 3: Có cần điều trò dự phòng viêm màng não mủ trên bệnh nhâncó vết thương sọ não không? Điều trò dự phòng trên bệnh nhân cóshunt não thất hoặc đặt dụng cụ can thiệp vào não thất?
Xem thêm

8 Đọc thêm

slide bát pháp trị bệnh trong y học cổ truyền

SLIDE BÁT PHÁP TRỊ BỆNH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Bát pháp là 8 phương pháp dùng thuốc uống trong y học cổ truyền gồm : Hản, Thổ, Hạ, Hoà, Thanh, Ôn, Tiêu, Bổ.
1. HÃN PHÁP: (Làm cho ra mồ hôi).
Là phương pháp dùng các vị thuốc có tác dụng làm cho ra mồ hôi đưa các tác nhân gây bệnh ra ngoài, khi bệnh còn ở biểu phận. Trên lâm sàng hay dùng để chữa các bệnh ngoại cảm do phong hàn thấp nhiệt.
Phát tán phong hàn
Phát tán phong nhiệt
Phát tán phong thấp.
Chống chỉ định : khi bệnh nhân tiêu chảy, nôn, mất máu, mùa hè không nên cho ra mồ hôi nhiều.
2. THỔ PHÁP: (Gây nôn).
Dùng các vị thuốc để gây nôn khi ngộ độc thức ăn, thức uống, thuốc độc.v.v.. Lúc bệnh còn ở thượng tiêu.
Phương pháp này ít dùng trên lâm sàng.
3. HẠ PHÁP: (Tẩy xổ, nhuận trường).
Dùng các loại thuốc có tác dụng tẩy xổ và nhuận trường để đưa các chất ứ động ra ngoài bằng đường đại tiện như : phân táo, huyết ứ, đàm ứ.v.v..
Chỉ dùng phương này khi bệnh thuộc về thực chứng. Gồm có các cách :
Ôn hạ : Dùng các vị thuốc xổ có tính cay ấm như bả đậu để tẩy hàn tích.
Nhuận hạ : Dùng các vị thuốc có tính chất xổ nhẹ nhuận trường như : mồng tơi, rau muống.
Hàn hạ : Dùng các vị thuốc có tính lạnh như : Ðại hoàng, phát tiêu để tẩy nhiệt tích.
Công hạ : Dùng các vị thuốc có tính chất xổ mạnh như : lư hội, tả diệo để trừ thực tích hạ tiêu.
Phù chính công hạ : Cũng dùng thuốc xổ mạnh nhưng vì tỳ vị hư yếu nên phai phối hợp với thuốc kiện tỳ.
Chống chỉ định : khi bệnh còn ở biểu, sốt mà không táo, người già yếu, phụ nữ có thai hay sản hậu.
4. HOÀ PHÁP: (Hoà hoãn)
Dùng chữa các bệnh ngoại cảm còn bán biểu bán lý. Hàn nhiệt vãng lai không giải biểu được không thanh lý được, các bệnh rối loạn sự tương sinh tương khắc của Tạng Phủ, một số bệnh do sang chấn tinh thần.
Trên lâm sàng thường dùng chữa một số bệnh như : Cảm mạo, lúc nóng lúc lạnh, rối loạn chức năng Can Tỳ, rối loạn kinh nguyệt.
Chống chỉ định: Không dùng khi bệnh còn ở biểu hay vào lý.
5. THANH PHÁP: ( Làm cho mát ).
Dùng các vị thuốc mát để làm hạ sốt khi tà khí đã vào lý phận. Trên lâm sàng thường dùng 3 cách:
Thanh nhiệt lương huyết : Dùng các vị thuốc mát huyết như : Huỳnh liên, huỳnh bá, huỳnh cầm.
Thanh nhiệt Tả hoả : Dùng các vị thuốc để trừ hoả nhiệt như : Huyền sâm, sinh địa, thạch cao.
Thanh nhiệt giải độc : Dùng các vị thuốc để giải nhiệt độc như : Kim ngân hoa, Bồ công anh, Chi tử, Nhân Trần.
Chú ý : Dùng thận trọng trong trường hợp Tỳ Vị hư hàn, tiêu chảy kéo dài.
6. ÔN PHÁP: ( Làm ấm nóng )
Dùng các loại thuốc ấm nóng để chữa các chứng hư hàn, quyết lảnh hồi dương cứu nghịch. Trên lâm sàng thường dùng các vị thuốc như: Nhân sâm,Phụ tử, Nhục quế, Sanh cương.
7. TIÊU PHÁP: ( Làm cho tan )
Dùng để phá tan các chứng ngưng trệ, ứ đọng do hiện tượng ứ huyết,. Ứ nước do khí trệ gây ra. Trên lâm sàng thường dùng các cách như :
Tiêu đạo : Dùng Hương phụ, Sa nhân để chữa đầy hơi, khí uất.
Tiêu thũng : Dùng các vị như :Ý dỉ, Phục linh, Mã đề, Mộc thông để lợi tiểu khi bị thuỷ thũng .
Tiêu ứ : Dùng các vị thuốc như : Ðơn sâm, Hồng hoa, Tô mộc, Ðào nhơn để trị các chứng ứ huyết.
Tiêu tích: Dùng các vị thuốc như : Miết giáp, Tạo giác thích, để trị các chứng ung nhọt, kết hạch.
Chống chỉ định : Không nên dùng trong trường hợp người có thai. Vì đây là phương pháp chữa triệu chứng nên cần phối hợp với các vị thuốc chữa nguyên nhân.
8. BỔ PHÁP: ( Bồi dưỡng cơ thể )
Dùng các vị thuốc chữa các chứng bệnh do công năng hoạt động của cơ thể bị giảm sút gọi là chính khí hư. Nhằm mục đích nâng cao thể trạng và giúp cho cơ thể thắng được tác nhân gây bệnh.
Trên lâm sàng thường sử dung 4 nhóm chính :
Bổ Âm : Thường dùng thang Lục vị hoàn để chữa chứng Thận âm hư.
Bổ dương : Thường dùng thang Bát vị hoàn để chữa chứng Thận dương hư.
Bổ Khí : Thường dùng thang Tứ quân để chữa hội chứng suy nhược toàn thân.
Bổ huyết : Thường dùng thang Tứ vật để chữa các chứng : Bần huyết, mất huyết.
Ngoài bốn phương thức trên người ta còn dùng phép bổ trực tiếp các tạng phủ như : Phế hư bổ Phế, Tỳ hư bổ Tỳ hoặc Tâm hư bổ Tâm hoặc theo phương thức bổ mẹ sinh con .
Xem thêm

37 Đọc thêm

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN & ĐIỀU TRỊ COPDTHEO GOLD 2017 VÀ CÁC KHUYẾN CÁO

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN & ĐIỀU TRỊ COPDTHEO GOLD 2017 VÀ CÁC KHUYẾN CÁO

Bệnh ĐDK nhỏViêm ĐDKXơ và ứ đàm ĐDKTăng sức cản ĐDKPhá hủy nhu môMất phần kết nối phếnangGiảm tính đàn hồiGIỚI HẠN DÒNG KHÍCHƯƠNG 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ TỔNG QUAN Tần suấto BOLD: COPD= 384 triệu/2010, tần suất chung: 11.7%(95% (CI) 8.4%–15.0%)o 3 triệu người chết/nămo Tăng tình trạng hút thuốc lá ở nước đang phát triển vàdân số già ở nước thu nhập cao: tần suất trong 30 nămtới và 2030 > 4,5 triệu người chết/năm do COPD và cóliên quan đến COPD Bệnh đi kèmo Bệnh tim mạch, rối loạn cơ xương, tiểu đường có liênquan đến thuốc lá, tuổi tác và COPDo Ảnh hưởng đến sức khỏe, tương tác với điều trị COPDo Nguyên nhân nhập viện và chi phíCHƯƠNG 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ TỔNG QUAN
Xem thêm

Đọc thêm

So sánh hiệu quả của dung dịch hes 1300.4 và dung dịch hes 2000.5 trên huyết động mạch, huyết áp động mạch, áp lực tĩnh mạch trung tâm

SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA DUNG DỊCH HES 1300.4 VÀ DUNG DỊCH HES 2000.5 TRÊN HUYẾT ĐỘNG MẠCH, HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH, ÁP LỰC TĨNH MẠCH TRUNG TÂM

Giảm khối lượng tuần hoàn tuyệt đối trong chấn thương, phẫu thuật do mất máu, thoát dịch vào khoảng kẽ hoặc tương đối do giãn mạch dưới tác dụng của một số yếu tố giãn mạch như thuốc mê nhiệt độ dẫn đến giảm tưới máu tổ chức kết quả là suy chức năng các cơ quan. Vì vậy đảm bảo khối lượng tuần hoàn là mục tiêu tối quan trọng nhằm đảm bảo áp lực tưới máu, cung cấp đủ oxy cho các cơ quan(40). Ngày nay nhờ những hiểu biết ngày càng tăng các tai biến phiền nạn cũng như nguy cơ lây nhiễm các bênh nguy hiểm do truyền máu và các chế phẩm của máu đã làm thay đổi rất nhiều quan điểm về an toàn truyền máu. Chính vì vậy, việc sử dụng các dung dịch thay thế máu là rất cần thiết đặc biệt là trong chấn thương và phẫu thuật(11)
Các dung dịch bồi phụ thể tích tuần hoàn gồm có dịch tinh thể và dịch keo. Và mặc dù cuộc tranh cãi kéo dài về việc lựa chọn dịch tinh thể hay dich keo thì hiện tại các số liệu lâm sàng không cung cấp đủ bằng chứng cho kết luận về lợi ích tương đối giữa dịch tinh thể và dịch keo cũng như giữa các dịch keo với nhau Tuy nhiên có vẻ như dịch tinh thể ít thích đáng hơn vì trọng lượng phân tử thấp phân bố vào khoảng kẽ nhiều( chỉ cú 20% trong lòng mạch), thời gian lưu giữ ngắn, nguy cơ quá tải dịch cao. Các dung dich keo có trọng lượng phân tư cao thích hợp hơn trong vai trò thay thế huyết tương gồm albumin, dextran, gelatin và đặc biệt là các hydroxyethyl starch(15), (14). Cho đến nay, trên thế giới dung dịch HES được sử dụng rộng rãi hơn cả là vì nhiều lý do như: tác dụng kéo dài, ít gây sốc phản vệ(0.006%) hơn so với các dung dịch keo khác…(30), (13), (52), (12). Tuy nhiên, dung dịch HES cũng có những tác dụng không mong muốn như: rối loạn đông máu, suy thận... với các mức độ khác nhau tuỳ theo trọng lượng phân tử trung bình, tỷ lệ vị trí nhóm thế, số nhóm thế, lượng dịch truyền, đặc biệt là tác dụng phụ trên đông máu(51). Trong đó hes trọng lượng phân tử cao(hetastarch) gây ảnh hưởng nhiều nhất trên đông máu và đã có bằng chứng chảy máu trên lâm sàng(35), (18), (48). Các nước châu âu chủ yếu sử dụng các dung dịch hes trọng lượng phân tử trung bình(pentastarch) mặc dù ít ảnh hương lên đông máu hơn, không gây rối loạn ở mức lâm sàng nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có làm giảm yếu tố VIII, vonwiller branch, giảm ngưng kết tiểu cầu và được khuyến cáo là không dùng trên các bệnh nhân có nguy cơ cao như tiền sử rối loạn đông máu, truyền máu nhiều và không nên truyền quá 33mlkg(43), (47), (50). Gần đây các nhà khoa học đã cho ra đời dung dịch HES thế hệ mới trọng lượng phân tử thấp(1300.4) với nhiều ưu điểm nổi bật như cải thiện vi tuần hoàn, giảm độ quánh máu, tăng cung cấp oxy tổ chưc và ít gây rối loạn đông máu ngay cả khi dùng khối lượng lớn(50mlkg) (22), (37), (31).
Tại Việt Nam, các dung dịch HES được đưa vào sử dụng từ những năm 90 cũng cho thấy những ưu điểm của nó, đặc biệt là trong hoàn cảnh bệnh nhân chấn thương, phẫu thuật lớn. Cho đến nay, mới chỉ có dung dịch hetastarch và pentastarch được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trên lâm sàng7. Tetrastarch(voluven) là một dung dịch mới và chưa có nghiên cứu nào đánh giá về hiệu quả và ảnh hưởng trên đông máu của dung dich này. vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nay với mục đích:
So sánh hiệu quả của dung dịch hes 1300.4 và dung dịch hes 2000.5 trên huyết động: mạch, huyết áp động mạch, áp lực tĩnh mạch trung tâm
Đánh giá ảnh hưởng trên đông máu và một số tác dụng phụ khác khi sử dung hai dịch truyền này trên những bệnh nhân mổ chấn thương mất máu trung bình.
Xem thêm

41 Đọc thêm

Triệu chứng học nội khoa: Chương VII triệu chứng học nội tiết

TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA: CHƯƠNG VII TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI TIẾT

Chương VII
Triệu chứng học về nội tiết
CÁCH KHÁM MỘT NGƯỜI BỆNH NỘI TIẾT.
I. ĐẠI CƯƠNG.
Trong những năm gần đây, sự hiểu biết về các bệnh nội tiết ngày một sâu rộng hơn nhờ việc thăm khám lâm sàng tỷ mỉ kỹ càng, nhưng nhất là nhờ vào phương pháp thăm dò hiện đại về Xquang, phóng xạ, sinh hoá và miễn dịch.
Tuyến nội tiết là những tuyến tiết ra Hocmon, các chất này đổ vào các mạch máu đi của tuyến. Chính ngay cả ở tế bào của tuyến, các tĩnh mạch nằm trong tuyến, ở các tân mạch từ tuyến đi ra, người ta cũng thấy có những chất mang tính chất hoá học của một chất nội tiết đặc hiệu tiết ra từ các tuyến nội tiết.
Mỗi tuyến nội tiết ra một số hocmon đặc hiệu mang tính chất hoá học và có một chức năng đặc hiệu riêng cho tuyến đó.
Bệnh nội tiết có thể do rối loạn của một hay nhiều tuyến. Về lâm sàng ngoài sự thay đổi ngay ở trên tuyến (thay đổi về hình thể, kích thước, mật độ…), bao giờ hocmon cũng có ảnh hừởng đến toàn thể trạng người bệnh.
Bệnh nội tiết là bệnh toàn thân.
Các tuyến nội tiết hầu hết rất nhỏ, nằm sâu trong cơ thể ( trừ tuyến sinh dục và giáp trạng) do đó rất khó khám trực tiếp. Vả lại các biến đổi ban đầu của các tuyến nội tiết phần lớn lại từ biến đổi về thể dịch và sinh hoá.
Có thể nói,bệnh nội tiết là một bệnh về sinh hoá.
Do đó thăm khám tuyến “ nội tiết” đòi hỏi phải tỷ mỉ, toàn diện, kết hợp lâm sàng và các phương pháp thăm dò tuyến. Sau đó phải tổng hợp để xem các rối loạn ấy thuộc hội chứng suy hay cường của tuyến nào?
I. KHÁM LÂM SÀNG.
1. Quan sát hình dạng người bệnh.
Hầu hết các bệnh nội tiết đều có ảnh hưởng đến hình dáng chung của người bệnh. Cần chú ý những điểm sau:
1.1. Nhìn chung để biết.
Tư thế lúc nghỉ ngơi, lúc đi lại.
Hình dạng mặt, thân, các chi.
Màu sắc, tính chất của da.
Nhiều khi nhìn đã giúp ta nghĩ tới bệnh nào đó của tuyến nội tiết, như: thay đổi mặt, các đầu chi trong bệnh to đầu chi; bướu giáp trạng có lồi mắt trong bệnh Basedow….
1.2. Chiều cao. Dùng thước đo chiều cao của người bệnh, đánh giá chiều cao so với tuổi tương ứng để biết cao quá hay lùn quá so với bình thường, nhất là đối với trẻ em và những người trẻ tuổi.
Đồng thời phải đo các xương dài (cẳng tay, cánh tay, cẳng chân, đùi), đo vòng đầu xem có hiện tượng ứ nước não hay đầu quá nhỏ, đo vòng ngực… để đánh giá sự cân đối giữa các bộ phận.
Việc cân đo này rất cần thiết, nhất là đối với những người bệnh chưa đến tuổi trưởng thành.
Xem thêm

40 Đọc thêm

CHẨN ĐOÁN, XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤP CỨU THƯỜNG GẶP

CHẨN ĐOÁN, XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤP CỨU THƯỜNG GẶP

Tổng hợp các bệnh cấp cứu thường gặp, sổ tay lâm sàng chẩn đoán và xử trí
Ngộ độc cấp, rắn cắn, điện giật, ngạt nước, viêm ruột, hôn mê, đột quỵ,sốc, suy hô hấp, phù phổi cấp, rối loạn kiềm toan, rối loạn điện giải ....

124 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến thông thường (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ CỦA SIMVASTATIN TRÊN BỆNH VẢY NẾN THÔNG THƯỜNG (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vảy nến là một bệnh viêm mạn tính qua trung gian miễn dịch rất hay gặp
ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới [1],[2]. Bệnh gây tổn
thƣơng ở da, móng, khớp và một số cơ quan nội tạng, tác động xấu đến chất
lƣợng cuộc sống bệnh nhân và hiện vẫn chƣa có phƣơng pháp điều trị đặc
hiệu [1],[3]. Trƣớc đây, bệnh vảy nến chỉ đƣợc xem là một tình trạng viêm da
nhƣng hiện nay đƣợc biết nhƣ là một bệnh viêm có tính hệ thống, giống nhƣ
viêm khớp dạng thấp và bệnh Crohn [2],[4]. Với những bằng chứng mới ủng
hộ cơ chế viêm trong xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành, nhiều nghiên
cứu giả thuyết rằng quá trình viêm hệ thống có thể là một trong những cơ chế
liên kết các bệnh viêm mạn tính với xơ vữa động mạch và bệnh tim mạch
[5],[6]. Vì vậy gần đây có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa vảy
nến và bệnh tim mạch, theo đó vảy nến là yếu tố nguy cơ độc lập của nhồi
máu cơ tim, đột quỵ, bệnh mạch vành, mạch máu não, mạch máu ngoại biên
và tử vong do bệnh tim mạch [2],[4].
Trong khi đó, rối loạn lipid máu có vai trò rất quan trọng trong quá trình
xơ vữa động mạch và là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính yếu
[7]. Đã có nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân vảy nến cho thấy sự biến đổi nồng
độ các lipid gây xơ vữa nhƣ tăng triglyceride, cholesterol toàn phần, LDL-C
(low-density lipoprotein cholesterol), VLDL-C (very-low-density lipoprotein
cholesterol), và giảm nồng độ HDL-C (high-density lipoprotein cholesterol). Tỷ
lệ rối loạn lipid máu trên bệnh nhân vảy nến thay đổi với biên độ dao động rộng
giữa các nghiên cứu (từ 6,4-50,9%) trên khắp thế giới [4],[8],[9]. Tuy các báo
cáo về rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến xuất hiện từ lâu và có nhiều trên y
văn nhƣng cho kết quả không thống nhất, thay đổi theo từng vùng, từng thiết kế
nghiên cứu. Ngoài ra, ngƣời ta vẫn chƣa xác định đƣợc mối quan hệ nguyên
nhân - kết quả giữa vảy nến và rối loạn lipid máu. Điều đó cho thấy lĩnh vực này
vẫn còn mới mẻ và cần đƣợc làm sáng tỏ nhiều hơn nữa.
Nhóm statin, trong đó có simvastatin, là loại thuốc điều trị rối loạn lipid

máu qua cơ chế giảm tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế 3hydroxy-3-3methylglutaryl
coenzyme
A (HMG-CoA).
Các
hƣớng
dẫn
về
điều

trị
tăng
cholesterol
của
Hoa
Kỳ
tán
thành
việc
sử
dụng
statin

lựa
chọn
đầu

tiên
để
hạ
lipid
máu

kết
luận
rằng:
“điều
trị
bằng
statin
giảm
nguy

biểu

hiện
lâm
sàng
của
quá
trình

vữa
động
mạch;
thuốc
dễ
sử
dụng,
bệnh
nhân

chấp

nhận tốt, ít tƣơng tác với thuốc khác, và tính an toàn cao” [10],[11].
Ngoài tác dụng hạ lipid máu, statin còn điều hòa miễn dịch, kháng viêm, có
ích trong xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành [12],[13],[14]. Từ đặc tính
nói trên, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng loại thuốc này điều trị một số
bệnh tự miễn và cho thấy có hiệu quả cao trong bệnh đa xơ hóa, viêm khớp
dạng thấp, lupus đỏ hệ thống [15],[16], cũng nhƣ các bệnh da viêm mạn tính
[17],[18],[19]. Dựa vào cơ chế bệnh sinh của vảy nến, statin có thể có ích
trong điều trị bệnh lý này thông qua những tác động điều hòa miễn dịch,
kháng viêm. Nghĩa là, sử dụng statin điều trị vảy nến với hai tác dụng: kháng
viêm và hạ lipid máu. Trên y văn, chúng tôi thấy một số báo cáo về sử dụng
statin trong điều trị vảy nến với kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên những
nghiên cứu nói trên chỉ có số lƣợng mẫu hạn chế và không theo dõi nồng độ
lipid máu trong quá trình điều trị [20],[21],[22],[23].
Theo hiểu biết của chúng tôi, tại Việt Nam, hiện chƣa có báo cáo nghiên
cứu với số lƣợng mẫu đủ lớn để khảo sát nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vảy
nến cũng nhƣ chƣa có thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác dụng của statin trong
điều trị bệnh vảy nến.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở
bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh
vảy nến thông thường” với những mục tiêu sau:
1. Khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trên bệnh vảy
nến tại bệnh viện Da liễu Tp. Hồ Chí Minh.
2. Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và các yếu tố liên quan trên bệnh vảy nến.
3. Đánh giá hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến
thông thường.
Xem thêm

156 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN ĐƯỜNG MÁU VÀ LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN SAU GHÉP THẬN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ghép thận là một ngành của y học hiện đại. Nhờ sự phát triển của ngành phẫu thuật, ý tưởng ghép tạng trong đó có ghép thận trong điều trị thay thế các tạng phủ bị hư hại chức năng do nhiều nguyên nhân bệnh đã hình thành từ lâu. Nhưng trước đây, thực hiện đều thất bại vì lý do rào cản miễn dịch. Vào giữa thập niên 1950, mổ ghép đồng loại thành công ở trường hợp song sinh cùng trứng đã mở đường cho ngành ghép phát triển, rồi sự ra đời của ngành miễn dịch ghép và các loại thuốc ức chế miễn dịch làm cho hàng trăm ngàn người hiện nay được ghép thận và nhiều loại tạng ghép khác với tỉ lệ thành công cao. Người ta miệt mài nghiên cứu về miễn dịch ghép, mở rộng tiêu chuẩn tương hợp trong miễn dịch ghép và trong nhiều thập kỷ qua ghép thận đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối (STMGĐC).
Trong các biện pháp điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối, ghép thận được xem là phương pháp mang lại hiệu quả nhất, không những thay thế chức năng bài tiết mà còn hồi phục chức năng nội tiết của thận. Từ những thành công đầu tiên về ghép thận ở Boston do đội ngũ của J.P.Merrill và đội ngũ của J.Hamburger ở Paris. Tính đến nay đã có hơn 400.000 trường hợp ghép thận đã được thực hiện trên toàn thế giới [36].
Việc theo dõi và điều trị bệnh nhân suy thận mạn giai đọan cuối ngày càng nhiều và tốn kém. Ngày nay ghép thận đã được thực hiện ở nhiều trung tâm và đã cải thiện chất lượng cuộc sống của nhiều bệnh nhân.Vì sau ghép thận thì chức năng thận, các triệu chứng và các biến chứng của suy thận mạn giai đoạn cuối được giảm đáng kể và giảm tỷ lệ tử vong.
Sau ghép thận phải dùng thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticoid để chống thải ghép, thường phải dùng liều cao ở giai đoạn sớm sau ghép thận, và từ từ giảm liều duy trì kéo dài. Khi dùng các thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticoid kéo dài sẽ gây ra nhiều biến chứng như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường và loãng xương. Trong đó tăng lipid máu và đái tháo đường là hai biến chứng phổ biến [93]. Trong nghiên cứu của Rostaing L và cs [93] năm 2005 trên 538 bệnh nhân sau 6 tháng ghép thận, kết quả tỉ lệ bệnh đái tháo đường mới mắc và lipid máu đều tăng cao có ý nghĩa thống kê. Theo Brennan CD và cs [53] tăng lipid máu sau ghép thận thường là tăng triglyceride. Các thuốc ức chế miễn dịch như cyclosporine, tacrolimus đều gây tăng lipid máu. Tacrolimus thường gây đái tháo đường [73].
Đái tháo đường và rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành. Tăng đường huyết và tăng lipid máu lâu dài sẽ dẫn đến nhiều biến chứng ở tim, thận, mắt, mạch máu lớn và mạch máu nhỏ [15],[45].
Do đó cần nghiên cứu 2 loại rối loạn này ở bệnh nhân ghép thận để phát hiện sớm nhằm điều chỉnh thuốc ức chế miễn dịch và điều trị bệnh kịp thời, giảm biến chứng và cải thiện tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.
Mathew JT và cs (năm 2003) đã nghiên cứu trên 174 bn ghép thận, tỷ lệ ĐTĐ mới phát hiện sau ghép là 21,4% [81]. Phạm Văn Bùi và cs năm 2010 nghiên cứu trên 33 bệnh nhân kết quả có 75% bệnh nhân bị rối loạn lipid máu, 35,7% bệnh nhân có đái tháo đường sau ghép [4].
Rối loạn đường máu và lipid máu sau ghép thận - những yếu tố nguy cơ tim mạch ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh nhân là những vấn đề cần được nghiên cứu tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thông qua đề tài “Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy ” với các mục tiêu sau:
1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, phác đồ điều trị, rối loạn đường máu và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân trước ghép và sau ghép thận 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng được sử dụng thuốc chống thải ghép.
2. Xác định mối liên quan giữa việc sử dụng các thuốc chống thải ghép với rối loạn đường máu và rối loạn lipid máu trên những bệnh nhân này .
Xem thêm

124 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM (TT)

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM (TT)

“ NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM”

Chuyên nghành : Ngoại lồng ngực
Mã số : 62 72 01 24
Họ và tên NCS : Chu Trọng Hiệp
Họ và tên người hướng dẫn
PGS TS Nguyễn Văn Khôi
GS TS Phạm Vinh Quang
Cơ sở đào tạo : Học Viện Quân Y
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:
Là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chỉ định phẫu thuật và yếu tố tiên lượng của Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm
Kết quả phẫu thuật khả quan với tỷ lệ thành công là 95,5%
Các yếu tố liên quan đơn biến đến tỷ lệ tử vong là : Tuổi >70,Sử dụng bóng đối xung nội động mạch chủ trước và sau khi đến hồi sức; Sốc nhiễm trùng; Sốc tim; suy thận có lọc máu ngoài thận
Kết quả ngắn hạn : 6 tháng
Về lâm sàng : Cải thiện khả năng gắng sức và đau ngực
Về cận lâm sàng: Cải thiện phân suất tống máu và rối loạn vận động vùng
Về chất lượng cuộc sống cải thiện gần 100%
Xem thêm

49 Đọc thêm

Bài Giảng Suy Tim ĐH Y Dược Huế

BÀI GIẢNG SUY TIM ĐH Y DƯỢC HUẾ

... nghĩa suy tim, nguyên nhân loại suy tim Nêu chế bệnh sinh suy tim Trình b y triệu chứng lâm sàng cận lâm sàng suy tim trái, suy tim phải Trình b y cách phân độ suy tim Định nghĩa • Suy tim trạng... kèm theo y u tố nguy với bệnh tim mạch Tìm y u tố làm nặng thêm suy tim Holter Điện tâm đồ Holter huyết áp Chức hô hấp HỘI CHỨNG SUY TIM PHẢI Áp lực tăng Áp lực tăng NGUYÊN NHÂN SUY TIM PHẢI... bópcơ tim TẦN SỐ Sự nguyên vẹn thành tim TIM Hoạt động bình thường van tim CUNG LƯỢNG TIM CƠ CHẾ CỦA SUY TIM RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÂM THU Giảm sức co bóp tim suy giảm trực tiếp khả co bóp tim Biểu
Xem thêm

40 Đọc thêm

Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ enzyme myeloperoxidase huyết tương với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

NGHIÊN CỨU SỰ LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ ENZYME MYELOPEROXIDASE HUYẾT TƯƠNG VỚI BỀ DÀY LỚP NỘI TRUNG MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đái tháo đường là một bệnh lý nội tiết chuyển hóa phổ biến, ngày càng có khuynh hướng gia tăng trên khắp thế giới cũng như ở nước ta và đang trở thành một thách thức chính trong Thế kỷ XXI [4], [42], [171]. Đây là một nhóm bệnh chuyển hóa với đặc trưng là tăng glucose máu do thiếu hụt tương đối hay tuyệt đối về tiết và hay là tác dụng của insulin trên tế bào đích.
Khi nói đến bệnh đái tháo đường nhất là đái tháo đường týp 2 người ta thường liên tưởng đến biến chứng tim mạch trong đó là tổn thương mạch máu lớn thường gặp như bệnh lý mạch máu não, động mạch vành và động mạch hai chi dưới. Biến chứng mạch máu lớn trong đái tháo đường thực chất là một thể xơ vữa động mạch vì đái tháo đường liên quan tới rối loạn chuyển hóa bao gồm tăng glucose máu, tăng huyết áp, rối loạn lipid và đề kháng insulin [86]. Xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 xảy ra sớm hơn, nặng hơn, lan rộng hơn so với người không bị bệnh đái tháo đường và ảnh hưởng không những đến các động mạch gần mà còn ở vị trí xa gốc. Các biến chứng mạch máu lớn làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não cao gấp 2 – 4 lần ở người đái tháo đường so với người không bị đái tháo đường [45]. Biến cố mạch vành là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên bệnh nhân đái tháo đường (hơn 65%) và tổn thương động mạch hai chi dưới đã và đang trở thành nguyên nhân chính gây cắt cụt chi ở bệnh nhân đái tháo đường [36].
Bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống gây xơ vữa động mạch như béo phì, tăng huyết áp, tăng glucose máu mạn tính, rối loạn lipid máu… đã gây những bất thường ở thành mạch, rối loạn chức năng nội mạc mạch máu, tăng ngưng tập tiểu cầu và tăng đông máu dẫn đến nguy cơ tổn thương mạch máu lớn. Gần đây vai trò của các yếu tố nguy cơ không truyền thống đã được đề cập như chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1, protein phản ứng C, microalbumin niệu...[86] và nhất là myeloperoxidase được nghiên cứu ghi nhận có liên quan đến xơ vữa động mạch ở những đối tượng có nguy cơ cao trong đó có bệnh đái tháo đường [106].
Viêm và stress oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong tiến trình xơ vữa động mạch [88]. Myeloperoxidase là enzyme được tiết ra từ bạch cầu, hoạt động như yếu tố viêm và stress oxy hóa. Myeloperoxidase có vai trò quan trọng trong tiến triển xơ vữa động mạch. Cơ chế gây xơ vữa động mạch của myeloperoxidase thể hiện bằng nhiều con đường bao gồm myeloperoxidase hoạt động như chất xúc tác làm tăng LDL oxy hóa, kết quả làm tăng thu nhận LDL vào lớp nội mạc, góp phần hình thành và phát triển tế bào bọt, hình thành mảng bám; làm rối loạn chức năng bảo vệ nội mạc của HDL đưa đến rối loạn chức năng nội mạc; Myeloperoxidase trực tiếp quét dọn nitric oxide, hạn chế sinh khả dụng của NO dẫn đến co mạch và thúc đẩy tổn thương nội mạc mạch. Rối loạn chức năng nội mạc phát triển sớm trong giai đoạn sớm của đái tháo đường trước khi biểu hiện lâm sàng bằng xơ vữa động mạch. Giảm nitric oxide và tăng stress oxy hóa là những yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của biến chứng đái tháo đường. Các mẫu oxy hóa phản ứng đóng vai trò quan trọng trong rối loạn chức năng nội mạc qua trung gian tăng đường huyết và biến chứng mạch máu. Myeloproxidase là dấu chỉ điểm cho rối loạn chức năng nội mạc và là chất tạo ra các mẫu oxy hóa phản ứng tăng trong đái tháo đường. Nồng độ myeloperoxidase tăng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đã được ghi nhận.
Biến chứng tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người bị đái tháo đường. Vì vậy việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà chuyên môn. Do đó làm thế nào để phát hiện sớm và điều chỉnh kịp thời các yếu tố nguy cơ tim mạch là điều rất quan trọng vì nó giúp người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ.
Song song với việc phát hiện yếu tố nguy cơ, nhiều phương pháp để đánh giá xơ vữa động mạch giai đoạn sớm như đo độ dày lớp trung nội mạc ở động mạch cảnh qua siêu âm là phương pháp không xâm nhập, có độ nhạy cao cũng được ứng dụng trên lâm sàng. Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã chấp thuận đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh để đánh giá nguy cơ tim mạch [45].
Liên quan giữa nồng độ myeloperoxidase huyết tương và bất thường cấu trúc nội mạc mạch máu ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại Việt Nam chưa thấy đề cập. Xuất phát lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Xác định một số yếu tố nguy cơ tim mạch, bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và nồng độ myeloperoxidase huyết tương trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
2.2. Đánh giá mối liên quan và tương quan giữa nồng độ myeloperoxidase huyết tương với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và một số yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống (tuổi, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu) và không truyền thống (HbA1C, CRP, fibrinogen huyết tương, bạch cầu..) trên những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 này.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1. Ý nghĩa khoa học
Nồng độ myeloperoxidase là dấu chỉ điểm sớm của xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 liên quan đến viêm và stress oxy hóa đưa đến rối loạn chức năng mạch máu.
Đánh giá tổn thương động mạch cảnh bằng phương pháp đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là kỹ thuật không xâm nhập, dễ thực hiện, có độ tin cậy cao, hữu ích để đánh giá xơ vữa động mạch và nguy cơ tim mạch.
Phương pháp nghiên cứu có thể giúp đánh giá cũng như tiên lượng sớm ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có sự thay đổi nồng độ myeloperoxidase huyết tương và tổn thương động mạch.
Đề tài nhằm góp phần phát hiện yếu tố nguy cơ mới trong mục tiêu điều trị tích cực, nâng cao chất lượng sống bệnh nhân một cách khoa học dựa trên y học chứng cứ.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đo nồng độ myeloperoxidase và đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là hai phương pháp đơn giản, có thể được ứng dụng trong lâm sàng nhằm:
- Phát hiện các đối tượng đái tháo đường týp 2 có nguy cơ cao về biến chứng mạch máu ở giai đoạn sớm của xơ vữa động mạch để đưa ra các biện pháp giải quyết tích cực.
- Kết quả nghiên cứu có thêm chứng cứ ứng dụng nhằm làm cải thiện rối loạn chức năng nội mạc và cấu trúc bất thường trong thành động mạch góp phần làm chậm biến chứng tim mạch, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Là luận án đầu tiên trong nước nghiên cứu nồng độ enzyme myeloperoxidase trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và mối liên quan giữa nồng độ chất chỉ điểm sinh học này của xơ vữa động mạch với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh.
Là luận án giúp có một cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của myeloperoxidase trong xơ vữa động mạch. Kết quả nghiên cứu gợi mở hướng sử dụng thuốc điều trị để dự phòng xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Xem thêm

170 Đọc thêm