LÝ LUẬN NHẬN THỨC, VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KT VN TRƯỚC VÀ SAU MƯỜI NĂM ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề " Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nay":

Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của lý luận đối với thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó trong quá trình đổi mới kinh tế ở việt nam hiện nay

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan hệ đó thì thực tiễn quyết định lý luận, tuy nhiên lý luận cũng có sự tác động mạnh mẽ trở lại thực tiễn: nếu lý luận đúng đắn thì nó sẽ tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển của thực tiễn; trong trường hợp ngược lại, nếu lý luận lạc hậu, sai lầm, không khoa học thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức và vận dụng đúng quan điểm triết học Mác Lênin về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, đặc biệt là vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Trong những năm trước đổi mới, nhất là giai đoạn 19751986, đã có lúc chúng ta đề ra những chủ trương, đường lối không thực sự xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế, do vậy những chủ trương này đã tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Trước thực trạng nền sản xuất trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn,… Đảng ta đã chủ động khắc phục những sai lầm về mặt lý luận, đồng thời đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Có thể khẳng định rằng, chủ trương đổi mới nói chung, đổi mới về kinh tế nói riêng chính là một lý luận khoa học xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với thực tiễn đất nước. Do vậy, lý luận này đã có những tác động rất tích cực đối với thực tiễn nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi to lớn, nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và trở thành một nước có mức thu nhập trung bình, nền sản xuất có bước phát triển quan trọng.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải nhận thức để giải quyết, đặc biệt là trong quan hệ sản xuất vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố không phù hợp đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất; tình trạng yếu kém và ẩn chứa nhiều tiêu cực của khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; nguy cơ bị lệ thuộc về kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,… Tình hình đó đòi hỏi chúng ta cần phải chú trọng việc tổng kết thực tiễn, nhất là những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trên lĩnh vực kinh tế.
Xem thêm

87 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ SAU ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ SAU ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

Bốn là, động lực của sự phát triển xã hội là phát huy tinh thần đoàn kếttoàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nông và trí thức.Năm là, đặt ra yêu cầu, tôn vinh những người biết tổ chức sản xuất kinhdoanh, đội ngũ doanh nhân mới.Đại hội IX còn khẳng định: “Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấptiếp tục diễn ra gay gắt”. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, mối quan hệ hợptác và đấu tranh giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam là mối quanhệ lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng Sản. Các giai cấp và các dân tộc trong cộng đồng phải lấy mụctiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất, vì dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh làm nền tảng tương đồng; đồng thời phải xoá bỏ mặccảm, định kiến, phân biệt đối sử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựngtinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai.Có thể nói rằng, đây là một bước phát triển lớn trong việc nhận thứcvấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay. Điều này khôngchỉ tạo ra sức mạnh cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn tạo ra khả năngmới cho sự cho sự phát triển đất nước. Những thành tựu đạt được từ sau Đạihội IX đã minh chứng cho đường lối đúng đắn đó.Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta vẫn tiếp tục nhấtquán về tính tất yếu và vai trò của đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay,đấu tranh giai cấp là vấn đề xuyên suốt và là nội dung cấu thành của lịch sửđương đại. Đại hội X khẳng định: “Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rấtgay gắt”12. Ở tầm khái quát, Đại hội X đã xem vấn đề đấu tranh giai cấp củathời đại hiện nay trong bức tranh toàn cảnh và gắn với đặc điểm, loại hình đấutranh khác của thời đại. Đây là cơ sở để xác lập quan điểm khoa học và biệnchứng trong giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, chống việc phủnhận hoặc cường điệu, tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp trong thời đại hiệnnay.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Tuyển tập 150 tiểu luận triết học p1 (Đề 01 đến 10)

TUYỂN TẬP 150 TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC P1 (ĐỀ 01 ĐẾN 10)

DANH SÁCH TIỂU LUẬNĐỀ 01. Bản sắc dân tộc trong nền KT mởĐỀ 02. Đấu tranh giai cấpĐỀ 03. Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCNĐỀ 04. LLSX và các quan hệ SXĐỀ 05. Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH HĐH đất nướcĐỀ 06. Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngườiĐỀ 07. Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nayĐỀ 08. Lý luận thực tiễn và sự vận dụng của chủ nghĩa Mác về con người vào quá trình đổi mới ở VNĐỀ 09. Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VNĐỀ 10. Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN ĐỀ 01. Tiểu luận về bản sắc dân tộc trong nền kinh tế mởMỤC LỤCA. Đặt vấn đề B . Giải quyết vấn đề Chương I. Quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Bản sắc văn hoá dân tộc là gì ? II . Bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc . Chương III : Bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước.I . Vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường II . Phát huy nội lực văn hóa trong quá trình phát triển . III . Toàn cầu hoá và bản sắc văn hoá dân tộc . Chương IV : Một số giải pháp nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển .I . Một số giải pháp trước mắt để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Biện pháp khắc phục những mặt tiêu cực trong đời sống văn hoá xã hội của đất nước.C. Kết thúc vấn đề A. Đặt vấn đề Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới .......................
Xem thêm

213 Đọc thêm

ĐỀ THI TRIẾT 1,2_VCU

ĐỀ THI TRIẾT 1,2_VCU

ĐỀ THI TRIẾT 1,2_VCU

I. Triết 1
Đề 1:
Câu 1: Nhận thức là gì? Phân tích những nguyên tắc cơ bản của hoạt động nhận thức theo quan điểm duy vật biện chứng? Sự vận dụng lý luận này vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam?
Câu 2: Vì sao nói ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp? Ý nghĩa của vấn đề này đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở VN hiện nay?

Đề 2:
Câu 1: Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức? Ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng vào đời sống thực tiễn hiện nay?
Câu 2: Phân tích khái niệm con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lenin? Ý nghĩa của lý luận này đối với việc xây dựng con người VN nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay?
Xem thêm

6 Đọc thêm

GIỮA HOC PHẦN + KẾT THÚC HỌC PHẦN TTHCM

GIỮA HOC PHẦN + KẾT THÚC HỌC PHẦN TTHCM

Tư tưởng HCM
Câu 1 + 2 : Phân tích đn TTHCM
Đại hội ĐB toàn quốc lần thứ 7 (61991) đánh dấu một mức quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về TTHCM. Đảng ta khẳng định, Đảng lấy chủ nghĩa Maclenin và tư tưởng HCM làm nền tưởng tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. văn kiện của đại hội định nghĩa: “TTHCM chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa ML vào điệu kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế TTHCM đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”.
ĐHDBTQ lần 9(42001) đã xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu của TTHCM: “TTHCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cmVN, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MacLenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về gpdt, gpgc, gpcn; về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp sức mạnh dân tộc và sưc mạnh thời đại…..”
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng nhiệt huyết, hết lòng vì nước, vì dân, Chủ tịch HCM đã để lại một di sản tinh thần hết sức sâu sắc, cao cả không chỉ góp phần to lớn và quyết định vào thắng lợi của dân tộc trong những năm qua mà còn có ý nghĩa chỉ đạo lâu dài cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta. Tổng hợp những giá trị tinh thần đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vậy: tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng VN từ cách mạng dtdcnd đến cmxxhcn, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo phát triển cn mác –lenn vào điều kiện cụ thể của nước ta, đống thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm gpdt,gpgc, gpcn.

Câu 1: Tư Tưởng HCM là gì? Đối tượng và nhiệm vụ của môn học TT HCM. Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu TT HCM đối với học sinh, sv hiện nay.
Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CMVN, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến CMXHCN, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm hệ thống quan điểm, quan niệm, lý luận của HCM về CMVN trong dòng chảy của thời đại mới mà cốt lõi là tư tưởng về độc lập dt gắn liền với CNXH.
Là sự vận động của TTHCM trong thực tiễn CMVN.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở hình thành TTHCM nhằm khẳng định sự ra đời của TTHCM là một tất yếu khách quan nhằm giải đáp các vấn đề lịch sử dân tộc đặt ra.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn thi triết học và gợi ý trả lời

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI

Câu 1:Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 2: Phân tích cơ sở lý luận của khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Câu3 :Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.Câu 4:Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến.Nguyên tắc toàn diện là gì – các yêu cầu của nguyên tắc toàn diện?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc toàn diện gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 6: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển nguyên lý về sự phát triển.Nguyên tắc phát triểnlà gì – các yêu cầu của nguyên tắcphát triển ?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc phát triểngợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 9: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin. Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nưoc ta hiện nay.Câu10: Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu11: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KTXH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?Câu12:Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người. Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.Câu13:Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?CÂU 14: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin:“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Gợi ý Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học… C. Mác Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hội hình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội; PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung.+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội+ Bản chất con người…+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sửCÂU15: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin:“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Gợi ýGải thích: Luận điểm trên chỉ rõ sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên diễn ra theo các quy luật khách quan mà quy luật cơ bản, quan trọng nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; điều đó có nghĩa, xét tới cùng sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu từ sự phát triển của LLSXKhái niệm HTKT – XH và cấu trúc của HTKT – XHChứng minh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên theo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là được bắt đầu từ sự phát triển của LLSX.CÂU 16: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.Gợi ýGiai cấp là gì?Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt lý luận: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt thực tiễn Dùng thực tế lịch sử để chứng minhCâu 17: Anh ( chị) hãyphân tích quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người và vận dụng các quan điểm này vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.Gợi ýQuan niệm về con người trong triết học Mác:+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội+ Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội+ Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sửVận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay:+ Phải biết quan tâm đến con người bản năng+ Phải biết quan tâm đến lợi ích vật chất của con người+ Phải biết quan tâm đến lợi ích cá nhân,kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể+ Phải biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người trong quá khứ; đồng thời phải biết xây dựng mẫu người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử…Dùng thực tế lịch sử để chứng minhBÀI LÀMCâu 1: Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dung nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Cơ sở lý luận:Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện . Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan. Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải : Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là: Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội...) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.Câu 2: Phân tích cơ sở triết học (lý luận và phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức. Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định . Phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học đời cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của MÁC và Ăngghen .Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức . Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người .Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức, tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất.Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan.Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan .Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như vậy , từ chủ nghĩa MácLênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên.Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước a trãi qua. Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên: Triết học DVBC chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi vạn vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao. Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội:Triết học DVBC chỉ ra rằng, chính lao động và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ . Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn. Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển . Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức. Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó là phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết ... Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ tính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo TGKQ. Ý thức mang bản chất xã hộiKhi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ. Đây là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Liên hệ thực tế: Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 121986). Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn. Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức..” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” một cơ chế gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông. Còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng.Câu 4: AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý‎ luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn?Trả lời: (Tham khảo thêm sách TH P2, trang 70).
Xem thêm

52 Đọc thêm

Đề cương ôn tập Câu hỏi ôn tập môn tư tưởng hồ chí minh có trả lời

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CÓ TRẢ LỜI

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (Câu hỏi và trả lời)Câu 1: Phân tích nguồn gốc tư tưởng, lý luận đối vóỉ việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh2Câu 2: Phân tích quá trình hình thành và phát trỉễn tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1921 đến 19306Câu 3: Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân tộc vi sự vận dụng của Đẳng ta hiện nay9Câu 4: Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc15Câu 5: Phân tích và chứng minh quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Ý nghĩa quan điểm trên đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.20Câu 6: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.25Câu 7: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về quy luật ra đời và bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam.29Câu 8: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng Cộng sản Việt Nam.34Câu 9: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và sự vận dụng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.38Câu 10: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân và sự vận dụng của Đảng ta vào xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.43Câu 11: Phân tích quan điểm HCM về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh và sự vận dụng của Đảng vào xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN VN hiện nay.48Câu 12: Phân tích quan điểm HCM về nguyên tắc và phương pháp đại đoàn kết dân tộc.51Câu 13: Phân tích các chuẩn mực đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh56Câu 14: Phân tích các nguyên tắc xây dựng đạo đức mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Liên hệ với bản thân.60Câu 15: phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực chính của văn hóa và sự vận dụng của Đảng ta vào xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hiện nay64 Câu 1: Phân tích nguồn gốc tư tưởng, lý luận đối vóỉ việc hình thành tư tưởng Hồ Chí MinhTrả lời:Cho đến nay, đã có khoảng 70 định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ XI của Đảng đưa ra đinh nghĩa như sau: “Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vện dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kể thừa và phát triển các giá trị truyền thống tổt đẹp của dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quỷ giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp CM của nhân dân ta giành thẳng lợi”.Định nghĩa trên nêu rõ 3 nguồn gốc tư tưởnglý luận của TT Hồ Chỉ Minh: chủ nghĩa Mác — Lênin, giả trị truyền thống văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa của nhân loại.1. Truyền thổng văn hóa dân tộc Việt Nam:Việt Nam là dân tộc có nền văn hóa lâu đời, được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử, có bản sắc riêng, trở thành nguồn nuôi dưỡng tinh thần, nguồn sống mãnh liệt giúp cho dân tộc chiến thắng âm mưu đồng hóa của mọi kẻ thù xâm lược.Thử nhất, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chi bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Yêu nước là một trong nhũng truyền thống cơ bản, sâu sắc, nổi bật của con người Việt Nam, được the hiện qua nhiều thế hệ từ xưa tới nay, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đổ là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nồi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước vả lũ cướp nước.Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đỉ sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc. Chính sức mạnh truyền thống ây đẵ thúc giục Nguyễn TẤt Thành ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã viết: “Lúc đầu, chính lả chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
Xem thêm

68 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của thời đại, sự hội nhập và giao
lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu dân chủ của nhân dân ta ngày càng
được nâng cao. Trong quá trình đổi mới đất nước, các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội đều cần được hoàn thiện, phát triển và mở rộng
cũng như đi vào chiều sâu. Dân chủ là động lực lớn cho sự phát triển của xã
hội. Như vậy, việc đẩy mạnh quá trình thực hiện dân chủ của đất nước cần
dựa trên những lý luận nền tảng về dân chủ. Cho nên, việc khảo cứu và làm
rõ các lý luận về dân chủ để từ đó vận dụng vào giải quyết những vấn đề
bức xúc đang đặt ra cần thiết hơn bao giờ hết.
Từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã khẳng định, “lấy Chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động”. Những di
sản Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta trong đó có tư tưởng về dân chủ đến
nay vẫn còn nguyên giá trị. Đó là một trong những kho tàng lý luận quý giá
của dân tộc. Ở đó hàm chứa nhiều vấn đề về dân chủ liên quan đến xây
dựng, phát triển xã hội mà chúng ta chưa khai thác được một cách triệt để.
Tư tưởng của Người là sự kế thừa và phát triển học thuyết Mác –
Lênin. Người đã bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác về dân
chủ. Hiện nay, chúng ta đang trong quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam nên cũng cần phải
xem xét và luận giải về sự kế thừa và phát triển tư tưởng dân chủ Hồ Chí
Minh trong học thuyết Mác.
Đối với Việt Nam, từ khi thực hiện chính sách “mở cửa”, Đảng và
Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến thực thi dân chủ cho người dân. Thực tế
cho thấy, qua mỗi kỳ Đại hội, trong đường lối của Đảng càng ngày càng
quan tâm hơn đến vấn đề dân chủ. Để có được những định hướng đúng và
trúng thì đường lối, chính sách để thực thi dân chủ không thể không dựa vào
những lý luận dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, tư tưởng dân
chủ của Người càng cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để Đảng và Nhà nước ta có cơ sở vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả trong việc thực thi
dân chủ nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu dân chủ của người dân.
Tuy nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ có thực sự đã được khai
thác một cách triệt để chưa? Những lý luận mà Người để lại mà chúng ta
khai thác hiện nay đã được hiểu đúng và trúng chưa? Những vấn đề về dân
chủ và thực hành dân chủ của Người được hiểu đúng thì đã được vận dụng
tốt cho hoàn cảnh hiện nay của chúng ta chưa?... Từ những điều này, cho
thấy việc nghiên cứu là làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và ý
nghĩa hiện thời của nó là cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
- Trên cơ sở phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ,
luận án nêu bật ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích đó, luận án có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Thứ nhất: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Thứ hai: Trình bày khái niệm dân chủ và nêu lên cơ sở hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ.
- Thứ ba: Trình bày và phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
- Thứ tư: Làm rõ ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
chủ trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

149 Đọc thêm

tiểu luận cao học vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở thanh hóa hiện nay

tiểu luận cao học vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở thanh hóa hiện nay

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, là cẩm nang giúp chúng ta tránh được những đánh giá phiến diện, sai lệch, giản đơn về sự vật, hiện tượng. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến còn là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật mácxít. Nguyên lý này chỉ rõ tất cả các sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ. Vì vậy nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật có vai trò to lớn trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người
Phải quán triệt nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cũng như quán triệt quan điểm toàn diện để giúp chúng ta tránh đánh giá phiến diện, siêu hình, một chiều, nếu không sẽ dẫn đến cái nhìn chủ quan trong nhận thức. Vì tính cấp thiết đó mà nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến.
Ngày nay khi đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức lớn. Thực tiễn đó đặt ra nhiều vấn đề mới đối với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề trọng tâm là đổi mới kinh tế, đây là nhiệm vụ then chốt để đảm bảo đưa nước ta sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
Trong đại hội IX Đảng đề ra mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 2010) là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế được nâng cao”. Tiếp thu quan điểm của Đại hội IX, Đảng ủy Thanh Hóa đã không ngừng cố gắng để đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển nhằm đưa Thanh Hóa trở thành một trung tâm kinh tế văn hóa xã hội phía Bắc; phấn đấu lên đô thị loại II. Để thực hiện được điều này trong những năm tới thì một trong những vấn đề cần quan tâm giải quyết đó là phải có những phương hướng đúng trong quá trình đổi mới nền kinh tế của tỉnh để đề ra những chính sách, quan điểm, biện pháp phát triển kinh tế toàn diện.
Thực tế sau những năm đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đạt được những thành tựa to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tốc độ phát triển kinh tế đồng đều và bền vững của tỉnh Thanh Hóa đã mang lại nhiều thành quả quan trọng. Điều này cho thấy sự đúng đắn, kịp thời, hợp lý của Đảng bộ và năng lực thực tiễn của tỉnh Thanh Hóa. Tỉnh đang dần từng bước khẳng định vị thế của mình trong sự phát triển chung của toàn quốc, trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Sở dĩ đạt được những thành tựu như ngày nay là do sự nổ lực rất lớn của Đảng ủy và nhân dân Thanh Hóa, trong đó vấn đề nhìn nhận thực tế những khó khăn và thuận lợi của tỉnh trong sự đổi mới kinh tế đã tạo ra cơ sở lý luận vững chắc áp dụng vào thực tế. Việc vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin, để thấy được những thành tựu đạt được sau những năm đổi mới cũng như việc nghiên cứu nhằm định hướng những bước phát triển đi lên của tỉnh nhằm làm rõ tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin và chỉ ra sự vận dụng quan điểm toàn diện vào sự đổi mới kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa là đúng đắn, hợp với sự vận động đi lên trong phát triển kinh tế xã hội của cả nước và thế giới.
Những vấn đề nêu trên cũng là lí do tôi chọn đề tài: “Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa hiện nay” làm khóa luận triết học của mình. Về mặt lý luận việc nghiên cứu đề tài phần nào giúp ta hiểu sâu sắc hơn lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung, nguyên lý mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin nói riêng. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đổi mới kinh tế theo nguyên lý mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế, góp phần phát triển đất nước cũng như việc hoạch định những chính sách đối với các thành phần kinh tế ở tỉnh nhà
Xem thêm

Đọc thêm

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 2013

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 2013

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội được hình thành, phát triển bắt nguồn từ những tư tưởng triết học về lịch sử trước đó của loài người. Từ lịch sử xa xưa, trải qua bao thời gian đến nay dù ở thời đại nào, xã hội nào thì hình thái kinh tế xã hội cũng luôn tồn tại và phát triển hoặc tụt lùi theo sự phát triển của xã hội đó. Để biết được một đất nước nào đó lớn mạnh và phát triển hoặc ngược lại ta hãy nhìn vào hình thái kinh tế xã hội của nước đó. Nói đến hình thái kinh tế xã hội là ta phải nói đến một chỉnh thể cơ cấu phức tạp chứ không thể nói đến những thứ riêng lẽ được, nó phải đan xen nhau, có quan hệ không thể tách rời nhau được và chính mặt toàn vẹn này thì ta mới có được một hình thái kinh tế xã hội cần có và phải có. Hình thái kinh tế xã hội vạch rõ kết cấu cơ bản, phổ biến của mọi xã hội, quy luật vận động và phát triển của xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là biểu hiện tâp trung của quan niệm duy vật về lịch sử. Đó là một hình thái có hệ thống, có cơ sở khoa học nhất từ trước tới nay về xã hội và ngày càng tỏ rõ sức sống mãnh liệt của nó trước thử thách của thời gian. Học thuyết này đã khắc phục mọi quan điểm duy tâm về xã hội và cung cấp cho chúng ta cơ sở lí luận khoa học vững chắc trong việc hoạch định các đường lối, chính sách của Đảng ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã cho thấy một ngọn nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đó là đường lối khoa học và cách mạnh của Đảng, được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, và vẫn tiếp tục là kim chỉ nam dẫn dắt chúng ta trên con đường đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển nền kinh tế tri thức nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất – nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế xã hội.
Học thuyết hình thái – kinh tế xã hội của triết học Mác – Lênin đã được xã Hòa Châu vận dụng một cách linh hoạt trong mô hình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, trên cơ sở đó đề ra những phương hướng, biện pháp, nhiệm vụ cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém đồng thời đưa địa phương trở thành một trong những mũi nhọn trong sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Hòa Vang nói riêng và của thành phố Đà Nẵng nói chung.
Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, bản thân chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đang đứng trước những thách thức lớn. Hiện nay có những học thuyết, quan điểm công khai phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, hoặc muốn thay thế nó trong vai trò giải thích con đường vận động cơ bản của lịch sử. Do đó, chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói riêng đang đứng trước đòi hỏi là phải bảo vệ và chứng tỏ những giá trị, ý nghĩa bền vững của mình, phải nhận thức lại và được phát triển một cách chính xác, sâu sắc, toàn diện và có hệ thống hơn nữa về nội dung khoa học, thì mới có thể tiếp tục đóng vai trò làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cơ bản cho nhận thức khoa học về lịch sử.
Những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu như sự phát triển khoa học công nghệ, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, ô nhiễm môi trường,… đòi hỏi mỗi quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp cùng nhau giải quyết. Điều đó, đặt ra những vấn đề có tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hình thái kinh tế xã hội. Là một sinh viên chuyên ngành lí luận chính trị được trao cho mình một hệ tư tưởng tiến bộ nhất, khoa học nhất và cách mạng nhất thì việc lựa chọn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nhất là học thuyết hình thái kinh tế xã hội và vận dụng nó vào thực tiễn Việt Nam nói chung hay thực tiễn tại một điạ phương như xã Hòa Châu nói riêng là một việc làm rất cần thiết nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân.
Với những lí do trên Tôi chọn đề tài “ Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của triết học Mác – Lênin và sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự phát triển kinh tế xã hội tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 20112013” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

61 Đọc thêm

GIÁO DỤC ĐA VĂN HÓA TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

GIÁO DỤC ĐA VĂN HÓA TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

Bài luận án tiến sĩ Văn hóa học gồm 251 trang, trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo.Trên thế giới, giáo dục đa văn hóa đã phát triển từ gần một thế kỷ qua với nhiều mô hình, cách tiếp cận, quan điểm và mức độ áp dụng khác nhau, nhưng vấn đề này còn rất mới ở Việt Nam. Luận án nghiên cứu hoạt động giáo dục đa văn hóa trong nhà trường đại học Việt Nam không những vì yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới, cải cách toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập đòi hỏi việc học hỏi kinh nghiệm của thế giới mà còn vì lĩnh vực văn hóa giáo dục nói chung và văn hóa tổ chức nhà trường nói riêng chưa được quan tâm tìm hiểu nhiều ở nước ta. Việc tìm hiểu và phân tích giáo dục đa văn hóa một cách hệ thống dưới góc nhìn văn hóa học theo cấu trúc văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử đối với giáo dục đa văn hóa trong nhà trường đại học cũng còn rất mới trên thế giới và ở Việt Nam mặc dù rất cần thiết giúp tìm ra được những quy luật, yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành giá trị tiến bộ của văn hóa giáo dục thời đại toàn cầu hóa. Đề tài luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận về văn hóa giáo dục đa văn hóa và thực tiễn toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của hoạt động giáo dục đa văn hóa dưới góc nhìn văn hóa học theo cấu trúc 3 thành phần: nhận thức, tổ chức và ứng xử cũng như các yếu tố ảnh hưởng, chi phối hoạt động này trong nhà trường đại học Việt Nam thời đại toàn cầu hóa; khái quát quy luật hình thành các giá trị phổ quát của giáo dục đa văn hóa trong các mối quan hệ với bên trong và bên ngoài thời đại toàn cầu hóa, qua đó làm rõ nguyên nhân những bước phát triển và hạn chế, dự báo xu hướng phát triển giáo dục đa văn hóa trong nhà trường đại học Việt Nam; đồng thời đề xuất giải pháp xây dựng chính sách, chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc một cách khoa học, hệ thống. Khung lý thuyết theo hướng tiếp cận liên ngành nhằm tổng hợp tri thức và tích hợp các phương pháp nghiên cứu của nhiều chuyên ngành liên quan; vận dụng các lý thuyết về văn hóa như tiến hóa luận đa tuyến, chức năng luận, cấu trúc luận, để tìm hiểu vấn đề. Phương pháp nghiên cứu vận dụng trong luận án gồm phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu trường hợp, điều tra định tính và định lượng, phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp văn bản, thao tác diễn dịch và quy nạp kết hợp với thao tác phân tích và tổng hợp được vận dụng trong thực hiện đề tài. Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, luận án có 3 chương: Chương 1 (47 trang) giải quyết những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của giáo dục đa văn hóa, trong đó có văn hóa nhận thức về giáo dục đa văn hóa trong nhà trường đại học Việt Nam. Các thông tin, nhận định ở chương này cung cấp một cái nhìn tổng quan và dữ liệu cơ sở để tiếp cận sâu hơn từng vấn đề ở Chương 2 và Chương 3; Chương 2 (68 trang) phân tích văn hóa tổ chức chương trình học, văn hóa tổ chức nhân sự và tổ chức bối cảnh không gian, cơ sở vật chất, trang thiết bị cụ thể tại Trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHCM, trường hợp nghiên cứu của luận án, trong thời đại hội nhậptoàn cầu hóa, đặc biệt từ đầu thế kỷ XXI đến nay; Chương 3 (51 trang) phân tích văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ đa văn hóa tại Trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHCM, giữa những chủ thể đến từ các nền văn hóa khác nhau, thái độ ứng phó của họ với môi trường đa văn hóa tại Trường
Xem thêm

251 Đọc thêm

CAC KI THUAT DAY HOC TICH CUC P1

CAC KI THUAT DAY HOC TICH CUC P1

MỘT SỐ KHÁI NIỆMPhương pháp dạy học (PPDH) là khái niệm cơ bản của lý luận dạy học, nhưng đến nay vẫn còn nhiều vấn đề cầnđược tiếp tục nghiên cứu và thống nhất trong cách định nghĩa, phân loại cũng như xác định mô hình cấu trúc củaPPDH.Khái niệm PPDH có thể hiệu theo nghĩa rộng là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và họcsinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học.Các nghiên cứu về lý luận dạy học thường đề cập đến 3 cấp độ của PPDH: Quan điểm dạy học (QĐDH) –Phương pháp dạy học – Kỹ thuật dạy học (KTDH).•Quan điểm dạy học: Là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợpgiữa nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học đại cương hay chuyên ngành,những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh, làmô hình lý thuyết của PPDH. Tuy nhiên các quan điểm dạy học chưa đưa ra những mô hình hành động cũng nhưnhững hình thức xã hội cụ thể của phương pháp.•Phương pháp dạy học (PPDH): Khái niệm PPDH ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các PPDH, các môhình hành động cụ thể. PPDH cụ thể là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện nhữngmục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. PPDH cụ thể bao gồm nhữngphương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù bộ môn. Bên cạnh các phương pháp truyền thốngquen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, trực quan, làm mẫu, có thể kể một số phương pháp khác như: phương phápgiải quyết vấn đề, phương pháp học tập theo tra cứu, phương pháp dạy học dự án…•Kỹ thuật dạy học (KTDH): Là những động tác, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tìnhhuống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập.Bên cạnh các KTDH thường dùng, có thể kể đến một số KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như:Kỹ thuật công não, kỹ thuật thông tin phản hồi, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật tia chớp…Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực là như thế nào?Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực chính là phát huy được tính tích cực trong nhận thức của học sinh.Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể của mọi hoạt động, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn.Sự chuyển biến về hoạt động trong lớp học có thể thể hiện qua sơ đồ sau:
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

32 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoạithương Việt Nam... cũng đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về dịchvụ ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng hay phát triển thịtrường dịch vụ thẻ, ATM, thanh toán điện tử... Nhưng hầu hết còn tiếp cận ở giaiđoạn trước khi gia nhập WTO, hay khi chưa chuyển đổi các ngân hàng thươngmại nhà nước thành NHTM cổ phần. Vẫn chưa có các công trình nghiên cứutổng thể việc phát triển dịch vụ NHBL tại Ngân hàng TMCP Công thương ViệtNam trong điều kiện hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Đặc biệt nghiêncứu vấn đề này khi cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng khốc liệt hơnkhi Việt Nam tiến hành thực hiện các cam kết mở cửa WTO, ngay sau khủnghoảng tài chính, tiền tệ toàn cầu xuất phát từ Mỹ. Cụ thể:- Các công trình khoa học, các bài báo đề cập đến lý luận phát triển dịchvụ ngân hàng nói chung như: Trịnh Bá Tửu [62] về đổi mới nhận thức về dịchvụ ngân hàng hiện đại; Lê Văn Huy, Phạm Thị Thanh Thảo [26] nghiên cứuphương pháp định vị dịch vụ thẻ ngân hàng biểu đồ nhận thức và lược đồ Radarvề giá trị thỏa mãn khách hàng, tìm kiếm các phương pháp đo lường dịch vụngân hàng; Nguyễn Văn Giàu [16] cải cách, mở cửa dịch vụ ngân hàng và ứngdụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.Hầu hết các công trình, bài báo, tạp chí trên mới chỉ đề cập đến quan niệm, dịchvụ ngân hàng nói chung, phân tích, tìm kiếm các mô hình, phương pháp thuầntúy về mặt lý luận về hiệu quả các dịch vụ ngân hàng chứ chưa phân tích cụ thểdịch vụ NHBL hoặc một loại hình dịch vụ NHBL cụ thể.- Một số công trình khoa học, các bài báo lại tiếp cận dịch vụ ngânhàng nói chung và dịch vụ NHBL nói riêng qua việc đa dạng hóa các hoạtđộng dịch vụ, các sản phẩm ngân hàng hiện đại để nâng cao hiệu quả kinhdoanh, khả năng cạnh tranh và chủ động trong hội nhập, như Võ Kim Thanh[50]; Nguyễn Thanh Phong [47]; Nguyễn Thị Mùi [34]. Hầu hết các côngtrình khoa học này chỉ đề cập đến tính cấp thiết phải đa dạng hóa DVNH nóichung chứ chưa đi sâu vào phân tích cụ thể vai trò của dịch vụ NHBL đối vớihoạt động của các NHTM.
Xem thêm

20 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHUYÊN ĐỀ “TAM NÔNG” TRÊN BÁO NÔNG THÔN NGÀY NAY

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHUYÊN ĐỀ “TAM NÔNG” TRÊN BÁO NÔNG THÔN NGÀY NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
“Với khoảng 70% dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề liên quan tới nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986 – 2008) đã đạt được những thành tựu phát triển khả quan. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các loại nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay. Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2007 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD. Trong bài “ Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam” trên website của Bộ ngoại giao Việt Nam có nhắc tới sự phát triển của nông nghiệp.
Trong quá trình lãnh đạo đất nước, với nhận thức sâu sắc về đặc điểm của nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tiếp sau đó, nhiều nghị quyết của Đảng đã bàn tới vấn đề này, qua đó góp phần bổ sung hoàn thiện hơn quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội XI đã khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp... đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”.
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng còn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm”; “Tình trạng thiếu việc làm còn cao”; “Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng dãn ra. Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng”; môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp”.
Những quan điểm về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là sự khẳng định, bổ sung và tiếp tục phát triển chủ trương, đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng. Quán triệt sâu sắc và vận dụng hiệu quả những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng là cơ sở vững chắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triển mới.
Xem thêm

97 Đọc thêm

sự vận dụng quan điểm của v i lênin về đảng viên, và các nguyên tắc tổ chức của đảng của đảng ta tiểu luận cao học

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V I LÊNIN VỀ ĐẢNG VIÊN, VÀ CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG CỦA ĐẢNG TA TIỂU LUẬN CAO HỌC

V.I LêNin (2241870 – 2101 1924). Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức Nga tiến bộ tại thành phố XimBiếc. Khi còn nhỏ. Ông là một người học rất xuất sắc và luôn đạt kết quả học tập rất cao. Sau khi tốt nghiệp trường trung học cổ điển ở XimBiếc. Năm 1877 LêNin vào học khoa luật ở trường Đại học CaDan. Năm 17 tuổi LêNin bị bắt và đày về làng Côcưsơkinô, cách CaDan cách 40 dặm Nga. Tại đây ông đã tham gia vào phong trào đấu tranh cách mạng ở Nga (Vào tháng chạp 1887)
Sau cách mạng Tháng Mười vấn đề Đảng cầm quyền luôn được V.I.Lênin quan tâm và đã được ông đề cập trong nhiều bài viết và tác phẩm lý luận. Năm 1894 LêNin viết tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao”. Năm 1895 ông viết bản “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mùa hè năm 1896 ông viết bản “Dự thảo và thuyết minh cương lĩnh của Đảng dân chủ xã hội”. “Thuyết minh về cương lĩnh”. Cuối năm 1897, trong khi bị đày ở Xibêri. LêNin viết tác phẩm “Nhiệm vụ của những người dân chủ xã hội Nga”. Năm 1899. Ông viết tác phẩm “Sự phát triển của nghĩa tư bản ở Nga”.v.v… Năm 1904 ông viết tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi”.
Và đặc biệt hơn cả ông đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như vấn đề đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng và các nguyên tắc tổ chức của Đảng trong tác phẩm “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mặc dù bước đầu còn khó khăn, nhưng những nội dung trên là một thứ vũ khí sắc bén để chống lại phái Mensêvích lúc bấy giờ.
Phát triển quan điểm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Nga đã thực hiện vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân Nga hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thế giới của mình. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một kỷ nguyên mới đưa cả loài người quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng. Đảng có vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức mới có khả năng tạo lập, giữ vững và không ngừng nâng cao được vai trò đó.
Sức mạnh của Đảng được tạo thành và củng cố từ sự vững mạnh của mỗi tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên cùng với việc thực hiện đầy đủ, đúng đắn những nguyên tắc tổ chức của Đảng. Mặt khác, sức mạnh của Đảng cũng được tạo ra và nhân lên thông qua các tổ chức của Đảng và các đảng viên của đảng.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: phải tự đổi mới và tự chỉnh đốn, chỉnh đốn Đảng là tiền đề để đổi mới xã hội. Là một Đảng chiến đấu, một Đảng hành động, Đảng ta coi công tác đảng viên là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu. Chất lượng của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phản ánh trực tiếp và cụ thể chất lượng của Đảng. Nâng cao chất lượng đảng viên sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng. Hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trọng và cần thiết, khi mà “Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Đảng, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nẩy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng…” .
Trước yêu cầu khách quan và thực tế công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng ta hiện nay, em chọn vấn đề “Sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về đảng viên, và các nguyên tắc tổ chức của Đảng của Đảng ta” làm đề tài tiểu luận cho học phần: Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin Hồ Chí Minh về Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
Xem thêm

21 Đọc thêm

BÀI TẬP MÔN MÔN HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

BÀI TẬP MÔN MÔN HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thểphải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, nhữngcon đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó thựchiện việc biến đổi từ cái “vật tự nó” thành cái phục vụ cho nhu cầu lợi ích của conngườiVì vậy trong thực tế nhận thức và hoạt động của con người, việc tuyệt đối hóa mộttrong hai mặt của vật chất và ý thức đã dẫn tới bệnh chủ quan duy ý chí và bệnhbảo thủ trì trệ.Trước thời kỳ đổi mới Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trìtrệ trong việc xác định mục tiêu và hướng đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,cải tạo XHCN và quản lý kinh tế. Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinhtế nhiều thành phần, chỉ còn lại hai thành phần là : kinh tế quốc doanh và tập thể;hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ýđến phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp trong khi nước ta là một nước nôngnghiệp, tất cả những điều kiện vật chất khách quan đều thuận lợi để phát triển nôngnghiệp; Đồng thời đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, baocấp, cơ chế xin – cho, có nhiều chủ trương sai lầm trong việc cải cách giá cả, tiềntệ, tiền lương; công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểmnghiệm trọng. Từ đó đã kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội, làm cho nhân dânbị nghèo nàn, đất nước lạc hậu, hạn chế việc phát huy các nguồn lực, chậm khaithác tiềm năng xây dựng đất nước.Để khắc phục hai căn bệnh nêu trên, cần thực hiện những biện pháp là :- Phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội, đổi mới từ quan niệm, tư duy lý luận đến đổi mới cơ chế chínhsách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Thực hiện đổi mới với nhữnghình thức, bước đi, cách làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâmmà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực nhận thức và vận dụngquy luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Đảng viên.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ - vận DỤNG QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về mối QUAN hệ GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ - VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội. Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị xã hội của đất nước. Do hạn chế về nhận thức, vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cho nên nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải những sai lầm trong quá trình cải tổ, đổi mới. Nước ta, trong thời kỳ đầu việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm triết học Mác Lênin còn ở những mức độ nhất định. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trước thời kỳ đổi mới.
Xem thêm

66 Đọc thêm

BÀN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI

BÀN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI

Ở Việt Nam, mô hình kinh tế thị trường (KTTT) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã được Đảng ta chính thức lựa chọn và chỉ đạo tổ chức thực hiện từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Cho đến nay, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới đất nước, mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã phát huy sức mạnh. Song, trong quá trình thực hiện mô hình này, một số vấn đề lý luận nảy sinh cần có sự nhận thức và đưa ra giải pháp khắc phục.
Trước hết, cần luận giải về sự không đối lập giữa KTTT với định hướng XHCN, bởi trong thực tế, có nhiều ý kiến cho rằng, đã thực hiện mô hình KTTT là thực hiện con đường kinh tế tư bản chứ không thể là định hướng XHCN, sự định hướng này là không tưởng.
Luận giải về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày như sau: Như phần trên đã đề cập tới, theo đúng nguyên lý của sự phát triển là sự phát triển tự thân, cho thấy, mô hình KTTT hiện đại là sản phẩm tất yếu của sự phát triển bản thân kinh tế, bởi thế, KTTT không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản (CNTB), bởi CNTB không phải là một thể chế kinh tế mà là một thể chế chính trị xã hội. Đồng thời, phải phân biệt KTTT với tư cách là một thể chế kinh tế chứ không phải là một chế độ kinh tế.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030

ĐỀ TÀI PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2002 – 2012 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Xuất phát từ những thực tế trên, nhận thấy việc tiến hành rà soát tài nguyên, đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ là một việc làm cấp thiết. Chính vì lẽ đó, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030” để nghiên cứu, những mong đánh thức được tiềm năng, và định hướng phát triển du lịch phù hợp với giai đoạn phát triển chung của du lịch Việt Nam.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ
2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và vận dụng vào địa bàn nghiên cứu, mục đích chính của đề tài là đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch ở tỉnh Phú Thọ để từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Tổng quan cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển du lịch các tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ để vận dụng vào việc nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Kiểm kê, đánh giá những tiềm năng du lịch ở địa phương và phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ. Từ đó làm sáng tỏ những lợi thế so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh.
- Bước đầu định hướng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Về nội dung:
Đề tài tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ (các tuyến, điểm với các sản phẩm đặc trưng)
- Về phạm vi lãnh thổ:
Phạm vi nghiên cứu là địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra, đề tài còn mở rộng nghiên cứu sang các tỉnh lân cận để thấy được mối liên hệ và so sánh giữa các tỉnh trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.
- Về thời gian:
Đề tài tập trung thu thập số liệu, phân tích và nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2002 – 2012 với định hướng đến năm 2030.
4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
4.1. Ở Việt Nam
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, đòi hỏi các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cũng như các nhà quản lí phải chú ý đến việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch.
Nhận thức được tầm quan trọng nói trên, các nhà khoa học, đi đầu là một số nhà địa lí chuyên nghiệp hàng đầu của đất nước đã có công trình nghiên cứu rất có giá trị. Khởi phát theo hướng gắn du lịch với địa lí học là công trình của Vũ Tuấn Cảnh với đề tài khoa học cấp Bộ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (1991). Sau đó, năm 1995, các tác giả Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông đặt vấn đề về công tác quy hoạch phát triển du lịch trong bài báo đăng trên tạp chí Du lịch và Phát triển với tiêu đề “Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch”. Các nhà địa lí Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ… đã giải quyết một số vấn đề quan trọng để định hướng phát triển ngành địa lí du lịch Việt Nam qua các công trình: “Cơ sở địa lý du lịch” – Nguyễn Minh Tuệ (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999)…
Không chỉ quan tâm tới những vấn đề chung của đất nước, các nhà khoa học cũng để tâm nghiên cứu phát triển du lịch cho các địa phương. Tiêu biểu như luận án tiến sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” – Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” – Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” – Phạm Lê Thảo (2006); luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch tỉnh Kon Tum trong xu thế hội nhập” – Thái Huỳnh Anh Chi (2010); và một số báo cáo có giá trị trên các tạp chí: Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận.
Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu về du lịch cũng như các hoạt động thực tiễn phát triển du lịch không chỉ có tầm quan trọng trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là nguồn lực mới mẻ, mạnh mẽ tiếp sức cho khoa học địa lí gắn mình với thực tiễn cuộc sống của xã hội, đất nước, đem lại cơ hội mới cho địa lí học đổi mới và phát triển.
4.2. Ở Phú Thọ
Với sự phát triển non trẻ của ngành du lịch tỉnh Phú Thọ, hiện nay, các công trình nghiên cứu về du lịch của tỉnh Phú Thọ mới chỉ dừng lại ở một số báo cáo như: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Phú Thọ - 2001”; Sở Văn hóa – thể thao – du lịch tỉnh Phú Thọ đưa ra “Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030” tháng 11 – 2012. Một số luận văn tốt nghiệp cao học đã bước đầu nghiên cứu về tài nguyên du lịch và quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, tiêu biểu như luận văn thạc sĩ “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Thọ” của Ngô Thị Thu Hằng năm 2012, đề tài tập trung vào việc đưa ra một số hình thức trong tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh (bao gồm điểm, cụm và tuyến du lịch) giai đoạn 2006 – 2011. Như vậy, việc tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ chưa được nghiên cứu một cách sát đáng.
5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch. Theo quan điểm này, mỗi một đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố cấu thành và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi nghiên cứu một đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn. Với ý nghĩa đó, du lịch Phú Thọ được xem như một bộ phận của các hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn và cấp phân vị cao hơn là hệ thống du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và vùng phụ cận cũng như hệ thống du lịch vùng du lịch trung du miền núi Bắc Bộ và hệ thống du lịch cả nước. Như vậy, du lịch Phú Thọ với tư cách là một bộ phận của hệ thống cấp cao hơn phải vận động theo quy luật của toàn hệ thống và việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính du lịch của hệ thống có giá trị thực tiễn để vận dụng vào tổ chức và kinh doanh du lịch.
5.1.2. Quan điểm tổng hợp
Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: Tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, do đó việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên quan điểm đó, khi đánh giá về tài nguyên du lịch phải được xem xét một cách tổng hợp kể cả tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên; cũng vậy trong quá trình khái quát về thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ cũng phải phân tích các khía cạnh: Lượt khách, doanh thu, du lịch… Từ quan điểm tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá cách đối tượng du lịch một cách đồng bộ, hình thành nên các điểm, tuyến, khu du lịch hiệu quả, đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường.
5.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng. Xem xét hoạt động du lịch trong mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu. Và để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ từ đó tạo ra được sản phẩm du lịch đặc trưng, khai thác được các thế mạnh, khắc phục những hạn chế.
5.1.4. Quan điểm lịch sử và viễn cảnh
Phú Thọ là một vùng đất lưu giữ bề dày lịch sử và có nền văn hoá nguồn cội. Trải qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này còn lưu giữ được những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, văn hoá và con người. Những đặc điểm này đã được khai thác cho phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng của địa phương. Sử dụng quan điểm lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, kết quả khai thác, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những dự báo chính xác và giúp cho việc tổ chức du lịch trên địa bàn mang tính hiệu quả và bền vững.
5.1.5. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác các giá trị thiên nhiên, nhân văn sao cho môi trường cảnh quan tự nhiên và các khu danh thắng ít bị xâm hại bởi các hoạt động phát triển du lịch có tính nhạy cảm cao cả về tự nhiên và nhân văn. Phát triển du lịch nói riêng, quy hoạch du lịch nói chung cũng cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường xã hội trong sạch. Cần có biện pháp tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường văn hoá xã hội trên địa bàn lãnh thổ.
5.1.6. Quan điểm kinh tế
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, là ngành kinh tế tổng hợp liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế xã hội. Trong quá trình phát triển của các điểm đến du lịch ngoài việc xuất hiện những tình huống về kỹ thuật còn có những tình huống về kinh tế - xã hội mà nếu không được giải quyết thấu đáo sẽ gây những hậu quả khó khắc phục.
Chính vì vậy, phát triển du lịch vừa phải đưa ra những giải pháp khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn của tỉnh vừa phải giải quyết được mối quan hệ của các ngành kinh tế có liên quan đến hoạt động du lịch, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng vẫn giữ được sự cân bằng giữa các vấn đề trong xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.2.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý phân tích tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở tất cả các công trình nghiên cứu khoa học. Việc vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu của các công trình trước đó, giúp tiết kiệm thời gian và công sức, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về đề tài nghiên cứu. Nguồn tài liệu được lấy từ nhiều đơn vị khác nhau: sách, báo, tạp chí khoa học, các Sở ban ngành có liên quan (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục Thống kê…), các phương tiện thông tin đại chúng… Các tài liệu này được bao gồm các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Việc phân loại tài liệu giúp chúng ta dễ dàng tra cứu và cập nhật thông
Xem thêm

167 Đọc thêm

Cùng chủ đề