MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức":

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin.

LỜI NÓI ĐẦU

Những thành tựu của công cuộc đổi mới của nước ta trong thời gian qua đã và đang tạo ra thế và lực mới, cả ở bên trong và bên ngoài để chúng ta bước vào thời kì phát triển mới. nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ đó được tạo ra. Quan hệ của nước ta với các nước ta với các nước trên thế giới mở rộng hơn bao giờ hết. Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh với trình độ ngay càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên do ưu thế về vốn công nghệ thị trường thuộc về các nước phát triển, khiến cho các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt.

Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại. Đảng và nhà nước ta cần tiếp tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt, giữ vị trí chủ đạo. Đồng thời đổi mới về chính trị cũng mang tính cấp bách bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối liên hệ giàng buộc chặt chẽ với nhau không thể tách rời nhau. Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng nó vào mối quan hệ kinh tế và chính trị của đất nước, giúp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta ngày càng giầu mạnh.

Với ý nghĩa đó sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo em đã lựa chọn đề tài: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay. Do thời gian có hạn và kiến thức bản thân còn hạn chế cho nên bài viết sẽ không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vậy kính mong sự góp ý của thầy giáo cùng toàn thể bạn đọc

Em xin chân thành cảm ơn

PHẦN NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

1.Vật chất:

a. Định nghĩa vật chất:

Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật chất đứng trên các giác độ khác nhau. Nhưng theo Lênin định nghĩa: Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách thông thường là quy một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật chất, Lênin đó đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, vất chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất.

Khi định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học, Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng vô hạn, muốn phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái quát và trừu tượng, với những dạng vật chất cụ thể, với những hạt nhỏ cảm tính. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được. Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

Lênin đã cho rằng bản chất vốn nó cú tự cú, khụng do ai sinh ra, không thể tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan, khác với quan niệm: Ý niệm tuyệt đối. của chủ nghĩa duy tâm khách quan Thượng đếcủa tôn giáo. Vật tự nó không thể nắm được của thuyết không thể biết, vật chất không phải là lực lượng siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó. Trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát các sự vật, hiện tượng có thật, hiện thực, và do đó các đối tượng vật chất có thật, hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác và nhờ đó mà ta có thể biết được, nắm bắt được đối tượng này. Định nghĩa vật chất của Lênin đó khẳng định được câu trả lời của chủ nghĩa duy vật về cả hai mặt cơ bản của triờt học, phân biệt về chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng như thuyết không thể biết.

Hơn thế nữa Lênin cũn khẳng định, cảm giác chép lai chụp lại phản ánh vật chất, nhưng vật chất tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khẳng định như vậy một mặt Lênin muốn nhất mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết định của nó với ý thức, và mặt khác khẳng định phương pháp và khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người. Điều này không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật, với chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt chủ nghĩa duy vật với nhị nguyên luận.

Như vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là một định nghĩa toàn diện và triệt để nó giải đáp được cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt về nguyên tắc với chủ nghĩa duy tâm, bất khả trị luận, nhị nguyên luận. Đồng thời nó cũn khắc phục thiếu sót, siêu hình, hẹp hòi trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ.

Định nghĩa vật chất của Lênin cũn giúp chúng ta nhân tố vật chất trong đời sống xã hội, đó là tồn tại xã hội, và nó cũn có ý nghĩa trực tiếp định hướng trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, giúp khoa học tự nhiên ngày càng đi sâu vào nghiên cứu dạng cụ thể của vật chất trong giới vĩ mô. Nó cũn giỳp chúng ta có thái độ khách quan và đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan trong suy nghĩ và hành động.

b. Các đặc tính của vật chất:

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vận động là mọi sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịnh vị trí trong không gian, Anghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất nó bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy. Vận động có nhiều hình thức trong đó có 5 hình thức vận động cơ bản: Thứ nhất vận động cơ học( Di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian); thứ hai: vận động vật lớ(vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình điện nhiệt…);thứ ba:vận động hoá học(vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải các chất);thữ tư:vận động sinh học(trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường); thứ năm:vận động xã hội(Sự biến đổi thay thế của các hình thái kinh tế xã hội). Các hình thức vận động đều quan hệ chặt chẽ với nhau. Một hình thức vận động nào đó được thực hiện là do sự tác động qua lại với các hình thức vận động khác trong đó những hình thức vận động cao bao giờ cũng bao hàm những hình thức vận động thấp hơn, nhưng cũng không thể coi hình thức vận động cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp. Mỗi sự vật, hiện tượng có thể gắn với nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản.

Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận động không ngừng. Không thể có vật chất không vận động, tức là vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Hay nói cách khác vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Anghen nhận định rằng và các rạng khác nhau của vật chất chỉ có thể tồn tại thông qua vận động chỉ thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của vật thể. Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản đến thế giới vi mô đến các hệ thống hành tinh khổng lồ trong thế giới vĩ mô từ vô cơ đến hữu cơ, đến xã hội loài người, tất cả luôn ở trạng thái vận động. Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khác nhau, cùng tồn tại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Sự tác động qua lại đó gây ra biến đổi. Nguồn gốc của vận động là do những nguyên nhân bên trong, vận động của vật chất là tự thân vận động.

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên ngoài vật chất, vận động không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó vận động được bảo toàn cả về số lượng lẫn chất lượng. Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nao đó của sự vật nhất định mất đi thì tất yếu nó nảy sinh ra một hình thức vận động khác thay thế nó. Cỏc hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn tồn tai với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất.

Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự phõn hoỏ thế giới vật chất thành các sự vật và hiện tượng phong phú và đa dạng. Anghen khẳng định rằng khả năng đứng im tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phõn hoỏ vật chất. Nếu vận động là sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng thì sự đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn tính qui định của các sự vật hiện tượng. Đứng Im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối. Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi của sự ổn định, chưa biến đổi. Đứng im chỉ là tạm thời vỡ nó chỉ xảy ra trong một thời gian nhất định. Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng nhưng vận động toàn thể lại phân loại sự cân bằng riêng biệt thành các sự vật, hiện tượng luôn thay đổi chuyển hoá cho nhau.

Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất. Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình hình thức kết cấu, có độ dài, ngắn, cao, thấp. Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện khoảng tính của chúng, trật tự phân bố chúng. Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định. Thời gian biểu hiện tốc độ và trình tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính cách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của các quá trình đó, sự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiên tượng.

Không gian và thời gian là hình cơ bản của vật chất đang vận động. Lênin đó chỉ ra trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian. Không gian và thời gian là tồn tại khách quan. Nó không phải là hình thức chủ quan để xếp chặt các cảm giác mà ta thu nhận một cách lộn xộn như chủ nghĩa duy tâm quan niệm, cũng như nó không thể đứng ngoài vật chất. Không có không gian trống rỗng. Không gian và thời gian không phải là bất biến, tuyệt đối, mà trái lại không gian và thời gian có sự biến đổi phụ thuộc vật chất vận động.

Tính thống nhất vật chất của thế giới

Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tinh thần có trước, quyết định vật chất, do đó cũng cho rằng thế giới thống nhất ở tinh thần. Còn chủ nghĩa duy vật biện chứng lại khẳng định rằng, tính thống nhất chân chính của thế giới là ở tính vật chất của nó. Triết học Mỏc Lênin khẳng định chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, không có thế giới tinh thần. Thế giới thần ninh ma quỷ tồn tại ở đâu đó bên trên, bên dưới ở trong hay ở ngoài thế giới vật chất. Đồng thời còn khẳng định rằng các bộ phận thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức, liên hệ về lịch sử phát triển và đều phải luôn tuân thủ theo những qui luật khách quan của thế giới vật chất. Do đó thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận không do ai sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó không có cái gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau, là nguyên nhân và là kết quả của nhau.

2. Ý thức.

a. Kết cấu của ý thức

Cũng như vật chất có rất nhiều các quan niệm về ý thức theo các trường phái khác nhau. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ý thức là đặc tính là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ. Mác nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc của con người và được cải biến ở trong đó.

Ý thức là một hiện tõm lớ xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm ý thức, tri thức, tìm cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trong nhất là phương thức tồn tại của ý thức.

Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình nhận thức của con người và cải biến thế giới tự nhiên. Tri thức càng được tích luỹ con người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ý thức cũng nhờ đó mà tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có ý nghĩa chống quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm niềm tin, ý chí. Quan điểm đú chớnh là biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, của niềm tin mù quáng, của sự tưởng tượng chủ quan. Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận và coi nhẹ vai trò của các nhân tố tình cảm ý chí.

Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó, có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức minh như là một thực thể hoạt động, có cảm giác, có tư duy, cú cỏc hành vi đạo đức và có vị trí xã hội. Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người phải nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh bản thân mình theo các qui tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra. Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trũ Cỏi gương soi giúp cho con người tự ý thức được bản thân.

Vô thức là một hiện tượng tõm lớ nhưng có liên quan đến những hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức. Có hai loai vô thức: Loại thứ nhất liên quan đến hành vi chưa được con người ý thức; loai thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nờn đó trở thành thói quen, có thể diễn ra Tự động bên ngoài sư chỉ đạo của ý thức. Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người. Trong những hoàn cảnh nào đó nó có thể giúp con người bớt sự căng thẳng trong hoạt động. Việc tăng cương rèn luyện để biến những hành vi tích cực thành thói quen và có vai trò rất quan trong đời sống của con người. Trong con người ý thức vẫn là cái chủ đạo cái quyết định trong hành vi cá nhân.

b. Các đặc tính của vật chất.

Nguồn gốc tự nhiên:

Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vất chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lí thần kinh của của bộ não con người. Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não và ý thức là chức năng của bộ não, bộ não là khí quan của ý thức. Sự phụ thuộc của ý thức vào sự hoạt động của bộ não thể hiện ở chỗ khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên, không thể qui một cách đơn giản ý thức về các quá trình sinh lí bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với sự phát triển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con người và xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức.
Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội.

Nguồn gốc xã hội:

Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.

Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con người. Chính nhờ lao động, con người và xã hội mới hình thành và phát triển. Lao động là phương thức tồn tại đầu tiên của con người, lao động đồng thời ngay từ đầu đã liên kết những con người với nhau trong những quan hệ khách quan, tất yếu, mối quan hệ này đến lượt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động, nhu cầu Cần phải có với nhau một cái gì. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời. Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy. Với sự xuất hiện ngôn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp, trở thành tính hiệu vật chất tác động đến giác quan con người và gây ra cảm giác. Nhờ có ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm lẫn nhau truyền đạt kinh nghiệm cho nhau. Thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lai,ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sự trừu tượng hoá, tức là quá trình hình thành, thực hiện ý thức và chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.

c. Bản chất của ý thức

Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.

Bản tính phản ánh thể hiện thông tin về thế giới bên ngoài là biểu thị nội dung nhân được từ vật gây ra tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tính của phản ánh qui định mặt khách quan của ý thức, tức là ý thức phải lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan qui định và có nội dung phản ánh là thế giới khách quan.

Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền lao động, với hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể thiếu được của hoạt động đú. Tớnh sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó khụng chụp lại một cách thụ động, nguyên xi sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với xử lí thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá trình chủ động tác động vào thế giới để phản ánh thế giới đó.

Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Không cú phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở sáng tạo. Ngược lại không có sự sáng tạo thì không phải là phản ánh ý thức. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhập và xử lí thông tin, là sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức.

Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người. Hoạt động đó không phải là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. Do ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội. Ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội và hoàn cảnh, về những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan, về mối liên hệ giưa người và người trong xã hội. Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội cựng cỏc qui luật tồn tại của xã hội đú…Và ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng của ý thức xã hội. Bản thống nhất nó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở mối quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tao thế giới của con người.

3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

Lênin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hết sức hạn chế: Trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì có sau. Ngoài giới hạn đú thỡ không còn nghi ngờ gì nữa sự đối lập đó chỉ là tương đối. Như vậy, để phân ranh giới chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định bản tính và thống nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Không như vậy sẽ lẫn lộn hai đường lối cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất với ý thức và cuối cùng sẽ xa dời quan điểm duy vật. Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là tương đối nếu như chúng ta xột chỳng như là những nguyên tố, những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Bởi vì, ý thức tự nó không thể cải biến được sự vật, không có khả năng tự biến thành hiện thực.
Nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có thể cải biết được tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang dã, thanh tự nhiên trù phú, sinh động, tự nhiên của con người. Như vậy, tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đối, tính năng động của ý thức. Mặt khác, đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá. Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có ý nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người. Trái lại, triết học MỏcLênin khẳng định rằng, trong hoạt động của con người, những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại, song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.

Trong hoạt động của con người, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và qui định hoạt động của con người vì nhân tố vật chất qui định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó qui định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa bổ sung, cụ thể hoá mục đích, chủ trương, biện pháp đó. Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng hướng đến mục tiêu để biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu cuộc sống, hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có. Khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất, triết học Mỏc Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần, của tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác dụng trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa, trong hoạt động của mình con người không thể để cho thế giới khách quan, quy luật khách quan chi phối mà chủ động hướng nó đi theo con đường có lợi của mỡnh.í thức con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất, cũng không thể thay đổi qui luật vận động của nó. D đó, trong quá trình hoạt động của mình, con người phải tuân theo qui luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích, chủ trương trong phạm vi hoàn cảnh vật chất cho phép.

II VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị.

Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Nhân tố vật chất giữ vai trò là cơ sở, quyết định, còn nhân tố ý thức là có tác dụng trở lại đối với nhân tố vật chất. Trong nhiều trường hợp, nhân tố ý thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của hoạt động con người. Điều này thể hiện rõ trong tác động của đường lối, các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng. Song xét đến cùng, tác động của ý thức có tính tương đối, có điều kiện. Vai trò tích cực hay tiêu cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể. Vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động theo qui luật khách quan đòi hỏi ý thức phải biến đổi phù hợp với nó, và nếu là tiêu cực, ý thức sớm muộn sẽ bị đào thải. Mặt khác, ý thức là cỏi cú sau, là cái phản ánh, hơn nữa vai trò của nó còn tuỳ thuộc vào mức độ chính xác trong quá trình phản ánh hiện thực. Do vậy, xét toàn cục, ý thức chỉ có được nếu nó thâm nhập vào quần chúng và tổ chức hoạt động. Nếu như chúng ta đưa nó vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, thì chúng ta có thể thấy rằng, giữa kinh tế ( biểu hiện của vật chất) và chính trị ( biểu hiện về ý thức) cũng có mối quan hệ rằng buộc với nhau. Bởi vì, chúng ta thấy rằng, tình hình kinh tế của một nước là cơ sở, là quyết định, song chính trị là cơ bản. Nếu kinh tế của một nước giầu mạnh, nhưng chính trị không ổn định, đấu tranh giai cấp, tôn giáo giữa các Đảng phái khỏc nhau.v.v…thỡ đất nước đó cũng không thể trở nên yên ấm và tồn tại lâu dài được, cuộc sống của nhân dân tuy sung túc, đầy đủ nhưng luôn phải sống trong lo âu, sợ hãi vì nội chiến, chết chóc. Do đó, nếu chính trị của một nước mà ổn định, tuy nhiều Đảng khác nhau nhưng vẫn qui về một chính Đảng thống nhất đất nước, và Đảng này vẫn đem lại sự yên ấm cho nhân dân, thì nếu đất nước đó giầu thì cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, ngược lại nếu như nước đú nghốo thỡ cho dù chính trị ổn định đến đâu thì cuộc sống của nhân dân sẽ trở nên khó khăn và sẽ dẫn đến đảo chính, sự sụp đổ chính quyền để thay thế một chính quyền mới đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân hơn.

Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi tuỳ theo từng hình thái kinh tế xã hội. Con người trải qua năm hình thái xã hội: thời kỡ nguyờn thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Trình độ tổ chức quản lí và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố qui định trình độ hiện đại và mức sống của xã hội. Sản xuất vật chất còn là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần của xã hội. Hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng, mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị. Nhà nước pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo... đều hình thành và biến đổi phát triển gắn liền với cơ sở kinh tế và sản xuất nhất định. Trong xã hội ấy, theo Mác quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (quan hệ kinh tế) là quan hệ cơ bản nhất quyết định tất cả các quan hệ khác. Một khi sản xuất phát triển, cách thức sản của con người thay đổi, năng suất lao động tăng, mức sống được nâng cao thỡ cỏc mối quan hệ và mọi mặt của đời sống xã hội cũng thay đổi theo. Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất tham gia vào quá trình phõn hoỏ và hoàn thiện các chức năng cảu con người, thoả món cỏc nhu cầu của con người và xã hội. Sản xuất vật chất, môi trường, tự nhiên, điều kiện xó hội…đũi hỏi thế lực, trí tuệ và nhân cách của con người phải phát triển thích ứng với nó. Yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất là cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội, là nhân tố quan trọng hàng đầu của Lực lượng sản xuất. Sự phong phú và đa dạng của những quan hệ vật chất, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất vật chất là cơ sở làm nảy sinh sự phong phú và đa dạng trong sự phát triển thể chất, năng lực và tinh thần của con người. Nói cho cựng thỡ trong hoạt động của con người, những nhu cầu về vật chất (kinh tế) bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì con người phải trước hết ăn mặc, ở, rồi mới nghĩ đến vui chơi, giải trí. Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống. Hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có.

Nền kinh tế của mỗi nước là cơ sở để nước đó thực hiện những chủ trương, biện pháp trong việc quản lí, đề ra những chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược phát triển quân đội để đảm bảo trật tự an ninh và chủ quyền quốc gia. Căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế, các tư tưởng và chính sách đổi mới phát triển kinh tế được đưa ra phù hợp và hiệu quả nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao cho xã hội, cũng đồng thời cho nhân dân. Tác dụng ngược trở lại, thể chế chính trị (ý thức) của một nước cũng rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định là điều kiện tốt, tạo không khí yên ấm, thoải mái và tự do để mọi người, nhà nhà, các công ty, các tổ chức, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội cống hiến và phát huy khả năng của mình để đem lại lợi ích cho bản thân mình và lợi cho xã hội.

Nguyên lý triết học Mác Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật (Ở đây là nền kinh tế ) từ thực tế khách quan, tránh chủ chủ nghĩa chủ quan, duy ý trí, đồng thời phát huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực chủ quan của con người (như hoạt động kinh tế của nước ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng đã chú trọng đến việc đề cao yếu tố con người, làm cho ý thức thay đổi mới thâm nhập vào các cơ sở kinh tế, vào đông đảo quần chúng).

2. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay:

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhược điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chưa bảo đảm nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu. Mặt khác nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề. Ở miền Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng...

Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 19761980 quá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất vượt quá khả năng của nền kinh tế, như năm 1975, phấn đấu đạt 20 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu ha khai hoang, 1 triệu 200 ha rừng mới trồng... 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng... Đặc biệt là đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Những chủ trương sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu tới nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt đến đời sống của nhân dân... Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế đề ra chỉ đạt khoảng 50%60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất chậm chạp: tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%.

Đại hội Đảng lần thứ V cũng chưa tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân đích thực của sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và cũng chưa đề ra được các chủ trương chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là kinh tế. Trong năm 19811985 chúng ta chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lí kinh tế, lại phạm những sai lầm mới trong lĩnh vực phân phối lưu thông. Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nhận định: Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã sai phạm sai lầm chủ quan duy ý trí, vi phạm qui luật khách quan: Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghia, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; cú lỳc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quỏ lõu cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương.

Tất nhiên, ngoài những khuyết điểm chủ yếu nêu trên, cũn cú những nguyên nhân khách quan như hậu quả của nhiều năm chiến tranh, bối cảnh quốc tế...song chủ yếu là do chúng ta phạm sai lầm chủ quan, những sai lầm đó cùng với trì trệ trong công tác tổ chức cán bộ đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển.

Nhắc lại tình hình trên để thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức (Ở đây là các chủ trương chính sách về quản lí) đối với vật chất (là nền kinh tế) và thấy tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới. Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải.

Vì vậy trước tình hình ngày càng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội ở nước ta Đảng và nhà nước ta đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình lấy ý kiến rộng rãi của cơ sở, của nhân dân, và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã rút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó có kinh nghiệm: phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hanh động theo qui luật khách quan. Đảng đã đề ra đường lối, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tại Đại hội VI Đảng ta đã tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng mới đặc biệt là đổi mới kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất, hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tiểu tư sản, sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân, đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá tiền tệ. Trong quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, những diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế và xã hội của nước ta, nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi, khai phá con đường đổi mới: công cuộc đổi mới. Và đến Đại hội Đại Biểu toàn Quốc lần thứ VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị xã hội Việt Nam sau bốn năm thực hiện đường lối đổi mới: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Tình hình chính trị của đất nước ổn định, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được kìm chế bớt, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện. So với trước đây thì mức độ khủng hoảng đã giảm bớt. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy...

Qua những dẫn chứng trên, ta thấy rõ tác động qua lại giữa ý thức và vật chất, giữa kinh tế và chính trị. Nhờ có đường lối đổi mới, sản xuất phát triển, đời sống của nhân dân nói chung được cải thiện, mức độ khủng hoảng đã giảm bớt, do đó đã góp phần ổn định tình hình chính trị của đất nước, góp phần vào việc phát huy dân chủ trong xã hội. Khong chủ quan với những thành tựu đã đạt được, Đại hội VII đã chỉ ra những tồn tại lớn cần giải quyết, đặc biệt về mặt kinh tế đó là: lạm phát còn ở mức cao, nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng lờn…Đồng thời cũng tự phê bình về việc chậm xác định rõ yêu cầu và nội dung đổi mới, còn nhiều lúng túng và sơ hở trong điều hành, quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường... Đặc biệt, Đại hội cũng xác định: Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị tập trung sức đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân và làm việc, các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị.

Như vậy, rõ ràng Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng đắn phương pháp luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới, tiến hành đổi mới kinh tế trước để tạo điều kiện đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đại hội VII, sau khi đã phân tích sâu sắc đặc điểm tình hình quốc tế và trong nước đã đề ra mục tiêu tổng quát vào các mục tiêu cụ thể, những phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991 1995 đặc biệt đáng chú ý là phương châm kết hợp động lực kinh tế với động lực chính trị tinh thần, phương châm tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ đưa công tác đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác.

Nói về Đảng trong công cuộc đổi mới, báo cáo chính trị trước Đại hội đã nhận xét: Nét nổi bật là trong Đảng đó cú sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo, Đảng đã cụ thể hoá và phát triển nghị quyết Đại hội VII, bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Sau Đại hội lần thứ VII, Ban chấp hành TW Đảng (khoá VII) đã đề ra các nghị quyết hội nghị Trung ương 2, 3, 4, và 5 để cụ thể hoá và phát triển đường lối Đại hội VII, giải quyết một loạt vấn đề cụ thể trên nhiều lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỡ đó đánh giá thành tựu to lớn có ý nghĩa hàng đầu là đã khắc phục được một bước rất quan trọng tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội...khắc phục được nhiều mặt đình đốn, suy thái, tốc độ tăng trưởng khá và liên tục trong 3 năm qua. Lạm phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống còn 17,5% năm 1992 và còn 5,2% năm 1993. Tổng sản phẩm trong nước GDP tăng bình quân 8,2% (mức đề ra cho năm 1991 1995 là 5,5 6,5%). Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, sản lượng lương thực 5 năm qua tăng 26% so với 5 năm trước đó, tạo điều kiện cơ bản để ổn định đời sống nhân dân, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, vấn đề lương thực được giản quyết tốt. Sản xuất công nghiệp đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,3 % (mức kế hoạch là 7,5% 8,5%). Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá, thị trường xuất nhập khẩu được củng cố và mở rộng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh...tăng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 1991 1995 đạt trên 17 tỷ USD (kế hoạch là 12 15 tỷ USD), đảm bảo nhập các loại vật tư, thiết bị và hàng hoá đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần cải thiện cán cân thanh toán thương mại...Khoa học công nghệ có bước phát triển, đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta, phục vụ cho việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện một bước. Quốc phòng, an ninh được giữ vững.

Hội nghị Đại biểu toàn quốc cũng nêu lên thành tựu về tiếp tục giữ vững và củng cố sự ổn định chính trị, về mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Như vậy, ở đây lại càng thấy rõ tác động của kinh tế đối với chính trị và xã hội, đối với công tác đối ngoại, công tác quốc phòng và an ninh... Đổi mới kinh tế quyết định nhưng các nhân tố chính trị, xã hội, đối ngoại cũng ảnh hưởng tích cực trở lại một cách biện chứng đối với kinh tế. Vân dụng đúng đắn các qui luật của phép biện chứng duy vật. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì cũng vạch ra những mặt yếu kém về kinh tế, nền kinh tế vẫn còn mang tích chất kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển, kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng, hiệu quả còn thấp...và những vấn đề tồn tại lớn về mặt văn hoá, xã hội... Để có những chủ trương và biện pháp giải quyết Hội nghị đã dự đoán những thách thức lớn và những cơ hội lớn trong thời gian tới, từ đó đề ra những nhiệm vụ chủ yếu: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện chính sách nhất quán phát triển kinh tế nhiều thành phần, xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng của xã hội chủ nghĩa, chăm lo các vấn đề văn hoá xã hội, đảm bảo quốc phòng và an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vỡ dõn, đổi mới chỉnh đốn Đảng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Sau hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì, TW Đảng (khoá VII) ra nghị quyết về phát triển công nghiệp, công nghệ mới đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới. Cải cách một bước nền hành chính Nhà nước (Hội nghị lần thứ VIII ban chấp hành TW Đảng từ 162311995). Với nội dung của Hội nghị TW lần thứ VIII, có thể núi đó hoàn thành trương trình cụ thể hoá một bước cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế xã hội mà Đại hội VII đã thông qua.

Với sự thành công của công cuộc đổi mới hơn mười năm (1986 1995), chúng ta càng có cơ sở để khẳng định rằng, công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử tức là chúng ta phải thừa nhận giai đoạn phát triển kinh tế thị trường mà trước đây chúng ta đã phủ nhận nó mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản. Trước đây, Đảng ta đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần: cú lỳc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quỏ lõu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp; có nhiều chủ trương sai lầm trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương; công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng. Quán triệt nguyên tắc khách quan khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí là nhiệm vụ của Đảng, toàn nhân dân ta, nhiệm vụ này chỉ được thực hiện nếu chúng ta kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học. Và trên cơ sở nghiên cứu tình hình các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới, những đặc điểm của chủ nghĩa xã hội và tình hình thực tế của nước ta để vận dụng một cách tổng hợp các mặt mạnh, hạn chế các mặt yếu của chủ nghĩa tư bản, và đã đưa ra phương châm phát triển kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, qua thực tiễn 10 năm đổi mới, chúng ta cũng nhận thức rõ là không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

Trên tình hình đó, cùng với những kinh nghiệm đã thu được qua những năm đổi mới, ở Đại hội VIII lần này cũng đã đi từ thức tế khách quan, đánh giá những đặc điểm của tình hình kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ. Đảng ta cũng đã nhận định thuận lợi và khó khăn, thời cơ va nguy cơ đan xen nhau vì vậy chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực mới: đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, bảo đảm phát triển đúng hướng. Xuất phát từ tình hình nói trên và căn cứ vào cương lĩnh của Đảng, cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

Và thực tế trong những năm qua, với những chính sách, chương trình phát triển kinh tế chính trị xã hội, chính sách ngoại giao hợp lý, chúng ta đã đạt được những bước tiến rất quan trọng, bình thường hoá quan hệ với Mỹ, là thành viên của khối ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á). Đặc biệt năm 1998 ta đã trở thành thành viên của khối APEC ( Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương)...Từ chỗ bị bao vây cấm vận nay ta đã bình thường hoá được tất cả các nước lớn, có quan hệ ngoại giao với 167 nước, quan hệ thương mại với 120 nước, Đồng thời cân bằng quan hệ với các nước lớn, phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng trong khu vực. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững môi trường hoà bình ổn định, là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao, năm 1996 là 9,3%, năm 1997 là 8,2%, năm 1998 là 5,8% (Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực). Lạm phát vẫn được giữ ở mức dưới 10%. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp vẫn đạt hai con số... Đời sống của nhân dân ngày càng được ổn định và nâng cao.

Như vậy, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo ngày càng được cụ thể hoá và đi vào chiều sâu được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng và hăng hái thực hiện, chớnh vỡ Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn sáng tạo phương pháp luận triết học toàn diện Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế là rất rõ ràng. Chỉ xin đơn cử một ví dụ về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực thực phẩm trong công cuộc đổi mới: từ năm 1988 trở về trước, đất nước ta vẫn trong tình trạng triền miên thiếu lương thực. Mỗi năm phải nhập khẩu hơn hàng chục vạn tấn lương thực cho nhu cầu trong nước, năm cao nhất phải nhập khẩu hơn 1 triệu tấn. Tình hình đó đã là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng nghiêm trọng. Các đông chí TW Đảng và một số địa phương (Vĩnh Yên, Hải Hưng..) đã đi sâu tìm hiểu nguyên nhân và biện pháp giải quyết. Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực chỉ thực sự từng bước khởi sắc kể từ khi thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư TW Đảng về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, đặc biệt là từ khi thực hiện nghị quyết 10 của Bộ Chính trị TW Đảng (541988) về đổi mới quản lý nông nghiệp. Chỉ một năm sau khi thực hiện nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, sản xuất lương thực đạt 21 triệu 516 ngàn tấn bình quân lương thực đầu người đạt 333 Kg; xuất nhập khẩu 1 triệu 405 tấn gạo. Những năm tiếp theo đó cho đến nay, sản xuất lương thực, cũng như sản xuất nông nghiệp nói chung vẫn tiếp tục phát triển, năm sau cao hơn trước từ 1,2 đến 10%. Năm 1994, mặc dù thiên tai gay gắt ở cả hai miền làm thiệt hại đến hơn 1 triệu tấn nhưng sản lượng lương thực vẫn đạt 26 triệu tấn, mức cao nhất từ trước tới nay, tăng 2,7% so với năm trước, lượng gạo xuất khẩu vẫn đạt hơn 2 triệu tấn. Từ thiếu ăn triền miên, Việt Nam trong 6 năm qua đã vươn lên đứng hàng thứ ba trong những nước xuất khẩu gạo trên thế giới. Do sản xuất nông nghiệp phát triển, bộ mặt nông nghiệp ngày càng thay đổi, đời sống nông dân ngày càng được cải thiện, lòng tin vào chế độ được củng cố. Thắng lợi trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực là một thành tích nổi bật trong quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước góp phần đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, và là biểu hiện rất rõ nét của mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế đất nước như về tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân, về tốc độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, về xuất khẩu...

Đổi mới là sự nghiệp khó khăn chưa có tiền tệ nhưng thực tiễn những năm qua đã chứng tở đường lối đổi mới, chủ trương chính sách lớn về đổi mới, chủ trương chính sách lớn lớn về đổi mới là rất đúng đắn, bước đi là thích hợp. Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn là sự nghiệp rất mới mẻ, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan của tính năng động chủ quan, đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu để khám phá, tìm tòi ra mô hình thích hợp với thực tiễn Việt Nam. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những biến động nhiều mặt của đất nước ta trong quá trình đổi mới toàn diện xã hội càng đòi hỏi chúng ta phải kiên trì giữ vững lòng tự tin, quyết tâm khắc phục khó khăn đồng thời phải tỉnh táo thông minh, nhạy cảm để thích ứng kịp thời với tình hình thực tế biến đổi từng ngày, từng giờ phải có một cuộc sống năng động chủ quan kết hợp chặt chẽ sự nhạy cảm giữa sự phát triển của khoa học kĩ thuật với tình hình chung của
Xem thêm

31 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC

đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian.Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộctính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trìnhdiễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơ -Hoá- lý-sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình4Tiểu luận triết họcthức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng khôngthể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể cóvật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận độngmà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức vàcác dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vậnđộng mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ cáchạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xácđịnh gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tácđộng lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do nhữngnguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bênngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được dođó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minhrằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nónảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận độngchuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đókhông loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có
Xem thêm

10 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội , nhằm tìm ra các quy luật của đối tượng nghiên cứu. Mục đích cơ bản của Triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận.
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội , hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy. Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức ( tinh thần ) là vấn đề cơ bản của Triết học.
Vấn đề cơ bản của Triết học là vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy , giữa vật chất và ý thức . Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của Triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học.
Nó có 2 mặt : Mặt thứ nhất là giải quyết vấn đề vật chất và ý thức , cái nào có trước, cái nào có sau; Mặt thứ hai giải quyết vấn đề con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không. Tùy theo cách giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản mà các nhà Triết học chia làm hai phe chính : những người theo chủ nghĩa duy tâm và những người theo chủ nghĩa duy vật.
Tùy theo cách giải quyết mặt thứ hai mà mà các nhà Triết học chia thành những người thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới ( khả tri ) và những người phủ nhận khả năng ấy ( bất khả tri)
Triết học ra đời rất sớm , ngay từ khi mới ra đời , Triết học đã phân làm hai phe đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm , và sự đấu tranh giữa hai phe ấy đã trở thành quy luật phát triển của Triết học. Cùng với cuộc đấu tranh ấy, trong quá trình phát triển của Triết học cũng xuất hiện và ngày càng biểu hiện sâu sắc hơn sự đối lập giữa hai phương pháp tư duy : biện chứng và siêu hình .
Các trào lưu Triết học trong lịch sử đã có thể có những biện pháp khác nhau nhưng không thóa t ra khỏi nhưng sự đôi tâm , giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
Chính cuộc đấu tranh giữa hai trường phái duy tâm và duy vật đã thể hiện tính giai cấp của Triết học. Triết học là thể giới quan của một lực lượng xã hội , một giai cấp nhất định cho nên cuộc đấu tranh trên mặt trận triết học cũng phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng và chính trị.
Xem thêm

23 Đọc thêm

tiểu luận BIỆN CHỨNG GIỮA tồn tại xã hội và ý THỨC xã hội với VIỆC PHÁT TRIỂN sự NGHIỆP GIÁO dục HIỆN NAY

TIỂU LUẬN BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC HIỆN NAY

2. Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
2.1. Mục đích: Góp phần làm rõ ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và quán triệt vào việc định hướng phát triển giáo dục đào tạo theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, làm rõ thực trạng và giải pháp nhằm phát triển giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ: Tiểu luận sẽ làm rõ những vấn đề sau đây:
Các khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội đối với việc xây dựng xã hội mới.
Vai trò của giáo dục đào tạo trong việc xây dựng đời sống tinh thần của xã hội
Đặc điểm của tồn tại xã hội và tác động của nó đối với giáo dục đào tạo nước ta hiện nay.
Thực trạng và các phương hướng, giải pháp nhằm phát triển giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

46 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội , nhằm tìm ra các quy luật của đối tượng nghiên cứu. Mục đích cơ bản của Triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận.
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội , hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy. Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức ( tinh thần ) là vấn đề cơ bản của Triết học.
Vấn đề cơ bản của Triết học là vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy , giữa vật chất và ý thức . Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của Triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học.
Nó có 2 mặt : Mặt thứ nhất là giải quyết vấn đề vật chất và ý thức , cái nào có trước, cái nào có sau; Mặt thứ hai giải quyết vấn đề con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không. Tùy theo cách giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản mà các nhà Triết học chia làm hai phe chính : những người theo chủ nghĩa duy tâm và những người theo chủ nghĩa duy vật.
Tùy theo cách giải quyết mặt thứ hai mà mà các nhà Triết học chia thành những người thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới ( khả tri ) và những người phủ nhận khả năng ấy ( bất khả tri)
Triết học ra đời rất sớm , ngay từ khi mới ra đời , Triết học đã phân làm hai phe đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm , và sự đấu tranh giữa hai phe ấy đã trở thành quy luật phát triển của Triết học. Cùng với cuộc đấu tranh ấy, trong quá trình phát triển của Triết học cũng xuất hiện và ngày càng biểu hiện sâu sắc hơn sự đối lập giữa hai phương pháp tư duy : biện chứng và siêu hình
Xem thêm

23 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .Tác động của tồn tại xã hội đến phong tục tập quán ở Việt Nam.

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI .TÁC ĐỘNG CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI ĐẾN PHONG TỤC TẬP QUÁN Ở VIỆT NAM.

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .Tác động của tồn tại xã hội đến phong tục tập quán ở Việt Nam.

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
I.Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.Tồn tại xã hội
2.Ý thức xã hội
II.Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
2.Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
2.1.Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
2.2.Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
2.3.Ý giữa thức xã hội có tính kế thừa trong quá trình phát tiển
2.4.Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong quá trình phát triển của chúng
2.5.Ý thức xã hội tác động tích cực trở lại tồn tại xã hội
3.Ý nghĩa phương pháp luận
Chương II : Tồn tại xã hội tác động đến phong tục tập quán ở Việt Nam.
Xem thêm

14 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG VẬT CHẤT – Ý THỨC Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG VẬT CHẤT – Ý THỨC Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY

động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàntính quy định sự vật hiện tượng. Đứng im chỉ một trạng thái vận động, vận động trongthăng bằng, trong sự ổn định tương đối. Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như làmột quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định, chưa biến đổi, chỉ là tạm thời vìnó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định. Vận động riêng biệt có xu hương phá hoạisự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm cho các sựvật luôn biến đổi, chuyển hoá nhau.Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chấtKhông gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình thứckết cấu, có độ dài ngắn cao thấp. Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của cácsự vật với nhau, biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng. Còn thời gian phản ánhthuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theo mộttrình tự nhất định. Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất, tính táchbiệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó, trình tự xuất hiện và mất đi của cácsự vật hiện tượng.Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động. Không gianvà thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất biến, không thể đứng ngoài vật chất,4không có không gian trống rỗng, mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vậnđộng.Tính thống nhất vật chất của thế giớiCNDT coi ý thức, tinh thần có trước, quyết đinh vật chất, còn duy vật thì ngược lại.Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chấtđồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất, có liênhệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức, lịch sử phát triển vàđều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất, do đó nó tồn tại vĩnhcửu, không do ai sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó, không có gì khác
Xem thêm

12 Đọc thêm

GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Mối quan hẹ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu này. Trong xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta đang tích cực công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh tế giữ vai trò then chốt, giữ vai trò chủ đạo. Mặc khác giữa đổi mới kinh tế và chính trị có quan hệ chặt chẽ. Nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức giúp ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới đất nước đi đến thành công
Xem thêm

17 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - Ý THỨC và mối QUAN hệ vật CHẤT ý THỨC

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT Ý THỨC

Vấn đề nguồn gốc và bản chất của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp của triết hoc, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong lịch sư triết học. Mối quan hệ vât chất và ý thức là mối quan hệ chung nhất làm cơ sở cho các mối quan hệ khác của triết học,cách giải quyết MQH này có ý nghĩa hình thành thế giới quan và tiêu chí để phân chia các trường phái triết học . Quán triệt quan điểm của triết học Mác – Lê Nin về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
Xem thêm

16 Đọc thêm

IỂU LUẬN “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

IỂU LUẬN “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật và hiện tượng phong phú và đa dạng. Nhưng dù phong phú và đa dạng đến đâu thì cũng quy về hai lĩnh vực: vật chất và ý thức. Có rất nhiều quan điểm triết học xoay quanh vấn đế về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nhưng chỉ có quan điểm triết học Mác Lênin là đúng và đầy đủ đó là: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau.

7 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ý THỨC XÃ HỘI – MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VỚI Ý THỨC XÃ HỘI

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ý THỨC XÃ HỘI – MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VỚI Ý THỨC XÃ HỘI

Bài 1: Ý thức xã hôi
1.2. Ý thức xã hội, mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống của con người cần có vật chất và tinh thần. Trong triết học gọi đời sống vật chất và tinh thần là tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số.
Vậy thì ý thức xã hội đại diện cho mặt đời sống tinh thần được hiểu như thế nào? kết cấu của nó ra sao? mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội như thế nào? Tất cả những câu hỏi đó tôi cùng các bạn sẽ giải đáp trong ngày hôm nay,chúng ta cùng tìm hiểu phần 2 của bài đó là: “Ý thức xã hội – mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội”.
A. Muc đích và yêu cầu của bài giảng
1. Mục đích
Nêu được nội dung khái niệm ý thức xã hội.
Nhận biết được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
2. Yêu cầu
Hiểu được nội dung các khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó chúng ta cần ủng hộ các chính sách môi trường, dân số của Nhà nước.
Biết tiếp thu các quan điểm tiến bộ, phê phán các hiện tượng ý thức, tư tưởng lạc hậu.
B. Kết cấu nội dung bài giảng
1. Ý thức xã hội
1.1. Định nghĩa
1.2. Kết cấu của ý thức xã hội
1.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội
2. Mối quan hệ tồn tại xã hội với ý thức xã hội
2.1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
2.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
C. Phương pháp giảng và đồ dùng dạy học
Áp dụng một số phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, như:
Phương pháp thuyết trình (chủ yếu)
Phương pháp phỏng vấn nhanh
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp nêu vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh đó, còn sử dụng phương tiện dạy học hiện đại là: phần mềm trình chiếu Microsoft Office PowerPoint.
Đồ dùng dạy học gồm có: bảng, phấn, máy chiếu.
D. Tài liệu phục vụ soạn giảng
1. Giáo trình triết học Mác – Lê nin (dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Bộ giáo dục và đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006
2. Giáo trình trung cấp lý luận chính trị môn triết học Mác – Lê nin, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội, 2004
E. Các bước lên lớp
Xem thêm

35 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn tập triết học nâng cao và đáp án

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC NÂNG CAO VÀ ĐÁP ÁN

CÂU 1: Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng. Vai trò của nó đối với nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng hiện nay?1) Khái niệm về thế giới quan (TGQ) và thế giới quan duy vật biện chứng (TGQDVBC)a) Khái niệm TGQCon người luôn có nhu cầu về nhận thức thế giới cũng như nhận thức về bản thân trong mối quan hệ với thế giới để điều chỉnh hoạt động của mình. Kết quả của quá trình nhận thức ấy tạo nên TGQ.Vây, TGQ là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới ấy.TGQ có các chức năng như: chức năng nhận thức, chức năng xác lập giá trị, chức năng bình xét, đánh giá, chức năng điều chỉnh hành vi…b) Khái niệm về TGQDVBC. TGQDV là TGQ thừa nhận bản chất của thế giới là vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực. Trong TGQDV thì chỉ có 1 thế giới duy nhất là thế giới vật chất. TGQDV cũng thừa nhận sự tồn tại của các hiện tượng tinh thần, song quan niệm mọi biểu hiện của tinh thần đều có nguồn gốc từ vật chất. Vì vậy trong quan hệ giữa vật chất và tinh thần thì vật chất là cái có trước, tinh thần có sau và bị vật chất quyết định.2) Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thứca) Khái niệm vật chất và ý thức Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó .Nhưng theo Lênin định nghĩa :vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác . Ý thức là sự phản ánh có tính chất năng động, sáng tạo của bộ óc con người về thế giới khách quan; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ.b) Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.Theo quan điểm DVCB: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức.). Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức. Lê Nin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất Từ định nghĩa của Lê Nin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan vào bộ não của con người thông qua tri giác và cảm giác. Thật vậy vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định nội dung của ý thức.Thứ nhất, phải có bộ óc của con người phát triển ở trình độ cao thì mới có sự ra đời của ý thức. Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con người mới tạo ra được ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tương tác giữa bộ não con người và thế giới khách quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một người nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động được hay không có bộ não thì không thể có ý thức được. Cũng như câu chuyện cậu bé sống trong rừng cùng bầy sói không được tiếp xúc với xã hội loài người thì hành động của cậu ta sau khi trở về xã hội cũng chỉ giống như những con sói. Tức là hoàn toàn không có ý thức. Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức. Nhờ có lao động mà các giác quan của con người phát triển phản ánh tinh tế hơn đối với hiện thực... ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm tình cảm, hay là phương tiện thể hiện ý thức. Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra đời của ý thức.Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo. VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người. Nhưng khi bộ não người bị tổn thương thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn.VD2. Ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp 1, 2, 3 về công nghệ thông tin là rất yếu kém sở dĩ như vậy là do về máy móc cũng như đội ngũ giáo viên giảng dậy còn thiếu. Nhưng nếu vấn đề về cơ sở vật chất được đáp ứng thì trình độ công nghệ thông tin của các em cấp 1, 2, 3 sẽ tốt hơn rất nhiều. VD2. Đã khẳng định điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức chỉ là như thế đó.). Ý thức tác động trở lại vật chất.Từ định nghĩa về ý thức nêu trên ta thấy các yếu tố tinh thần trên đều tác động trở lại vật chất cách mạng mẽ. VD. Nếu tâm trạng của người công nhân mà không tốt thì làm giảm năng suất của một dây chuyền sản xuất trong nhà máy. Nếu không có đường lối cách mạng đúng đắn của đảng ta thì dân tộc ta cũng không thể giảng thắng lơị trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ cũng như Lê Nin đã nói “ Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”.Như vậy ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào vật chất mà ý thức có tính độc lập tương đối vì nó có tính năng động cao nên ý thức có thể tác động trở lại. Vật chất góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người.Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thấy đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất. Khi phản ánh đúng hiện thực khách quan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của các sự vật hiện tượng trong thế giới quan. VD1. Hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở hơn 10000C thì con người tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất cách loại thép với đủ các kích cỡ chủng loại, chứ không phải bằng phương pháp thủ công xa xưa. VD2. Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nước. Tư sản đại hội VI, đảng ta chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tế thị trường, nhờ đó mà sau gần 20 năm đất mới bộ mặt đất nước ta đã thay đổi hẳn.Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới quan. VD. Nhà máy sử lý rác thải của Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việc không khảo sát thực tế khách quan hay đúng hơn nhận thức về việc sử lý rác vô cơ và rác hữu cơ là chưa đầy đủ vì vậy khi vừa mới khai trương nhà máy này đã không sử lý nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần được thanh lý.3) Ý nghĩa mỗi quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với nhận thức và thực tiễn.Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phải phát huy tính năng động chủ quan của ý thức. Theo nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồng thời giữa việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tính năng động chủ quan; phát huy tính năng động chủ quan là phải trên cơ sở và trong phạm vi điều kiện khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn. Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng với hiện thực khách quan, mà căn bản là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều đó đòi hỏi trong nhận thức và hành động của con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định chủ trương, đường lối, chính sách, kế hoạch…; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động. Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy.Điều này đỏi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức và truyền bá nó vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng quần chúng hành động. Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động.Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, chống chủ nghĩa kiêm nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động…trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.4) Sự vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng của Đảng ta trong đường lối đổi mới đất nước.) Thứ nhất là phải tôn trọng khách quan: Cần phải có một chủ trương, đường lối đúng đắn xuất phát từ hiện thực khách quan:Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng. Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn ,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5 năm 19761980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 ví dụ như: phấn đấu đạt 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu ha đất khai hoang… Những chỉ tiêu này được đưa ra mang tính chất chủ quan mà không xuất phát từ hiện thực khách quan, từ tình hình kinh tế nước ta lúc bấy giờ cho nên đã dẫn tới những hậu quả là nền kinh tế phát triển chậm, sự trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế ,cảI tạo XHCN và quản lý kinh tế.Qua đó ta thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới. Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải.Trước tình hình kinh tế đó ,Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu ,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng đã đề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nước ta.Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3 mục tiêu : lương thực thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu. Hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý. Khi đã có mục đích, đường lối đúng đắn thì phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện:Ngày nay, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chúng ta xác định: “động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội”) Thứ hai là phải phát huy tính năng động chủ quan: Đảng và nhà nước ta đã khẳng định “ giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Trong đó “Nền giáo dục VN là nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại lấu CN ML và TTHCM làm nền tảng”. Đối với khoa học thì Đảng và Nhà nước ta “ thực hiện cơ chế kết hợp giữa KHXH và KHTN, KH công nghệ…phát huy tính sáng tạo, tính dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ. Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài… Đảng và Nhà nước ta khơi dậy trong nhân dân long yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người VN, quyết tâm dưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn lạc hậu. Chủ trương sử dụng tối ưu những phương tiện thông tin đại chúng cũng như đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân nắm bắt và làm chủ những tri thức mới về khoa học và công nghệ…Câu 2 : Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Vai trò của nó đối với nhận thức khoa học và thực tiễn hiện nay. Đảng ta đã vận dụng quan điểm này trong đường lối đổi mới đất nước như thế nào? Trả lời1.Khái niệm vật chất và ý thức :Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người một cách năng động và sáng tạo (là hình ảnh chủ quan của thế giới quan).2.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng :Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, vừa thống nhất vừa đối lập.a.Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức : Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người là hình ảnh chủ quan về thế giới quan. Thế giới quan không chỉ là nguồn gốc của ý thức mà còn quy định nội dung của ý thức.Thế giới khách quan như thế nào thì ý thức phản ánh như thế ấy.Khi thế giới quan thay đổi thì sớm hay muộn ý thức cũng phải thay đổi theo.Thế giới khách quan cũng là nơi ý thức được vật chất hóa và thể hiện sức mạnh của mình.b.Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất bởi vì ý thức có tính năng động, sáng tạo cho nên ý thức có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người.Ý thức có thể tác động trở lại vật chất theo hai chiều hướng :+Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.+Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan ở mức độ nhất định có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người. Con người dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan để từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu ấy.Vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới thực được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan và các điều kiện vật chất khách quan.Ý nghĩa phương pháp luận :Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức phải đảm bảo nguyên tắc “Tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động hoạt động thực tiễn của con người cho nên cần phải phát huy tính năng động, chủ quan, tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người.Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý trí cũng như thái độ thụ động chờ đợi vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan.Vai trò của nó đối với nhận thức khoa học và thực tiễn hiện nay :Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng chủ quan của mình.+Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quyluật tự nhiên và xã hội. Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. V.I. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủquan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý trí. Nếu ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn thì con người phải phát huy tính năng động chủ quan. Phát huy tính năng động chủ quan tức là phát huy vai trò tích cực của ý thức, vai trò tích cực của nhân tố con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. ý thức muốn tác động trở lại đời sống hiện thực phải bằng lực lượng vật chất, nghĩa là phải được con người thực hiện trong thực tiễn. Điều ấy có nghĩa là sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người được bắt đầu từ khâu nhận thức cho được quy luật khách quan, biết vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, phải có ý chí, phải có phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tượng, trên cơ sở ấy, con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp. Tiếp theo, con người với ý thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực tiễn. Cuối cùng bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra. ở đây ý thức, tư tưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan, vì đó là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính xác. Ngược lại, ý thức, tưtưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan. Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan; đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại, ngồi chờ trong quá trình đổi mới hiện nay.Từ lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và từ kinh nghiệm thành công và thất bạitrong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học quantrọng là Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Đảng chủ trương: huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong vàngoài nước, đặc biệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước., muốn vậy phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạngkém phát triển, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh...Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới đất nước dựa trên mối quan hệ duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức :Để khắc phục những sai lầm, thiếu sót trước thời kỳ đổi mới là: duy ý chí, chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn; trong quá trình đổi mới ( từ 1986) Đảng ta đã vận dụng đứng đắn hơn mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Thấm nhuần vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, Đảng ra đã đề ra và quán triệt bài học “ Phaả xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng sự thật khách quan và haàh dộng theo quy luật khách quan”. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của ý thức Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới trước hết là đổi mới tư duy và coi đó là tiền đề của mọi sự đổi mới đất nước. Sự thành công của quá trình đổi mới tư duy trên cơ sở lấy chủ nghĩa MácLenin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng của Đảng, chống đa nguyên, đa đảng, đưa khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo thành quốc sách hàng đầu… đã giúp Đảng và nhân dân ta thực hiện thắng lợi quá trình đổi mới đất nước, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế với các nuớc trong khu vực và trên thế giới… Tiến tới mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng và văn minh.CÂU 3: Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vai trò của nó đối với nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng hiện nay?1) Khái niệm phép biện chứng (PBC) và phép biện chứng duy vật (PBCDV)Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biến chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Với nghĩa như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập với phép siêu hình phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập và bất biếnĐịnh nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: Phép biện chứng duy vật là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.2) Khái quát những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật:a) Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biếnTrong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ sự tác động qua lại chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt các giai đoạn phát triển của một sự vật hiện tượng. Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới theo đó các sự vật hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng có khác nhau đến thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.Các mối liên hệ có tính khách quan phổ biến và đa dạng chúng giữ vai trò khác nhau quy định sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng. Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức không nên tuyệt đối hóa mối liên hệ nào và cũng không nên tách rời mối liên hệ này khỏi các mối liên hệ khác bởi trên thực tế các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trogn sự biến đổi và phát triển của chúngNguyên lý về mối liên hệ phổ biển khái quát bức trnah toàn cảnh về thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật hiện tượng của nó. Tính vô hạn của thế giới khách quan tính có hạn của sự vật hiện tượng trogn thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hình thức vai trò khác nhau. Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến con người rút ra được những quan điểm nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nguyên lý về sự phát triển:Trog phép biện chứng duy vật phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó vừa diễn ra dần dần vừa nhảy vọt làm cho sự vật hiện tượng cũ mất đi sự vật hiện tượng mới về chất ra đời. Phát triển là tự thân. Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật hiện tượng. Phát triển đi theo đường xoáy ốc cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co phức tạp có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triểnPhát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trogn quá trình phát triển sự vật hiện tượng chuyển hóa sagn chất mới cao hơn phức tạp hơn làm cho cơ cấu tổ chức phương thức vận động và chức năng của sự vât ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển có tính khách quan, phổ biến đa dạng. Từ nguyên lý về sự phát triển, con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.b) Sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vậtCái chung, cái riêng, cái đơn nhấtTheo quan niệm của phép biện chứng duy vật nhận thức bắt đầu từ sự phản ánh những sự vật hiện tượng cụ thể của thế giới. Nhưng trong quá trình so sánh những sự vật hiện tượng này với những sự vật hiện tượng khác phân biệt chỗ giống nhau và khác nhau giữa chúng, nhận thức đi đến sự phân biệt cái riêng cái chung. Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật hiện tượng nhất định và cái đơn nhất. Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt những thuộc tính lặp lại trogn nhiều sự vật nhiều hiện tượng. Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật hiện tượng khác. Giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng với nhau. Cái chugn chỉ tồn tại trong cái riêng, biểu hiện thông qua cái riêng ngược lại cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, bao hàm cái chung, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. VILenin viết: “ cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bất cứ cái riêng là cái chung. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung. Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác”nguyên nhân và kết quảNhận thức về sự tác động qua lại tương tác giữa các mặt các yếu tố, hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau dẫn đến sự xuất hiện ra mối liên hệ nhân quả. Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất đinh. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau.Giữa nguyên nhân kết quả có mối liên hệ qua lại quy định lẫn nhau. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn có trước kết quả, sau khi xuất hiện kết quả có ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nguyên nhân. Sự phân biệt nguyên nhân kết quả có tính tương đối. Một sự vật hiện tượng trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng lại là kết quả ở trong mối quan hệ khác và ngược lại tạo nên chuỗi nhân quả vô tận.Do vậy nguyên nhân kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể.Tất nhiên và ngẫu nhiênTrong khi phản ánh hiện thực khách quan con người nhận thức được tính không một nghĩa không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của sự vật hiện tượng nên phân chia chúng thành nhóm các mối liên hệ nhất định phải xảy ra đúng như thế và nhóm các mối liên hệ có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất nhiên do mối liên hệ bản chất do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ ko thể khác được. Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định, có thể xuất hiện có thể không xuất hiện có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác.Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau. Tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thoogn qua vô số ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho tất nhiên. Tất nhiên đóng vai trò chi phối sự phát triển còn ngẫu nhiên chỉ có thể làm cho sự phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm, trong hình thức này hay hình thức khác. Sự phân biệt tất nhiên ngẫu nhiên có tính tương đối, trong những điều kiện nhất đinh, chúng chuyển hóa lẫn nhau.Nội dung và hình thứcViệc nhận thức nội dung và hình thức gắn liền với việc nghiên cứu các yếu tố quy định sự tồn tại của sự vật và phương thức tồn tại của nó. Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt những yếu tố tạo nên sự vật hiện tượng. Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật hiện tượng.Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại quy định lẫn nhau, trong đó nội dung giữa vai trò quyết định. Nội dung đòi hỏi phải có hình thức phù hợp với nó. Khi nội dung thay đổi thì hình thức cũng phải thay đổi theo. Tuy nhiên hình thức cũng có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại nội dung. Khi hình thức phù hợp với nội dung, nó là động lực thúc đẩy nội dung phát triển, còn không phù hợp hình thức cản trở sự phát triển của nội dung. Cùng một nội dung trong quá trình phát triển có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại cùng một hình thức có thể phù hợp những nội dung khác nhau.
Xem thêm

29 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: TRIẾT HỌC MÁC LÊNINCâu 1: Triết học là gì? Vấn đề cơ bản của triết học?1. Kn Triết học Nguồn gốc của Triết học Triết học là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Nguồn gốc của Triết học: Triết học xuất hiện vào khoảng TK thứ 8 đến TK thứ 6 trước công nguyên. Lý do là:+ Tại thời điểm này trong xã hội đã có sự phân công lao động tương đối rõ ràng giữa lao động chân tay và lao động trí óc;+ Khả năng nhận thức của con người đã có sự phát triển vượt bậc đạt tới trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa.2. Vấn đề cơ bản của Triết học Vấn đề cơ bản của Triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thể hiện ở 2 mặt, mỗi mặt trả lời cho 1 câu hỏi lớn:+ Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?+ Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Theo Ăngghen: vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học đặc biệt là Triết học hiện đại chính là quan hệ giữa tư duy và tồn tại (vật chất ý thức)Câu 2: Phân tích chức năng của Triết học? (Triết học có 2 chức năng)1. Chức năng thế giới quan TGQ là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới và về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy. Có 3 loại TGQ: TGQ huyền thoại, TGQ tôn giáo, TGQ Triết học. Cấu trúc của TGQ là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin. Triết học ra đóng vai trò là hạt nhân lý luận của TGQ Các khoa học cụ thể cho chúng ta tri thức về từng mặt, từng bộ phận của thế giới còn Triết học là tri thức chung nhất của con người về thế giới do đó nó là vấn đề cốt lõi, đóng vai trò là hạt nhân lý luận của TGQ.2. Chức năng phương pháp luận Kn phương pháp: phương pháp là tổ hợp những nguyên tắc và cách thức thực hiện hoạt động trong nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra Phương pháp biện chứng: là phương pháp nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự tác động, trong mối liên hệ, trong sự vận động phát triển với 1 tư duy linh hoạt, mềm dẻo. Phương pháp siêu hình: là phương pháp nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự cô lập, tĩnh tại, tách rời với 1 tư duy cứng nhắc và máy móc.Câu 3: Phân tích các tiền đề ra đời Triết học Mác Lênin1. Triết học Mác Lênin ra đời là một tất yếu lịch sửTriết học ML xuất hiện vào những năm 40 của TK 19 dựa trên những tiền đề: Tiền đề về Kinh tế Chính trị Xã hội Phương thức sản xuất TBCN có sự phát triển mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về vật chất của con người và xã hội, đồng thời nó cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn (phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp, mâu thuẫn về lợi ích…) Giai cấp vô sản hình thành và phát triển dần trở thành lực lượng chính trị xã hội độc lập có lợi ích cơ bản đối lập với giai cấp tư sản. Xuất hiện nhu cầu về 1 học thuyết lý luận chính trị xã hội khoa học để dẫn dắt và đưa phong trào đấu tranh của GCVS đi từ tự phát lên tự giác. Tiền đề về khoa học tự nhiên: những thành tựu về KHTN cũng là những tiền đề, luận cứ khẳng đinh tính đúng đắn về TGQ và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Học thuyết cấu tạo tế bào (Sphennơ Stenđơ) Học thuyết tiến hóa giống loài (Đắc uyn) Tiền đề lý luận: Triết học Mác ra đời là sự kế thừa có chọn lọc Triết học cổ điển Đức (cá nhân tiêu biểu: Phoiơbắc Hêghen) Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Ricácđô Adamxmit) CNXH không tưởng Pháp (Xanhximong, Phurie, owen) Triết học Mác, chủ nghĩa Mác ra đời là một tất yếu của lịch sử, phù hợp với quy luật khách quan, đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà trước hết là thực tiễn đấu tranh của GCCN để đi từ tự phát lên tự giác.2. Vai trò của Triết học Mác Lênin trong đời sống xã hội Triết học Mác Lênin đóng vai trò là TGQ khoa học phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Triết học Mác Lênin đóng vai trò là TGQ khoa học phương pháp luận cho các khoa học chuyên ngành Triết học Mác Lênin cung cấp cơ sở khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng, chính xác về xã hội trong từng giai đoạn Triết học Mác Lênin cung cấp cơ sở khoa học để chúng ta tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận.Câu 4: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin?1. Hc ra đời đn vật chấtCuối TK 19 đầu TK 20 xuất hiện một loạt các phát minh trong KHTN Năm 1895: Rơnghen phát hiện ra tia X  khẳng định nguyên tử là có thật Năm 1896: Béccơren phát hiện ra h.tượng phóng xạ  nguyên tử có thể bị phân chia Năm 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử  điện tử là yếu tố cấu thành nên nguyên tử Năm 1901: Kaufman phát hiện ra hiện tượng khối lượng biến thiên theo vận tốc Năm 1905: Anhxtanh chứng minh được thuyết tương đối E = m.c22. Đn vật chất của Lênin Đn: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Phân tích: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan”  khẳng định vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người. “Được đem lại cho con người trong cảm giác”  khẳng định: bằng các giác quan con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. “Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”  khẳng định vật chất có trước ý thức, vật chất quyết định ý thức.3. Ý nghĩa của đn vật chất của Lênin (gồm 4 ý nghĩa) Giải quyết được vấn đề cơ bản của Triết học triệt để ở cả 2 mặt trên lập trường của CNDV biện chứng Bác bỏ quan điểm của CNDT siêu hình về vật chất Nâng CNDV lên một tầm cao mới, tạo tiền đề cho vật chất xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội Định hướng cho các nhà khoa học cụ thể xây dựng một thế giới quan đúng đắn, tiếp tục đi sâu nghiên cứu thế giới.Câu 5: Phân tích nguồn gốc của ý thức theo quan điểm của CNDV biện chứng?Theo quan điểm của CNDVBC, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc XH: Nguồn gốc tự nhiên cấu thành bởi 2 yếu tố cơ bản: Bộ óc: là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hóa dài lâu của thế giới vật chất Thế giới khách quan (TGKQ): TGKQ tác động vào não người tạo ra những hình ảnh ý thức chủ quan, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao nhất của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện của con người. Ý thức là ý thức của con người. Nguồn gốc xã hội của ý thức cấu thành bởi 2 yếu tố cơ bản: Lao động: lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại, thông qua lao động con người bắt thế giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình và con người có thể phản ánh được thế giới khách quan Ngôn ngữ: Thông qua lao động ngôn ngữ xuất hiện, ngôn ngữ là 1 trong 2 yếu tố kích thích chủ yếu hình thành nên ý thức. Trong lao động, con người nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng giữa con người với các thế hệ người.+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, là cái vỏ vật chất của tư duy. Nội dung của tư duy được tín hiệu hóa lưu giữ trong vỏ vật chất.+ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người trong xã hội, phản ánh khái quát sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trong quá trình trao đổi ngôn ngữ dần hoàn thiện và phong phú hơn, nhờ ngôn ngữ tri thức loài người được lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ sau.Câu 6: Phân tích bản chất của ý thức theo quan điểm của CNDVBC? Ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan vào trong bộ óc con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là sự phản ánh mang tính năng động, sáng tạo về thế giới khách quan. Ý thức có được do sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và khách thể, có tính chất 2 chiều có định hướng, chọn lọc. Ý thức phản ánh hiện thực nhưng không phải nguyên si mà luôn có sự mô hình hóa đối tượng phản ánh trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần và chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, hiện thực hóa tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn. Sự phản ánh của ý thức mang tính vượt trước, dự báo tương lai nhưng không có nghĩa ý thức đẻ ra vật chất mà đó là sáng tạo của sự phản ánh. Ý thức mang bản chất xã hội.Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Kn về vc và ý thức Đn vật chất: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Ý thức: là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn
Xem thêm

22 Đọc thêm

BAI GIANG TRIET HOC CHUONG I

BAI GIANG TRIET HOC CHUONG I

Nếu (ý thức) nhận thức đúng, hành động sẽ đúng theo quy luậtkhách quan và ngược lạiSƯU TẦM: PHẠM QUỐC KHÁNHChương I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGII. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨCVÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤTÝ THỨC3.MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨCVai trò của ý thức đối với vật chất:Giới hạn và điều kiện tác dụng năng động sáng tạo của ý thức tronghoạt động thực tiễnHoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội của con người chỉ có hiệu quả khi chủthể hoạt đông có tri thức; có ý chí quyết tâm, có niềm tin, nghị lực vươnlênĐiều kiện phát huy tác dụng:+ Phụ thuộc vào mức độ phản ánh đúng đắn hiện thực của ý thức+ Phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của ý thức vào quảng đại quầnchúng nhân dân+ Phụ thuộc vào sự vận dụng ý thức có đúng đắn, sáng tạo, phù hợp vớithực tiễn hay không+ Phụ thuộc voà những điều kiện vật chất, kỹ thuật, dân chủ của xã hộiSƯU TẦM: PHẠM QUỐC KHÁNHChương I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGII. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨCVÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤTÝ THỨC
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN MÁC-TƯ TƯỞNG

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN MÁC-TƯ TƯỞNG

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN MÁC – LÊNIN
VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN ĐỀ 1 : NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Câu 1 : Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc tìm hiểu mối quan hệ này.
Trả lời :
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, mối quan hệ này được thể hiện ở chỗ:
- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất là nguồn gốc sản sinh ra ý thức và quyết định ý thức.
+ Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Không có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não con người thì sẽ không có ý thức. Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não con người.
+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nội dung của ý thức mang tính khách quan do thế giới khách quan quy định.
+ Vật chất quyết định bản chất của ý thức: Vật chất quyết định phương thức, kết cấu của ý thức.
- Ý thức có tính độc lập tương đối nghĩa là có khả năng tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, diễn ra theo 2 khuynh hướng tích cực và tiêu cực.
+ Nếu nhận thức đúng sự vật hiện tượng thì sẽ đưa ra những hành động đúng biện pháp có lợi và đạt kết quả tốt .
+ Ngược lại, nếu ý thức phản ánh không phù hợp với vật chất thì nó sẽ kìm hãm thế giới vật chất không phát triển.
* Ý nghĩa:
Từ việc tìm hiểu mối quan hệ này cho phép chúng ta rút ra một số ý nghĩa về phương pháp luận như sau:
- Tôn trọng các nguyên tắc khách quan tức là tôn trọng vai trò quyết định của những nhân tố vật chất, điều kiện vật chất, phương tiện vật chất, lực lượng vật chất…chống tư tưởng chủ quan, duy ý chí.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của ý thức.
- Tôn trọng tri thức khách quan và phổ biến tri thức khách quan vào trong quần chúng.
Câu 2: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc tìm hiểu mối quan hệ này.
Trả lời:
* Khái niệm cái riêng và cái chung:
- Cái riêng: là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,một quá trình riêng lẻ nhất định.
- Cái chung: là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những tính chất được lặp đi lặp lại ở nhiều sự vật, nhiều hiện tượng hoặc nhiều quá trình.
* Từ việc tìm hiểu khái niệm trên ta rút ra được kết luận về mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, nghĩa là không có cái chung nào ở bên ngoài cái riêng.
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, nghĩa là không có cái riêng nào độc lập tuyệt đối, không có liên hệ với cái chung.
- Cái riêng là cái toàn thể, cái chung là cái bộ phận .
+ Cái riêng phong phú, đa dạng hơn cái chung.
+ Cái chung sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
*Ý nghĩa:
- Trong hoạt động nhận thức, muốn tìm cái chung thì phải xuất phát từ cái riêng, so sánh đối chiếu từ nhiều cái riêng để tìm ra cái chung.
- Trong hoạt động thực tiễn, muốn tái tạo cái riêng phải sử dụng cái chung.
- Khi vận dụng cái chung vào thì phải tính đến đặc điểm cái riêng.
Câu 3: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Trả lời:
* Khái niệm CSHT và KTTT:
- Cơ sở hạ tầng (CSHT) : dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
- Kiến trúc thượng tầng (KTTT): dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một CSHT nhất định.
*Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:
CSHT và KTTT có mối quan hệ với nhau:
- CSHT quyết định KTTT:
+ CSHT như thế nào thì sẽ sản sinh ra một KTTT như thế ấy.
+ Khi CSHT thay đổi đến một mức nào đó thì KTTT do nó sinh ra cũng thay đổi theo
+ CSHT bị thủ tiêu thì KTTT do nó sinh ra cũng bị thủ tiêu nhưng không toàn bộ.
- KTTT có tính cách độc lập tương đối nghĩa là có khả năng tác động trở lại CSHT. Sự tác động trở lại này được thể hiện ở chỗ.
+ KTTT ra sức duy trì, củng cố, bảo vệ và phát triển CSHT sản sinh ra nó.
+ Nếu KTTT phù hợp với CSHT sẽ dẫn đến thúc đẩy CSHT phát triển, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Còn ngược lại, nếu ko phù hợp thì sẽ kìm hãm.
Phần trắc nghiệm CĐ1: (Có trong Tập tài liệu) : (50 câu – 5 điểm)
Xem thêm

13 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn thi triết học và gợi ý trả lời

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI

Câu 1:Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 2: Phân tích cơ sở lý luận của khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Câu3 :Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.Câu 4:Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến.Nguyên tắc toàn diện là gì – các yêu cầu của nguyên tắc toàn diện?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc toàn diện gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 6: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển nguyên lý về sự phát triển.Nguyên tắc phát triểnlà gì – các yêu cầu của nguyên tắcphát triển ?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc phát triểngợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 9: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin. Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nưoc ta hiện nay.Câu10: Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu11: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KTXH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?Câu12:Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người. Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.Câu13:Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?CÂU 14: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin:“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Gợi ý Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học… C. Mác Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hội hình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội; PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung.+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội+ Bản chất con người…+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sửCÂU15: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin:“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Gợi ýGải thích: Luận điểm trên chỉ rõ sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên diễn ra theo các quy luật khách quan mà quy luật cơ bản, quan trọng nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; điều đó có nghĩa, xét tới cùng sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu từ sự phát triển của LLSXKhái niệm HTKT – XH và cấu trúc của HTKT – XHChứng minh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên theo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là được bắt đầu từ sự phát triển của LLSX.CÂU 16: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.Gợi ýGiai cấp là gì?Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt lý luận: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt thực tiễn Dùng thực tế lịch sử để chứng minhCâu 17: Anh ( chị) hãyphân tích quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người và vận dụng các quan điểm này vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.Gợi ýQuan niệm về con người trong triết học Mác:+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội+ Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội+ Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sửVận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay:+ Phải biết quan tâm đến con người bản năng+ Phải biết quan tâm đến lợi ích vật chất của con người+ Phải biết quan tâm đến lợi ích cá nhân,kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể+ Phải biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người trong quá khứ; đồng thời phải biết xây dựng mẫu người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử…Dùng thực tế lịch sử để chứng minhBÀI LÀMCâu 1: Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dung nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Cơ sở lý luận:Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện . Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan. Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải : Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là: Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội...) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.Câu 2: Phân tích cơ sở triết học (lý luận và phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức. Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định . Phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học đời cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của MÁC và Ăngghen .Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức . Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người .Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức, tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất.Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan.Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan .Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như vậy , từ chủ nghĩa MácLênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên.Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước a trãi qua. Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên: Triết học DVBC chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi vạn vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao. Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội:Triết học DVBC chỉ ra rằng, chính lao động và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ . Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn. Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển . Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức. Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó là phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết ... Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ tính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo TGKQ. Ý thức mang bản chất xã hộiKhi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ. Đây là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Liên hệ thực tế: Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 121986). Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn. Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức..” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” một cơ chế gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông. Còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng.Câu 4: AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý‎ luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn?Trả lời: (Tham khảo thêm sách TH P2, trang 70).
Xem thêm

52 Đọc thêm

Đề cương những vấn đề cơ bản ôn thi tốt nghiệp môn chính trị tổng hợp 2015

ĐỀ CƯƠNG NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP 2015

1. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
2. Trình bày nguyên lý về mối liên hệ hổ biến, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

95 Đọc thêm

Đề cương Triết 1 ngắn gọn, đủ ý

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT 1 NGẮN GỌN, ĐỦ Ý

VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CNDV VÀ CNDT, TRIẾT HỌC NHỊ NGUYÊN. CÁC HÌNH THỨC CNDV VÀ CNDT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁCLÊNIN VỀ VẬT CHẤT, CÁC PHƯƠNG THỨC, HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ NÊU TRÊN. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC ; MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY. TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN. TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI.
Xem thêm

36 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ

Câu 1: vấn đề cơ bản của triết học?
• Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
• Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giũa ý thức và vật chất, giũa con người với giới tự nhiên.
• Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: thứ nhất giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? Thứ hai con người có khẩ năng nhận thức được thế giới không?
+ Đi trả lời cho câu hỏi thứ nhất: chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức. Ngược lại các nhà duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất.
+ Trả lời cho câu hỏi thứ 2 là con người có khả năng nhận thức được thế giới ( khả tri luận) và ngược lại trường phái bất khả tri luận cho rằng con người không nhận thức được thế giới. Mặt khác những người theo trường phái nhi nguyên luận cho rằng con người lúc nhận thức được có lúc không nhận thức được thế giới.
• Theo chủ nghĩa Mác – LeeNin cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Cùng chủ đề